Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.16 / 32
Chương 16

Hạt Cơm Đi Biển

Tiếng còi tàu hú dài xé toạc màn sương muối xám xịt đặc quánh đang bao trùm lấy bến cảng Sa Kỳ. Dưới bầu trời vần vụ những dải mây chì nặng trĩu sà sát xuống mặt nước, nhịp lao động của những người đàn ông làng chài vẫn cuộn chảy trong một guồng quay khẩn trương và câm lặng. Từng khối đá cây lạnh ngắt, đục ngầu hơi sương trượt rào rào trên những máng gỗ vẹt mòn, đâm thẳng xuống lòng hầm tàu tối om dưới bụng thuyền. Hơi băng trắng xối xả bốc lên thành từng cuộn khói ma mị, vừa chạm vào không khí mặn chát liền tan biến vào những cơn gió biển thốc mạnh từ ngoài khơi, mang theo nồng nặc mùi rong rêu dạt bờ mục rữa quyện chặt với mùi dầu diesel khét lẹt bốc ra từ hàng chục ống xả tàu cá.

Bốn giờ sáng, bến cảng đã đặc nghẹt âm thanh của sự hối hả, thứ âm thanh hỗn tạp quen thuộc của những chuyến vươn khơi dài ngày: tiếng bước chân bì bõm của những đôi ủng cao su nặng trịch nện trên nền bê tông nhớp nháp vảy cá, tiếng kim loại va chạm leng keng, tiếng ròng rọc rít ken két khi bốc dỡ những phuy nhiên liệu và tiếng sóng đập ì oạp vào chân kè đá. Dưới ánh sáng vàng vọt, run rẩy của những ngọn đèn cao áp bám đầy hơi nước, những chiếc bóng lực lưỡng khoác áo tơi bạt lầm lũi đi lại như những con thoi giữa bờ và mạn tàu.

Chiếc xe tải Bếp Nhỏ đỗ nép mình vào một góc kho muối cũ đã bỏ hoang từ lâu, nơi những bức tường gạch vỡ lở loét loang lổ những vệt rêu phong và muối đóng vẩy trắng xóa. Lớp bụi đường đỏ quạch vượt qua đèo Hải Vân và bụi cát vàng mịn của phố cổ Hội An vẫn còn bám lem luốc, dày cộp trên vè xe và gầm sắt hoen gỉ. An kéo sụp vành mũ len màu xám tro xuống sát chân mày, hai bàn tay buốt lạnh vì gió bấc đút sâu vào túi chiếc áo khoác gió đã sờn mép. Bên cạnh cô, Khang đứng tựa vào thùng xe, im lặng quấn lại dải băng vải thô quanh khớp cổ tay phải đang sưng tấy nhẹ sau trận hì hục chỉnh lại hộp số dưới gầm máy suốt đêm trước ở bến đò Tam Giang.

Gương mặt góc cạnh của Khang hằn rõ vẻ mệt mỏi của một kẻ thiếu ngủ triền miên; quầng thâm dưới mắt anh sẫm màu như mực tàu, nhưng sống hàm vẫn bạnh ra cứng cỏi. Chiếc điện thoại cũ kỹ để trong túi quần bò của anh cứ cách chừng năm phút lại rung lên bần bật từng chập ngắn, dồn dập và tàn nhẫn. Đó là những cuộc gọi đòi nợ không ngừng nghỉ từ những số máy lạ ở quê nhà. Khang không buồn rút máy ra nhìn màn hình; anh chỉ thọc những ngón tay thô ráp đầy vết chai sần vào túi, lạnh lùng ấn nút từ chối rồi lẳng lặng nhét nó sâu hơn vào đáy túi quần. Anh đang nén chặt nỗi ám ảnh về món nợ năm mươi triệu đồng của người anh trai vào đáy mắt, dồn toàn bộ sự chú ý và sức lực còn lại vào con tàu vỏ gỗ sơn xanh mang số hiệu QNg-96289-TS đang dập dềnh theo từng con nước lớn bên mép cầu cảng.

Đó là một con tàu đánh bắt xa bờ cỡ lớn, thân tàu được ghép từ những phiến gỗ sao bản dày đã trải qua muôn vàn phen thử thách với sóng gió trùng khơi. Chủ tàu kiêm thuyền trưởng là ông Đặng, một ngư dân ngoài năm mươi tuổi nhưng trông già hơn tuổi thật một giáp bởi gió mặn đã khắc sâu lên mặt ông những nếp nhăn như rãnh cày trên đá. Nước da ông đen cháy như vỏ cây mù u, đôi bàn tay bè bè như hai chiếc xẻng sắt và đôi mắt một mí sâu hoắm, sắc lạnh, từng can qua hàng chục cơn cuồng phong dữ dội ở ngư trường Hoàng Sa. Chuyến biển này dự kiến kéo dài gần một tháng tròn, đưa mười bốn ngư dân vươn tới những vùng biển xa xôi và khắc nghiệt nhất của dải hải phận tổ quốc.

Hòa vào nhóm hậu cần gia đình của thuyền trưởng Đặng, An và Khang lập tức bắt tay vào công việc mà không kịp có một lời chào hỏi rườm rà. Ở bến cảng trước giờ xuất bến, lời nói là thứ xa xỉ thừa thãi nhất; giữa cái lạnh cắt da và thời gian trôi đi theo từng mét triều dâng, chỉ có sức nặng của những bao tải đè trĩu vai và nhịp chuyển động không ngừng nghỉ mới là thước đo chính xác nhất cho sự chân thành và tinh thần đồng đội.

Khang cùng đám thanh niên trai tráng làng chài thoăn thoắt vác từng bao gạo ba mươi ký, từng thùng nhớt máy và từng kiện lưới cước xuống khoang sau, trong khi An được kéo về phía gian chái bếp tạm dựng bằng tôn rỉ và bạt dứa ngay sát mép nước của gia đình thuyền trưởng. Nơi đó, ngọn lửa củi đước đang bùng lên đỏ rực, liếm láp đáy ba chiếc chảo gang khổng lồ tỏa hơi nóng hầm hập, xua bớt cái giá buốt của buổi sớm mai.

Chị Mai, vợ thuyền trưởng Đặng, người đàn bà có đôi cánh tay gân guốc, cơ bắp cuồn cuộn chẳng kém đàn ông và gò má nám sạm vì nắng gió biển miền Trung, đang dùng chiếc xẻng sắt bản rộng đảo liên hồi mớ cá cơm khô trong lòng chiếc chảo gang lớn nhất. Thấy An bước vào, chị không ngừng tay, chỉ khẽ gật đầu chào rồi hất cằm về phía bao đường mía sẫm màu đặt cạnh cột bếp:

— Đong ba bát đường bát bẻ vụn ra đây cho chị! Lẹ tay lên em gái, lửa củi đước đang tới kỳ đỏ ngọn, để quá một khắc là đường cháy đắng nghét, cá xuống biển mười ngày trúng ẩm mốc liền, cả thuyền phải nhai gạo sấy chan nước ốc!

An xắn cao tay áo khoác, lập tức làm theo sự chỉ dẫn cặn kẽ của chị. Trong gian bếp mù mịt khói củi cay xè và nồng nặc hơi mặn bốc lên từ chảo cá, chị Mai vừa thoăn thoắt đảo xẻng vừa hướng dẫn An tỉ mỉ kỹ thuật giữ lửa cho món ăn trường chinh trên sóng nước. Nấu ăn cho người đi biển dài ngày không giống bất kỳ kỹ nghệ bếp núc cầu kỳ, thanh tao nào chốn thành thị hay những nhà hàng sang trọng ven bờ; ở đây, kẻ thù lớn nhất của người đầu bếp không phải là khẩu vị khó tính của thực khách, mà là thời gian đằng đẵng, hơi ẩm bão hòa và gió mặn bào mòn mọi thứ hữu cơ.

— Cá cơm này là cá cơm than phơi chuẩn ba nắng giòn, tuyệt đối không được dính một giọt sương đêm nào, — chị Mai vừa gạt giọt mồ hôi đang rịn trên trán bằng bắp tay áo lem luốc vừa giải thích, giọng nói khàn đục của chị át cả tiếng củi nổ lách tách dưới đáy lò. — Gió đêm nó mang hơi muối non, dính vào là con cá dai nhách, rim lên không bao giờ rút mật đường vô tận xương tủy được. Còn đường mía này phải là đường bát Quảng Ngãi chính gốc, nấu từ mật mía cô đặc, bẻ vụn ra thắng chung với mỡ lợn phi củ nén đập dập. Thắng tới khi nào đường keo lại thành màu cánh gián đậm, sủi bọt tăm li ti như mắt cua bò trên cát. Lúc đó mới rút bớt củi gộc, hạ lửa than liu riu rồi trút cá cơm vô đảo thật đều tay, không được ngừng một giây nào.

Chị trao cho An chiếc muôi gỗ lớn dài cả sải tay, ra hiệu cho cô tiếp quản lòng chảo gang đang sôi sục. Mùi đường mía ngào ngạt bốc lên, gặp mỡ lợn và củ nén phi thơm lừng liền quyện chặt lấy mùi cá khô mặn mòi nguyên thủy của biển cả. Dưới bàn tay nhẫn nại và dẻo dai của An, từng dòng mật đường sền sệt, óng ánh bắt đầu bám chặt quanh từng thân cá nhỏ bé xám bạc. Chị Mai đứng bên cạnh giám sát, tay chị thoăn thoắt bốc từng vốc ớt bột cay xé mắt rắc đều lên mặt chảo, rồi múc từng muôi nước mắm cốt cá cơm Sa Huỳnh nguyên chất rưới vòng quanh thành chảo gang.

Nước mắm gặp nhiệt độ cực cao của gang rực lửa liền réo lên xèo xèo dữ dội, bốc lên một làn khói thơm nồng nặc, cay nồng và mặn đói xộc thẳng vào mũi, làm hai khóe mắt An ứa nước cay xè.

— Bí quyết sống còn của món này là tuyệt đối không được để một giọt nước lã nào lọt vô lòng chảo, — chị Mai nhấn mạnh từng từ, giọng chị đanh lại như một mệnh lệnh khắc nghiệt trên boong tàu. — Một giọt nước lã thôi là cả mẻ cá coi như vứt bỏ sau một tuần ra khơi. Nước mắm phải là loại mắm nhĩ nhặt từng giọt từ đáy lu sành phơi nắng hai năm ròng, độ đạm cao ngất ngưởng, mặn chát đầu lưỡi nhưng hậu ngọt đọng lại nơi cuống họng. Rim lửa than liu riu cho tới khi con cá săn cứng lại, khô cong queo, keo mật bọc kín từ đầu đến đuôi như một lớp áo giáp. Con cá nào cong vút như chiếc lưỡi câu, bề mặt bóng loáng màu hổ phách và khi gõ nhẹ vào nhau nghe lách cách đanh giòn dưới móng tay mới là đạt chuẩn.

Chị Mai chỉ tay về phía mặt biển mờ mịt ngoài cửa vịnh, đôi mắt quầng thâm nhìn vào khoảng không vô định: — Gió biển Hoàng Sa nó buốt và ẩm dữ dội lắm em ơi. Hơi muối mặn nó luồn lách qua từng thớ gỗ, chui qua từng kẽ ván khoang tàu. Nếu con cá rim mà còn ngậm một chút ẩm, thì chỉ qua ba con sóng lớn là mốc xanh mốc đỏ mọc đầy quanh miệng hũ. Cơm gạo mà đổ xuống biển thì lấy cái gì bỏ vô bụng để có sức mà bám lái vượt qua sóng dữ, lấy sức đâu mà kéo những mẻ lưới sâu hàng trăm sải nước!

Bên cạnh chảo cá rim đang tỏa khói nghi ngút, trên chiếc nong tre lớn, những chồng bánh tráng gạo mè dày cùi nướng chín giòn rụm trên than củi đước đang lục bục tỏa hương thơm của bột gạo chín và vừng rang. Những người phụ nữ khác trong tổ hậu cần cẩn thận xếp từng chiếc bánh tráng vào các lớp lá chuối hột khô đã được hơ qua lửa than để tiệt trùng và dẻo dai hơn, sau đó bọc kín bên ngoài bằng hai lớp bao tải dứa dày, dùng băng dính bảng lớn quấn chặt chịa thành từng khối vuông vức không một khe hở.

Chị Mai bảo, bánh tráng gạo mè dày xứ Quảng ủ theo cách thức cổ truyền này có thể để suốt hai tháng ròng rã giữa biển khơi mà không hề bị ỉu mềm hay hôi mốc. Vào những ngày biển động dữ dội, sóng trùm qua nóc cabin khiến gió giật tơi bời không thể nào nhóm bếp dầu, các ngư dân chỉ việc bẻ vụn từng miếng bánh tráng giòn rụm, kẹp chặt một nhúm cá cơm than rim đường mặn ngọt cay xé là đã có ngay một bữa ăn sinh tồn đầy đủ năng lượng để bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió.

Mẻ cá cơm thứ tư vừa được dỡ ra nong tre lót lá chuối để nguội thì chiếc loa phát thanh của đài thông tin duyên hải gắn trên cột đèn cao áp bến cảng đột ngột rít lên những tiếng rè rè chói tai, cắt ngang bầu không khí lao động hối hả đang diễn ra rầm rộ khắp mặt cầu tàu.

*“Thông báo khẩn cấp... Thông báo bão khẩn cấp từ Đài Khí tượng Thủy văn Nam Trung Bộ... Hiện nay một dải áp thấp nhiệt đới trên vùng biển phía đông quần đảo Hoàng Sa đang mạnh lên nhanh chóng thành áp thấp nhiệt đới gần bờ, di chuyển theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ mười lăm kilômét một giờ, sức gió giật cấp 7, cấp 8, biển động dữ dội... Vùng biển nguy hiểm kéo dài từ vĩ tuyến mười ba đến mười bảy độ vĩ Bắc... Yêu cầu toàn bộ phương tiện tàu thuyền đang hoạt động khẩn trương kiểm tra an toàn, tìm nơi trú ẩn gần nhất...”*

Bản tin radio vừa dứt, bến cảng Sa Kỳ như chững lại một nhịp thở. Tiếng máy nổ của các thuyền con tạm ngưng bặt. Thuyền trưởng Đặng từ trên boong tàu nhảy vội xuống cầu cảng, đôi ủng cao su nện mạnh trên mặt đá ướt. Chiếc mũ cối bạc màu kẹp chặt bên nách, gương mặt ông sắt lại, những nếp nhăn nơi trán co thắt đầy lo lắng. Mười ba thuyền viên khác cũng lập tức buông bao tải và thùng dầu xuống, tụ lại quanh chiếc bàn gỗ mộc trước cửa trạm kiểm soát của bến cảng. Không khí chùng xuống, căng thẳng và ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng thở dốc của những người đàn ông và tiếng sóng biển va vào bờ kè gầm gừ đe dọa.

Đi hay ở? Xuất bến sớm ngay trong buổi sáng để cố gắng chạy thốc vượt qua rìa phía nam của dải áp thấp, hay chấp nhận ở lại bến cảng chờ tan giông gió rồi mất đứt con nước triều cường tốt nhất trong tháng, cùng với đó là hàng chục triệu đồng tiền đá cây ướp cá đang tan chảy từng giờ và hàng trăm lít dầu máy đã nạp đầy bình?

Thuyền trưởng Đặng nhìn sang vợ, ánh mắt người đàn ông dạn dày sương gió bỗng chùng xuống trĩu nặng: — Nếu ráng cho tàu chạy thốc ra phía đông nam ngay bây giờ thì né được tâm áp thấp, nhưng chuyến này chắc chắn bị sóng lớn dập tả tơi ngoài rìa bão, phải thả neo nổi cầm cự ngoài biển dài hơn mười ngày là ít. Tiền dầu, tiền đá cây chuyến này xem như đổ sông đổ biển nếu không thả được lưới...

Chị Mai không ngần ngại lấy một giây. Người đàn bà đã trải qua tròn ba mươi năm làm vợ biển, từng bao phen khóc ròng chờ đợi những con tàu trở về từ cõi chết, đưa mắt nhìn đống lương thực ngồn ngộn vừa chất đầy lên mạn tàu, rồi nhìn xuống lòng khoang máy chật hẹp bên dưới. Chị quả quyết bước tới, giậm mạnh gót chân xuống nền đá, giọng nói dứt khoát không để cho bất kỳ ai có cơ hội bàn lùi: — Dỡ bớt cá khô và thịt mỡ ướp muối xuống! Dỡ ngay lập tức một nửa số lương thực trên boong xuống bến!

Một ngư dân trẻ tuổi, người đầy hình xăm sóng nước, hốt hoảng giãy nảy: — Chị Hai! Dỡ thức ăn xuống rồi ra ngoài đó gặp bão dập mười mấy ngày thì anh em lấy cái gì mà nhét vô mồm, lấy sức đâu mà chống chọi kéo lưới? — Không chết đói được đâu mà các anh lo bò trắng răng! — Chị Mai gắt lên, đôi mắt quầng thâm quắc lên những tia nhìn dữ dội, áp đảo hoàn toàn sự do dự của đám đàn ông. — Bão dập, sóng giật nghiêng ngả, hầm máy mà ngập mặn hay máy lọc nước biển hỏng hóc giữa biển khơi thì các anh ôm đống cá khô với thịt muối mà khóc bằng tiếng mán à? Đói ăn thì húp cháo loãng, nhai bánh tráng chấm muối cầm hơi cũng sống sót được nửa tháng ròng, chứ thiếu nước ngọt ba ngày là rụng sạch từng mạng một! Nhường toàn bộ khoang chứa mạn trái cho tôi, đưa thêm bốn bồn nước ngọt sinh tồn loại một khối xuống! Ngay lập tức, không lôi thôi một lời nào nữa!

Sự quyết đoán lạnh lùng và kinh nghiệm sinh tồn tàn khốc của người phụ nữ hậu phương khiến tất cả những người đàn ông vạm vỡ trên tàu phải cúi đầu phục tùng. Khang là người đầu tiên bước tới phá vỡ sự im lặng. Anh kéo theo An, không nói một lời thừa thãi, khom lưng luồn hai tay dưới bao tải cá cơm than khô và những thùng gỗ chứa thịt mỡ ướp muối vừa khiêng xuống boong, vác ngược trở lại cầu cảng.

Nhường khoảng trống quý giá dưới lòng thuyền cho những bồn nhựa công nghiệp màu xanh chứa một nghìn lít nước ngọt tinh khiết được cẩu từ trên bờ xuống, Khang tiếp tục lao vào khuân vác như một cỗ máy. Mồ hôi anh túa ra ướt đầm chiếc áo lao động lam lũ, chảy dài trên sống mũi, hòa lẫn với vị mặn chát của bụi muối và sương biển bám trên da thịt. Khang cắn chặt môi dưới, từng thớ cơ bắp ở lưng và cánh tay gồng lên cuồn cuộn dưới sức nặng của những khối hàng.

Nhìn bóng lưng Khang lầm lũi khuân vác không ngừng nghỉ, An hiểu rất rõ anh đang làm gì. Anh đang dùng sự kiệt sức cùng cực của thể xác để đè bẹp những cơn quặn thắt lo âu đang cào xé trong lòng về gánh nợ gia đình, về những cú điện thoại réo rắt đòi nợ đang dồn ép người thân anh vào chân tường. An lặng lẽ tiến lại gần anh, đỡ lấy từng chiếc vòi bơm nước cỡ lớn, phối hợp cùng các ngư dân siết chặt từng chiếc van đồng ren xoắn, cẩn thận kiểm tra từng nắp đệm cao su chịu lực sao cho nước ngọt bên trong tuyệt đối không bị nước mặn xâm nhập dù con tàu có bị sóng lớn quăng quật nghiêng ngả giữa tâm bão.

Giữa lúc công việc bốc dỡ và gia cố khoang nước đang diễn ra căng thẳng đến tột cùng thì tiếng còi xe ô tô inh ỏi, chói gắt vang lên liên hồi từ phía cổng kiểm soát của cảng Sa Kỳ. Một chiếc xe mười sáu chỗ màu đen bóng loáng, sạch sẽ không tì vết, bấm còi inh ỏi xua đuổi những người gánh cá rồi lao thẳng vào tận chân cầu tàu, cuốn theo một làn bụi cát mịt mù phả vào mặt những người đang lao động.

Cánh cửa trượt của chiếc xe bật mở đánh rầm. Một đoàn quay phim gồm sáu người ùa xuống, mang theo những túi đồ nghề đắt tiền, hệ thống máy ảnh ống kính dài ngoằng, chân máy bằng sợi carbon, gimbal chống rung hiện đại và hai chiếc vali cứng chứa flycam to lớn có dán logo nổi bật của Công ty truyền thông Vị Việt. Đi đầu là một gã đạo diễn hiện trường trẻ tuổi, đầu đội chiếc mũ tai bèo cách điệu, cổ quàng khăn rằn thời trang, tay cầm chiếc loa pin oang oang quát tháo nhân viên dựng chân máy và chuẩn bị ống kính góc rộng, hoàn toàn phớt lờ bầu không khí căng thẳng nghẹt thở đang đè nặng lên từng khuôn mặt ngư dân.

— Thuyền trưởng Đặng đâu rồi? Ai là thuyền trưởng Đặng? — Gã đạo diễn hớt hải bước thoăn thoắt lên mép boong tàu, đưa tay xốc lại cổ áo gió hàng hiệu xộc xệch. — Tuyệt vời! Quá tuyệt vời! Góc trời vần vũ mây đen kịt này là bối cảnh vàng nghìn năm có một! Đúng chất bi tráng, hào hùng, đậm đặc chất thơ của ngư dân vươn khơi bám biển Hoàng Sa! Anh cho nổ máy xuất bến ngay lập tức đi! Chạy rẽ sóng đâm thẳng ra khỏi cửa biển khoảng hai hải lý cho chúng tôi lấy toàn cảnh con tàu chồm lên ngọn sóng trắng xóa giữa giông bão! Góc máy flycam từ trên mây lia xuống sẽ cực kỳ kịch tính, bi tráng, bảo đảm lên viral triệu view trên mạng xã hội ngay trong đêm!

Thuyền trưởng Đặng sững sờ nhìn gã trai trẻ lạ hoắc vừa xộc lên tàu của mình, khuôn mặt đen sạm của ông đanh lại, đôi mắt nheo lại hằn lên những tia giận dữ: — Các chú điên hết rồi à? Đài thông tin duyên hải vừa báo áp thấp nhiệt đới gần bờ, trạm biên phòng chuẩn bị phát lệnh cấm biển tuyệt đối đến nơi rồi! Ra cửa lạch Sa Kỳ lúc này mà gặp luồng sóng xoáy giao thoa với triều rút là sóng nó bẻ gãy bánh lái, lật úp tàu như lật một chiếc vỏ trấu!

— Anh đừng có lo xa quá, chúng tôi đã tính toán kỹ thuật cả rồi! — Gã đạo diễn dí sát chiếc điện thoại màn hình sáng loáng vào mặt ông Đặng, giọng nài nỉ nhưng lại lộ rõ vẻ trịch thượng của kẻ nắm đằng chuôi tiền bạc. — Sếp Đỗ Thành Vinh vừa chỉ đạo trực tiếp từ Hội An cách đây mười phút. Đây là cảnh quay đinh, là linh hồn của toàn bộ tập ký sự ẩm thực biển đảo được nhà tài trợ rót vốn độc quyền! Chúng tôi sẽ ký giấy bồi dưỡng thêm cho tàu mười triệu tiền dầu, chỉ cần các anh nổ máy lướt sóng ra ngoài cửa lạch mười lăm phút lấy đúng ba khung hình đắt giá rồi quay lại neo đậu cũng được! Hợp đồng bảo trợ hình ảnh đã ký kết với đại diện nghiệp đoàn rồi, các anh không thể tùy tiện hoãn hủy làm lỡ tiến độ phát sóng của cả tập đoàn chúng tôi được đâu!

Thấy người thuyền trưởng già có phần bối rối, lưỡng lự trước sức ép của văn bản hợp đồng pháp lý và lời hứa hẹn tiền bồi dưỡng dầu máy giữa lúc chuyến đi đang đứng trước nguy cơ thua lỗ nặng nề vì bão gió, An không thể đứng yên thêm một giây nào nữa.

Cô dằn mạnh chiếc can nhựa đựng nước ngọt xuống mặt sàn gỗ boong tàu phát ra một tiếng "cốp" khô khốc. An rảo bước, đứng thẳng người chắn ngang giữa gã đạo diễn của Vị Việt và người thuyền trưởng đang cau mày trầm ngâm. Gương mặt An đanh thép, đôi mắt sáng quắc bừng lên ngọn lửa phẫn nộ mãnh liệt mà hiếm khi nào Khang nhìn thấy ở cô gái vốn luôn điềm đạm, nhẫn nại này:

— Thu máy quay và thiết bị lại ngay lập tức! — An cất giọng, từng lời dằn xuống đanh gọn, dứt khoát và sắc bén như một nhát dao chém vào thớ gỗ. — Các anh có biết địa hình luồng lạch ở cửa biển Sa Kỳ này nguy hiểm đến mức nào khi có áp thấp không? Cửa biển này đáy cạn, có dải cát ngầm chắn ngang, sóng lớn từ ngoài khơi đánh dồn vào gặp đáy cát dâng cao sẽ tạo thành sóng đứng cao ba bốn mét! Tàu đánh cá trọng tải ba bốn mươi tấn ra đến đó gặp luồng nước xoáy giao nhau cũng có thể bị sóng bẻ gãy trục láp, quăng quật vỡ be tàu trong chớp mắt!

Gã đạo diễn sững sờ lùi lại một bước, nhận ra gương mặt quen thuộc của An, nụ cười nửa miệng méo xệch lộ rõ vẻ khó chịu: — Ơ kìa... cô Hoài An... Đây là công việc sản xuất nội dung của Vị Việt, là hợp đồng thương mại hợp pháp chứ đâu phải chuyện cá nhân của cô? Chúng tôi đang làm đẹp hình ảnh ngư dân, đang quảng bá cho chính cái dự án Bếp Nhỏ của cô đấy thôi! Làm truyền thông thì phải có chút kịch tính, chút va đập nguy hiểm thì công chúng thành phố mới chú ý, mới thương cảm mà ủng hộ chứ!

— Không có bất kỳ thứ nghệ thuật, truyền thông hay danh tiếng nào được phép đánh đổi bằng tính mạng của con người! — An tiến lên thêm một bước, giọng cô vang lên sang sảng, lấn át cả tiếng sóng vỗ ì oạp dưới mạn thuyền và tiếng gió rít qua giàn cẩu. — Mười bốn con người bằng xương bằng thịt trên con tàu này không phải là những món đạo cụ diễn xuất để phục vụ cho sự giật gân rẻ tiền, vô trách nhiệm của các anh! Các anh muốn có những thước phim hào hùng để kiếm triệu view, để khoe khoang với nhãn hàng, nhưng nếu con tàu này gặp nạn ở cửa lạch, ai sẽ là người nuôi nấng những đứa con thơ, phụng dưỡng những người mẹ già của họ? Các anh có đền mạng được cho người ta không? Tôi yêu cầu các anh tôn trọng cảnh báo an toàn hàng hải của trạm biên phòng số 2 Sa Kỳ ngay lập tức! Nếu các anh còn tiếp tục dùng tiền và hợp đồng để thúc ép ngư dân xuất bến trái phép trong điều kiện giông bão nguy hiểm, tôi sẽ đích thân gọi điện cho trạm trưởng trạm kiểm soát biên phòng ra lập biên bản cưỡng chế toàn bộ thiết bị ghi hình của các anh vì tội gây rối trật tự và xúi giục vi phạm an toàn hàng hải!

Ngay khi An vừa dứt lời, Khang đã lẳng lặng bước lên đứng sát ngay sau lưng cô. Vóc dáng cao lớn, vai rộng vững chãi của anh như một bức tường thép che chắn trọn vẹn cho An. Khang không nói một lời nào, khuôn mặt anh lạnh như băng tuyết dưới đáy hầm đông. Bàn tay to bè của anh chậm rãi rút từ trong túi đồ nghề ra chiếc kìm chết bằng thép tôi nặng trịch, đen bóng. Khang đặt ngón tay vào ốc hãm, vặn một vòng siết chặt bu-lông cố định chân bồn nước trên sàn sắt boong tàu, tạo ra một tiếng rít ken két rợn người của kim loại nghiến vào nhau. Ánh mắt Khang gườm gườm, đục ngầu sự giận dữ của một kẻ đã nếm trải đủ đắng cay cuộc đời, nhìn xoáy thẳng vào mặt gã đạo diễn như một lời cảnh cáo câm lặng đầy sức nặng đe dọa.

Phía dưới bờ kè đá, chị Mai cùng hàng chục phụ nữ và thanh niên làng chài cũng bắt đầu cầm theo đòn gánh, mái chèo gỗ và những chiếc móc sắt dùng để móc cá, vây kín quanh lối đi lên mạn tàu. Những ánh mắt căm phẫn, dạn dày sương gió đồng loạt dồn về phía chiếc xe mười sáu chỗ bóng bẩy.

Nhận thấy tình thế hoàn toàn bất lợi, biết không thể nào lay chuyển được sự kiên định đanh thép của cô gái trẻ cũng như trước làn sóng phẫn nộ ngày càng dâng cao của những người dân làng chài nghèo vốn xem trọng tính mạng đồng loại hơn tiền bạc, gã đạo diễn Vị Việt tái mặt, lầm bầm chửi thề trong miệng. Gã vội vã vẫy tay ra hiệu cho đám nhân viên ôm vội những chiếc chân máy và vali flycam, lủi thủi rút lui xuống xe, đóng sầm cửa lại rồi nhấn ga lao vội vã ra khỏi bến cảng trong làn khói xám xịt.

Đúng lúc đó, hồi còi hụ báo động kéo dài từ đồn kiểm soát biên phòng Sa Kỳ rền vang khắp vịnh. Lệnh cấm biển tuyệt đối chính thức được ban hành trên toàn bộ vùng biển Quảng Ngãi.

Con tàu QNg-96289-TS được các chiến sĩ biên phòng và ngư dân hỗ trợ chằng néo an toàn sát mép bờ kè đá kiên cố, nép sâu vào lòng vịnh kín gió để chuẩn bị ứng phó với cơn áp thấp nhiệt đới đang tiến sát bờ.

Bầu không khí căng thẳng nghẹt thở dần dần hạ nhiệt, nhường chỗ cho sự bình yên tĩnh lặng của một bến cảng đã tìm được chốn dung thân an toàn trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Gió ngoài khơi bắt đầu gầm rít từng cơn qua các rặng phi lao, nhưng trong lòng lạch Sa Kỳ, những con tàu vỏ gỗ đã nằm san sát bên nhau, che chắn cho nhau bằng những sợi dây thừng bện chặt như tình nghĩa của những con người ăn sóng nói gió.

Trong khoang lái chật hẹp nồng nặc mùi dầu máy, mùi gỗ ngâm nước mặn và khói thuốc lá rê thơm nồng, thuyền trưởng Đặng ngồi bệt xuống sàn gỗ bóng nhẵn, thở phào một hơi dài thườn thượt như vừa trút bỏ được một tảng đá ngàn cân đè nặng trên ngực. Ông lúi húi nhấc chiếc ấm nhôm cũ kỹ trên bếp dầu nhỏ, rót cho Khang và An hai bát nước chè xanh nóng hổi, bốc khói nghi ngút, được om từ những nắm lá chè tươi hái từ vùng đồi Ba Tơ của đất Quảng Ngãi.

— Cảm ơn cháu nhiều lắm, Hoài An, — người thuyền trưởng già ngước nhìn An, ánh mắt đầy vẻ kính trọng và ấm áp chân tình. — Suýt chút nữa vì tiếc tiền mấy chục cây đá đang tan, tiếc mấy triệu bạc tiền dầu máy mà chú làm liều nghe theo lời bọn chúng. Biển giã này kỳ lạ lắm cháu à, chỉ cần tham một khắc là người ta phải trả giá bằng cả một đời người, có khi trả bằng cả tính mạng của anh em bạn thuyền.

Nói đoạn, ông Đặng đứng dậy, bước về phía bàn thờ Bà Cậu được gắn trang trọng ở vách ngăn khoang lái. Ông cẩn thận với tay lên chiếc hộc tủ gỗ nhỏ phía trên, lấy xuống một chiếc hộp kim loại cũ kỹ hình trụ. Đó là một chiếc vỏ đạn pháo bằng đồng loại ba mươi bảy ly đã hoen gỉ, ngả sang màu xanh rêu phong trần của thời gian nhưng phần miệng cắt đã được mài nhẵn thín bóng loáng.

Ông Đặng chậm rãi ngồi xuống, dùng những ngón tay thô ráp rút từ sâu trong đáy vỏ đạn ra một cuộn giấy dầu mỏng dính, ngả màu vàng ố của năm tháng. Mép giấy đã sờn rách tả tơi, vương đầy những vệt muối biển khô cứng tạo thành những vệt vân trắng đục.

— Kỷ vật này là của cha chú để lại trước khi ông cụ qua đời, — ông Đặng hạ giọng thì thầm, ánh mắt rưng rưng nhìn vào cuộn giấy dầu rồi cẩn thận đặt nó vào đôi bàn tay đang run run của An. — Năm một chín bảy tư, cha chú là thuyền trưởng một con tàu gỗ tham gia đội thuyền tiếp tế cảm tử của đội cấp dưỡng đảo Lý Sơn. Thời đó bom đạn phong tỏa, bão tố triền miên, các cụ phải vượt qua muôn trùng sóng dữ và sự lùng sục của tàu tuần tiễu để đưa lương thực tiếp tế ra đảo tiền tiêu.

Ông Đặng lấy ngón tay thô ráp chỉ vào từng dòng chữ viết bằng mực tím đã phai mờ: — Mảnh giấy dầu này ghi lại toàn bộ danh sách định mức tiếp tế lương thảo thời điểm khốc liệt đó: mỗi chuyến tàu chở bao nhiêu lon gạo rang khô, bao nhiêu cân cá cơm than ngào đường mía cô đặc, bao nhiêu ống tre đựng nước ngọt sinh tồn chia đều cho mỗi người lính giữ đảo. Người ta giữ được hòn đảo tiền tiêu, giữ được ngọn cờ cắm trên rạn đá giữa trùng khơi muôn trùng sóng gió cũng là nhờ từng hạt cơm khô dẻo dai, từng con cá cơm mặn mòi ngậm đường này đây. Chú nghe cháu gái nói chuyện từ sáng, chú biết cháu đang đi tìm lại những món ăn đã nuôi sống con người xứ này qua những năm tháng gian khổ nhất... Chú xin tặng lại cháu kỷ vật này của gia đình. Cháu giữ lấy mà làm tư liệu cho cái Bếp Nhỏ của cháu. Cháu hiểu được cái hồn cốt, hiểu được tấm lòng của biển hơn đám người hào nhoáng từ thành phố kia nhiều lắm.

An đón nhận chiếc vỏ đạn đồng nặng trịch và mảnh giấy dầu cổ xưa với một sự trân trọng và cung kính thiêng liêng. Dưới ánh đèn bão lờ mờ trong khoang lái, nhìn nét mực chữ nghiêng đã phai mờ sau nửa thế kỷ thăng trầm của lịch sử, từng con số, từng dòng ghi chép tỉ mỉ về định lượng cá cơm khô, đường mía và từng ống nước ngọt hiện lên sống động như một khúc ca bi tráng về sức chịu đựng vô hạn, về ý chí sinh tồn phi thường của con người Việt Nam trước sự nghiệt ngã của thiên nhiên và bom đạn.

Đến chiều muộn, khi cơn mưa rào đầu tiên của dải áp thấp bắt đầu trút xuống rào rào trên mái tôn bến cảng Sa Kỳ, An trở về ngồi bên chiếc bàn gỗ gấp nhỏ trong lòng thùng xe Bếp Nhỏ. Không gian bên trong xe ấm cúng và thơm mùi gỗ mộc, tách biệt hoàn toàn với cái ướt lạnh đang bủa vây bên ngoài. Khang đã cẩn thận chăng thêm một lớp bạt che mưa phía trên nóc xe để tiếng mưa rơi bớt gắt.

An mở chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ tinh xảo mà cô luôn mang theo bên mình. Từ trong ngăn kéo bọc nhung đỏ, cô trân trọng rút ra tấm thẻ sưu tầm số 16 còn để trống. Dưới ánh đèn sợi đốt vàng ấm áp, An cầm chiếc bút mực đen, nắn nót viết từng dòng chữ ngay ngắn, sắc sảo:

*Thẻ số 16: Hạt cơm đi biển — Cá cơm than rim đường mía và Nước ngọt sinh tồn.* *Kỹ thuật bảo quản: Thắng đường bát mía Quảng Ngãi bọc kín thân cá cơm than phơi chuẩn ba nắng giòn, triệt tiêu hoàn toàn độ ẩm bằng nhiệt lửa than củi đước và nước mắm cốt nhĩ Sa Huỳnh nguyên chất; ủ bánh tráng gạo mè nướng bằng lá chuối hột khô hơ lửa.* *Bài học: Món ăn trường chinh trên sóng nước không bao giờ được đo đếm bằng sự cầu kỳ kiểu cách hay hương vị nhất thời, mà phải đo bằng sức bền bỉ trước thời gian, bão tố và sự sống còn của con người. Trên biển cả mênh mông, nước ngọt quý hơn thịt cá, và phẩm giá tối thượng của người nấu ăn nằm ở sự an toàn trọn vẹn của những người ra khơi.*

Khi An vừa đặt chiếc bút xuống thì chiếc điện thoại đặt trên mặt bàn gỗ khẽ rung lên một nhịp ngắn rồi sáng màn hình. Một dòng tin nhắn từ nhà báo Phạm Quỳnh Lam hiện ra: *“Bảo vừa gọi điện cho chị báo tin em đã chặn đứng đoàn quay phim của Vị Việt ở Sa Kỳ. Em làm tốt lắm, Hoài An! Đừng bao giờ lùi bước hay nhượng bộ trước sự áp đặt giật gân, thương mại hóa rẻ tiền của Đỗ Thành Vinh. Tạp chí Dọc Đường sẽ đồng hành và bảo vệ trọn vẹn sự thật về những người giữ bếp chân chính của em đến cùng.”*

An khẽ mỉm cười, một nụ cười nhẹ nhõm và bình an hiếm hoi sau những chuỗi ngày dài đằng đẵng phải gồng mình đối mặt với muôn vàn áp lực. Khang đứng tựa lưng vào mép cửa xe tải đang hé mở, nhìn ra ngoài màn sương mưa đang giăng kín mặt biển Sa Kỳ mịt mùng phía xa, khẽ gật đầu với cô đầy thấu hiểu.

Người phụ nữ đứng trên bờ kè nhìn bóng con tàu chìm dần vào sương mù biển, tay mân mê gói cá rim: 'Nấu cho người đi biển là nấu bằng nỗi lo, chỉ mong người ta đem về nguyên vẹn cái mạng.'

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn