Vạt Rừng Chân Sóng
Chiếc xe Bếp Nhỏ dằn xóc dữ dội qua những nhịp cầu gỗ tạm ghép bằng thân dừa nước già và mạn phà sắt dập dềnh bọt phù sa đục ngầu, đưa An và Khang chạm đến rẻo đất cuối cùng của bán đảo Cà Mau giữa tiếng sóng biển Tây gầm réo rạt rào phía chân trời.
Con đường đất dẫn vào xã Viên An thuộc huyện Ngọc Hiển nhão nhoét sau chuỗi ngày triều cường dâng cao kỷ lục. Nước mặn từ các nhánh rạch trườn qua bờ bao, cuốn theo rác rưởi trôi nổi, bọt váng phù sa, bùn non quánh đặc và những bẹ dừa nước mục rữa tưa xơ như chổi cùn. Từng chùm rễ đước chằng chịt cắm sâu mép bãi lở sói lở lói, trơ trọi như những bộ xương sườn xám xịt oằn mình chống đỡ trước sức vỗ dập dồn của con nước ròng nước lớn. Chiếc xe tải hai tấn rưỡi gầm gừ bò từng mét số một, bốn bánh lốp gai ngập sâu quá nửa vành sắt, bùn sình văng đỏ quạch hai bên lườn thùng xe đã bạc thếch vì nắng mưa dặm trường. Khang siết chặt vô lăng, các đốt ngón tay trắng bệch, cánh tay trái quấn chặt lớp băng thun co giãn giữ thế chuẩn xác qua từng đoạn lún sụt hiểm trở. Anh không dám đạp thốc ga; chiếc xe nặng trịch với đầy đủ bếp lò, xoong chảo, đồ nghề cơ khí và rương đựng hồ sơ ký ức cứ chực nghiêng ngả như muốn trượt bánh lao thẳng xuống lòng rạch đen ngòm sâu hoắm.
Vuông tôm của chị Nguyễn Út Mai hiện ra nơi cuối con rạch cụt, nằm lẻ loi bên rìa cánh rừng ngập mặn trải dài ngút ngàn. Căn nhà sàn lợp lá dừa nước dựng trên những cọc tràm khẳng khiu vỏ bong tróc từng mảng, sàn gỗ tràm rung lên bần bật theo từng đợt sóng vỗ bờ dập dồn từ cửa biển tạt vào. Mép bờ bao phía sau nhà vừa bị vỡ toác một mảng dài hơn năm thước trong đợt triều cường rạng sáng; đất phù sa đen ngòm sụp xuống lòng rạch tạo thành một cái họng nuốt nước cuồn cuộn, để lộ những gốc đước bị bứng bật gốc chỏng chơ, lá còn xanh mướt nhưng đã rũ rượi ngâm trong dòng nước đục ngầu phù sa và bọt mặn.
Khi Khang rà phanh cho xe dừng hẳn trên mỏm đất cứng hiếm hoi đầu ngõ, An bước xuống. Bàn chân cô vừa chạm đất đã thụt sâu vào lớp bùn dẻo quánh ngập quá bắp chân, kéo theo tiếng mút sền sệt lạnh ngắt của bùn non đáy rạch. Một người phụ nữ trạc bốn mươi lăm tuổi, nước da sạm đen vì nắng gió mặn mòi của mũi đất, khoác chiếc áo bà ba màu tro bạc phếch và quấn chiếc khăn rằn sờn mép quanh cổ, đang cắm cúi đóng cọc cừ tràm gia cố mép bờ bao bị sạt. Thấy khách lạ tới cùng chiếc xe tải biển số Hà Nội lấm lem đất đỏ, chị không vội buông vồ gỗ mà nện thêm ba nhát đanh gọn xuống cây cọc sũng nước. Tiếng vồ gỗ gõ chan chát vào thớ tràm đặc nghẽn vang rền cả một khoảng rừng ngập mặn tĩnh lặng, rồi chị mới chống vồ, thở dốc một hơi và ngẩng mặt lên. Đôi mắt chị sâu hoắm, thâm quầng vì mất ngủ nhưng cương nghị và sắc sảo như lưỡi dầm chém xuống dòng nước chảy xiết.
“Mấy đứa bên Bếp Nhỏ tới rồi hả?” Út Mai hất cằm về phía sàn nhà sàn cheo leo, giọng ráo hoảnh, khàn đặc vì thức trắng mấy đêm canh triều giữ bờ bao. “Nói trước, tao không rảnh pha trà tiếp khách văn chương chữ nghĩa. Chị Sa dưới Tri Tôn có gọi điện dặn trước mấy bữa, nhưng ở cái xứ bùn lầy chân sóng này, không có chỗ cho ba cái trò đứng trên sàn ngắm hoàng hôn rồi khen rừng đẹp nước lành.”
Út Mai ném chiếc vồ gỗ nặng trịch xuống bờ đất ướt nghe một tiếng “thịch”, bước những bước dài dứt khoát đến gần An. Ánh mắt chị sắc lẹm, quét từ chiếc tạp dề vải thô buộc ngang hông cô đến đôi bàn tay hãy còn vương mùi lá cẩm miệt vườn Phong Điền và lớp da ngón tay nhăn nheo vì nước mặn bám dính.
“Muốn tìm hiểu tôm rừng sinh thái với ghi chép mấy cái công thức nấu ăn của má tụi bây để lại thì xắn quần tới háng, lội xuống đây với tao. Đứa nào muốn ăn tôm cua ở đất này trước hết phải thò tay móc hang bắt cá thòi lòi lách sâu trong gốc sú vẹt, rồi trưa phụ tao kéo cống xả nước vuông. Và quan trọng nhất,” Út Mai chỉ ngón tay khẳng khiu, đen đúa về phía vạt rừng đước thưa thớt mé ngoài, nơi những gốc cây cụt ngủn trồi lên lởm chởm như những chiếc cọc cắm dở giữa bãi bùn, “phải nhìn thẳng vào mấy gốc tràm bị cưa sát gốc đằng kia. Hai năm trước tao đứt hai vụ tôm liên tiếp, dịch bệnh tràn lan, tôm chết trắng vuông, ngân hàng réo siết nợ từng ngày từng giờ. Tao phải cắn răng vác cưa đốn trộm hơn ba sào rừng phòng hộ lấy gỗ bán gỡ gạc tiền cám, tiền nợ phân vôi cải tạo đáy đầm. Đừng có vẽ vời cuộc sống sinh thái ở đây thành bức tranh thanh bình thoát tục. Ở đây chỉ có sống sót và trả nợ.”
An nhìn thẳng vào đôi mắt không hề chớp của Út Mai. Giữa mùi tanh nồng của bùn lợ, mùi rễ cây ngâm nước lâu ngày bốc lên hăng hắc và hơi muối mặn chát xộc buốt sống mũi, cô thấy lại sự trần trụi từng gặp ở nương đá bạc màu Đồng Văn hay bến mắm sặc mùi nồng gắt ở Cửa Tùng. Ở đâu con người giáp mặt với lằn ranh sinh tồn, ở đó không có chỗ cho sự màu mè giả tạo. An không giải thích một lời. Cô lẳng lặng tháo đôi ủng cao su vướng víu đặt cạnh lườn xe, xắn gấu quần vải thô lên tận đùi, dùng một sợi lạt dừa buộc túm lại rồi bước thẳng xuống bãi sình lầy sát mép nước ngập mặn.
Bùn đất ngập mặn ôm chặt lấy bàn chân An như một lực hút lạnh ngắt, kéo ghì từng bước đi. Đáy bùn lẫn vỏ hàu, mảnh vụn ốc len lén cứa vào da thịt. Út Mai không ngoái lại nhìn, thoăn thoắt lướt trên bãi bùn dẻo như một con chim trích rừng, dẫn An lách sâu vào rặng sú vẹt ken dày ken đặc. Nơi đây, đàn cá thòi lòi với đôi mắt lồi thao láo trên đỉnh đầu đang nhảy tanh tách trên những phiến lá rụng và sống rễ nhô cao.
Bắt loài cá kỳ dị nửa dưới nước nửa trên cạn này đòi hỏi một sự kiên nhẫn gần như tàn nhẫn. Hang thòi lòi khoét sâu hoắm ngập ngụa rễ con chằng chịt, thường có một ngách chính và hai ngách phụ thông nhau dưới lớp bùn lỏng. An phải quỳ rạp cả hai đầu gối xuống bùn lầy, luồn bàn tay trần sục sâu vào lòng đất nhão buốt giá, dùng ngón tay cái và ngón trỏ men theo từng ngách đất ngầm để chặn đường lui của chúng. Cành vẹt khô cào xước bắp chân rát bỏng, mồ hôi túa ra hòa cùng bùn đen quánh đặc dính bết trên trán, nhưng An vẫn cắn răng chịu đựng. Mỗi lần chạm phải thân cá trơn tuột đang quẫy đạp điên cuồng, cô phải dùng lực cổ tay siết thật chặt mang cá, nhấc bổng nó lên khỏi mặt bùn trước khi nó kịp giương hai vây ngực phóng đi.
Út Mai đứng bên cạnh, vừa thoăn thoắt tóm gọn từng con cá thòi lòi to bằng cổ tay bỏ vào giỏ tre, vừa liếc mắt quan sát từng cử chỉ của An. Thấy cô gái trẻ không hề run rẩy hay né tránh bùn bẩn, ánh mắt người đàn bà đất mũi bớt đi vài phần gắt gỏng, thay vào đó là cái gật đầu kín đáo không lời.
Đến gần trưa, khi con nước ròng bắt đầu chững lại, dòng chảy ngoài rạch lớn êm dần, Khang cùng Út Mai bước ra mỏm cống chính của vuông tôm. Khang tròng sợi xích sắt to bản vào ròng rọc gỗ, cùng Út Mai ghìm chân trên bờ đất, dùng đòn bẩy bằng thân tràm nguyên vỏ hì hục kích từng nấc cống. Từng tấm ván gỗ dừa nặng trịch, ngâm nước lâu ngày đen nhánh như sắt nguội, từ từ nhấc lên khỏi mặt rãnh. Dòng nước đen sẫm mang theo ấu trùng tôm cá, rong tảo và vi sinh vật tự nhiên từ biển ầm ầm luân chuyển vào lòng vuông rừng ngập mặn. Đàn tôm sú trong vuông nghe động nước mới bắt đầu búng đuôi tanh tách dưới những tán đước rợp bóng mát, tạo nên một chu trình sinh thái tự nhiên chắt chiu từ từng nhịp thở của thủy triều.
Buổi trưa, mây xám nặng trĩu dạt dần về phía vịnh Thái Lan nhường chỗ cho cái nắng gay gắt đặc trưng của mũi Cà Mau. Nắng như dội lửa xuống mặt nước lợ, làm bốc lên một làn hơi ngai ngái nồng nặc mùi vỏ giáp xác phân hủy và phù sa mới. Khang bắc chiếc bếp than gấp dã chiến của Bếp Nhỏ ngay trên dải đất khô ráo cạnh mui xe tải, nhóm những khúc than đước đen bóng do chính Út Mai hầm trong lò đất. Than đước bén lửa rất nhanh, đượm than đỏ rực từ trong ruột ra ngoài mà tuyệt nhiên không bốc lên một sợi khói đen nào, chỉ tỏa ra hơi nóng rát mặt và mùi thơm thoang thoảng của gỗ rừng ngập mặn.
Bữa ăn trưa được chuẩn bị nhanh gọn bằng chính những sản vật vừa thu hoạch từ mé nước. Những con tôm sú rừng vỏ xanh đen ánh tím, vân vỏ dày dặn và sắc cạnh, thân chắc nịch to ngang cổ tay trẻ con, được rửa sạch bằng nước mưa hứng từ lu sành rồi xếp tròn trĩnh vào chiếc nồi gang đáy sâu. Út Mai cầm dao rựa chặt ngọt xớt hai trái dừa xiêm lửa trĩu nước, đổ ngập xăm xắp thân tôm, thêm vào đáy nồi vài nhánh sả đập dập thơm nức và mấy lát ớt hiểm rừng chín đỏ. Khi nồi gang đặt lên mặt than đước đỏ lửa, hơi nước dừa bắt đầu sôi sùng sục, quyện chặt lấy vị ngọt nguyên sơ của thịt tôm rừng ăn rong rêu tự nhiên, tỏa ra mùi đạm béo ngậy khiến bụng dạ cồn cào.
Song song đó, Khang thoăn thoắt cầm từng con cá thòi lòi nhớt bóng, dùng lá chuối khô tuốt sạch lớp nhớt ngoài da, khứa chéo thân cá rồi xát đẫm hỗn hợp muối hạt Sa Huỳnh giã nát cùng ớt hiểm và hạt tiêu đen. Anh xếp cá ngay ngắn lên vỉ sắt kép đặt sát mặt than hồng. Lửa than đước táp vào da cá xèo xèo, mỡ cá tứa ra nổ lách tách, lớp da sần sùi phồng rộp lên rồi se lại thành một màu vàng ruộm giòn tan, tỏa ra mùi khói cay nồng gắt gao làm khóe mắt ai nấy đều cay xè, ứa nước.
Đúng lúc đĩa cá nướng muối ớt da giòn rụm và nồi tôm rừng hấp nước dừa bốc khói ngùn ngụt vừa được bắc ra khỏi bếp than, tiếng máy đuôi tôm nổ ròn rã từ ngoài rạch xé toạc bầu không khí tĩnh mịch. Một chiếc vỏ lãi lướt sóng lao tới, xẻ một vệt nước trắng xóa cặp sát vào sàn gỗ tràm. Một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, mặc áo sơ mi kẻ sọc bạc màu bết mồ hôi, đi đôi ủng cao su màu vàng lẹp xẹp bước lên sàn. Đó là Năm Tính, thương lái đại diện cho một công ty chế biến và xuất khẩu thủy sản đông lạnh dưới huyện Năm Căn, kẻ bao năm qua nắm độc quyền tuyến thu mua tôm cá dọc nhánh rạch này.
Năm Tính bước lên sàn, mắt đảo qua chiếc xe tải Bếp Nhỏ mang biển số thủ đô lấm lem bùn đất, rồi nhìn đĩa cá thòi lòi nướng nghi ngút khói trên mâm. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống lòng rạch, cất giọng the thé đầy toan tính:
“Chị Út dạo này bày đặt tiếp khách sang từ ngoài Bắc vô ha? Bờ bao bể be bét vậy rồi vụ này tính sao đây? Cỡ này tôm xuất qua Trung Quốc tắc biên, dưới huyện họ ép giá xuống còn sáu chục ngàn một ký tôm xô. Tui thấy tình nghĩa xóm giềng lâu năm mới chạy vỏ lãi vô đây vớt vát giùm, chịu thì chiều tui cho ghe tới cân sạch, trừ nợ tiền con giống vụ trước là huề cả làng.”
Không để Năm Tính kịp giở giọng kẻ cả ép giá như thường lệ, Út Mai bước tới mé bàn gỗ. Chị không chửi bới, không phân bua, chỉ dằn mạnh một xấp hồ sơ kế toán dày cộp cùng tập bảng biểu phân tích chi phí xuống mặt bàn gỗ tràm nghe một tiếng “chát” đanh gọn. Đó là tập dữ liệu thị trường và mô hình hạch toán chi phí chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững do Lâm Y Khoa gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh từ buôn làng Buôn Ma Thuột ba hôm trước, sau khi nhận được thông tin kết nối từ mạng lưới hỗ trợ của Bếp Nhỏ.
“Anh Năm dòm cho kỹ đi,” giọng Út Mai đanh lại, từng lời dứt khoát như đinh đóng vào cọc gỗ. “Nuôi tôm công nghiệp cạo trọc rừng xài kháng sinh hóa chất thì anh muốn ép giá rẻ mạt cỡ nào tao không cần biết. Còn tôm rừng sinh thái dưới tán đước của tao mật độ thả chỉ một phần mười tôm công nghiệp, con tôm tự kiếm rong rêu phù du mà lớn, giữ trọn vành đai chắn sóng chắn gió cho cả cái xã Viên An này. Trong tập giấy này tao với bên kỹ sư tính đủ từng đồng cắc: tiền giống bản địa, tiền nhân công giữ rừng, tiền nạo vét cống rãnh và tiền kiểm định mẫu nước theo đúng tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc của Hợp tác xã Đường Xa.”
Út Mai bước thêm một bước, đứng đối diện gã thương lái, ánh mắt rực lên sự tự chủ của một người đã bước qua đáy bùn sinh tử:
“Giá này là giá sàn tao giữ để sống và để giữ rừng, một cắc cũng không bớt. Nếu công ty anh muốn có chứng nhận tôm rừng ngập mặn sinh thái đạt chuẩn xuất đi châu Âu để lấy tiếng lấy phần trăm trợ cấp, các anh phải cùng tao ký hợp đồng chia sẻ rủi ro thiên tai mùa vụ, trả trước ba mươi phần trăm chi phí chứng nhận hữu cơ quốc tế và cam kết bao tiêu toàn bộ một vụ thử nghiệm. Bằng không, anh quay mũi vỏ lãi về đi. Tao đưa thẳng hàng vào chuỗi bếp ăn độc lập của chị Trúc trên Sài Gòn và hệ thống của Hợp tác xã ngoài Buôn Ma Thuột. Đất này tuy xa xôi, nhưng thời này không thiếu chỗ biết trân trọng con tôm sạch giữ rừng.”
Năm Tính cầm tập bảng biểu lên, lật từng trang chi tiết ghi rõ các chỉ số sinh hóa của nước đầm, tỷ lệ hao hụt do triều cường, biểu đồ dòng tiền và các điều khoản pháp lý ràng buộc được soạn thảo chặt chẽ bởi những người làm nông nghiệp độc lập. Gã nhìn sang vỉ cá thòi lòi nướng muối ớt cay nồng đang tí tách mỡ, nhìn chiếc xe tải hai tấn rưỡi sừng sững bên bờ đất với đầy đủ trang thiết bị lưu động, rồi nhìn bàn tay chai sần đang nắm chặt lấy cạnh bàn của Út Mai. Trước những lý lẽ đanh thép và bằng chứng thị trường rành mạch không thể chối cãi, gã thương lái gãi đầu gãi tai, nuốt khan một ngụm nước bọt rồi miễn cưỡng mở chiếc cặp da xỉn màu, rút tập hợp đồng mẫu ra, bấm bút bi điều chỉnh từng điều khoản về tạm ứng chi phí và cam kết mức giá sàn bảo hộ sinh kế.
Chiều muộn, mặt trời buông xuống như một hòn than khổng lồ đỏ ối chìm dần vào lòng biển Tây mặn chát. Gió chướng cuối năm bắt đầu thổi thông thốc qua các vạt đước, kéo theo tiếng sóng ầm ào dội từng đợt dữ dội vào bờ bao tạm bợ. Nước biển lại bắt đầu dâng mấp mé bờ sàn, mang theo hơi lạnh ẩm ướt bao trùm khắp căn nhà nhỏ.
Bên mâm cơm chiều dọn vội trên sàn gỗ cheo leo mé nước, chỉ có nồi cơm nóng dẻo nấu bằng gạo nếp nương Khang mang từ miền biên viễn phía Bắc, đĩa tôm luộc nước dừa vỏ đỏ au ngọt lịm đậm đà phong vị phù sa rừng ngập mặn, đĩa cá nướng vàng ươm và chén muối ớt cay xé lưỡi. Khi Khang vừa buông đũa, cầm đèn pin lội ra bờ cống kiểm tra lại các chốt xích và đo mực nước triều dâng đêm, trong nhà chỉ còn lại tiếng gió rít qua khe lá và tiếng nước bì bõm dưới sàn. Út Mai đứng dậy, bước chầm chậm vào buồng trong. Sau tiếng cót két của chiếc rương gỗ tràm cổ lỗ sĩ kê sát vách, chị quay trở ra, hai tay cẩn trọng nâng niu một bọc vải nhựa chống ẩm ngả màu vàng ố vì khói bếp và hơi mặn.
“Má tao mất hồi cơn bão Linda cuối năm chín bảy,” giọng Út Mai chùng xuống, lạc hẳn đi, run rẩy giữa tiếng gió rít qua vách lá dừa nước. “Cơn bão đó quét sạch cái xứ này, không chừa một thứ gì. Ghe tàu ngoài khơi chìm lỉm hết, bờ bao vỡ toang hoang, người chết trôi dạt ra tận Hòn Khoai, Hòn Chuối. Nhà tao tan hoang trong một đêm, má tao kẹt dưới mé rạch lúc kéo ghe neo, bị thân đước đè trúng không bò lên kịp. Tao lúc đó mới hơn mười tuổi đầu, ôm đứa em đỏ hỏn còn chưa dứt sữa ngồi khóc trên ngọn một cây mắm cổ thụ suốt hai ngày hai đêm, nước dâng ngập trắng trời, sóng giật tung từng mảng rừng. Lúc bộ đội biên phòng vớt được hai chị em tao đưa về trại cứu tế Năm Căn, nhà cửa tài sản chẳng còn lấy một mảnh vụn, tay trắng trơ trọi.”
Út Mai run rẩy gỡ từng lớp dây chuối khô buộc quanh bọc nhựa, rút ra một tờ giấy mỏng manh đã sờn rách bốn mép, những nếp gấp hằn sâu dấu vết thời gian và vết ố vàng của nước mặn. Đó là tờ biên lai chuyển tiền cứu trợ khẩn cấp qua đường bưu điện đề ngày 12 tháng 11 năm 1997. Nơi ghi tên người gửi chỉ để trống một dấu gạch ngang khuyết danh, nhưng bên dưới dòng địa chỉ gửi đi từ một bưu cục ven sông Hồng là nét chữ viết tay bằng mực tím thanh mảnh, nắn nót đến từng nét móc, từng dấu mũ:
*“Gửi chút tiền mua gạo nuôi con nhỏ của chị Ba. Ráng giữ lấy đất, giữ lấy rừng mà sống.”*
Ở góc dưới cùng của tờ biên lai, bên cạnh con dấu tròn mực đỏ đã phai mờ của bưu điện thời chiến tranh phá hoại còn sót lại, là một ký hiệu vẽ tay thu nhỏ sắc sảo: hình hai chiếc lá đan chéo ôm lấy một chữ “Hậu” viết cách điệu mềm mại mà kiên gan.
Lồng ngực An thắt lại như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt. Cổ họng cô đắng chát, sống mũi cay xè khi đầu ngón tay chạm nhẹ vào từng vệt mực tím đã hơi nhòe đi vì ẩm mốc. Nét chữ ấy cô đã nhìn thấy hàng nghìn lần trên ba mươi mốt tấm thẻ công thức nấu ăn bằng giấy bồi, trên cuốn sổ chi tiêu rách bìa gối đầu giường của bà ngoại Mùi suốt những năm tháng tuổi thơ cô lớn lên trong gian nhà tập thể bến sông Hồng.
Ký ức về người cựu binh già Bùi Văn Tấn bên dòng sông Gianh đầy bom mìn chưa nổ, lời dặn rưng rưng của bà Châu Thị Sa dưới chân núi Cô Tô huyền thoại, và tờ biên lai cứu tế giữa rừng ngập mặn Cà Mau bỗng chốc nối liền lại với nhau, tạo thành một mạch nguồn ân nghĩa bền bỉ chảy dọc chiều dài đất nước.
Bà ngoại Mùi của cô—người đàn bà cả một đời bận rộn phục vụ những bữa ăn tập thể thời chiến và thời bao cấp, người từng bị đứa con gái ruột là mẹ Hà oán trách suốt mấy mươi năm vì mang tiếng bỏ rơi gia đình để theo đuổi lý tưởng nuôi người ngoài—hóa ra chưa từng một ngày nào nguôi ngoai món nợ ân tình đối với những người đồng đội đã nằm lại hoặc lưu lạc. Sau cơn bão dữ Linda quét qua Đất Mũi năm ấy, bà Mùi đã âm thầm trích từng đồng bạc còm cõi dành dụm từ những gánh cơm bến bãi, nhịn ăn nhịn mặc, giấu tên gửi vào phương Nam xa xôi để cưu mang, bảo bọc giọt máu của người đồng đội cũ trôi dạt về cuối trời đất nước.
“Má tao trước khi nhắm mắt dặn đi dặn lại,” Út Mai khẽ đưa vạt khăn rằn lau giọt nước mắt lăn dài trên gò má sạm đen rám nắng, “người gửi bức thư kèm món tiền cứu tế này là ân nhân sinh mạng của cả nhà tao. Nhờ mấy đồng tiền mua gạo ngày đó mà hai chị em tao sống sót qua cơn đói lạnh sau bão, mới có sức dựng lại cái chòi, bám lại mảnh đất này. Nhiều năm qua tao muốn tìm cách về ngoài Bắc để lạy tạ trước mộ người ta một lạy, mà nợ nần vuông tôm, nợ tiền con giống cứ trói chặt hai cái chân. Nay thấy con bé cháu ngoại của bà mang chiếc xe bếp lưu động vô tới tận mũi đất này, tao mới biết ơn nghĩa này đời tao trả không bao giờ hết.”
An không kìm được xúc động, cô vươn tay nắm chặt lấy bàn tay thô ráp, chai sạn của Út Mai. Bàn tay của người phụ nữ đất mũi chai sần vì cọc cừ tràm, vì phèn mặn và lưỡi dầm chém sóng, cũng giống hệt như bàn tay của mẹ Hà ở Hà Nội chai sạn vì những con số tính toán nợ nần quán ăn, giống như bàn tay bà Mùi từng chai cứng vì muôi nhôm và quai chảo gang thời tuyến lửa Trường Sơn. Họ đều là những người phụ nữ Việt Nam phải oằn lưng gánh trên vai những mất mát khốc liệt quá lớn của thời cuộc, chật vật sinh tồn theo những cách khắc nghiệt nhất mà không hề có quyền được lựa chọn sự yếu mềm.
Đêm khuya, ngọn đèn bão treo lủng lẳng bên hông chiếc xe Bếp Nhỏ tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt nhưng ấm áp lạ lùng, xua tan cái lạnh ẩm ướt và mùi sình lầy của cánh rừng ngập mặn. Dưới gầm xe, Khang nằm ngửa trên tấm bạt trải tạm, tiếng cờ-lê siết chặt từng đai ốc giảm xóc, tiếng kiểm tra dây curoa, bơm cao áp và hệ thống lọc gió máy nổ vang lên lách cách, nhịp nhàng và chuẩn xác. Anh tỉ mẩn lau sạch từng vệt dầu mỡ bám trên các khớp truyền động, hoàn thành đợt bảo dưỡng tổng thể cuối cùng cho cỗ máy cơ khí trung thành đã cùng họ lăn lộn qua hơn bốn ngàn cây số từ bắc chí nam, qua đèo cao, vực sâu, nương đá và đồng trũng sình lầy.
Trên chiếc bàn gập dã chiến đặt cạnh thùng đá sau xe, màn hình máy tính bảng của An bỗng bật sáng liên tục trong đêm tối. Biên tập viên Phạm Quỳnh Lam từ Cần Thơ vừa gửi bản duyệt khung lưu trữ số hóa hoàn chỉnh của toàn bộ ba mươi mốt thẻ công thức dân gian. Tất cả các tệp âm thanh hiện trường do Khang thu âm bằng thiết bị chuyên dụng—từ tiếng cối giã gạo của người Mông trên đỉnh Hà Giang, tiếng sóng vỗ mạn thuyền Cửa Tùng, tiếng xèo xèo của chảo cá linh Tri Tôn cho đến tiếng cọc tràm đóng bên mé rạch Cà Mau—cùng các dị bản ký ức đa dân tộc do An ghi chép tỉ mỉ, các cam kết đồng thuận và quyền phủ quyết của từng cộng đồng bản địa, đều đã được mã hóa an toàn dưới giấy phép phi thương mại quốc tế Creative Commons.
Cùng lúc đó, một tệp tin đính kèm từ luật sư Tạ Gia Bảo hiển thị văn bản pháp lý hoàn tất: toàn bộ hồ sơ tố cáo hành vi cài cắm thiết bị nghe lén trái phép trên xe Bếp Nhỏ và hành vi lạm dụng hợp đồng tài trợ độc quyền của Đỗ Thành Vinh đã chính thức được chuyển tới các cơ quan quản lý báo chí, thanh tra văn hóa và an ninh mạng. Mọi âm mưu thâu tóm, thương mại hóa kho tàng ẩm thực ký ức của tập đoàn Vị Việt đã bị bẻ gãy hoàn toàn ngay trước thềm chiến dịch quảng bá trục lợi của họ.
Ngay dưới đáy màn hình máy tính, điện thoại cá nhân của An rung nhẹ một hồi dài. Một dòng tin nhắn ngắn ngủi gửi từ số máy của mẹ Hà hiển thị trên màn hình:
*“Lá thư năm 1980 mẹ đã mở ra đọc rồi. Giỗ đầu bà Mùi vào ngày mùng chín, mẹ chờ ở bếp ven sông.”*
Nhìn dòng chữ của mẹ, nước mắt An lặng lẽ rơi xuống mu bàn tay. Cuối cùng thì bức tường thành câm lặng xây bằng những tổn thương và hiểu lầm suốt hơn bốn mươi năm qua giữa hai thế hệ trong gia đình cô đã thực sự nứt vỡ.
An hít một hơi thật sâu lồng ngực mùi gió biển Tây nồng nàn và ngai ngái mùi lá đước. Cô mở chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ cũ kỹ của bà ngoại, rút tấm thẻ thứ 31 bằng giấy bồi thô ráp cuối cùng ra. Cẩn thận đặt tấm thẻ lên nắp ca-pô xe tải ấm sực hơi máy, dưới ánh sáng vàng của ngọn đèn bão, An nắn nót viết từng dòng mực đen dứt khoát và trang nghiêm:
*“Thẻ số 31: Tôm rừng hấp nước dừa và Cá thòi lòi nướng muối ớt — Cam kết sinh tồn có điều kiện của cư dân Đất Mũi.* *Người truyền dạy: Nguyễn Út Mai (xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau).* *Ghi nhận thực tế: Bảo tồn thiên nhiên không thể là một khẩu hiệu đạo đức vô điều kiện khi người dân bản địa còn phải oằn mình dưới những khoản nợ sinh kế khắc nghiệt của đời sống thường nhật. Rừng ngập mặn chỉ thực sự được giữ lại khi mâm cơm của người giữ rừng được định giá công bằng và những người tiêu dùng ở đô thị sẵn sàng cùng chia sẻ rủi ro trước chân sóng dữ.”*
Sáng sớm hôm sau, triều cường bắt đầu rút cạn ra biển lớn, để lại những bãi bồi phù sa óng ánh sắc tím sẫm dưới ánh bình minh đỏ ối đang từ từ nhô lên từ phía chân trời. Cả một dải rừng đước bừng sáng trong sương mai, những búp chồi non xanh biếc vươn thẳng lên trời cao sau chuỗi ngày gồng mình chống chọi với sóng gió.
Chiếc vỏ lãi của Út Mai nổ máy giòn giã, xé toạc làn nước đục, đưa An và Khang xuôi rạch trở lại bến phà lớn. Nơi đó, chiếc xe Bếp Nhỏ hai tấn rưỡi đã được nổ máy sẵn sàng, đầu xe quay ngược về phương Bắc, hướng về con đường thiên lý dẫn về bến sông Hồng.
Đứng nơi mũi chiếc vỏ lãi lướt băng băng trên sóng, nhìn dải rừng đước bạt ngàn lùi dần về phía biển Đông mênh mông rực nắng, Khang quay sang, bàn tay vững chãi vỗ nhẹ lên bờ vai áo lấm lem bùn đất của An. Anh mỉm cười, giọng trầm ấm hòa vào tiếng máy nổ giòn tan:
“Hết ba mươi mốt chặng rồi. Giờ là lúc về đối mặt với cái bếp của mẹ mày.”