Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.18 / 32
Chương 18

Những Ca Lạnh Xuyên Đêm

Hơi lạnh âm độ từ những khối đá xay phả trắng xóa như sương muối khắp sàn bến cảng Hòn Rớ lúc hai giờ sáng, nơi hàng trăm bóng người thoăn thoắt kéo từng sọt cá dưới ánh đèn cao áp vàng vọt.

Gió từ cửa sông Quán Trường thốc ngược vào lòng vịnh Nha Trang, mang theo vị mặn chát của hơi biển đêm hòa lẫn mùi tanh nồng đặc trưng của vẩy cá, nhớt cá và bùn lầy đáy biển. Những chiếc tàu câu cá ngừ đại dương, tàu lưới vây xa bờ vỏ gỗ kiên cố vừa cập mạn cầu cảng sau hàng tháng trời vật lộn ngoài ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa. Thân tàu đẫm nước dềnh lên hạ xuống theo từng đợt sóng ngầm xô bờ, tiếng xích sắt va đập lẻng xẻng vào trụ bêtông chen lẫn tiếng máy nổ xả khói mù mịt. Dưới ánh sáng vàng quạch nhòe nhoẹt bởi bụi nước và hơi lạnh, dây chuyền bốc dỡ hoạt động như một cỗ máy khổng lồ không có nút dừng. Mặt nước bến cảng đen sẫm như mực tàu, chốc chốc lại loang ra từng vệt dầu máy ánh lên sắc cầu vồng nhờ nhợ dưới bóng thân tàu đồ sộ. Những người phu khuân vác, những tài công mặt sạm đen vì nắng gió và muối mặn, tất cả đều hòa vào một nhịp chuyển động cơ học gấp gáp, nơi thời gian được tính bằng từng phút tan chảy của những tảng đá ướp dưới hầm tàu.

An và Khang nép mình sát rãnh thoát nước bê tông trơn nhẫy, bước theo chân một tốp thợ cửu vạn lưng trần đẫm mồ hôi dù nhiệt độ ban đêm đã hạ xuống thấp. Họ tiến sâu vào dãy phân xưởng sơ chế nằm liền kề mép mạn tàu. Nơi đây không có tường bao kín, chỉ có mái tôn fibro-xi măng cao vút và sàn xi măng dốc thoải liên tục được dội rửa bằng những vòi nước biển áp lực lớn. Không khí trong xưởng nén đặc hơi ẩm, mùi tanh của nội tạng cá và cái lạnh buốt nhức buốt xương tỏa ra từ những đống đá ngọn. Hàng chục chiếc xe đẩy tay chất đầy những sọt cá nục, cá ngừ sọc dưa, cá cờ, cá thu vừa được móc tời từ hầm lạnh tàu cá lên rầm rập lao tới, bánh xe sắt nghiến trên mặt sàn cát sạn ken két chói tai. Đá cây nguyên khối được máy nghiền quay ro ro nhả ra từng đợt đá vảy xốp mịn, trắng xóa như tuyết phủ dồn đống dọc lối đi. Cứ mỗi lần một thùng cá ngả xuống sàn, hàng chục bàn tay đi găng cao su dày cộm lập tức sà vào, thoăn thoắt phân loại từng chủng loại cá dựa trên kích cỡ, độ tươi và độ cứng của thớ thịt. Từng con cá nục tròn lẳn ánh xanh, từng con ngừ vây vàng óng ánh hay những khúc cá thu xám bạc được phân định rành rẽ trong chớp mắt, ném vào các sọt nhựa màu khác nhau theo một quy chuẩn bất thành văn đã ăn sâu vào phản xạ cơ bắp.

Nhịp điệu lao động ở đây chuẩn xác và nghiệt ngã đến tàn nhẫn. Không ai có thì giờ để nói một câu hoàn chỉnh; mọi mệnh lệnh, trao đổi chỉ gói gọn trong tiếng thét cộc lốc át tiếng máy xay đá và tiếng sóng dập dềnh: “Nục xô góc trái!”, “Thu lóng đưa lên bàn mổ!”, “Đá! Thêm ba sọt đá dập vào cá cờ!”. Nước đá tan lẫn máu cá chảy ròng ròng thành những con lạch nhỏ đỏ nhờ nhợ cuốn trôi xuống hố thu gom phế phẩm. Đứng giữa luồng gió lạnh buốt thấu xương thổi luồn từ hầm đông ra bến, An khẽ rùng mình, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Cô kéo chiếc áo khoác gió mỏng sát vào ngực, chiếc máy ảnh cơ treo lủng lẳng trước cổ áo bắt đầu đọng một lớp sương mờ mờ trên thấu kính vì chênh lệch nhiệt độ. Mùi tanh nồng sực xộc thẳng vào xoang mũi, vừa ngai ngái vừa mặn mòi, một thứ mùi vị trần trụi chỉ thuộc về ranh giới giữa biển sâu và bàn tay con người khi đêm chưa tàn.

— Đứng dạt sang mép bệ cân đi cô em, kẻo xe đá nó ủi trúng dập giò bây giờ! — Một giọng phụ nữ khàn khàn nhưng vang rền cất lên từ phía bàn mổ inox dài thượt đặt giữa luồng gió.

Đó là chị Phượng. Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, vóc dáng đậm chắc, mặc chiếc tạp dề chống thấm bằng bạt nhựa màu xanh công nhân đã sờn rách hai bên hông, chân đi ủng cao su đen bóng ngập quá bắp chân. Đôi mắt chị viền đậm những quầng thâm thẫm của hàng nghìn ca trực thâu đêm, nhưng ánh nhìn thì sắc lẻm như chính lưỡi dao thép cán gỗ mà chị đang nắm chặt trong tay. Chị là thợ xẻ cá có thâm niên hơn mười lăm năm ở bến cảng Hòn Rớ này. Chiếc bàn mổ inox trước mặt chị dài chừng bốn mét, mặt bàn lõm nhẹ ở giữa để nước và huyết cá dễ dàng chảy tuột xuống máng thoát bên dưới. Chung quanh chị, hàng chục con dao với đủ kích cỡ, từ dao bầu bản rộng chuyên chặt đầu đến những con dao lóc mũi nhọn hoắt uốn cong như lá liễu, được cắm ngay ngắn vào một thanh gỗ khoét rãnh máng bên hông bàn.

Trước mặt chị Phượng là một con cá cờ gòn nặng chừng ba mươi ký, vây lưng dựng đứng như cánh buồm xám tro, thân hình phủ một lớp vẩy bạc lấp lánh hơi lạnh. Bề mặt con cá vẫn còn cứng đanh vì ngậm đá ngấu từ ngoài khơi xa, miệng ngậm chiếc mỏ dài nhọn hoắt như mũi giáo đã bị cưa ngắn bớt để tiện việc xếp hầm. Thấy An tò mò ngắm nhìn những vết cắt sắc gọn trên thân cá, chị Phượng không ngẩng đầu lên, tay thoăn thoắt ghì mũi dao rọc một đường dứt khoát từ hõm mang chạy dọc theo sống lưng cá. Lưỡi dao bén ngọt cắn phập vào da cá, tiếng xương sườn gãy giòn rụm *khực khực* vang lên đều đặn như nhịp gõ mõ. Mũi dao lướt êm ru nhưng đầy nội lực, rẽ đôi lớp mỡ mỏng màu trắng đục rồi chạm nhẹ vào phần thịt thăn đỏ thẫm. Mỗi đường kéo của chị không hề có một động tác thừa, cổ tay xoay chuyển linh hoạt tựa như con dao là một phần nối dài của khớp xương thịt.

— Muốn học lóc cá cờ với cá thu không? Nhìn cho kỹ một lần thôi nhé, lát nữa tàu bạn nó dỡ xong là cá dập đá đầy bàn, không ai rảnh mà làm mẫu đâu! — Chị Phượng vừa thoăn thoắt xoay cổ tay vừa cất giọng chỉ dẫn, hơi thở phả ra thành từng đợt khói trắng mỏng tang giữa không gian giá buốt.

An bước lại gần hơn, cố giữ thăng bằng trên nền sàn bê tông trơn nhẫy mỡ cá. Khang cũng mang ba lô thiết bị âm thanh lẳng lặng tiến sát phía sau, cần micro định hướng bọc lớp lông lọc gió xù xì được anh chĩa chếch theo từng nhịp dao của chị Phượng, thu trọn vẹn những âm vang cơ học của kim loại miết trên gân sụn.

Chị Phượng lật nghiêng thân cá cờ, mũi dao thép bản mỏng lách sát sạt vào cột xương sống:

— Cá cờ thớ thịt nó dày, lại nhiều sợi gân chạy dọc thân. Lóc phi lê cá cờ không được ấn dao thẳng xuống như chặt củi, mà phải nương theo chiều xiên của xương dăm, mũi dao hơi chếch bốn mươi lăm độ, miết lưỡi dao sát tận mép xương để không phạm vào phần thịt đỏ sát da. Thịt đỏ ấy nhiều máu cá, để sót lại là tanh lòm, nấu bún cá nước sẽ bị đục ngầu như nước cống. Còn cá thu thì ngược lại, thịt nó mềm, nhiều dầu béo, mỡ nằm dưới lớp da mỏng, đường dao phải đi một mạch dứt khoát từ đuôi ngược lên đầu. Nhát dao ngập ngừng một cái là thịt nát tươm, chỉ có nước đem đi làm chả vụn chứ bán phi lê cho mối lái nhà hàng là bị trả về, trừ sạch tiền công!

Chị dứt lời thì đường dao cũng vừa chạm tới đốt xương đuôi cuối cùng. Bằng vài thao tác dẻo quẹo và chuẩn xác đến kinh ngạc, hai dải thịt phi lê cá cờ đỏ hồng, săn chắc như khối thịt bò tươi được chị bóc tách gọn gàng ra khỏi khung xương lớn, đặt ngay ngắn vào khay nhựa rải sẵn một lớp đá xay mịn như đường cát. Từng thớ thịt hồng hào, không một vết dập nát, đều tăm tắp và sạch bong không dính chút màng bẩn. Nhưng điều khiến An chú ý nhất không phải là những dải phi lê cá đắt giá sẽ được đưa vào các nhà hàng sang trọng hay kho lạnh xuất khẩu, mà là cái cách chị Phượng cẩn trọng gom toàn bộ phần đầu cá, vây đuôi và khung xương vừa lóc trơ trụi vào một chiếc xô nhựa màu cam riêng biệt. Khung xương cá cờ trắng nhờ, những đốt xương to bản còn dính lại một lớp thịt riềm mỏng tang, được chị xếp khéo léo để không làm gãy các nhánh xương sườn.

— Đống xương này chị gom lại để bán cho các lò bún cá rạng sáng phải không ạ? — An tò mò hỏi, hơi thở phả ra làn khói mờ ảo trong không khí lạnh buốt, mắt chăm chú nhìn vào chiếc xô cam đã đầy quá nửa.

Chị Phượng thoáng cười, khóe mắt nheo lại hằn sâu những nếp nhăn lao lực, những nếp gấp xô vào nhau kể câu chuyện của những đêm trắng ròng rã bên mép biển:

— Chứ cô tưởng người ta nấu bún cá Nha Trang bằng thịt phi lê chắc? Thịt cá người ta lóc ra đem quết chả cá hấp, chả cá chiên, hoặc thái lát mỏng dầm dấm bán riêng. Còn cái linh hồn của nồi nước lèo bún cá từ mờ sáng ngoài phố thị, ngọt thanh lịm người mà nước lại trong veo như mắt mèo, là nhờ vào chính cái đống xương xả ra ở phân xưởng này đây!

Chị buông con dao xuống mặt thớt gỗ lim, nhặt chiếc đầu cá thu lên, dùng ngón tay cái ấn dứt khoát vào cuống mang, giật phăng hai chùm mang cá đỏ bầm đầy nhớt ném tọt vào rãnh nước thải:

— Ninh xương cá biển lấy nước dùng, kỹ thuật nó khác hẳn ninh xương heo xương bò ngoài Bắc của cô. Xương heo càng hầm lâu càng đục ngậy mỡ tủy, còn xương cá biển chỉ ninh lơ là một chút là đục ngầu, sủi bọt tanh lợm giọng. Muốn nước dùng trong vắt, ngọt thanh mà tuyệt đối không tanh tao, cái đầu tiên là phải bỏ sạch mang cá và cạo tróc màng đen bám trong khoang bụng. Rửa qua ba lượt nước muối lạnh cho hết sạch máu đọng. Đợi nước sôi bùng lên thì thả xương cá vào chần sơ chừng một phút cho săn thớ tủy rồi vớt ngay ra xả nước lạnh một lần nữa. Khi bắc nồi nước dùng chính thức, chỉ được thả thêm hành tím nướng sém vỏ, củ cải trắng và vài lát gừng đập dập, rồi hạ lửa liu riu, tuyệt đối không được đậy nắp vung. Nước chỉ được sôi tăm tăm như mắt tôm, bọt sủi đến đâu hớt sạch đến đấy. Xương cá biển chín rất nhanh, chỉ ninh độ một tiếng đến một tiếng rưỡi là chất ngọt từ tủy xương đã thôi ra hết. Ninh rục quá là xương mủn, nước dùng chuyển màu vàng lợ và dậy mùi hăng nồng. Khách phố thị ăn tô bún chỉ thấy ngọt lịm đầu lưỡi, thơm mùi hành hoa ngò gai, có mấy ai hình dung được cái gốc của nó bắt đầu từ những đống xương lạnh tanh này đâu.

An lặng lẽ lắng nghe, từng câu từng chữ của chị thợ xẻ như mở ra một kho tàng tri thức dân gian nguyên bản, được đúc kết không phải qua sách vở hay trường lớp nấu ăn hoa mỹ, mà bằng chính hàng vạn vết cắt, bằng thứ trực giác nghề nghiệp hình thành qua những mùa bão gió và những đêm dầm mình trong nước đá. Người ta thường chỉ ca tụng sự tinh tế của ẩm thực nơi bàn ăn tươm tất, nơi những tô bún bốc khói ngạt ngào với lát chả cá vàng ruộm, cọng hành xanh ngắt và miếng cá dầm trắng phau, nhưng chẳng mấy ai lùi lại một bước để thấy cội nguồn của vị ngọt thanh tao ấy lại bắt rễ từ những góc khuất ẩm ướt, mặn chát và nhọc nhằn bậc nhất của một hải cảng xa xôi.

Đúng ba giờ mười lăm phút sáng, tiếng còi hú dài báo hiệu giờ giải lao mười lăm phút vang lên chói gắt từ loa phóng thanh của nhà xưởng. Thanh âm kim loại xé toang không gian ồn ã, đập dội vào những mái tôn fibro-xi măng rồi tan ra giữa luồng gió biển. Cỗ máy phân loại ngưng bặt, tiếng róc rách của băng chuyền tắt ngấm, chỉ còn tiếng đá tan róc rách chảy dưới sàn và tiếng thở dốc nặng nhọc của kíp thợ. Những người đàn ông cởi trói đôi găng tay, dựa lưng vào cột sắt châm vội điếu thuốc lá sâu kèn, đốm lửa đỏ lập lòe soi rõ những gương mặt hốc hác, nhễ nhại mồ hôi dù hơi lạnh vẫn bốc lên ngùn ngụt.

Chị Phượng tháo đôi găng tay cao su dính đầy vẩy cá và nhớt lạnh, vắt lên mép bàn mổ. Đôi bàn tay chị lộ ra dưới ánh đèn trần: chúng sưng húp, tái nhợt vì ngâm nước đá nhiều giờ liền. Các đầu ngón tay của chị nhăn nheo, tím tái như những củ gừng vùi trong đất lạnh, những vết cứa nông sâu do mép vây cá cào xước chằng chịt khắp mu bàn tay, miệng vết thương trắng bệch vì ngấm muối và nước đá liên tục. Chị rút từ túi tạp dề ra một mẩu bánh mì khô khốc đã gãy vụn một góc, ngồi bệt xuống một góc thùng xốp lót bao tải dứa, xoa xoa hai bàn tay vào nhau để tìm kiếm chút hơi ấm tàn sót. Cử chỉ ấy chậm rãi, nhẫn nại và đơn độc đến mức khiến lòng người chứng kiến thắt lại.

Thấy An mở ba lô lấy máy ảnh định chụp lại khoảnh khắc chị ngồi nghỉ ngơi bên chồng sọt cá, ống kính vừa hướng về phía thềm gạch thì chị Phượng bỗng giật mình thót lại. Gương mặt người đàn bà lao động sạm nắng thoáng chốc lộ rõ vẻ hoảng hốt tột cùng. Chị vội vàng đưa hai bàn tay tê cóng lên che ngang mặt, đầu cúi gằm xuống, giọng run rẩy khẩn thiết:

— Đừng… đừng chụp cô ơi! Tôi xin cô đấy, cô cất cái máy hình đi giùm tôi!

An ngỡ ngàng, bàn tay đang giữ nút chụp khựng lại giữa không trung. Cô vội vàng hạ chiếc máy ảnh xuống, bối rối nhìn chị, cảm thấy mình vừa vô tình xâm phạm vào một nỗi sợ hãi vô hình nhưng vô cùng bức bách:

— Em xin lỗi chị… Em chỉ muốn ghi lại hình ảnh những người trực tiếp sơ chế cá thôi ạ. Em không có ý xấu đâu.

Chị Phượng thở phào một hơi dài, lồng ngực phập phồng dưới lớp tạp dề bạt nhựa, nhưng ánh mắt vẫn lấm lét nhìn quanh quất về phía phòng điều hành bọc kính ở tầng lửng xưởng, nơi có bóng dáng những viên quản đốc đang đi lại với những tập hồ sơ kẹp nách và bộ đàm giắt lưng:

— Tôi biết cô cậu từ ngoài Hà Nội vào tìm hiểu nghề nấu ăn, bụng dạ lương thiện không hại ai. Nhưng quy định của xưởng này ngặt nghèo lắm cô ơi. Họ cấm công nhân tiếp xúc với người ngoài mang máy ảnh, sổ sách. Năm ngoái có mấy tay nhà báo chụp hình đưa tin về việc xưởng không trang bị đủ đồ bảo hộ mùa lạnh, quản đốc họ truy ra ai để lọt người vào là họ phạt trừ sạch tiền chuyên cần, rồi đuổi việc thẳng cánh. Tôi còn hai đứa con đang tuổi ăn học, chồng thì mất ngoài biển trong đợt bão năm kia, một mình tôi gánh mấy trăm triệu tiền nợ đóng tàu vỏ gỗ còn chưa trả hết cho ngân hàng. Mỗi tháng cày ba mươi ca đêm ở đây, cắn răng chịu lạnh mới kiếm được mấy triệu đồng tiền công đong gạo với trả lãi. Lỡ mang tiếng lên mạng hay bị xưởng phạt trừ lương, mẹ con tôi chỉ có nước ra đê mà ở thôi cô ơi. Làm ơn, nếu có viết bài hay ghi chép gì, xin cô giấu tên thật của tôi đi. Đừng ghi tên Phượng, đừng chụp mặt tôi, đừng chỉ đích danh phân xưởng này… Tôi đội ơn cô cậu nghìn lần!

Từng lời, từng chữ thốt ra trong hơi thở đứt quãng của người mẹ đơn thân như những mũi kim châm thẳng vào tâm can An. Lời cầu xin thắt nghẽn nơi cuống họng của người mẹ đơn thân làm lòng An chùng xuống nhói buốt. Nhìn đôi bàn tay tím tái đang run rẩy siết chặt mẩu bánh mì khô khốc của chị, An hiểu rằng phẩm giá và chén cơm mưu sinh của một con người mong manh đến nhường nào trước những guồng quay công nghiệp lạnh lùng. Đằng sau những dải phi lê cá lấp lánh xuất khẩu, đằng sau danh tiếng của những cảng cá sầm uất mang lại nguồn ngoại tệ lớn, là cuộc đời của những cá nhân vô danh đang từng ngày đánh cược sức khỏe, chịu đựng cái lạnh âm độ và những luật lệ hà khắc để đổi lấy sự tồn tại tối thiểu cho gia đình mình. Bản năng của người làm tư liệu không bao giờ được phép dẫm đạp lên sự an toàn sinh kế của người cung cấp câu chuyện. Đó là ranh giới đạo đức tối thượng mà cô đã tự hứa với lòng mình kể từ ngày rời căn bếp cũ bên sông Hồng.

Chị Phượng ngước lên nhìn An, ánh mắt bớt đi phần cảnh giác, thay vào đó là sự mệt mỏi buông xuôi. Chị nhìn gương mặt thanh tú nhưng cương nghị của An, đôi mắt chợt mông lung như nhớ lại điều gì đó xa xôi, một ký ức đã bị lớp bụi thời gian và hơi lạnh biển cả phủ mờ:

— Mà nhìn cái dáng người mảnh khảnh với đôi mắt một mí của cô, tự dưng tôi lại nhớ tới một người… Cách đây chừng mười mấy năm, hồi tôi mới chân ướt chân ráo vào làm thợ mổ ở khu cảng cũ bên Chợ Đầm, cũng có một bà cán bộ ngoài Bắc theo đoàn thanh tra thuế và kiểm toán chuỗi nhà xưởng thủy sản ghé qua. Bà ấy cũng đeo chiếc kính gọng đồi mồi, tóc vấn cao sau gáy, dáng người cao ráo và cẩn thận từng con số y hệt như cô bây giờ. Bà ấy lật từng cuốn sổ chấm công, hỏi han từng người thợ xem có bị xưởng ăn chặn tiền ca ba hay không… Không biết có phải người quen bà con gì với cô không nữa.

An sững người. Một cơn ớn lạnh kỳ lạ chạy dọc sống lưng cô, không phải cái lạnh của đá xay bến cảng, mà là sự chấn động từ ký ức. Lồng ngực cô nghẹn lại, từng nhịp đập như dội vào màng nhĩ. Mẹ cô — bà Nguyễn Thu Hà — vốn là một nhân viên kế toán công chứng mẫn cán suốt cả đời, từng có những năm tháng rong ruổi theo các đoàn thanh tra tài chính liên ngành vào các tỉnh duyên hải miền Trung vào đầu thập niên hai nghìn. Chiếc kính gọng đồi mồi, mái tóc vấn cao nghiêm cẩn, thói quen lật từng trang sổ sách và soi xét từng con số lẻ… tất cả những chi tiết vụn vặt ấy khớp nối hoàn hảo với bóng hình người mẹ mà An luôn thấy xa cách. Có thể mẹ cô từng đặt chân đến đây, từng đi qua chính những phân xưởng ẩm ướt đầy máu cá này, từng đứng bên những người phụ nữ lam lũ như chị Phượng để đòi lại vài đồng tiền công ca ba bị bòn rút, nhưng chưa bao giờ bà kể cho con gái nghe nửa lời. Ký ức về mẹ trong tâm trí An luôn chỉ gắn liền với những cuốn sổ cái dày cộp, những con số cân đối thu chi lạnh lùng và những cơn cáu gắt triền miên về tiền nợ. Hóa ra, đằng sau lớp vỏ bọc khô khan và khắc nghiệt ấy, mẹ cô cũng từng mang theo một sự kiên định thầm lặng giữa chốn gió bụi bến tàu.

— Chị Phượng… — An khẽ nói, giọng cô chân thành và kiên định — Em hứa với chị, danh dự của em xin cam kết sẽ bảo vệ sự ẩn danh tuyệt đối cho chị. Em sẽ không chụp bất kỳ bức ảnh nào có khuôn mặt của chị hay bảng tên xưởng. Tên của chị trên trang viết của em cũng sẽ được thay đổi hoàn toàn. Chị cứ yên tâm.

An dứt khoát tháo quai máy ảnh tròng qua đầu, cất chiếc máy vào sâu trong ngăn đáy ba lô rồi kéo khóa lại. Động tác của cô dứt khoát như một lời thề ngầm. Cô quay sang nhìn Khang gật đầu. Khang hiểu ý ngay tắp lự. Là người bạn đồng hành thấu hiểu từng rung cảm nhỏ nhất của An, anh không cần một lời giải thích thừa thãi. Anh tắt màn hình máy quay nhỏ, chỉ giữ lại chiếc máy ghi âm chuyên dụng cài bên hông. Anh điều chỉnh độ nhạy của micro màng lớn, chuyển toàn bộ phương thức ghi chép từ hình ảnh sang tư liệu âm thanh thuần túy. Nếu hình ảnh có thể mang lại tai họa cho người khác, thì âm thanh sẽ là nơi trú ngụ an toàn, lưu giữ linh hồn của không gian mà không để lộ nhân dạng của bất kỳ ai.

Trong nửa ca làm việc còn lại kéo dài từ bốn giờ sáng đến khi rạng đông le lói, không gian phân xưởng sơ chế cảng Hòn Rớ được tái hiện lại trọn vẹn qua những trường âm thanh dày đặc, sống động và trần trụi.

Đó là tiếng dao thép *rọc… rọc… rọc* miết dứt khoát vào sống lưng cá cờ; tiếng vây cá gãy răng rắc khi bị kìm bẻ ngược; tiếng đá lạnh rào rào trút từ miệng máy xay xuống thùng xốp như một trận mưa đá dữ dội giữa mùa hè; tiếng nước biển xịt rửa sàn bê tông *ào ào* cuốn theo máu cá; và trên hết là những tiếng thở dốc nặng nhọc, đứt quãng của hàng chục con người đang gồng mình chống chọi với cái lạnh âm độ và sức nặng của biển khơi. Khang di chuyển nhịp nhàng quanh khu xưởng, giơ cao cần thu âm lên sát miệng phễu nghiền đá, rồi lại hạ thấp xuống ngang mặt sàn xi măng để bắt lấy tiếng nước xả cuốn trôi từng mảng vẩy cá lấp lánh. Những âm thanh ấy không có gương mặt, không có danh tính, nhưng chúng mang sức nặng của sự thật và mồ hôi nước mắt người lao động — thứ tư liệu âm thanh thuần khiết nhất mà Khang đã cẩn thận lưu trữ vào từng rãnh sóng âm. Đó là bản giao hưởng không lời của sự sinh tồn, nơi mỗi nốt nhạc đều thấm đẫm vị mặn của muối và vị cay đắng của nhọc nhằn.

Gần năm giờ sáng, một chiếc tàu lưới kéo khác cập bến, kíp thợ bốc dỡ thiếu người do một công nhân bị kiệt sức vì ngộ lạnh và đuối sức sau ca làm dài. Tiếng chuông cảnh báo của ròng rọc máy tời ré lên từng hồi giục giã. Phía trên cao, chiếc cần cẩu trục đang đu đưa một sọt đá xay nặng gần sáu mươi ký để tiếp vận cho khoang sơ chế phụ. Bất ngờ, do chốt khóa cáp bị trượt khớp vì bám đầy mỡ nhớt, chiếc sọt đá xay nặng gần sáu mươi ký bị kẹt lại bên mép tời máy đang lắc lư chực lật úp vào nhóm phụ nữ đang ngồi cắt mang cá phía dưới. Những người phụ nữ mải miết cúi đầu làm việc, hoàn toàn không hay biết khối đá nặng hàng chục ký lơ lửng ngay trên đỉnh đầu mình đang trượt dần khỏi móc sắt.

Nhìn thấy hiểm cảnh chỉ trong tích tắc, Khang không ngần ngại lao tới.

— Coi chừng! — Khang hét lớn, thanh âm xé toạc màn sương muối đặc quánh.

Anh vươn người, dùng cả hai tay đỡ lấy đáy sọt đá đang trượt dốc. Sức nặng của khối đá đông cứng đè nghiến xuống bất ngờ kết hợp với sàn xi măng phủ đầy rêu nhớt khiến chân phải của Khang trượt mạnh một cú chí mạng. Cả thân người anh va đập mạnh vào thành sắt của máy tời. Một tiếng *rắc* khô khốc vang lên nơi cổ tay trái khi anh gồng hết sức bình sinh đẩy chiếc sọt nặng ngược trở lại vị trí an toàn trên bệ cân. Khối kim loại lạnh ngắt thúc mạnh vào mạng sườn khiến anh nghẹn thở, nhưng hai cánh tay vẫn ghì chặt đáy sọt cho đến khi chốt hãm tự động sập xuống giữ chặt kiện hàng.

Chiếc sọt đá nằm im, nhóm nữ công nhân thoát nạn hú vía xôn xao cảm ơn. Vài người vỗ vai anh rối rít, người khác vội vàng dọn dẹp hiện trường và kéo nhau dạt sang khu vực an toàn hơn. Khang lảo đảo lùi lại phía sau cột bê tông, mặt anh tái mét, môi cắn chặt đến rớm máu. Cổ tay trái của anh sưng vù lên nhanh chóng, vùng khớp biến dạng nhẹ và đỏ ửng dưới lớp da lạnh ngắt, cơn đau dữ dội từ vết bong gân khớp cổ tay giật buốt lên tận đỉnh đầu theo từng nhịp đập của mạch máu. Anh hít một hơi sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi xoa dịu phần nào cơn chấn động. Nhưng khi thấy An đang cặm cụi ghi chép những dòng mô tả cuối cùng vào cuốn sổ tay cách đó vài mét, mắt cô vẫn đăm đắm dõi theo từng dải cơ cá trên thớt gỗ, Khang cắn răng chịu đựng, lẳng lặng rút bàn tay đau nhức nhét sâu vào túi áo khoác rộng thùng thình, cố làm như không có chuyện gì xảy ra. Anh không muốn An phải lo lắng, càng không muốn chấn thương của mình làm gián đoạn hay trễ nải lộ trình của chiếc xe Bếp Nhỏ đang chuẩn bị xuôi tiếp vào vùng đất Ninh Thuận khô hạn phía trước. Anh gượng đứng thẳng lưng, dựa vào cột xi măng, bàn tay phải nhẹ nhàng nắn chỉnh lại các nút vặn trên máy ghi âm, giấu nhẹm đi sự đau đớn đang hành hạ từng thớ thịt.

Bình minh bắt đầu ló rạng từ chân trời biển Đông. Ánh nắng đầu ngày màu cam nhạt rọi qua làn sương muối mờ ảo của cảng cá Hòn Rớ, nhuộm một màu vàng ươm lên mặt biển đang êm ả dần. Những vạt sáng đầu tiên quét qua mặt nước bến cảng, xua đi sắc đen nhờ nhợ của màn đêm và biến những vệt dầu máy lênh láng thành những quầng sáng óng ả. Xa xa, những dãy núi ôm lấy vịnh Nha Trang hiện rõ hình hài xanh thẫm, vững chãi che chắn cho hàng trăm con tàu đang neo đậu san sát. Không khí cảng cá bắt đầu chuyển dịch: tiếng máy xay đá thưa dần, nhường chỗ cho tiếng còi xe tải chở hàng đông lạnh rầm rập vào bến ăn hàng, tiếng ngã giá của các thương lái bán sỉ và tiếng mời chào của các gánh hàng ăn sáng bắt đầu nhóm lửa ven đường.

An ngồi bên bậc thềm đá của trạm hải đăng ven bến cảng, đặt chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ lên đùi. Gió sớm thổi lồng lộng làm bay bay những lọn tóc mai dính bết mồ hôi và hơi muối biển trên trán cô. Hương vị của biển lúc rạng đông trong trẻo hơn, cái lạnh cắt da ban đêm đã nhường chỗ cho luồng sinh khí ấm áp của ngày mới. An rút tấm thẻ số 18 bằng giấy bồi dày dặn, dưới ngòi bút mực đen nắn nót, cô hoàn thành nội dung cho một chặng đường đầy xúc cảm:

*Thẻ số 18: Bún cá dầm vịnh Nha Trang — Vị ngọt từ xương và bàn tay thầm lặng.* *Kỹ thuật chiết xuất nước dùng: Chỉ dùng đầu và khung xương cá cờ, cá thu tươi vừa sơ chế; cạo sạch màng đen khoang bụng, ngâm nước muối biển ba lượt để rút sạch huyết đọng. Chần nước sôi một lượt xả lạnh rồi mới ninh trên lửa nhỏ tăm tăm cùng hành tím nướng và gừng đập dập, tuyệt đối không đậy nắp nồi, liên tục hớt bọt trong chín mươi phút để nước dùng đạt độ trong vắt như gương và vị ngọt thanh hậu không vướng gợn tanh.* *Ghi chép xã hội: Một tô bún cá thơm phức bốc khói trên bàn ăn của thị dân lúc bình minh không chỉ được tạo nên bởi các loại gia vị cầu kỳ, mà được chưng cất từ chuỗi lao động ẩn danh khốc liệt xuyên đêm nơi bến cảng. Vị ngọt đậm đà ấy thấm đẫm cái lạnh tê cóng buốt xương của những bàn tay xẻ cá không bao giờ được xuất hiện trên mặt báo hay ống kính máy ảnh vì nỗi sợ mất đi chén cơm manh áo hàng ngày. Tôn trọng món ăn là tôn trọng quyền được sống trong bình an và quyền được ẩn danh của những thân phận đứng phía sau ngọn lửa.*

Cô thổi nhẹ cho nét mực mau khô, cẩn thận đặt tấm thẻ vào ngăn gỗ mun bên cạnh những ghi chép của những vùng đất đã đi qua. Mùi mực mới hòa quyện với mùi gỗ thông và mùi mặn mòi của gió biển tạo nên một cảm giác an định lạ lùng. An ngẩng đầu nhìn lại khu nhà xưởng phía xa, nơi những bóng người nhỏ bé vẫn đang cặm cụi dội những gáo nước cuối cùng để kết thúc một ca làm việc dài. Ở đó, những thân phận không tên vẫn đang lặng lẽ viết nên câu chuyện ẩm thực của xứ sở bằng chính sự nhọc nhằn của máu và mồ hôi.

Giữa mùi tanh mặn của đá tan và máu cá, chị Phượng rụt đôi bàn tay cóng buốt vào tạp dề: “Khách ăn bún chỉ khen nước ngọt, chứ có ai biết cái lạnh buốt xương của người róc thịt đâu cô.”

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn