Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.24 / 32
Chương 24

Góc Hẻm Nghìn Người

Tiếng còi xe tải nặng gầm rú lẫn trong hơi nóng ngột ngạt của đại lộ dội thẳng vào cabin chiếc xe Bếp Nhỏ ngay khi bánh trước vừa chớm qua vạch sơn ngã tư. Một tiếng "khục" khô khốc vang lên từ bên dưới sàn xe, kéo theo chuỗi âm thanh kim loại cắn xé nhau rợn người. Chiếc xe giật nảy lên hai nhịp rồi khựng lại giữa giao lộ ken đặc. Khang đạp lút chân côn, nhưng bàn đạp mềm oặt dưới đế giày, trong khi cần số rung bần bật rồi kẹt cứng ngắc ở rãnh số ba.

Mùi dầu hộp số cháy khét lẹt — thứ mùi ngai ngái, nồng gắt của lưu huỳnh và kim loại bị mài mòn quá nhiệt — bốc ngược qua các khe hở của tấm lót sàn, quyện chặt lấy khói xả đậm đặc từ hàng trăm ống bô xe gắn máy đang nhích từng centimét xung quanh. Còi xe réo liên hồi như xé màng nhĩ. Người đi đường tạt qua hai bên sườn xe, buông những cái nhìn bực dọc hoặc những tiếng chửi thề chìm nghỉm trong tiếng gầm rú của động cơ.

Khang nghiến chặt quai hàm, cơ mặt căng cứng. Bàn tay trái của anh — vết thương sau tai nạn trượt đèo vừa mới tháo nẹp cố định chưa đầy một tuần, mu bàn tay còn tím bầm và các khớp ngón vẫn sưng sượng — gượng gạo vươn ra gạt chốt đèn khẩn cấp. Anh buông tay lái, dằn mạnh hai nắm đấm xuống đầu gối để kiềm chế cơn đau nhức buốt từ khớp cổ tay truyền thẳng lên bả vai.

— Bể nhông rồi. Kẹt cứng láp sau, không đẩy trôi nổi đâu — Khang nói, giọng khàn đặc vì khói bụi.

Phải mất gần hai tiếng đồng hồ chật vật giữa cái nắng đổ lửa đầu giờ chiều của Sài Gòn, gọi qua ba cuốc điện thoại của các đội cứu hộ quen dọc tuyến quốc lộ, một chiếc xe cứu hộ sàn trượt hạng trung mới luồn lách qua được dòng xe cộ nghẽn ứ để tiếp cận Bếp Nhỏ. Chiếc tời thủy lực rên rỉ từng chặng ngắn, kéo lê chiếc xe bán tải bị khóa cứng bánh sau lên mặt sàn thép nóng bỏng, chở cả hai cùng khối tài sản duy nhất trôi về một xưởng cơ khí chuyên trị xe tải nặng nằm sâu ven Quốc lộ 1A, đoạn qua ngã tư Bà Hom thuộc quận Bình Tân.

Khu xưởng rộng thênh thang lợp tôn fibro xi-măng đen đúa vì bồ hóng và mỡ bò. Dưới sàn xi măng lồi lõm, hàng chục chiếc xe đầu kéo container chạy cảng Cát Lái và xe tải chở hàng miền Tây nằm chực chờ tháo dỡ, mùi dầu diesel cặn hòa cùng tiếng súng xiết ốc bằng khí nén bắn "tạch tạch" đinh tai nhức óc.

Bác thợ cả — một người đàn ông trạc sáu mươi tuổi, dáng người quắt queo như một thanh sắt ngâm dầu, mặc chiếc áo công nhân rách bươm hai bên nách — đặt chiếc đèn rùa sáng quắc xuống đất rồi chui tọt vào gầm xe Bếp Nhỏ. Hơn hai mươi phút trôi qua trong tiếng gõ kim loại thăm dò "cộc… cộc" khô khốc và tiếng vặn ốc xả dầu.

Khi chui ra, bác thợ quệt vệt mỡ bò đen nhánh ngang trán, chìa lòng bàn tay dính đầy mạt sắt lấp lánh như bụi kim tuyến trộn trong thứ dầu nhờn sủi bọt:

— Bể nát nhông số ba với nhông hành tinh rồi hai đứa. Nứt toác cả một mảng vỏ nhôm khoang đuôi, mạt thép nó cày xước rãnh trục láp chính, bạc đạn đũa vỡ vụn hết. Cái này là do gãy nẹp ép số từ đợt chạy đèo dốc gắt ngoài miền Trung mà tụi bây ráng ép côn lết về tới đây chứ gì? Không có đồ tiện đắp lại đâu. Muốn xe lăn bánh được tiếp về miền Tây thì chỉ có nước thay nguyên cụm hộp số bãi tháo xe nguyên bản của Nhật. Cả đồ, cả công hạ máy, tháo ráp, canh chỉnh láp bèo nhất cũng mười tám triệu.

Mười tám triệu đồng. Con số rơi xuống giữa hai người nặng như một khối gang nguội.

Túi tiền lộ phí của hành trình Bếp Nhỏ lúc này chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy hai triệu bạc sau chuỗi ngày nằm trạm xá Phan Thiết điều trị chấn thương tay cho Khang, cộng với hàng tá chi phí thay lốp, hàn ống xả rách suốt chặng đường thiên lý duyên hải. Khang đứng chết lặng bên hốc bánh xe lấm lem bùn đất khô cong. Ánh mắt người thợ máy trẻ không hề có vẻ hoảng loạn hay suy sụp; nó chỉ chùng xuống một thoáng rồi lập tức đanh lại bằng vẻ lì lợm vốn có của dân cơ khí đường dài. Anh cúi xuống nhìn bàn tay trái hãy còn sưng nhẹ, khẽ nắm lại rồi mở ra để thử độ chịu lực của gân cơ, đoạn ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt bác thợ cả:

— Chú cho con nhận chân thợ phụ ở xưởng. Dàn xe đầu kéo container chạy cảng ra vào làm gầm bệ với thay bố thắng đêm, con làm quen tay lắm, từ tán đinh ri-vê đến cân chỉnh bầu hơi con đều bao việc được. Con xin làm ca đêm, từ bảy giờ tối đến sáu giờ sáng hôm sau. Chú cứ trừ thẳng tiền công nhật với phụ cấp đứng máy vô tiền thay cụm hộp số cho xe con. Khi nào đủ mười tám triệu, chú ráp hộp số vô cho tụi con đi tiếp.

Bác thợ cả nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn kỹ từng vết chai sần dầy cộp ở kẽ ngón tay, nhìn vết sẹo tròn do xỉ hàn rơi trúng còn non da trên cổ tay Khang. Là người trong nghề, bác chỉ cần liếc qua dáng đứng và cách Khang nhìn vào bộ nhông vỡ là biết anh không phải tay mơ chém gió. Bác gật đầu cái rụp:

— Được. Ăn cơm chung với thợ ca đêm ở góc xưởng. Nhưng tao nói trước, dàn gầm xe mười tám bánh nó nặng tính bằng tạ, tay yếu mà sơ sẩy trượt kích một ly là cán nát bàn chân ráng chịu nghe con.

Khang quay sang An. Anh với tay lấy bình nước nhựa trên thùng xe đưa cho cô, giọng trầm hẳn xuống nhưng rành rọt từng chữ:

— Xe nằm ở đây có mái che, có chú Hai coi sóc là an toàn tuyệt đối rồi. Em không phải lo chuyện máy móc. Em cầm mẩu giấy anh Khoa ghi hôm ở Buôn Ma Thuột, đón xe buýt tìm sang mé kênh quận Tám gặp chị Trúc đi. Ở xưởng này toàn sắt vụn, bụi mỡ với tiếng súng hơi gầm rú suốt đêm ngày, em ngồi lại đây cũng chẳng giải quyết được gì, chỉ tổ hít khói độc. Tụi mình phải chia nhau ra mà xoay sở. Anh đổi mồ hôi lấy hộp số, còn em phải giữ cho được cái tinh thần của cuốn sổ tay. Đi đi!

An siết chặt mẩu giấy gấp tư đã ngả màu ố vàng trong lòng bàn tay. Mùi mực bút bi xanh của Lâm Y Khoa vẫn còn lẩn khuất đâu đó cạnh vệt mỡ máy lem nhem vừa bám vào đầu ngón tay cô.

Rời khỏi xưởng cơ khí ngột ngạt ở cửa ngõ phía Tây, An bước lên chuyến xe buýt số 102 dằn xóc xuyên qua những cây cầu vượt chằng chịt, băng qua những đại lộ nườm nượp để đi sâu vào vùng lõi phía Nam thành phố. Bước xuống trạm dừng ven đường Phạm Thế Hiển, cô men theo một con hẻm ngoằn ngoèo lát đan xi măng vá víu, một bên là dãy nhà trọ lợp mái tôn thấp lè tè của xóm thợ thuyền, một bên là mé kênh rạch sẫm màu nước lớn ròng, bèo lục bình trôi dạt vướng víu vào những chân cọc gỗ mục.

Nơi này hoàn toàn tách biệt khỏi hình ảnh một Sài Gòn lộng lẫy với những tòa cao ốc bọc kính phản chiếu mây trời hay các quán cà phê sang trọng trên bìa tạp chí. Đó là thế giới của những đường dây điện chằng chịt như mạng nhện giăng ngang đầu, tiếng máy may công nghiệp kêu ràn rạt từ những xưởng gia công túi xách gia đình, và mùi khói than đước nồng đượm dẫn lối thẳng đến quán cơm nằm nép mình dưới bóng một cây me cổ thụ: "Cơm tấm Cây Me".

Chủ quán là Võ Thanh Trúc.

Đó là một người phụ nữ trạc gần bốn mươi tuổi, dáng người đậm đà, chắc nịch như một thân cây bần cắm sâu vào bãi bùn phù sa. Mái tóc chị cắt ngắn cũn cỡn, búi túm thành một củ hành nhỏ sau gáy bằng chiếc kẹp nhựa đen gãy mất một răng. Hai cánh tay chị trần trụi, săn chắc, nổi rõ những đường cơ bắp và chi chít những chấm sẹo tròn nhỏ màu nâu — dấu vết kinh điển của hàng vạn giọt mỡ lợn sôi bắn vào da thịt qua năm tháng đứng lò. Chị đang thoăn thoắt dùng một chiếc kẹp sắt dài đảo từng vỉ sườn cốt lết trên hai lò than đỏ rực, tia lửa bén lách tách bắn lên nền trời đầy khói.

Đọc xong mẩu giấy giới thiệu viết vội bằng mấy dòng chữ nắn nót của Khoa mà An chìa ra, ánh mắt Trúc — sắc lạnh và sắc sảo như một nhát dao cau — quét từ đỉnh đầu xuống đôi giày vải bạc phếch bám đầy bụi đỏ Tây Nguyên của cô gái trẻ. Chị không hề nở một nụ cười xã giao, cũng chẳng buông một lời cảm thán ân cần nào:

— Thằng Khoa nó nói mày đi gom công thức nấu ăn của thiên hạ hả? Quán này một ngày bán đứt đuôi bảy trăm suất cơm cho thợ hồ bên công trình cầu chữ Y, công nhân may xưởng Hai mươi Tám với cánh tài xế xe ba gác bến phà. Ở đây tao không cần người đến đứng ngắm nghía rồi làm thơ làm văn hay viết mấy bài cảm nhận ẩm thực mướt mát. Đang giờ cao điểm, tao thiếu một chân phụ bếp: rửa chén, lặt rau răm rau muống, canh than lò sườn, đứng múc canh chia phần. Bao cơm hai bữa trưa chiều, trả công hai trăm ngàn một ngày, nhận tiền tươi sau khi chùi xong cái sàn bếp. Nhắm làm nổi bằng chân tay thiệt thòi không, hay chỉ quen cầm muỗng nĩa trong phòng máy lạnh?

— Dạ nổi. Em làm được, việc nặng tới đâu em cũng làm được — An nhìn thẳng vào mắt Trúc, đáp dứt khoát không một giây do dự.

Chẳng đợi An nói thêm câu thứ hai, một chiếc tạp dề bằng vải thô màu xanh đậm, ướt sũng mùi nước rửa chén và mỡ nguội, được Trúc quẳng bay vèo qua đầu vỉ nướng, rơi trúng tay cô. Thế là An bị cuốn phăng vào guồng quay tàn khốc của một bếp ăn đô thị tầng đáy.

Tại "Cơm tấm Cây Me", nhịp độ không được tính bằng phút hay giờ mà tính bằng từng giây giật lùi. Từ mười một giờ trưa đến một giờ ba mươi chiều, con hẻm nhỏ ven kênh như muốn nổ tung. Từng đoàn xe máy cà tàng, xe ba gác máy chở xà bần, xe đạp cọc cạch của các bà bán ve chai dồn dập tấp vào lề đường. Tiếng gọi món đập liên hồi vào màng nhĩ như mưa rào trên mái tôn:

— "Hai sườn bì nhiều mỡ hành, một chén nước mắm kẹo!"

— "Một chả trứng cơm thêm, chan nước đục!"

— "Năm suất gói lá chuối mang liền ra móng công trình cầu, nhanh giùm chị Trúc ơi!"

An lập tức bị đẩy vào vị trí lò nướng phụ sát vách tường. Hơi nóng từ hai lò than đước táp thẳng vào mặt làm mắt cô cay xè, mồ hôi túa ra như tắm, chảy ròng ròng dọc sống lưng khiến chiếc áo sơ mi dính bết vào da thịt.

Ở đây, Trúc không dạy nghề bằng những lời giảng giải khoan thai hay công thức cân đong từng gram gia vị. Chị dạy bằng những cú gõ muôi chan chát vào mép thùng inox và những tiếng thét ngắn, gọn lỏn át tiếng còi xe:

— Nhìn than! Đừng có nhìn miếng thịt! Thấy tro bạc đầu chưa? Than đước gộc khi đượm nó không bốc ngọn, chỉ đỏ âm ỉ như hòn máu! Sườn cốt lết dày phân rưỡi muốn giòn ngoài mà trong tươm nước ngọt thì không được để lửa liếm! Mỡ rỉ xuống bùng lửa là phải hất ngay một muỗng nước tro dằn lại, bắt khói thơm hun chín từ từ thớ thịt! Mày để lửa bén vô sườn cháy đen là công nhân họ ăn đắng ngắt, chiều họ xúc cát mất sức ai đền?

Chị giật lấy cái kẹp trên tay An, thị phạm một đường gạt mỡ điêu luyện làm mỡ thừa rơi xèo xèo xuống rãnh cát, khói trắng bốc lên thơm ngào ngạt mùi đường thốt nốt, hành khô và sả giã dập. Rồi chị chỉ sang chảo mỡ hành xanh mướt đặt cạnh mép lò:

— Thắng mỡ hành cũng vậy! Mỡ gáy heo xắt hạt lựu phải thắng trên lửa vừa cho tới khi tóp mỡ teo lại, nổi bong bóng li ti như mắt cua thì trút thẳng vô tô hành lá xắt nhuyễn đã dằn sẵn muối hột với chút đường cát! Dội mỡ sôi sùng sục là hành chín tái, giữ nguyên cái màu xanh ngọc bích mà không bị nồng ủng, tóp mỡ thì giòn rụm! Một muỗng mỡ hành này rưới lên đĩa cơm là nguồn mỡ rẻ tiền nhất giúp người ta no lâu suốt sáu tiếng đồng hồ dưới nắng! Liệu mà làm cho chuẩn!

Đứng trước chiếc bàn chia suất, nhìn những bàn tay chai sần nứt nẻ, những móng tay đen đúa vì dầu luyn máy móc và vệt xi măng chết chìa ra từng tờ tiền lẻ mười ngàn, hai mươi ngàn đồng nhàu nát ướt đẫm mồ hôi, An cảm thấy một chấn động sâu sắc chạy dọc tâm can.

Ở đây, bài toán của Trúc không phải là mỹ thuật bài trí hay sự thanh cảnh của giới sành ăn. Với hai mươi lăm ngàn đồng cho một suất cơm tấm bình dân, người phụ nữ này đang giải một phương trình sinh tồn khắc nghiệt đến từng calo: một miếng sườn cốt lết đủ dày để cung cấp đạm giữ cho người thợ vác bao xi măng không bị run chân lúc ba giờ chiều; một muỗng mỡ hành hào phóng bù đắp lượng chất béo năng lượng cao cho cơ thể tiêu hao; một chén canh bắp cải nấu từ đầu xương gà ninh rục suốt năm tiếng đồng hồ để bù lại lượng muối khoáng và nước đã bốc hơi qua những lớp áo bảo hộ sũng ướt. Ở cái xóm thợ này, một hạt gạo tấm rơi vãi trên bàn cũng là một sự phung phí có tội, và từng hào bạc người lao động bỏ ra phải được trả lại bằng giá trị sinh năng sòng phẳng, tuyệt đối không có chỗ cho thói vẽ vời hào nhoáng.

Hơn hai giờ chiều, dòng người thưa dần rồi dứt hẳn. Con hẻm chìm vào sự uể oải quen thuộc của buổi trưa Sài Gòn, chỉ còn lại tiếng chiếc quạt trần ba cánh bằng sắt cũ kỹ quay cọt kẹt trên mái tôn nóng hầm hập.

An ngồi bệt xuống bậc thềm xi măng góc sàn nước sau quán, hai đầu gối run lên vì phải đứng liên tục suốt bốn tiếng đồng hồ, các ngón tay rát bỏng vì hơi than và xà phòng ngâm chén đĩa. Đôi mắt cô sưng húp vì khói than đước bám chặt vào chân mi.

Trúc bước ra từ góc bếp, tay cầm theo một ca trà đá lớn màu vàng sánh cùng hai chiếc ghế đẩu nhựa màu đỏ. Chị đặt ca nước cạch xuống bậc thềm, chìa cho An một ly đầy ắp đá:

— Uống đi cho mát họng. Mồ hôi ra hết thế kia thì tụt huyết áp có ngày.

An đón lấy ly nước bằng hai tay, uống một hơi cạn kiệt, cảm nhận dòng nước trà đắng nhẹ và lạnh buốt xoa dịu cuống họng đang rát khô như rang. Trúc ngồi xuống chiếc ghế đối diện, khoanh hai cánh tay vạm vỡ trước ngực, lặng lẽ quan sát đôi bàn tay của An — nơi có những vết chai ở ngón trỏ vì cầm dao bếp chuyên nghiệp đan xen với những nốt phồng rộp mới toanh do lửa than trưa nay.

Bất chợt, Trúc đứng dậy, quay vào chiếc tủ nhôm kính dùng làm bàn tính tiền ở góc nhà. Chị kéo ngăn kéo kêu "rột", rút ra một tập hồ sơ bọc bìa ni-lông xám xịt vì bụi thời gian, ném thẳng xuống mặt bàn inox trước mặt An:

— Mày nhìn cái này xem có thấy quen mắt không?

An ngơ ngác đặt ly trà xuống, run run mở tập bìa ni-lông. Ngay trên trang đầu tiên, đập vào mắt cô là dòng tiêu đề in hoa đậm nét mực đỏ đã hơi ngả vàng: *BIÊN BẢN KIỂM TRA ĐỘT XUẤT QUY TRÌNH NHẬP KHO NGUYÊN LIỆU THỰC PHẨM — NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN GRAND HERITAGE HÀ NỘI*, đề ngày tháng của ba năm về trước.

Dưới đáy trang giấy, bên cạnh con dấu treo đỏ chót và chữ ký ngoằn ngoèo của vị bếp trưởng điều hành người Việt, là chữ ký tay run rẩy nhận toàn bộ trách nhiệm cá nhân về việc "tự ý tiếp nhận và ký duyệt lô thực phẩm thịt nguội xông khói đã quá hạn sử dụng vào kho bảo quản số 2" của chính Nguyễn Hoài An.

Tim An như ngừng đập một nhịp. Toàn bộ máu trong người dường như dồn hết lên màng tang rồi rút cạn, để lại hai bàn tay lạnh ngắt:

— Chị Trúc… sao… sao chị lại có văn bản này? Chuyện này… đã ba năm rồi…

Trúc nhấp một ngụm trà đá, ánh mắt sâu hun hút nhìn xuyên qua làn khói mờ ảo ra bờ kênh rạch đầy nắng gắt:

— Ba năm trước, tao là Quản lý Vận hành Bếp của cái tập đoàn sở hữu chuỗi Grand Heritage đó ngoài Hà Nội. Đêm hôm đó, chính tao là người dẫn đoàn kiểm tra đột xuất ập vào kho đông lạnh lúc hai giờ sáng và bắt quả tang nguyên một pallet giăm-bông đã đổi màu thâm xì dán đè hạn sử dụng mới. Tao cũng là người đứng ngay cửa kho nhìn thấy lão bếp trưởng quỳ rạp dưới chân mày, nắm chặt tay mày khóc lóc thảm thiết, kể chuyện vợ lão đang xạ trị ung thư giai đoạn ba, đứa con gái út mới mổ tim nằm thở oxy bên Viện Nhi, xin mày đứng ra nhận thay cái biên bản sơ suất hành chính vì mày là nhân viên tập sự mới tốt nghiệp, cùng lắm chỉ bị khiển trách nội bộ chứ không bị tước chứng chỉ hành nghề như lão.

Trúc gõ mạnh ngón tay trỏ bè bè xuống mặt giấy có dấu mộc đỏ, tiếng gõ vang lên đanh thép:

— Mày lúc đó mới ra trường, ôm cái ảo tưởng nghĩa khí hảo hán của dân học việc, thấy người ta nước mắt ngắn nước mắt dài là nhảy ra ôm rơm nặng bụng! Mày nghĩ mày hy sinh danh dự để cứu một gia đình nghèo khổ? Mày có biết ngay sau cái đêm mày cúi đầu nhận quyết định sa thải nhục nhã với cái án 'vi phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp', lão bếp trưởng đó đã nhận trọn gói hoa hồng ba trăm triệu đồng từ công ty cung ứng thực phẩm bẩn không? Mà cái công ty cung ứng rác rưởi đó lại chính là công ty sân sau do thằng Đỗ Thành Vinh với đám truyền thông Vị Việt giật dây phía sau!

Trúc cười gằn, nụ cười chát chúa:

— Tao đã nộp toàn bộ chứng từ thanh toán ngân hàng, hình ảnh đối chiếu và biên bản gốc này lên thẳng ban giám đốc tập đoàn, yêu cầu tống cổ lão bếp trưởng và chuyển hồ sơ sang công an kinh tế. Nhưng bọn họ làm gì mày biết không? Bọn họ dìm xuồng êm ru! Bọn họ sợ mất cái danh hiệu khách sạn năm sao đón khách quốc tế, sợ cổ phiếu sụt giảm, nên bọn họ chọn cách biến mày thành con tốt thí hoàn hảo để khép lại vụ việc. Tao tởm lợm cái chốn đạo đức giả rực rỡ đèn chùm đó! Tao ném cái thẻ quản lý vô mặt lão tổng giám đốc, nộp đơn nghỉ việc trong đêm rồi gom hết tiền dành dụm dạt vô cái hẻm rạch này, mở cái quán cơm hai mươi lăm ngàn nuôi mấy người thợ lao động chân chính cho sạch cái tâm! Tao giữ bản sao có mộc đỏ này suốt ba năm nay trong tủ, vì tao biết cái ngữ như thằng Vinh với cái hệ thống giả tạo đó, sớm muộn gì cũng có ngày phải trả giá sòng phẳng!

An ngồi chết lặng giữa gian bếp sực mùi mỡ nguội.

Từng lời nói của Trúc như những nhát búa nện thẳng vào vùng ký ức tăm tối nhất mà cô luôn cố chôn chặt dưới đáy lòng. Những đêm trắng thức khóc ướt gối trong căn phòng trọ ẩm thấp ở Hà Nội, ánh mắt khinh bỉ của bạn bè đồng khóa, cái quay lưng lạnh lùng của những khách sạn khi nhìn thấy dòng ghi chú sa thải trong hồ sơ lý lịch… Hóa ra, sự hy sinh mà cô từng ngây thơ ngộ nhận là lòng trắc ẩn và sự bao dung cao thượng thực chất chỉ là một màn kịch được dàn dựng bẩn thỉu, biến cô thành một kẻ ngốc nghếch tiếp tay cho tội ác thương mại.

Chưa kịp lấy lại nhịp thở sau cơn bàng hoàng, chiếc điện thoại đặt trong túi tạp dề của An bỗng rung lên bần bật. Hàng loạt tiếng chuông báo tin nhắn, thư điện tử và thông báo mạng xã hội dồn dập vang lên liên hồi như một tràng pháo kích.

Màn hình nhấp nháy tên Khang. An bấm nghe, đầu dây bên kia vang lên tiếng thở dốc nghẹn đặc vì giận dữ của anh giữa tiếng gầm rú của máy móc xưởng cơ khí:

— An! Thằng chó Đỗ Thành Vinh nó ra tay rồi! Nó không còn nặc danh nữa đâu! Nó vừa cho toàn bộ hệ thống fanpage chân rết với mấy trang báo lá cải phát tán sạch sành sanh bản đề cương chi tiết gốc của hành trình Bếp Nhỏ rồi!

An run rẩy bật loa ngoài, những ngón tay bấu chặt vào mép bàn inox đến trắng bệch. Cô mở đường dẫn bài viết vừa được gửi tới.

Mặt cô tái mét. Đỗ Thành Vinh đã chơi một nước cờ tàn độc và thâm hiểm nhất. Hắn không chỉ đăng tải bản phác thảo ý tưởng mà An từng viết trước khi khởi hành; tồi tệ hơn, hắn công khai toàn bộ tài liệu hồ sơ nhân vật đính kèm: danh tính thật, địa chỉ nhà rẫy, các khoản nợ ngân hàng chưa trả hết của Lâm Y Khoa ở Buôn Ma Thuột; câu chuyện gia đình ly tán và sổ sách nợ nần tàu cá của chị Phượng ở cảng Hòn Rớ; cho đến cả những góc khuất đời tư nhạy cảm của chị Hoàng Thị Lành bên bờ hồ Ba Bể. Tất cả những điều thiêng liêng, đau đớn mà những con người lam lũ ấy đã tin tưởng dốc cạn lòng chia sẻ với cô trong những đêm bên bếp lửa, giờ đây bị hắn bóc trần trụi, giật tít câu khách rẻ tiền thành những bi kịch giật gân trên mạng xã hội.

Đi kèm với tập tài liệu rò rỉ là một bản thông cáo báo chí mang giọng điệu đanh thép của Công ty Truyền thông Vị Việt, cáo buộc An "lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người yếu thế để trục lợi thương mại", đồng thời đưa ra tối hậu thư tống tiền công khai: An phải có mặt tại văn phòng đại diện của Vị Việt tại TP.HCM trước mười tám giờ chiều hôm nay để ký vào bản hợp đồng nhượng quyền khai thác nội dung độc quyền trọn đời cho Vị Việt; bằng không, công ty luật đại diện của họ sẽ chính thức nộp đơn khởi kiện cô ra Tòa án Nhân dân về hành vi vi phạm cam kết bảo mật thông tin dự án và bồi thường thiệt hại hàng tỷ đồng.

Trần nhà như sụp đổ dưới chân An. Cô thấy nghẹt thở, hai tai lùng bùng. Những khuôn mặt thân thương của Khoa, của chị Phượng, của chị Lành hiện lên chập chờn trước mắt cô. Họ đã mở lòng, đã đùm bọc, chia sẻ từng hạt muối, củ khoai cho cô và Khang trên suốt dặm đường dài, để rồi đổi lại là sự sỉ nhục công khai này sao?

Đúng lúc cơn tuyệt vọng đang bóp nghẹt lồng ngực An, tấm rèm nhựa chắn bụi màu xanh ở cửa quán cơm bị một bàn tay giật tung sang một bên phát ra tiếng "xoạt" dữ dội.

Một bóng người phụ nữ mảnh khảnh, khoác chiếc áo măng-tô sẫm màu dính đầy bụi đường, gương mặt hốc hác, đôi mắt thâm quầng và đỏ hoe vì mất ngủ bước xộc vào quán. Người đó đứng sững lại giữa làn khói mờ ảo, hơi thở dồn dập như vừa chạy thục mạng qua suốt chiều dài con hẻm.

Đó là Phạm Quỳnh Lam.

Người biên tập viên sắc sảo, kiêu hãnh của Tạp chí Dọc Đường vừa đáp chuyến bay khẩn cấp lúc đầu giờ chiều từ Nội Bài vào thẳng Tân Sơn Nhất, trên tay vẫn còn xách chiếc cặp da đựng tài liệu căng phồng, quai xách đã sờn rách.

Nhìn thấy An đang đứng chết trân bên chiếc bàn inox, gương mặt trắng bệch không còn một giọt máu, Lam buông rơi chiếc cặp da nặng trĩu xuống nền xi măng. Không một lời thanh minh dông dài, người phụ nữ từng là biểu tượng của sự lạnh lùng và chuẩn mực báo chí bất ngờ khuỵu hai đầu gối xuống trước mặt An. Hai dòng nước mắt nóng hổi lăn dài trên đôi gò má gầy guộc:

— An… Chị xin lỗi em… Ngàn lần chị xin lỗi em! Tội lỗi này là do chị gây ra! Tất cả là tại chị!

An bàng hoàng buông rơi chiếc điện thoại, vội vàng quỳ xuống đỡ lấy hai bờ vai đang run rẩy bần bật của Lam:

— Chị Lam! Chị làm cái gì vậy? Mau đứng lên đi! Chuyện này rốt cuộc là sao? Sao chị lại ở đây?

Lam ngước khuôn mặt đẫm lệ lên nhìn An, môi chị cắn chặt đến mức rướm máu tươi, giọng nghẹn lại trong từng cơn nấc xé ruột:

— Hai năm trước… khi Tạp chí Dọc Đường đứng bên bờ vực phá sản hoàn toàn vì các nhà tài trợ lớn đồng loạt rút vốn… chị đã mang bản đề cương sơ khai cùng toàn bộ hồ sơ nhân vật mà em gửi cho tòa soạn đến buổi đàm phán gọi vốn với Đỗ Thành Vinh. Chị thề có trời đất, lúc đó chị chỉ muốn thuyết phục Vị Việt mua lại các trang quảng cáo văn hóa ẩm thực để cứu lấy tờ tạp chí, cứu lấy chén cơm của anh em tòa soạn… Chị không bao giờ ngờ được thằng khốn đó đã ngấm ngầm cho người sao chép toàn bộ cơ sở dữ liệu đời tư của các nhân vật để làm vũ khí khống chế em ngày hôm nay…

Lam ôm chặt lấy hai cánh tay An, những ngón tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào lớp vải áo thô:

— Suốt những ngày qua, khi thấy Vinh dùng truyền thông bẩn bôi nhọ em ở Đà Lạt, chị đã thức trắng bốn đêm liền trong phòng lưu trữ máy chủ cũ của cơ quan, phục hồi lại từng log hệ thống, truy vết lại từng email và bản hợp đồng nguyên tắc chuyển giao… Chị hèn nhát, chị đã im lặng suốt thời gian qua vì sợ mất cái danh dự hão huyền của một biên tập viên, sợ bị đuổi việc… Nhưng khi thấy hắn tung đòn độc nhằm giết chết em trưa nay, chị không thể sống như một kẻ đồng lõa được nữa! Chị đã photo toàn bộ bằng chứng số, chị mang cả vào đây cho em… Chị xin lỗi em, An ơi!

Gian quán cơm trưa rơi vào một khoảng lặng nặng nề như chì đúc. Tiếng quạt trần cọt kẹt dường như cũng chùng xuống. Võ Thanh Trúc đứng tựa lưng vào cây cột gỗ me, đôi mắt sắc lẹm nhìn chăm chú vào hai người phụ nữ trẻ đang quằn quại giữa những vết thương của quá khứ và sự phản bội, không buông một lời phán xét.

Giữa lúc bầu không khí ngột ngạt tưởng chừng có thể bóp nghẹt mọi hy vọng, tiếng bước chân đĩnh đạc, vững chãi vang lên đều đặn từ ngoài ngõ.

Tấm rèm nhựa lại được vén lên một lần nữa. Luật sư Tạ Gia Bảo bước vào. Anh mặc bộ âu phục màu xám tro giản dị, cà vạt nới lỏng, trên tay xách chiếc máy tính xách tay và một tập hồ sơ dày cộm kẹp trong bìa da đen. Đi ngay phía sau anh là hai người đàn ông trung niên mặc áo thun in logo của Hợp tác xã Đường Xa phân nhánh phía Nam, nét mặt cương nghị và từng trải.

Bảo quét ánh mắt điềm tĩnh, sắc bén qua một lượt khắp gian quán, dừng lại ở An, Lam và Trúc. Giọng anh trầm ấm nhưng chứa đựng một uy lực dứt khoát lạ thường:

— Đủ mặt cả rồi. Đứng dậy đi Lam. Đây không phải là lúc để quỳ gối hay khóc lóc ân hận nữa. Đỗ Thành Vinh muốn dùng bóng tối và nỗi sợ hãi để buộc chúng ta phải đầu hàng, thì chúng ta sẽ dùng chính sự thật và sự minh bạch tuyệt đối để bẻ gãy đòn bẩy tống tiền của hắn ngay tại đây.

Chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi phút, dưới sự điều phối sắc sảo, dứt khoát của Tạ Gia Bảo, chiếc bàn gỗ me dài chuyên dùng cho thợ hồ ăn cơm trưa giữa quán đã được dọn sạch bong, biến thành một bàn làm việc pháp lý dã chiến. Một chiếc máy tính xách tay kết nối internet tốc độ cao qua thiết bị phát sóng di động được mở ra, kết nối trực tiếp với màn hình phụ đặt ngay trên mặt bàn.

Bảo bấm phím kích hoạt phòng họp trực tuyến khẩn cấp. Tín hiệu đường truyền lập tức sáng lên ba khung hình: từ nương ngô Quản Bạ mù sương ở Hà Giang, gương mặt sạm nắng của Sùng Mí Pó hiện ra bên bếp củi đỏ; từ bờ hồ Ba Bể lộng gió, Hoàng Thị Lành ngồi bên chiếc chõ xôi ngũ sắc bốc khói; và từ căn nhà rẫy giữa bạt ngàn cà phê Buôn Ma Thuột, Lâm Y Khoa đang chăm chú nhìn thẳng vào màn hình, ánh mắt bình thản đến lạ kỳ.

Trước ống kính máy quay và sự chứng kiến của tất cả mọi người, An hít một hơi thật sâu để nén lại cơn nghẹn ngào đang trào dâng nơi cuống họng. Cô đứng thẳng người, hai bàn tay buông xuôi bên hông, cúi gập người chín mươi độ trước màn hình máy tính:

— Em xin lỗi… Em thành thật cúi đầu xin lỗi anh Pó, chị Lành, anh Khoa, chị Phượng… Lỗi lầm là do sự bất cẩn và ngây thơ của em năm xưa đã khiến đời tư và những biến cố đau buồn của mọi người bị kẻ xấu phơi bày làm công cụ tống tiền… Em ngàn lần xin lỗi mọi người!

Từ bên kia màn hình, tiếng cười khùng khục quen thuộc của Lâm Y Khoa vang lên làm tan biến bầu không khí căng thẳng:

— Cô bé ngốc! Bọn anh mà sợ mấy cái trò bêu rếu nợ nần đó thì đã chẳng dám bám đất, bám rẫy suốt mười năm nay! Đất có mạch của đất, người có căn của người. Cây cà phê đứng trước gió bão còn không gãy, mấy tờ giấy vụn trên mạng làm sao quật ngã được tụi này? Em ngẩng mặt lên đi!

— Đúng đấy An — Tiếng chị Lành vang lên nhẹ nhàng như tiếng nước hồ Ba Bể — Bọn chị trao câu chuyện đời mình cho em là trao bằng cái tâm, bằng niềm tin. Đã là người cùng giữ lửa một bếp thì có phúc cùng hưởng, có hoạ cùng chia. Luật sư Bảo đã giải thích hết rồi, em cứ ký đi, tụi chị đứng sau lưng em!

Dưới sự hướng dẫn từng điều khoản tỉ mỉ của luật sư Tạ Gia Bảo, An cầm cây bút bi mực đen, dứt khoát đặt bút ký vào ba văn bản pháp lý mang tính bước ngoặt sinh tử:

Văn bản thứ nhất: Bản thông báo đơn phương chấm dứt và tuyên bố vô hiệu hóa toàn bộ các thỏa thuận nguyên tắc trước đây với Công ty Truyền thông Vị Việt, dựa trên các căn cứ pháp lý không thể chối cãi về việc Vị Việt đã vi phạm nghiêm trọng Điều khoản 8.2 — thu thập, sao chép và phát tán dữ liệu cá nhân trái phép nhằm mục đích tống tiền, kèm theo toàn bộ bằng chứng số và lịch sử máy chủ do Phạm Quỳnh Lam vừa bàn giao.

Văn bản thứ hai: Tuyên bố chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu nội dung, quyền kiểm duyệt hình ảnh và quyền khai thác xuất bản của 32 thẻ công thức thuộc dự án Bếp Nhỏ sang quyền sở hữu tập thể của Mạng lưới Người Giữ Bếp và Hợp tác xã Đường Xa. Kể từ thời điểm này, An không còn là chủ sở hữu cá nhân độc quyền, đồng nghĩa với việc không một thế lực nào có thể dùng áp lực pháp lý lên một cá nhân để thâu tóm di sản chung.

Văn bản thứ ba: Hợp đồng liên kết xuất bản phi lợi nhuận giữa Mạng lưới Người Giữ Bếp và Tạp chí Dọc Đường do chính Phạm Quỳnh Lam đại diện ký kết. Trong bản hợp đồng này, một điều khoản thép được ghi rõ bằng mực đỏ: Từng nhân vật có mặt trong cuốn sách giữ quyền phủ quyết tuyệt đối đối với bất kỳ câu chữ, hình ảnh nào viết về cuộc đời và kỹ thuật ẩm thực của chính họ; toàn bộ lợi nhuận từ việc phát hành sách trong tương lai sẽ được chuyển thẳng vào Quỹ Hỗ trợ Nông sản bản địa do Hợp tác xã Đường Xa giám sát độc lập.

Ngay khi An vừa ký xong dòng chữ cuối cùng, Võ Thanh Trúc lẳng lặng bước tới. Chị cầm tập hồ sơ biên bản kiểm tra nội bộ có mộc đỏ của Khách sạn Grand Heritage năm xưa đặt ngay ngắn lên mặt chiếc máy quét di động của Bảo:

— Quét luôn cái này vô hồ sơ cho tao. Đính kèm cái biên bản này vô tập đơn tố cáo tội vu khống, tống tiền và bảo kê thực phẩm bẩn gửi thẳng cho Cục An ninh mạng với Ban Kiểm tra Hội Nhà báo Việt Nam. Để xem cái mặt mo của thằng Vinh với cái tập đoàn Vị Việt còn dám vác lên truyền hình giảng đạo đức kinh doanh nữa hay không!

Màn hình máy tính nhấp nháy đèn xanh, báo hiệu tập tài liệu số hóa dung lượng lớn đã được mã hóa và gửi đi thành công tới các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Đòn tống tiền tàn độc của Đỗ Thành Vinh đã bị bẻ gãy hoàn toàn. Khi quyền sở hữu không còn nằm trong tay một cá nhân đơn độc để bị bức bách, và khi toàn bộ sự thật trần trụi nhất — từ những sai lầm nông nổi của tuổi trẻ đến những góc khuất đau thương — được chính những người trong cuộc chủ động đưa ra ánh sáng công lý, thì thứ vũ khí nặc danh bẩn thỉu của Vị Việt bỗng chốc trở thành một mớ rác rưởi vô giá trị, không thể nào làm vấy bẩn được ngọn lửa mà họ đang gìn giữ.

Cuộc họp trực tuyến khép lại khi ráng chiều đỏ quạch như máu buông xuống dòng kênh xóm thợ. Tiếng cười nói ấm áp, những lời dặn dò giữ gìn sức khỏe của anh em từ khắp mọi miền Tổ quốc qua màn hình như tiếp thêm một luồng sinh khí mới, thổi tan đi cái ngột ngạt, u ám của gian bếp nhỏ.

Bảo cẩn thận xếp toàn bộ các văn bản gốc vào cặp tài liệu da, bắt tay Trúc và An rồi cùng Lam bước ra ngõ để kịp chuẩn bị cho buổi làm việc chính thức vào sáng sớm mai với các cơ quan chức năng. Lam nắm chặt tay An một lần nữa trước khi bước qua tấm rèm nhựa. Trong ánh mắt người nữ biên tập viên kiêu hãnh ngày nào, sự thanh thản đã trở lại sau khi vượt qua thử thách nghiệt ngã nhất của lương tâm người cầm bút.

Gian quán cơm trở lại với vẻ tĩnh lặng thường nhật của buổi xế chiều. Nắng tắt hẳn trên ngọn cây me già, nhường chỗ cho bóng tối chầm chậm buông xuống lòng kênh. Mùi mỡ hành đã nguội hẳn, chỉ còn lại mùi tro than ướt thoang thoảng bốc lên từ chiếc bồn rửa bằng xi măng.

An cúi người, lặng lẽ gom những chiếc đĩa sứ sứt mẻ còn sót lại trên bàn, xếp thành từng chồng ngay ngắn để chuẩn bị cọ rửa. Đôi vai cô chùng xuống, cảm giác kiệt sức sau một ngày dài biến động bắt đầu ngấm sâu vào từng thớ thịt.

Bất chợt, một tiếng "chát" khô khốc, đanh gọn và nặng trịch xé toạc không gian tĩnh mịch.

Võ Thanh Trúc đặt con dao phay bản lớn xuống thớt gỗ me chan chát, nhìn An: "Mày gánh tội thay cho người ta để làm bồ tát à? Bếp là chỗ làm ra cái ăn nuôi người, không phải chỗ để đóng kịch hi sinh!"

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn