Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.26 / 32
Chương 26

Hơi Ấm Của Đất

Tiếng đục đẽo đều đặn và mùi đất sét nồng ẩm phả lên từ triền sông Đồng Nai khi chiếc xe Bếp Nhỏ rẽ vào con đường rải vỏ sò dẫn tới xóm lò gốm thủ công cuối cùng còn đỏ lửa.

Hai bên lối đi lồi lõm, những đống miểng sành vỡ ngổn ngang lẫn trong cỏ dại và xác cây khô. Khang lái chậm, bánh xe nghiến trên lớp đất đỏ pha cát lạo xạo từng chặng dài. Cách đây hơn mười năm, đoạn bờ sông này từng là thủ phủ trù phú của những lò gốm đất nung đỏ rực suốt ngày đêm, nơi ghe thuyền các tỉnh Nam Bộ tấp nập cập bến ăn hàng, chở những mẻ ơ, mẻ trõ, lu, khạp xuôi ngược khắp các nhánh kênh rạch miền Tây. Nhưng trước mắt An giờ đây chỉ còn lại cảnh tượng hoang tàn của một dải làng nghề đang dần kiệt sức trong cơn lốc đô thị hóa.

Những vòm lò gạch rêu phong cao vút một thời trơ trọi giữa trời như những bộ xương khô khổng lồ; phần lớn mặt bằng các xưởng gốm cũ đã bị san phẳng bằng xe ủi cơ giới để chia lô cho thuê làm bãi chứa cát xây dựng, hoặc kho bãi trung chuyển sắt thép gỉ sét ven sông. Vài ba cơ sở hiếm hoi còn thoi thóp hoạt động thì đã dỡ bỏ bàn xoay truyền thống, chuyển hẳn sang đúc khuôn chậu hoa lưu niệm giá rẻ bằng xi măng quét sơn công nghiệp sặc sỡ. Mỗi khi một chuyến xe tải chở vật liệu chạy ngang qua, bụi thạch cao trắng xóa lại bay mù mịt, phủ một lớp màng bụi bặm ảm đạm lên những tán dừa nước còi cọc ven bờ.

Chiếc xe dừng lại trước một căn nhà mái tôn thấp tè nép mình sát mép nước, nơi có tấm biển gỗ tạp đã mục nát treo lệch một bên cổng: *Lò gốm đất nung Sáu Được*.

Một người đàn ông luống tuổi, mái tóc hoa râm búi gọn sau gáy bằng một cọng dây chuối khô, hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc dính đầy bùn xám đang ngồi thụp bên chiếc bàn xoay thủ công bằng gỗ lim đã mòn vẹt. Nghe tiếng máy xe tắt ngấm và tiếng cửa kính hạ xuống, ông dừng tay chuốt, ngẩng lên, nheo mắt nhìn qua làn khói củi mỏng manh bốc ra từ miệng lò cóc phía sau chái bếp. Đôi mắt ông đùng đục màu tro trấu, hằn sâu những vết chân chim khắc nghiệt của người đã dành cả đời ngồi canh lửa.

— Hai đứa tìm ai? — Giọng người thợ già khô khốc, vang lên át cả tiếng sóng vỗ bì bõm dưới gầm sàn — Ở đây hết làm chậu kiểng xuất khẩu lâu rồi, chỉ còn mấy cái đồ đất nung thô kệch cho người ta đựng nước với nấu bếp củi thôi. Mua sỉ hay mua lẻ thì ra mấy vựa ngoài lộ lớn mà hỏi.

An bước xuống xe, hai tay bưng chiếc hộp gỗ mun cẩn thận, bước từng bước vững chãi qua khoảng sân rải đầy mảnh gốm nung quá lửa:

— Dạ chú Sáu, cháu là An, còn đây là anh Khang. Chị Trúc ở quán cơm bên Sài Gòn giới thiệu tụi cháu tìm đến chú. Chị dặn cháu nhất định phải ghé tận nơi để xin chú chỉ dạy về chiếc niêu đất kho cá truyền thống của lò mình ạ.

Nghe nhắc đến cái tên Trúc, ánh mắt nghiêm nghị và đầy cảnh giác của người thợ già bỗng chốc dịu lại. Ông buông thanh gạt bằng cật tre xuống mép chậu nước, chùi đôi bàn tay cáu bùn vào chiếc tạp dề bằng bao bố tơi tả, đứng dậy bước ra bậc thềm hiên nước:

— Con Trúc hả? Nó điện dặn tao từ hai bữa trước, biểu có hai đứa nhỏ chạy xe bếp đi lùng khắp xứ tìm đồ nấu ăn ghé qua. Lại đây, múc nước lu mà rửa cái mặt cho mát rồi vô xưởng. Cái xóm này giờ người ta kéo nhau đi làm công nhân khu công nghiệp hết ráo, chỉ còn lão già này ôm đống đất bờ sông mà thở dài mỗi bận nhìn con nước lớn ròng.

Ông Sáu Được dẫn An và Khang đi vòng ra phía sau chái xưởng, nơi sàn đất nện ẩm ướt nằm sát mép triền phù sa màu nâu thẫm. Dưới mái lá dừa nước dột nát, từng khối đất sét thô màu xám chì được chất thành đống cao ngập đầu người, phủ bạt kín để giữ độ ẩm tự nhiên. Không gian sực nức thứ mùi ngai ngái, vừa có vị tanh nồng của bùn sông phơi nắng, vừa có vị hăng nồng của tro than lâu năm ngấm vào thớ đất.

Ông Sáu cúi người, lật mép bạt lên, dùng ngón tay cái thô ráp ấn sâu vào một tảng đất đặc quánh. Ông vê nhẹ một mẩu đất nhỏ giữa hai đầu ngón tay rồi đưa lên sát mũi ngửi một hơi dài:

— Đất làm niêu kho cá không thể tiện tay lấy đất thịt đồng bằng hay đất sét trắng dẻo quánh chuyên làm chén đĩa bóng bẩy ngoài thị trường được. Muốn kho được con cá ngon, phải lặn xuống lấy cho bằng được lớp đất sét tầng sâu ven triền sông Đồng Nai này. Tự thân cái mạch đất ở khúc sông này đã pha lẫn một tỷ lệ cát phù sa hạt mịn rất đều, trời sinh ra đã vậy rồi. Cái thứ đất pha cát này dở ở chỗ không tài nào chuốt mỏng manh, nuột nà hay tráng men láng o như đồ gốm ngoại nhập, nhưng cái hay độc nhất vô nhị của nó là đất biết thở.

Nói đoạn, ông bước sang chiếc chum sành bên cạnh, vốc một nắm đất khô đã qua khâu nghiền mịn và sàng lọc rác rơm, từ từ thả rơi qua kẽ ngón tay cho An nhìn rõ từng hạt mịn li ti lấp lánh dưới nắng:

— Đất lấy về đâu phải nặn liền được. Phải ủ trong bóng râm hàng tháng trời, rồi người thợ phải dùng chân trần đạp đất trần xì suốt cả ngày cho tơi hết bọt khí ẩn bên trong, dẻo như mạch nha rồi mới đưa lên bàn xoay chuốt hình từng cái một. Khi nung bằng củi tạp trong lò cóc, ngọn lửa củi phải được giữ liu riu, tuyệt đối không được nôn nóng đùn củi lớn, phải giữ lửa đỏ suốt ba ngày ba đêm ròng rã để nhiệt độ trong lòng lò chạm ngưỡng tám trăm đến chín trăm độ C.

Ông vỗ tay bôm bốp vào hông chiếc niêu vừa chuốt xong còn ướt:

— Mức nhiệt đó vừa đủ độ chín để các hạt khoáng trong đất kết khối rắn chắc thành sành, nhưng lại không bao giờ được phép để men hóa thủy tinh bít kín bề mặt như đồ sành tráng men bóng. Chiếc niêu đất chuẩn mực của dân xứ này là khi gõ nhẹ vào thân, tiếng vang của nó phải trầm đục và ấm áp như tiếng sấm xa, chứ không đanh gắt như đồ gốm nung nhiệt độ cao. Quan trọng nhất là bên trong thành đất dày cộm kia vẫn còn lưu giữ hàng triệu triệu lỗ xốp vi mô li ti. Chính mấy cái lỗ thở vô hình đó mới là thứ làm nên linh hồn của ơ cá kho.

Nhận thấy vẻ trầm trồ trong mắt An, ông Sáu Được bảo cô mang hai khứa cá lóc đồng tươi roi rói vừa mua ở chợ huyện lúc sáng sớm lên gian bếp lưu động của chiếc xe Bếp Nhỏ. Người thợ già muốn đích thân thực hiện một phép đối chứng thực nghiệm ngay trên hai họng bếp gas dã chiến đặt cạnh nhau, để hai người trẻ tận mắt nhìn thấy cái lý của đất và lửa mà ông đã bám giữ suốt hơn nửa đời người.

Một bên bếp, ông đặt chiếc niêu đất nung màu đỏ sậm, dáng tròn bầu, nắp đậy vừa khít đáy sâu do chính tay ông nung từ mẻ lò tháng trước. Bên còn lại, ông đặt chiếc nồi nhôm công nghiệp đáy mỏng bóng loáng mà An vẫn thường dùng để nấu nước sôi và các món xào nhanh trên đường thiên lý.

Hai phần cá lóc đồng có trọng lượng hoàn toàn bằng nhau, được tẩm ướp cùng một lượng nước mắm cá cơm nguyên chất thơm nồng, nước màu mía thắng khét nhẹ vừa tới độ nâu cánh gián, vài muỗng mỡ gáy heo thái hạt lựu trong veo, hành tím đập dập và một nhúm tiêu sọ giã giập. Cùng lúc, ông Sáu vặn hai núm bếp gas, ngọn lửa xanh bốc lên ôm lấy đáy của hai vật chứa ở cùng một mức nhiệt lượng cố định.

Chỉ sau chưa đầy hai phút, sự khác biệt giữa hai chất liệu bắt đầu hiển lộ một cách rõ rệt.

Ở chiếc nồi nhôm mỏng, tính dẫn nhiệt kim loại quá nhanh khiến đáy nồi nóng rẫy lên tức khắc. Lớp nước kho cá bên trong sôi bùng lên dữ dội, những bong bóng nước to tướng vỡ toạc liên tục trên mặt thoáng làm hơi nước và tinh dầu gia vị thoát ra ồ ạt, cuốn theo mùi thơm ngào ngạt tản mát nhanh chóng vào không gian xung quanh. Miếng cá lóc bị dòng nước sôi cuồn cuộn lay giật liên tục trên mặt kim loại trơ lì. Chỉ sau năm phút, lớp da mỏng manh ở sống lưng cá đã bắt đầu rách toạc, bong tróc khỏi thớ thịt. Thịt cá co rút đột ngột do sốc nhiệt, mép ngoài bắt đầu có dấu hiệu vỡ vụn lả tả dù nhìn sâu vào phần tủy xương bên trong vẫn còn đỏ ửng sắc máu tươi.

Trong khi đó, ở chiếc niêu đất của ông Sáu Được, nhiệt lượng từ ngọn lửa gas không thể truyền thẳng vào lòng nồi một cách thô bạo. Đáy đất nung dày dặn từ từ hấp thụ nhiệt, phân tán luồng nóng đều khắp chu vi rồi mới chậm rãi truyền dẫn vào lớp nước kho. Lớp nước sốt không hề sôi ùng ục mà chỉ sủi tăm tăm như bọt mắt cua nơi khóe mép. Tiếng sôi lục bục trầm đục, êm ả ngân vang đều đặn bên dưới chiếc nắp đất đậy kín.

An ghé sát tai lắng nghe, cô có thể cảm nhận được luồng hơi nước luân chuyển tuần hoàn bên trong lòng niêu. Các lỗ xốp vi mô của thành đất nung đóng vai trò như một bộ đệm nhiệt hoàn hảo: chúng ngậm nhiệt chậm nhưng tích giữ nhiệt cực kỳ bền bỉ. Hơi nước bốc lên gặp nắp đất nung sẽ ngưng tụ lại rồi nhỏ giọt tuần hoàn xuống mặt cá, trong khi một lượng áp suất dư thừa rất nhỏ được nhả từ từ qua kẽ đất xốp và khe nắp, tuyệt nhiên không làm xáo trộn hay xé rách cấu trúc liên kết của miếng cá.

Sau bốn mươi phút hạ nhỏ lửa tối đa để om than theo đúng phép nấu truyền thống, ông Sáu Được tắt bếp, dùng miếng giẻ lau nhấc nắp hai dụng cụ ra.

Cảnh tượng bên trong phơi bày trần trụi tính chất của hai trường phái nấu nướng. Ở chiếc nồi nhôm đáy mỏng, nước kho đã cạn khô trơ đáy từ lúc nào, để lại một vệt khét sém đen sì ở một bên rìa đáy nồi. Khứa cá lóc bị mất nước quá nhanh nên thịt khô xác, teo tóp lại, bề mặt xơ cứng và nhạt thếch.

Trái lại, bên trong chiếc niêu đất nung, một cảnh tượng tuyệt mỹ hiện ra trước mắt An: lớp nước kho không hề bị cạn kiệt mà đã keo lại, sánh đặc như mật mía nguyên chất, bám đều một lớp màu nâu đỏ bóng bẩy quanh từng thớ thịt cá. Mùi thơm của mỡ hành, tiêu sọ và nước mắm quyện chặt vào nhau thành một khối hương trầm ấm, cô đặc đến nghẹn ngào.

Ông Sáu Được cầm đôi đũa tre, khẽ tách đôi khứa cá trong niêu đất. Thớ thịt cá bên trong săn chắc, đàn hồi kỳ lạ, ngậm trọn từng giọt mỡ heo béo ngậy và vị mặn ngọt đậm đà thấm thía đến tận thớ thịt sâu nhất. Khi ông dùng đầu đũa ấn nhẹ vào đốt xương sống tròn ở giữa, đốt xương mềm rục ra dễ dàng như một miếng sụn non mà toàn bộ khối thịt xung quanh vẫn giữ nguyên vẹn hình hài, không hề bị vỡ nát dù chỉ một mảnh nhỏ.

— Thấy chưa hai đứa? — Người thợ già khẽ nheo mắt cười, nụ cười làm giãn ra những nếp nhăn khắc khổ quanh khóe miệng — Cái nồi nhôm dẫn nhiệt lẹ làng như người trẻ nông nổi, nước bốc hơi cái vèo làm thớ thịt bên ngoài co rúm lại mà bên trong xương tủy chưa kịp ấm. Còn cái niêu đất này, nó giữ hơi ấm âm ỉ trong lòng. Đất nung nhả nhiệt từ tốn, om cho tủy xương tiết ra ngọt lịm rồi ngấm ngược trở lại từng thớ thịt. Nấu cá kho mà không có cái niêu đất thì coi như người nấu mới làm xong phần xác, còn cái hồn mềm mại, cái tình sâu nặng của món ăn thì đã bay biến đi đằng nào tự thuở nào rồi.

Khi mùi cá kho tiêu ngào ngạt vừa lan tỏa khắp khoảng sân đất nện, quyện vào làn gió lộng thổi từ triền sông lên thì tiếng một chiếc xe máy số cũ kỹ lạch cạch vang lên ngoài ngõ.

Một người phụ nữ trạc ba mươi tuổi, dáng vẻ mảnh khảnh nhưng nhanh nhẹn, mặc chiếc áo sơ mi công sở đã bạc màu và bám đầy bụi đường bước vội vào sân. Đó là Nhã, người con gái duy nhất của ông Sáu Được. Cô từng học xong đại học, làm kế toán nhiều năm tại một công ty vận tải lớn ở Sài Gòn, nhưng cách đây sáu tháng đã bất ngờ nộp đơn xin nghỉ việc để quay về xóm lò gốm hoang tàn này sống cùng cha.

Vừa bước qua cổng, nhìn thấy mớ niêu đất thô đáy tròn xếp cao thành từng chồng ngổn ngang trên kệ tre ngoài trời, nét mặt Nhã lập tức chùng xuống, trĩu nặng những nỗi âu lo không thể giấu giếm. Cô chào An và Khang bằng một cái gật đầu vội vã, đầy mệt mỏi rồi quay sang nhìn cha mình, cất giọng gay gắt chứa đựng sự ức chế đã bị dồn nén qua nhiều ngày tháng:

— Ba lại đốt lò nung thêm một mẻ niêu tròn cồng kềnh này nữa hả ba? Con đã thưa với ba không biết bao nhiêu lần rồi, thời buổi này người ta ở nhà phố, ở chung cư, nấu bếp từ với bếp hồng ngoại phẳng lì, ai rảnh đâu mà ngồi canh lửa rơm củi suốt ba tiếng đồng hồ chỉ để kho một ơ cá! Mấy tiệm tạp hóa với mối sỉ ngoài chợ huyện họ vừa gọi điện hủy nốt mấy đơn hàng cuối cùng rồi đó. Người tiêu dùng giờ họ chuộng nồi chống dính đáy từ, nồi gang tráng men ngoại nhập vừa lau rửa lẹ làng, vừa sáng choang căn bếp. Ba cứ khư khư ôm lấy mấy cái dáng niêu cổ lỗ sĩ này thì xưởng mình lấy tiền đâu ra mà trả nợ tiền mua củi tạp, rồi tiền thuế đất mặt sông sắp tới hạn đây ba?

Ông Sáu Được quắc mắt, ngực phập phồng sau lớp áo nâu sờn, ngón tay run run chỉ thẳng vào cửa vòm lò nung đang còn ấm:

— Mày thì biết cái gì ngoài mấy con số trên giấy tờ sổ sách! Cái dáng niêu đáy tròn này là của ông nội mày truyền lại từ thời khẩn hoang lập ấp. Cái bụng tròn vo thì ngọn lửa củi nó mới ôm trọn được lòng nồi, cái miệng nó túm lại thì hơi ấm mới gom tụ về giữa, cá mới chín rục từ trong xương. Bây giờ đè ra gọt cho nó vuông vức, dát cho nó phẳng lì thì nó còn là chiếc niêu đất truyền thống của dân Đồng Nai nữa không? Hay nó lại biến thành một cái ơ tráng men vô hồn, nhạt nhẽo như mấy món đồ nhựa dẻo ngoài chợ?

— Nhưng không bán được cho ai thì cái lò này phải đóng cửa vĩnh viễn! — Nhã nghẹn ngào, hai mắt đỏ hoe vì vừa giận vừa thương người cha già bảo thủ — Con không muốn ba phải cắn răng ký giấy bán rẻ cái nền đất bờ sông này cho người ta làm bãi phế liệu sắt vụn! Ba thử bước chân ra ngõ nhìn quanh xóm coi, còn nhà nào giữ được lò củi nữa đâu? Người ta đập lò, bán đất đi xứ khác hết rồi! Con bỏ việc văn phòng về đây thui thủi một mình không phải để cãi tay đôi với ba, mà con muốn tìm một con đường sống cho cái xưởng này!

Nói xong trong cơn tức nghẹn, Nhã mở chiếc cặp da công sở đã sờn rách các góc, lôi ra một tập bản vẽ kỹ thuật phác thảo chi tiết bằng bút mực đen đặt mạnh lên mặt bàn gỗ tạp.

An và Khang liếc nhìn nhau rồi cùng bước lại gần mép bàn. Trên những trang giấy kẻ ô li ngay ngắn là các mẫu thiết kế niêu gốm được cách tân một cách vô cùng tỉ mỉ và khoa học: phần đáy niêu bên ngoài được tạo hình phẳng hoàn toàn để có thể tiếp xúc trọn vẹn và an toàn với mặt kính phẳng của bếp từ, bếp hồng ngoại hiện đại; tuy nhiên, lòng trong của niêu vẫn giữ nguyên độ cong parabol truyền thống để dòng đối lưu nhiệt của nước kho không bị triệt tiêu; thành niêu được thu gọn lại thanh thoát hơn với hai quai cầm đúc liền thân có gờ chịu lực chống trượt; đặc biệt nhất là phần nắp niêu được tính toán lại với rãnh âm dương sâu hơn gấp đôi bình thường nhằm giữ kín áp suất hơi ẩm tối đa trong suốt chu trình om nhiệt.

— Chị Trúc bên chuỗi cơm niêu gia đình ở Sài Gòn đã liên hệ với con tuần trước — Nhã chỉ ngón tay run run vào từng thông số kỹ thuật trên bản vẽ, giọng cô chùng xuống nhưng ánh mắt thì vô cùng kiên quyết — Họ cần đặt đều đặn năm trăm chiếc niêu đất cỡ nhỏ dùng một lần trên bàn ăn mỗi tháng. Yêu cầu tiên quyết của họ là niêu phải chịu được cú sốc nhiệt cực lớn từ ngọn lửa khè công nghiệp mà không bị nứt toác đáy, đáy phải phẳng lì để đặt vừa khít lên các kiềng bếp hiện đại. Nếu ba chịu cải tiến lại bài men tự nhiên và phom dáng theo mẫu thiết kế này, xưởng mình sẽ có ngay một hợp đồng bao tiêu dài hạn, cứu được công ăn việc làm cho năm bác thợ chuốt già trong xóm đang thất nghiệp. Còn nếu ba cứ nhất quyết giữ khư khư cái niêu tròn đáy cong chỉ để nấu trên kiềng ba chân bếp củi, thì nội trong tháng sau là mình dẹp lò, dọn đồ đi nơi khác là vừa!

Khoảng sân nhỏ bỗng chốc rơi vào một sự im lặng nặng nề đến nghẹt thở. Tiếng gió thổi qua rặng dừa nước nghe xào xạc như tiếng thở dài của dòng sông.

Ông Sáu Được đứng chôn chân tại chỗ, nhìn trân trân vào những nét vẽ bằng mực đen sắc sảo và ngay ngắn của con gái. Đôi bàn tay gân guốc, chai sần cả một đời vì đất sét khẽ siết chặt lấy mép chiếc tạp dề bao bố. Là một người thợ lành nghề, ông nhìn qua là hiểu ngay những thông số kỹ thuật kia hoàn toàn chính xác và có cơ sở thực tế. Nhưng đối với một nghệ nhân đã gắn bó máu thịt với chiếc bàn xoay truyền thống suốt năm mươi năm qua, việc phải bẻ gãy phom dáng cũ, thỏa hiệp với nhịp sống vội vã và tiện dụng của thị thành giống như một nhát dao cứa thẳng vào lòng tự trọng và niềm kiêu hãnh nghề nghiệp của ông.

Nhận thấy sự bế tắc đang đè nặng lên hai cha con, Khang khẽ bước lên một bước, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt bằng giọng trầm tĩnh:

— Chú Sáu, những tính toán của chị Nhã về mặt kết cấu sử dụng là rất thực tế ạ. Nhưng cháu xin phép có một góp ý nhỏ về mặt kỹ thuật nung: để một chiếc niêu đất nung đáy phẳng chịu được ngọn lửa khè công nghiệp tập trung tại một điểm mà không bị nứt toác vì giãn nở nhiệt cục bộ, kết cấu vòm nhiệt của lò và tỷ lệ bột samốt trong mẻ đất nung lần hai phải được tính toán lại hoàn toàn. Ban nãy khi đi ngang qua vòm lò cóc phía sau, cháu quan sát thấy lớp gạch chịu nhiệt ở đỉnh vòm đang bị nứt toác một vệt dài gần hai mét. Nhiệt lượng bên trong lò đang bị thất thoát ra ngoài rất nhiều, khiến nhiệt độ không thể om đều từ trên xuống dưới được. Đó là lý do mẻ niêu vừa rồi của chú có vài chiếc bị cong vênh đáy. Nếu chú đồng ý, cháu xin phép được xắn tay áo cùng anh thợ phụ trám lại vòm lò giúp chú trước, rồi ta sẽ tính tiếp chuyện thử nghiệm mẻ niêu mới.

Ông Sáu Được ngẩng đầu lên nhìn Khang. Đôi mắt người thợ già dừng lại trên đôi bàn tay sạm đen, dính những vệt dầu mỡ máy móc nhưng ngón tay thon dài và ánh mắt toát lên sự am hiểu sâu sắc về nguyên lý nhiệt động học. Một thoáng ngạc nhiên lướt qua gương mặt ông, rồi ông khẽ gật đầu, thở hắt ra một hơi dài:

— Đất sét chịu nhiệt với tro trấu tao đã ngâm sẵn trong bể ủ phía sau vách nứa kia. Mày thực sự biết làm thì theo tao ra sau chuốt lại cái vòm lò.

Không một chút chần chừ, Khang cởi phăng chiếc áo khoác bạc màu, để lộ cánh tay rắn chắc mang một vết sẹo dài đã mờ ở cổ tay trái. Anh thoăn thoắt trèo lên chiếc giàn giáo tre ọp ẹp bắc ngang lưng vòm lò cóc cùng người thợ phụ. Khang dùng chiếc búa gõ nhẹ, cẩn thận đục sạch toàn bộ lớp xỉ than và vữa vôi đã mục rã bám quanh vết nứt dọc đỉnh vòm.

Dưới sự chỉ dẫn nhịp nhàng của Khang, hỗn hợp đất sét dẻo pha bột đá samốt chịu lửa và tro trấu mịn được nhào trộn theo một tỷ lệ kết dính hoàn hảo. Khang cầm chiếc bay thợ hồ, tỉ mỉ miết từng lớp vữa dẻo quánh vào sâu tận các kẽ nứt li ti của khối gạch chịu lửa. Đôi bàn tay anh làm việc thoăn thoắt nhưng vô cùng cẩn trọng; anh lấy những thanh nẹp thép dã chiến từ hòm đồ nghề của xe Bếp Nhỏ mang sang, siết chặt các viên gạch bị xô lệch lại với nhau thành một khối vòm chịu lực vững chãi. Đôi tai Khang áp sát vào vách lò, lắng nghe tiếng gõ đanh gọn của từng viên gạch để cảm nhận độ rung và hướng lưu chuyển của luồng khí nóng đối lưu bên trong lòng vòm.

Trong khi Khang cặm cụi trên giàn giáo, ở dưới sân đất nện, An kéo một chiếc ghế đẩu lại ngồi xuống cạnh Nhã và ông Sáu Được. Cô mở cuốn sổ tay hành trình bìa da sờn mép của mình, lật ra những trang giấy trắng và bắt đầu đặt từng con số cụ thể lên bàn tính toán cùng hai cha con.

An không chỉ nhìn nhận vấn đề đơn thuần ở góc độ chi phí mua đất sét, giá củi tạp hay tỷ lệ hao hụt do co ngót tự nhiên khi nung trong lò củi, mà cô giúp họ bóc tách một cách thấu đáo và minh bạch giá trị của sức lao động thủ công:

— Chú Sáu, chị Nhã, để chiếc niêu đất cách tân này có thể đứng vững trên thị trường của các chuỗi ẩm thực truyền thống độc lập, chúng ta tuyệt đối không thể tự hạ thấp mình để định giá nó ngang hàng với những chiếc niêu đất chợ rẻ tiền sản xuất đại trà bằng máy ép thủy lực được. Mỗi một chiếc niêu chuốt bằng tay trên bàn xoay thủ công này là một tác phẩm mang định danh văn hóa của triền sông Đồng Nai. Tiền công chuốt gốm của các nghệ nhân già trong xóm phải được hạch toán đầy đủ và sòng phẳng, ít nhất phải cao gấp rưỡi mức công nhật của thợ phụ hồ ngoài công trình thì các bác mới có thể yên tâm giữ nghề và truyền nghề cho con cháu.

An nhìn thẳng vào mắt Nhã, giọng cô ấm áp nhưng đanh thép:

— Em sẽ đứng ra làm cầu nối, đề xuất với chị Trúc và Hợp tác xã Đường Xa ký một biên bản ghi nhớ bảo trợ dài hạn: phía chuỗi nhà hàng cam kết thu mua toàn bộ số niêu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật với mức giá công bằng và ổn định quanh năm; đổi lại, lò gốm của chú Sáu cam kết duy trì chất lượng bài đất sạch khai thác tự nhiên từ lòng sông, tuyệt đối không pha tạp hóa chất kết dính công nghiệp và không sử dụng các loại men chì độc hại để tráng bóng bề mặt. Giá trị của chiếc niêu nằm ở chỗ nó thở được và an toàn tuyệt đối cho sức khỏe người ăn cơm.

Nhìn những con số rành mạch, công bằng và chan chứa sự tôn trọng đối với mồ hôi của người thợ già được An vạch ra từng dòng trên trang giấy, sự căng thẳng trên gương mặt Nhã dần tan biến, thay vào đó là niềm xúc động nghẹn ngào. Cô khẽ đưa bàn tay mềm mại của mình nắm lấy bàn tay thô ráp, chai sần đầy bùn đất của cha:

— Ba... con đi làm xa về, nhìn xóm mình tan hoang con xót ruột quá nên mới nói năng cộc cằn với ba. Con chưa bao giờ có ý muốn xóa bỏ cái nghề mà ông nội đã đổ mồ hôi gầy dựng cả. Con chỉ muốn tìm một cách để khói của cái lò này không bao giờ tắt thôi ba à.

Ông Sáu Được lặng lẽ nhìn con gái, rồi ngước mắt nhìn lên đỉnh vòm lò vừa được Khang gia cố lại phẳng phiu, vững chãi như một chiếc mai rùa kiên cố. Đôi mắt người thợ già chớp chớp, ngân ngấn nước nhưng khóe miệng khẽ mỉm cười:

— Cái con nhỏ này... nói hoài mà không biết mỏi miệng. Thôi được rồi, mẻ nung sáng mai tao sẽ tự tay chuốt thử năm chục cái niêu đáy phẳng theo đúng cái hình vẽ trong giấy của mày. Nhưng tao giao kèo trước, cái bài đất sét pha cát mịn phù sa với cái lệ nung củi ba ngày ba đêm cho đất chín tới thì một ly tao cũng không bớt xén đâu nghe chưa!

Đến cuối buổi chiều tà, khi mặt trời lặn dần sau rặng dừa nước bên kia sông, mẻ lò nung thử nghiệm nhằm nghiệm thu vòm nhiệt mới của Khang đã hoàn thành chu kỳ làm nguội nhanh bằng luồng gió tự nhiên.

Cửa lò bằng gạch mộc được cẩn thận dỡ ra trong làn hơi ấm còn sót lại. Từng chiếc niêu đất đỏ au, bề mặt mịn màng nhưng vẫn giữ nguyên độ nhám tự nhiên của cát phù sa được chuyển ra ngoài sân trong tiếng reo vui rạng rỡ của mọi người.

Khang cầm hai chiếc niêu đất mới ra lò lên ngang tầm mắt, khẽ gõ nhẹ hai vành gốm vào nhau. Một âm thanh lanh lảnh, ngân vang trong trẻo và ấm áp như tiếng chuông đồng vang lên giữa không gian tĩnh lặng của buổi hoàng hôn. Anh lập tức rút chiếc máy ghi âm chuyên dụng cài bên túi áo, bật nút ghi lại trọn vẹn chuỗi âm thanh đanh chắc ấy, hòa cùng tiếng thở phì phò ấm áp của ngọn lửa củi đang nhen nhóm lại bên miệng lò — một thứ âm thanh lao động thuần khiết, nhọc nhằn mà anh muốn cất giữ cẩn thận vào kho tư liệu âm thanh của chiếc xe Bếp Nhỏ.

Ngay tại gian bếp di động phía sau đuôi xe, An lập tức bắc chiếc niêu đất nung đáy phẳng mới toanh vừa ra lò lên kiềng bếp gas dã chiến. Cô quyết định làm một phép thử cuối cùng: nấu một mẻ cá bống kho tiêu rừng. Số muối tiêu rừng hạt sẻ thơm ngát mà bà Năm Chắt đã trao tặng cho cô ở vùng đất Tây Ninh chiều hôm qua, nay được An đem ra phối hợp cùng mẻ cá bống cát tươi rói vừa được người dân chài kéo lưới dưới lòng sông Đồng Nai mang lên biếu.

Dưới đáy niêu phẳng tì chắc chắn và êm ái trên kiềng sắt, nhiệt lượng lan tỏa từ từ và phân bổ đều tăm tắp khắp thân gốm. Từng miếng mỡ heo trong veo sôi lăn tăn, lớp nước màu sánh quyện ngấm sâu vào từng thớ thịt cá bống trắng ngần, làm dậy lên một mùi thơm ấm nồng, ngây ngất, quyện chặt lấy vị cay the sâu lắng của tiêu rừng, tỏa hương ngạt ngào khắp một khúc sông lộng gió.

Bên chiếc bàn ăn dã chiến mở ra sau thùng xe, An ngồi xuống, mở chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ quen thuộc. Cô rút tấm thẻ thứ hai mươi sáu bằng giấy bìa cứng màu ngà ra, cẩn thận chấm ngòi bút máy mực đen, nắn nót viết từng dòng chữ chứa chan suy ngẫm sau một ngày dài trải nghiệm:

*“Thẻ số 26: Niêu đất nung phù sa ven sông Đồng Nai — Kỹ thuật giữ nhiệt lỗ xốp vi mô và bài học về vật chứa.* *Dụng cụ nấu nướng trong gian bếp không đơn thuần là đồ vật vô tri; nó chính là một nửa linh hồn làm nên sự trọn vẹn của món ăn. Sự kết hợp kỳ diệu giữa hạt đất sét dẻo và cát phù sa mịn nơi lòng sông Đồng Nai, dưới sự tôi luyện kiên nhẫn của ngọn lửa củi ba ngày ba đêm, đã tạo nên một không gian tuần hoàn hơi ẩm hoàn hảo. Ở đó, sự mềm mại của thịt cá và vị ngọt đậm đà của tủy xương được đánh thức một cách tự nhiên mà không cần đến sự vội vã thô bạo của nhiệt lượng công nghiệp. Giữ lấy chiếc niêu đất truyền thống không phải là sự níu kéo hoài niệm một cách mù quáng hay bảo thủ bất biến, mà là sự dũng cảm trao cho đất đai quê hương một hình hài mới mẻ, thích ứng với thời đại để tiếp tục nuôi dưỡng hơi ấm nhân sinh trong nhịp sống hôm nay.”*

Giữa lúc An vừa hong khô nét mực đen còn ướt trên mặt giấy thì tiếng chuông điện thoại di động trong túi áo cô reo vang dồn dập. Màn hình hiện lên tên người gọi: Luật sư Tạ Gia Bảo.

An vội vàng bấm nút nhận cuộc gọi. Giọng nói của luật sư Bảo vang lên rành rọt qua loa thoại, nhưng ẩn sâu bên dưới là một sự căng thẳng tột độ khiến An lập tức siết chặt bàn tay:

— An à, anh gọi để thông báo cho em hai tin quan trọng, một tin lành và một tin rất dữ dội. Tin lành là sau khi phía văn phòng luật của chúng ta hoàn tất việc công bố toàn bộ hồ sơ pháp lý minh bạch về tính sở hữu công cộng của 32 thẻ công thức, đồng thời gửi công văn yêu cầu điều tra chính thức sang Cục An ninh mạng, phía Đỗ Thành Vinh cùng tập đoàn Vị Việt đã chính thức nộp đơn xin rút toàn bộ các yêu cầu khởi kiện. Bọn họ cũng đã âm thầm xóa bỏ tất cả các bài viết truyền thông mang tính chất vu khống cô Mùi và hành trình của em trên mạng xã hội. Họ biết rõ về mặt luật pháp, họ không còn bất kỳ cơ sở nào để chạm tay vào bộ thẻ thuộc về di sản cộng đồng này nữa.

An thở phào nhẹ nhõm một nhịp, lồng ngực như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân. Thế nhưng, giọng nói của Bảo ở đầu dây bên kia lập tức chùng xuống, trở nên sắc lạnh và đầy cảnh giác:

— Nhưng tin dữ là, một kẻ mưu mô như Vinh sẽ không đời nào chịu chấp nhận thất bại dễ dàng như vậy. Bọn họ đã thay đổi toàn bộ hướng tiếp cận chiến lược. Qua các nguồn tin pháp lý tin cậy từ Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố, anh vừa phát hiện ra một công ty con nằm trong hệ sinh thái đầu tư bất động sản của Vị Việt đang âm thầm làm việc với chính quyền địa phương khu vực bến sông Hồng. Bọn họ đang tìm cách gom mua toàn bộ các thửa đất liền kề xung quanh căn bếp cũ của gia đình em dưới danh nghĩa một dự án chỉnh trang và cải tạo cảnh quan đô thị ven sông. Nếu bọn họ hoàn tất việc thâu tóm vành đai đất xung quanh, căn bếp cổ của bà ngoại em sẽ bị cô lập hoàn toàn thành một ốc đảo kẹt cứng giữa quy hoạch dự án, và khi đó mẹ em sẽ phải đối mặt với một áp lực giải tỏa trắng vô cùng tàn khốc. Em và Khang phải chuẩn bị sẵn sàng tâm lý, cuộc chiến thực sự để bảo vệ gian bếp cội nguồn ở quê nhà bây giờ mới chính thức bắt đầu.

Từng lời nói rành rẽ của luật sư Bảo rơi vào tai An như tiếng sấm sét xé toạc bầu không khí yên bình của buổi chiều muộn trên xóm lò gốm. An chết lặng, bàn tay cô siết chặt lấy chiếc điện thoại đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra. Ánh mắt cô vô thức hướng về phương Bắc xa xăm, nơi căn bếp lợp ngói âm dương phủ đầy rêu phong của bà Mùi đang nằm chơ vơ bên mép nước sông Hồng đầy sóng gió ngầm.

Khang im lặng bước lại gần, bàn tay to bản và ấm áp của anh đặt nhẹ nhưng vô cùng vững chãi lên bờ vai đang run lên nhè nhẹ của cô, như một điểm tựa thầm lặng không bao giờ rời bỏ.

Bên cạnh họ, dưới bóng hoàng hôn đỏ rực đang hắt lên từ mặt nước sông Đồng Nai, nghệ nhân Sáu Được đang cẩn thận cúi người nâng niu chiếc niêu đất nung mới tinh vừa nguội hẳn trên đôi bàn tay gân guốc dính đầy bùn xám.

Gõ nhẹ ngón tay vào thân niêu đất nung kêu đanh như chuông đồng, ông Sáu Được cười buồn:

— Cái nồi nhôm giữ thức ăn cho no, còn cái niêu đất này giữ cái tình của đất với lửa.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn