Bếp Nhỏ Qua Những Miền ĐấtC.11 / 32
Chương 11

Chén Nước Ngược Dòng Khe

Con đường đất đỏ gồ ghề dẫn vào bản người Thái ở miền tây Nghệ An rung lắc dữ dội dưới gầm xe Bếp Nhỏ, đưa An và Khang đến trước chiếc cổng nứa đơn sơ của nghệ nhân Vi Thị Hờ giữa tiếng suối reo róc rách.

Sau nhiều giờ bò dọc triền núi chập chùng của huyện Con Cuông, men theo rìa rừng nguyên sinh Pù Mát nơi những rặng săng lẻ cổ thụ vươn cành trắng mốc lên nền trời xám bạc, chiếc xe tải cũ cuối cùng cũng dừng lại trên bãi cỏ gianh sát chân bờ rào. Tiếng động cơ diesel già nua tắt phụt sau một cú rùng mình khô khốc, trả lại cho không gian tiếng nước đổ rầm rì miên viễn từ một nhánh khe cạn chảy vòng qua chân đồi. Gió Lào cuối mùa thổi từ bên kia dãy Trường Sơn quạt sang từng cơn ràn rạt, rát bỏng như tro trấu mới cời, nhưng đồng thời lại mang theo hơi ẩm ngai ngái, nồng đậm mùi thảm lá mục cùng nhựa tre cật bị hun nóng dưới nắng quái chiều hôm.

Khang đẩy cửa ca bin bước xuống, hai khớp đầu gối phát ra tiếng kêu lục cục sau nửa ngày đạp côn ghì số. Anh cúi rạp người xuống bên sườn xe, dùng mu bàn tay gạt đi lớp bụi đất đỏ bám ken dày trên cụm lò xo giảm chấn vừa được thợ gò hàn gia cố lại ở Thanh Hóa. Lớp bụi đất miền tây xứ Nghệ mịn và đỏ quạch như bột gạch non, luồn lách vào từng kẽ ốc, bám chặt lấy những vệt dầu loang lổ. Khang đứng thẳng dậy, vặn mình nghe răng rắc, ngước mắt nhìn nếp nhà sàn lợp bằng lá mây xám xịt nép mình bên gốc quéo già xum xuê cành lá:

— Cụm nhíp và thanh giằng ngang vẫn chịu được, nhưng mặt đường đá dăm kẹp đất thịt vùng lõm này cày nát hết gai lốp rồi. Đất ở đây gặp nắng thì cứng như đá nung, nhưng chỉ cần một cơn mưa rừng ập xuống bất thình lình từ đỉnh Pù Mát, đất sẽ nhão ra thành thứ bùn quánh như mỡ gà. Lúc ấy thì xe mình nằm chết dí ở đây, có tời kéo cũng không thể nào quay đầu ra quốc lộ 7 nổi đâu.

An không đáp lời ngay. Cô vẫn ngồi lại trong buồng lái thêm một lát, hai bàn tay buông thõng trên đùi, nơi chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đang nằm lặng lẽ. Những vết cọ xát của năm tháng, những va đập dọc cung đường thiên lý và hơi ẩm mặn mòi của dải đất miền Trung đã làm lớp sơn ta trên mép hộp hơi sần sùi lại, vài chỗ rạn chân chim li ti. Thế nhưng hoa văn hai chiếc lá đan chéo viền quanh chữ Hậu dập nổi nơi góc khóa bằng đồng thau vẫn ánh lên sắc lạnh xanh biếc của vỏ ốc biển sâu. Bàn tay An khẽ run rẩy khi ngón tay chạm vào gờ kim loại mát rượi. Cô hít sâu một luồng không khí nồng mùi lá khô, cạy then cài, nhấc nắp hộp và rút ra tấm thẻ số 11.

Khác hẳn với những trang giấy chi chít công thức, những tính toán chuẩn xác đến từng lạng muối, giọt mật, hay tỷ lệ thính ngô ủ men thịt chua mà bà ngoại từng ghi lại ở Hàm Rồng, nét mực tím của bà Mùi trên tấm thẻ số 11 này ngắn ngủi, rời rạc đến mức kỳ lạ. Những con chữ xiêu vẹo, dường như được viết vội bằng ngòi bút sắt đã tòe đầu dưới ánh đèn dầu le lói giữa một đêm mưa rừng:

*“Cơm lam nếp nương ống nứa và cá nướng gióng tre — Bản Thái ven khe, Con Cuông. Giữ lấy màng lụa ruột tre, giữ lấy mầm lửa dưới sàn. Đừng để người lạ bước vào góc tối.”*

Dưới cùng mép thẻ là một vết ố vàng mờ nhạt hình giọt nước, viền mép loang lổ đã ngả sang màu hổ phách mục ải. Có lẽ người viết từng vội vã khép ba lô lại khi giọt mồ hôi hay giọt nước mưa rừng rơi xuống trang giấy, hoặc giả lúc ấy than củi trong bếp lò dã chiến còn chưa kịp tàn tro.

An cẩn thận miết nhẹ đầu ngón tay qua vết ố, cảm giác như chính nỗi âu lo và sự hoang mang của bà ngoại từ nửa thế kỷ trước vẫn còn đọng lại trên từng thớ giấy bản thô ráp. Cô kẹp tấm thẻ vào giữa cuốn sổ tay bọc da, bước xuống xe, khép cửa ca bin nghe một tiếng cạch dứt khoát.

Bước qua chiếc cổng nứa ken dày bằng những sợi lạt giang đan chéo mắt cáo, An thấy bà Vi Thị Hờ đang ngồi trên một chiếc ghế mây thấp dưới gầm sàn râm mát. Không gian dưới gầm nhà sàn người Thái thoáng đãng, nồng nặc mùi vỏ trấu, mùi bồ hóng khô và thoang thoảng hương thơm thanh tao của những bó đót treo hong gió trên rui mè. Người phụ nữ Thái chừng ngoài sáu mươi tuổi, vóc dáng gầy guộc nhưng săn chắc như thân cây nghiến mọc trên vách đá. Đôi bàn tay gầy guộc, nổi rõ từng đường gân xanh ngoằn ngoèo nhưng lại thoăn thoắt chẻ từng nan nứa mỏng tang như sợi chỉ dệt. Chiếc khăn piêu thêu họa tiết hình thoi và hoa móc câu rực rỡ đội hơi lệch trên mái tóc hoa râm búi cao sau gáy theo phong tục của phụ nữ Thái đen đã lập gia đình.

Nhác thấy bóng khách lạ dừng chân trước bậc cầu thang chín bậc bằng gỗ dổi tiện tròn, bà Hờ không vội buông tay, cũng không ngẩng phắt dậy. Bà chỉ khẽ nghiêng đầu, lia con dao quắm nhỏ sang bên chiếc máng lợn đẽo bằng thân gỗ tròn, ánh mắt sắc sảo và sâu thẳm nhìn xuyên qua khoảng sân rợp bóng lá bưởi bung hoa trắng muốt.

— Các cháu ở đâu tới? Tìm ai trong bản này? — Bà cất tiếng hỏi bằng tiếng Kinh lơ lớ, ngữ điệu dẹt và trong vắt, khô khốc như tiếng hai mảnh nứa bánh tẻ gõ vào vách đá ven suối.

An bước lên một bước, hai tay chắp lại ngay ngắn ngang ngực, cúi đầu chào theo phép tắc:

— Dạ thưa bà, cháu là Hoài An, cháu ngoại của bà Trần Thị Mùi ạ. — An nói chậm rãi, nhấn rõ từng âm tiết để giọng nói của mình không bị tiếng suối reo át mất — Ngày xưa trong những năm chiến tranh, bà ngoại cháu từng ghé qua bản ta trong những đoàn xe tải quân sự chở gạo và muối lên mạn biên giới phía tây. Cháu đi theo lời dặn và địa chỉ ghi lại trên tấm thẻ này để tìm gặp bà, xin được học lại cách người Thái mình đưa hạt nếp nương vào ống nứa, nướng trên than củi bên bếp lửa gia đình.

Ánh mắt bà Hờ thoáng lay động, một tia sáng rất mỏng lóe lên nơi khóe mắt chằng chịt nếp nhăn khi cái tên “Trần Thị Mùi” rơi vào khoảng thinh lặng của gầm sàn. Bà nheo mắt nhìn khuôn mặt đẫm mồ hôi của An, nhìn chiếc áo sơ mi bạc màu vì nắng gió bụi đường của cô, rồi lướt sang Khang đang đứng im lặng phía sau, tay xách chiếc giỏ mây đựng chút muối trắng hạt to và cân đỗ xanh lòng mang từ đồng bằng lên làm quà giáp mặt.

Nhưng đúng vào khoảnh khắc bà Hờ toan buông thanh nứa dở dang để cất lời, một tiếng còi xe hơi chói gắt, sắc nhọn và thô bạo từ phía khúc cua đầu bản bỗng xé toang không gian tĩnh mịch của thung lũng.

Một chiếc xe bán tải hai cầu màu bạc bóng lộn, thân xe dán kín những dòng chữ quảng bá chương trình xúc tiến du lịch tỉnh, ầm ầm trờ tới. Bánh xe nghiến sỏi rào rào rồi phanh ken két ngay sát mép rào dâm bụt, cuốn tung một luồng bụi đất đỏ mù mịt phả thẳng vào giàn mướp hương đang trổ hoa vàng rực.

Cánh cửa xe bật mở. Ba người đàn ông bước xuống, mang theo luồng không khí ồn ào và gấp gáp của thị thành. Đi đầu là một cán bộ trạc tuổi bốn mươi, mặc chiếc áo sơ mi cộc tay màu xanh nhạt được ủi phẳng phiu từng nếp ly, cổ đeo chiếc thẻ công tác bằng nhựa cứng của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Con Cuông. Theo sát sau gã là hai thanh niên trẻ tuổi, vai vác những chiếc chân máy quay ba chạc bằng hợp kim to sù sù, tay xách hòm đèn hắt sáng bằng nhôm bóng loáng và những cuộn dây cáp tín hiệu loằng ngoằng như đàn rắn trườn trên mặt đất.

— May quá, bà Hờ vẫn ở nhà, không đi nương! — Viên cán bộ văn hóa vừa lấy tay xua xua bụi đất trước mặt vừa sải bước dài vào sân, cất giọng sang sảng đầy vẻ thúc giục kẻ cả — Tôi đưa đoàn dịch vụ truyền thông của trung tâm xúc tiến du lịch huyện về đây. Bên tỉnh đang làm một chuyên đề phóng sự lớn để phát sóng toàn quốc, quảng bá mô hình du lịch sinh thái cộng đồng kết hợp ẩm thực tâm linh vùng cao Pù Mát. Chúng tôi chỉ có đúng hai tiếng đồng hồ trước khi mặt trời lặn sau rặng núi kia thôi. Bà mau lên gác, mở hòm lấy cái bộ váy cóm thêu chỉ kim tuyến biểu diễn mà bên phòng văn hóa xã cấp cho hồi hội diễn văn nghệ năm ngoái mặc vào đi! Xong rồi bày ngay một mâm cúng ma bếp giả lập ra gian giữa sàn để các cậu ấy lấy góc máy!

Bà Hờ ngồi bất động trên chiếc ghế mây. Lưng bà hơi còng xuống nhưng bờ vai lại cứng đờ. Bàn tay chai sần thô ráp của bà vẫn đặt hờ trên thanh nứa chẻ dở, ngón tay cái tì chặt vào lưỡi dao quắm.

— Cúng ma bếp gì giữa ban ngày ban mặt thế này hả chú cán bộ? — Giọng bà trầm đục, từng lời rớt xuống như những hòn sỏi ném vào chum sành rỗng.

— Thì cúng tượng trưng, cúng để ghi hình, làm tư liệu truyền thông chứ cúng gì nữa bà! — Viên cán bộ sốt ruột gõ ngón tay đeo nhẫn vàng bôm bốp lên tập tài liệu kẹp trong bìa da — Kịch bản bên đạo diễn đã duyệt kỹ từ tuần trước rồi: Bà phải mặc đồ lễ hội rực rỡ, trang điểm đậm một chút cho bắt hình, bày một con gà luộc buộc chéo cánh ngậm hoa dâm bụt, ba chén rượu cẩm, rồi quỳ trước bếp lửa khấn bài mo cổ truyền bằng tiếng Thái. Phải làm sao cho khói hương nghi ngút, ánh lửa bập bùng chiếu rọi lên khuôn mặt trông thật huyền bí, ma mị thì video đưa lên các nền tảng mạng xã hội và cổng thông tin đối ngoại mới thu hút khách nước ngoài được. Nhanh chân lên bà ơi, thợ máy họ còn phải bấm giờ để bay flycam từ trên nóc nhà sàn quét xuống toàn cảnh lòng chảo bản làng nữa!

Một gã quay phim trẻ tuổi, đầu đội mũ lưỡi trai ngược, tai đeo tai nghe to tướng, nhanh nhảu vác chân máy toan bước thẳng lên cầu thang gỗ dốc đứng chín bậc. Mũi giày thể thao dính đầy bùn đất nhão nhoét của gã nện cồm cộp lên từng thanh dát tre lót sàn.

— Đứng lại! — Giọng bà Hờ bỗng đanh thép vang lên, chát chúa như tiếng sấm sét nổ ngang trời chiều.

Bà đứng phắt dậy. Vóc dáng già nua bỗng chốc như cao lớn hẳn lên, sống lưng thẳng tắp như cây nứa ngộ. Chiếc áo chàm cũ kỹ nhuộm màu vỏ cây đã ngả sang sắc tím than sờn gấu, cài hàng khuy bạc hình con bướm ôm sát lồng ngực gầy guộc đang phập phồng vì một cơn phẫn nộ bị đè nén đến tột cùng. Bà chỉ thẳng ngón tay khẳng khiu, đen đúa vì nhựa rừng vào chân cầu thang gỗ:

— Bước chân xuống ngay lập tức! Đàn ông lạ mặt, chân dính bùn dính đất dơ bẩn của trăm ngả đường, chưa rửa qua máng nước lá bưởi đầu cầu thang mà dám xộc thẳng lên gian bếp thiêng của nhà tao à? Ma bếp, ma nhà, phi hươn là linh hồn tổ tiên che chở cho cả cái họ Vi này từ thuở khai hoang lập bản. Người Thái chỉ thắp lửa, mổ gà, dâng rượu khấn vái khi dựng nhà mới, lúc gặt xong mùa lúa nương mang hạt gạo đầu mùa về tạ ơn trời đất, hoặc khi trong nhà có người nhắm mắt xuôi tay nằm xuống chờ đưa ma ra rừng! Không một ai trên cõi đời này được phép mang linh hồn ông bà tổ tiên ra làm trò hề, lừa gạt thần linh để quay phim chụp ảnh kiếm mấy đồng tiền vé du lịch cả!

Bà Hờ quay ngoắt sang viên cán bộ huyện, ánh mắt quắc lên dữ dội khiến gã đàn ông bất giác lùi lại nửa bước:

— Chú muốn quảng bá, muốn làm ăn thì ra ngoài suối lớn mà quay cảnh người ta chèo mảng tre, ra bãi cỏ đầu bản mà dựng rạp nhảy sạp gõ cồng chiêng. Chỗ đó ai múa ai hát cũng được. Còn cái bếp nhà này, tao thà ăn củ mài củ sắn qua ngày chứ không bao giờ bán rẻ sự tôn nghiêm của tổ tiên để lấy mấy đồng tiền bồi dưỡng rẻ rúng của các chú đâu! Cút hết ra khỏi cổng nhà tao!

Dứt lời, bà thoăn thoắt bước lên chín bậc cầu thang dốc đứng, bước chân nhẹ tênh nhưng dứt khoát. Bà đưa tay kéo sập cánh cửa liếp bằng tre nứa của gian bếp lại. Tiếng then cài bằng gỗ nghiến trượt qua lỗ mộng, sập xuống khô khốc một tiếng “cạch”, dập tắt hoàn toàn mọi khả năng thương lượng hay mặc cả.

Dưới sân, viên cán bộ văn hóa huyện mặt đỏ bừng như gấc chín vì bị một bà già bản làm bẽ mặt trước đám thanh niên thành phố. Gã bực bội vung tay, văng ra một câu chửi thề lẩm bẩm trong miệng, đoạn quay sang nhổ một bãi nước bọt xuống gốc cây quéo, cằn nhằn về sự gàn dở, cổ hủ, chậm tiến của đồng bào vùng cao. Gã giục hai tay máy thu dọn đồ nghề, hầm hực leo lên chiếc xe bán tải rồ ga phóng vụt đi, để lại một vệt khói xám khét lẹt và khoảng sân xơ xác trong gió Lào.

An đứng lặng bên chân cầu thang, lồng ngực cô thắt lại trong một cảm giác chua xót và xấu hổ ê chề. Cô xấu hổ thay cho sự thô bạo, trơ trẽn của những kẻ nhân danh phát triển văn hóa, nhân danh việc mang ánh sáng hiện đại về bản nghèo nhưng thực chất lại dùng đôi giày đầy bùn xéo nát lên những ranh giới tâm linh thiêng liêng nhất của người bản địa. Họ muốn biến một nghi lễ tạ ơn trầm mặc, kín đáo thành một màn kịch rẻ tiền được tô vẽ bằng kim tuyến và khói nhân tạo để phục vụ cho thị hiếu tò mò của những kẻ lướt qua màn hình điện thoại.

An quay sang nhìn Khang. Ánh mắt hai người chạm nhau. Khang không nói một lời, anh hiểu An và hiểu sự tôn trọng tối thượng mà một người làm bếp chân chính phải giữ gìn trước cội nguồn ẩm thực. Không một chút do dự, An chủ động bước tới chiếc bàn mây tròn đặt dưới gầm sàn, nhẹ nhàng đặt chiếc máy ảnh cơ cùng chiếc máy ghi âm kỹ thuật số cầm tay của mình xuống mặt gỗ. Cô tháo nắp đậy ống kính, úp ngược toàn bộ thiết bị xuống, lấy chiếc khăn rằn phủ kín lên trên.

Chờ cho tiếng động cơ gầm rú của chiếc xe bán tải tắt hẳn ở con đường mòn phía ngoài rặng tre, An mới rón rén bước lên ba bậc cầu thang đầu tiên. Cô dừng lại đúng ở bậc thứ ba — ranh giới cấm kỵ dành cho khách chưa được chủ nhà mời vào — đứng thẳng, hai tay chắp lại ngang ngực, cất tiếng nói dịu dàng nhưng rõ ràng xuyên qua khe liếp nứa:

— Bà Hờ ơi, chúng cháu đã cất hết máy móc, máy ảnh xuống gầm sàn rồi ạ. Chúng cháu không quay phim, không chụp một tấm ảnh nào, và tuyệt đối không dám xin bà phải làm bất cứ một nghi thức cúng bái nào cho chúng cháu xem đâu bà ạ. Cháu chỉ muốn xin phép bà… cho cháu và anh Khang được theo bà lên nương, xách gùi phụ bà chặt vài gióng nứa bánh tẻ, đào ít ngọn măng đắng mang về đây, rồi phụ bà nhóm lửa nấu một bữa cơm thường nhật cho gia đình ăn tối thôi bà ơi.

Khoảng không gian bên trong gian nhà sàn im ắng đến nghẹt thở. Gió Lào vẫn thổi rít từng hồi qua kẽ liếp nứa, mang theo tiếng lá cọ cọ xát vào nhau sột soạt trên mái nhà. Mất chừng vài phút đồng hồ trôi qua trong im lặng, tưởng như lời khẩn cầu của An đã tan biến vào hư không.

Thế rồi, một tiếng động khẽ vang lên. Chiếc then cài gỗ nghiến rung rinh, trượt nhẹ sang bên. Cánh cửa liếp hé mở một khoảng vừa đủ để bóng người lách ra. Bà Hờ đứng đó nơi bậu cửa, ánh mắt nghiêm nghị đã bớt đi vẻ cảnh giác dữ dằn ban nãy. Bà cúi xuống, nhìn sâu vào đôi mắt đen trong veo, chân thành và kiên định của An, rồi liếc mắt nhìn xuống chiếc khăn rằn đang phủ kín đống máy móc im lìm dưới gầm sàn.

Bà thở dài một hơi thật khẽ, nét mặt dịu lại như dòng nước suối mùa thu:

— Biết tôn trọng cội nguồn, biết sợ thần linh thì mới có tư cách được ăn hạt cơm lam của rừng, — Bà cụ buông một câu ngắn gọn, giọng chùng xuống — Đi thôi, theo tao lên rừng. Mặt trời sắp lặn xuống sau đỉnh Pù Mát rồi, chậm chân là vắt nó ra đầy lối đi đấy.

*

Con đường dốc ngược dẫn từ chân bản lên triền nương đá tai mèo bám đầy rêu phong và dây leo chằng chịt. Sau những ngày nắng rát, mặt đá trơn tuột và sắc lẹm như những lưỡi cày cắm ngược. Khang cầm con dao quắm nặng trịch đi tiên phong, sải những bước dài vững chãi, khéo léo lia dao phạt quang những bụi gai mây rậm rạp và những cành sau sau gai góc chắn ngang lối mòn. Đi sau anh là An, trên lưng đeo chiếc gùi nứa nhỏ đã sờn mép, cẩn thận bước từng bước theo đúng những dấu chân thoăn thoắt, nhẹ như sóc rừng của bà cụ sáu mươi tuổi.

Đi sâu vào thung lũng chừng hai con dao quăng, không khí bắt đầu thay đổi rõ rệt. Gió Lào khô khốc bị bức tường đá vôi và tán rừng nguyên sinh Pù Mát chặn đứng lại bên ngoài, nhường chỗ cho luồng hơi ẩm mát lạnh phả ra từ những hốc đá sâu thẳm. Tiếng róc rách của nhánh khe Kem chảy ngầm dưới lòng đất mỗi lúc một rõ hơn, rầm rì như lời thì thầm của đất mẹ.

Bà Hờ dừng chân trước một bụi nứa rậm rạp vươn dài những thân cành xanh biếc ven bờ vực cạn. Bà đưa bàn tay chai sạn vuốt dọc thân một cây nứa, rồi gõ nhẹ sống dao vào thân cây gióng thon dài, phát ra tiếng kêu “coong coong” đanh gọn:

— Chặt nứa làm cơm lam không phải cứ thấy cây nào to, đẹp mã là hạ xuống đâu cháu gái ạ, — Bà Hờ quay lại chỉ cho An — Tuyệt đối không được chọn những cây nứa già câng, vỏ ngoài đã ngả sang màu vàng cháy hoặc bám đầy rêu mốc. Nứa già thì ruột đã khô, cật tre xơ cứng, khi nướng trên than củi hơi nóng không thoát ra được, hạt nếp bên trong sẽ bị khô khốc, sượng cứng và khét lẹt mùi khói củi. Nhưng ngược lại, cũng không được tham chặt những cây măng non vừa mới rụng bẹ. Thân nứa non chứa quá nhiều nước chua của đất, khi gặp nhiệt, nước từ cật tre ứa ra sẽ làm hạt nếp nương bị nát nhão nhoét, chua lòm như cháo thiu.

Bà cụ dừng tay lại ở một thân nứa mọc xiên giữa bụi, đường kính chừng hai ngón tay cái người lớn:

— Phải tìm cho bằng được loại nứa bánh tẻ này. Nhìn lớp phấn trắng mịn màng bên ngoài còn phủ đều như làn da của đứa con gái mười sáu, gióng nứa dài đều đặn, thành ống dày vừa phải. Nhưng quan trọng nhất là cái này này…

Bà đưa dao phạt ngang một nhát sắc ngọt. Đoạn nứa đứt lìa. Bà nghiêng miệng ống cho An soi vào dưới ánh sáng le lói của ráng chiều. Sâu bên trong lòng ống tre rỗng, áp sát vào thành cật xanh là một lớp màng mỏng dính, trắng muốt và mềm mại như một dải lụa tơ tằm hay tờ giấy bản thượng hạng.

— Chính cái màng lụa trắng này là linh hồn của ống cơm lam, — Giọng bà Hờ bỗng trở nên tha thiết lạ thường — Màng lụa tre giữ trọn vẹn tinh dầu thanh khiết của cây nứa non. Khi nướng trên than hồng, nước suối và tinh bột gạo sôi sùng sục bên trong, lớp màng lụa này sẽ tự động co lại, bọc lấy toàn bộ thỏi cơm nếp, ngăn không cho hạt gạo dính chặt vào cật tre cứng ngắc, đồng thời ủ cho từng hạt nếp chín dẻo quánh bằng chính hơi thở của rừng già. Không có lớp màng lụa này, cơm lam chỉ là xôi nấu trong ống nứa cụt vị mà thôi.

Khang đón lấy con dao quắm từ tay bà cụ. Dưới sự chỉ dẫn tỉ mỉ của bà Hờ, anh vung những nhát dao chém vát sắc lẹm sát gốc từng gióng nứa bánh tẻ, giữ cho miệng ống thật phẳng phiu, không một vết nứt toác hay dập nát thớ sợi. Chẳng mấy chốc, một bó nứa bánh tẻ chừng chục ống, xanh mướt và mọng nhựa thơm lừng đã được buộc gọn bằng một sợi dây rừng.

Trong lúc Khang vần những gióng nứa xuống bờ suối để rửa sạch lớp phấn ngoài, bà Hờ dẫn An men theo triền đất mùn ẩm ướt dưới chân vách đá vôi sừng sững để tìm đào măng đắng. Mũi cuốc nhỏ bằng sắt rèn cào nhẹ lớp lá cây ủ mục đen nhánh bốc mùi ngai ngái, làm lộ ra những mầm măng nhọn hoắt vừa nhú khỏi mặt đất chừng một gang tay. Vỏ măng màu tím thẫm đẫm sương rừng, mập mạp và căng tràn nhựa sống.

— Măng đắng đầu mùa này nướng tro hay luộc chấm chẩm chéo thì trôi cơm phải biết, — Bà Hờ mỉm cười, nụ cười hiếm hoi làm bừng sáng gương mặt khắc khổ — Giờ ta ra mép khe Kem hái thêm nắm rau thơm về ướp cá mát. Món này mà thiếu rau thơm ướp bụng thì coi như vứt đi nửa phần ngon.

Thế nhưng, khi An lội theo bà Hờ xuống lòng khe cạn, sục sạo qua từng hốc đá ẩm ướt rợp bóng những tán cây sau sau cổ thụ, bước chân cô bỗng khựng lại. Đôi mắt An mở to đầy bàng hoàng. Những vạt đất ẩm ven bờ lạch nước — nơi mà theo đúng ghi chép trong tấm thẻ số 11 của bà Mùi phải là thảm xanh bạt ngàn của một loại rau thơm bản địa họ hồ tiêu dại và ngọn rau ngót rừng có vị cay nồng đặc trưng — nay trơ trọi một cách thảm hại.

Trước mắt An chỉ còn lại một bãi đất cát bị cày xới tung tóe, nham nhở những vết cuốc xẻng còn mới nguyên. Những gốc rễ cây đứt đoạn, bầm dập nổi lềnh bềnh trên vũng nước đục ngầu. Cả một vạt bờ khe dài hàng chục mét trơ trụi sỏi đá xám xịt, khô khốc dưới cái nắng quái cuối chiều.

— Đừng tìm nữa cháu ơi, không còn một ngọn nào đâu, — Bà Hờ đứng sững trên một tảng đá rêu, buông thõng hai tay, giọng chùng xuống đượm vẻ xót xa cay đắng — Mấy năm nay dưới xuôi người ta rộ lên cái mốt ăn đặc sản hoang dã. Thương lái dưới phố mang từng bọc tiền lên tận bản, thuê đám thanh niên lười làm nương rẫy lùng sục khắp các khe suối, hang đá. Chúng nó đào bới tận gốc rễ, nhổ tiệt từng bụi tiêu rừng, từng vạt ngót núi mang về bán cho các nhà hàng sinh thái, các quán nhậu sang trọng dưới phố Vinh, phố Hà Nội. Đào đến đâu là cạn kiệt đến đó. Cây giống tự nhiên không kịp đơm hoa kết hạt, lòng khe giờ trọc lóc, chỉ còn trơ đá tảng thôi.

An cúi xuống, nhặt lên một mẩu rễ tiêu rừng bị dập nát trôi dạt vào kẽ đá. Đưa lên mũi ngửi, cô vẫn nhận ra một thoáng hương cay the nồng nàn, ấm sực đặc trưng của núi rừng Trường Sơn — cái mùi hương mà bà ngoại cô đã từng cẩn thận mô tả lại trong cuốn sổ tay thời chiến. Nhưng giờ đây, cái mùi hương ấy chỉ còn là tàn tích của một cuộc tàn sát sinh thái vô độ, nhân danh thị hiếu ẩm thực thời thượng của những kẻ thừa tiền nơi đô thị.

— Thế giờ… mình lấy gì để ướp cá mát hả bà? — An lo lắng hỏi, giọng cô nghẹn lại — Thẻ của bà ngoại cháu dặn phải có vị cay the của tiêu rừng thì mới át được tính hàn của cá suối…

Bà Hờ không nản lòng. Đôi mắt người đàn bà Thái cả đời gắn bó với rừng già Pù Mát lại ánh lên một sự kiên nghị bền bỉ. Bà bước thoăn thoắt qua những tảng đá trơn tuột phủ rêu xanh ngắt, tiến sát về phía dòng nước đang cuộn xoáy xiết mạnh nơi dòng chảy chính của khe Kem. Ở đó, ngay sát mép nước bắn tung bọt trắng xóa, bám chặt vào những kẽ đá ẩm ướt sương mù quanh năm, từng bụi rau dớn dại xanh mướt đang vươn lên mơn mởn.

Những ngọn rau dớn mập mạp, đầu ngọn uốn cong lại như chiếc vòi voi non nớt, bao phủ bởi một lớp lông tơ mịn màng màu nâu nhạt.

— Trời không cho cái này thì đất bù cho cái khác. Rừng kiệt rau thơm thì ta dùng rau dớn nước khe, — Bà Hờ vừa nói vừa thoăn thoắt bấm từng ngọn rau dớn giòn tan thả vào vạt áo chàm — Rau dớn mọc ven bờ nước xiết này có cái vị hơi chát nhẹ lúc chạm vào đầu lưỡi, nhưng nuốt qua cuống họng thì hậu vị lại ngọt lịm và nhớt thanh mát. Khi băm nhỏ trộn cùng ớt chỉ thiên nướng, muối hạt rang khô và gừng núi nhét vào bụng cá, vị chát ấy sẽ hút sạch mùi tanh của bùn rêu lòng suối, làm cho thớ thịt cá nướng săn lại, giữ được độ ngọt nguyên thủy của nước nguồn.

Bà Hờ quay lại, nhìn thẳng vào mắt An, cất giọng răn dạy đầy nghiêm cẩn:

— Cháu mang sổ tay của người xưa đi tìm cội nguồn thì phải ghi nhớ lấy điều này: Rừng thay đổi thì con người cũng phải biết mở lòng ra mà thích nghi. Món ăn của người Thái sống được hàng trăm năm nay qua bao mùa đói kém, giặc giã là nhờ biết nương tựa vào những gì thiên nhiên hào phóng ban tặng quanh mình, chứ không phải ôm khư khư lấy một công thức chết đã bị người ta cướp mất rồi bày trò dối trá làm hàng giả mạo!

An lặng người đi vì xúc động. Lời dạy mộc mạc của bà cụ già người Thái như khai mở một tầng nhận thức mới trong cô. Cô rút cuốn sổ tay con cài bên túi áo, cẩn thận ghi chép lại sự thay thế đầy tính thích ứng sinh tồn này: từ loại thảo dược hồ tiêu dại đã bị khai thác tận diệt sang ngọn rau dớn mọc hoang dại bên mép nước xiết của dòng khe Kem.

*

Hoàng hôn buông xuống thung lũng Con Cuông nhanh như một cái chớp mắt. Mặt trời đỏ ối vừa khuất sau rặng núi đá vôi Pù Mát thì màn sương chiều bảng lảng đã từ các khe núi tràn xuống, trùm kín nếp nhà sàn trong một làn hơi mát lạnh, ẩm ướt.

Bên trong gian bếp củi đen nhánh màu bồ hóng tích tụ qua hàng chục mùa rẫy, ngọn lửa ấm áp bắt đầu bùng lên từ những thanh củi săng lẻ khô khén. Khang ngồi bệt trên chiếc chiếu cói thô đặt cạnh bậu cửa sổ, chăm chú dùng dao vót mỏng từng đầu que tre bánh tẻ làm nẹp giữ. Phía bên kia bếp, An cùng bà Hờ ngồi quây quần bên chiếc nia tre đựng đầy những hạt gạo nếp nương tròn mẩy, trắng đục và thơm ngào ngạt mùi nắng mới.

Gạo nếp nương — thứ ngọc thực chắt chiu từ những triền nương dốc đứng — sau khi được ngâm chừng bốn tiếng đồng hồ bằng thứ nước suối nguồn trong vắt gánh từ khe về, vớt ra để ráo nước. An dùng chiếc muỗng gỗ nhỏ khéo léo xúc từng muỗng gạo dồn vào lòng gióng nứa bánh tẻ. Theo lời bà Hờ dặn, cô không dùng que nén chặt mà chỉ cầm gióng nứa gõ nhẹ đáy ống xuống mặt sàn gỗ, để từng hạt gạo tự tìm chỗ chen chúc nhau một cách tự nhiên cho đến khi đầy chừng hai phần ba thân ống. Sau đó, An múc từng gáo nước khe mát lạnh rót từ từ vào cho đến khi nước xâm xấp mặt nếp, rồi dùng một chiếc nút cuộn chặt bằng lá chuối rừng tươi hơ qua lửa bịt kín miệng ống lại.

Bên cạnh mâm gạo, những con cá mát suối tươi rói — loài cá mình thon dài, vảy ánh lên sắc bạc lấp lánh vừa được bắt từ lòng khe về — đã được làm sạch ruột qua một đường rạch khéo léo dưới mang, giữ nguyên vảy và đầu. Khang dùng cối đá giã nhuyễn một nắm muối hạt to cùng ớt chỉ thiên nướng thơm, vài lát gừng núi cay nồng, một nhúm hạt mắc khén khô rang thơm lừng ngào ngạt và thật nhiều ngọn rau dớn dại thái nhỏ. Thứ hỗn hợp gia vị sền sệt, dậy mùi thơm hăng hắc ấy được nhồi đẫm vào khoang bụng từng con cá.

Bà Hờ lấy những thanh tre tươi chẻ đôi kẹp chặt lấy thân từng con cá mát, hoặc khéo léo cuộn tròn cá lại nhét sâu vào trong một ống gióng tre tươi khác, dùng lá dong rừng bịt kín hai đầu trước khi đưa lên than.

— Nướng cơm lam và cá nướng ống tre tuyệt đối không được nôn nóng, — Bà Hờ vừa dùng thanh cời đảo nhẹ lớp than hồng rực dưới gầm bếp vừa nhắc nhở — Đứa nào vội vàng mà vùi thẳng ống nứa vào giữa ngọn lửa đang bùng bùng là hỏng hết. Lửa ngọn liếm vào cật tre sẽ làm lớp vỏ bên ngoài cháy đen thui, khét lẹt, trong khi hạt gạo bên trong thì sượng ngắt vì nước chưa kịp sôi. Phải dựng nghiêng từng gióng nứa quanh gờ đá bếp than hồng rực, cách mặt than chừng một gang tay. Rồi phải ngồi canh chừng, dùng tay xoay đều từng mặt ống nứa sao cho nhiệt nóng thẩm thấu từ từ qua lớp vỏ tre tươi mọng nước. Khi ấy, nước bên trong ống sôi lăn tăn, hơi nước bốc lên không thoát ra ngoài được nhờ nút lá chuối, sẽ làm hạt nếp chín mềm bằng chính lớp màng lụa tre và tinh dầu đại ngàn.

Căn bếp nhà sàn ấm sực lên trong tiếng củi săng lẻ nổ lách tách như tiếng ngô rang. Khói bếp màu xanh lam bảng lảng bay lên mái lá, quyện chặt lấy mùi thơm ngậy của nếp nương, mùi cay nồng của mắc khén và mùi thanh khiết của tre non bị hun nóng.

An chăm chú ngồi xoay từng gióng nứa. Khi thấy từ đầu nút lá chuối rừng bắt đầu xì ra những bọt nước trắng li ti kèm theo tiếng xèo xèo êm tai và một luồng hương thơm ngào ngạt bốc lên ngập tràn gian bếp, bà Hờ gật đầu bảo An nhấc ống nứa ra. Dưới ánh lửa bập bùng, bà Hờ cầm con dao nhỏ thoăn thoắt róc đi lớp vỏ cật tre cháy xém bên ngoài. Lớp vỏ xanh đen bong ra từng dải dài, để lộ ra thân ống cơm lam tròn trịa, được bao bọc kín mít bởi lớp màng lụa tre màu trắng ngà mịn màng như một lớp lụa mỏng.

Trong không gian ấm cúng soi rọi những cột nhà bằng gỗ mun bóng loáng màu thời gian, ánh mắt bà Hờ bỗng lơ đãng dừng lại nơi chiếc hộp gỗ mun khảm xà cừ đặt ở góc cột gian bếp. Bà khẽ nhíu mày, những nếp nhăn nơi trán xô lại. Trầm ngâm hồi lâu bên ấm chè xanh sủi bọt, bà cất giọng trầm buồn, xa xăm:

— Hơn hai mươi năm về trước, cũng vào một đêm mưa rừng tầm tã cuốn trôi cả cầu treo bản bên, có một người đàn ông mặc chiếc áo lính bạc phếch, lái một chiếc xe tải quân sự cũ kỹ ghé qua bản ta xin tá túc lại một đêm. Người đó cũng mang theo một chiếc ba lô con cóc rách sờn mép, đi khắp các bản người Thái dọc đôi bờ sông Lam này để hỏi thăm tung tích của một người phụ nữ nuôi quân tên là Trần Thị Mùi.

Nghe đến đó, An giật bắn người, ngẩng phắt đầu lên. Bàn tay đang cầm thanh nứa của cô run rẩy:

— Người lính lái xe tải quân sự năm ấy… có phải là ông Bùi Văn Tấn không bà?

Bà Hờ chầm chậm gật đầu, ánh mắt hướng về phía bóng tối ngoài khung cửa sổ:

— Cái tên của người đó tao không nhớ thật rõ, năm tháng trôi qua làm rụng rơi nhiều thứ quá. Nhưng tao nhớ như in bàn tay phải của ông ấy bị cụt mất nửa ngón tay trỏ, và đôi mắt lúc nào cũng đỏ hoe, vằn lên những tia máu như một người đã mất ngủ suốt hàng chục năm trời ròng rã. Đêm ấy bên bếp lửa này, ông ấy ngồi uống cạn một vò rượu cần, mắt cứ nhìn đăm đăm vào tàn tro. Sáng hôm sau, trước khi nổ máy lái chiếc xe tải vượt qua con đèo hiểm trở để đi sâu vào mạn Quảng Bình, ông ấy có gửi lại cho bản ta một bọc muối hạt to và dặn với tao một lời: Nếu sau này, có một ngày nào đó, có người mang theo nét chữ mực tím của bà Mùi quay lại đây tìm cách nướng nếp nương ống nứa, thì hãy nhắn giùm với người ấy rằng… nơi bến phà sông Gianh cát trắng, vẫn còn có một người lính già nằm chờ chết để trả lại một món nợ máu xương từ thời chiến trường lửa đạn…

Từng lời nói của bà Hờ rơi vào lòng An như những nhát búa nện vào thanh sắt nung đỏ. Lồng ngực cô đập thình thịch liên hồi.

Những mảnh ghép rời rạc bấy lâu nay bỗng chốc ráp nối lại với nhau một cách rợn ngợp: Từ lời kể ngậm ngùi của bà Mão nơi chân cầu Hàm Rồng về chuyến xe chở gạo mất tích, cho đến ký ức đau đáu của bà Hờ bên dòng suối Pù Mát này. Bùi Văn Tấn không hề là một cái tên vô hồn trong bức ảnh ố vàng kẹp dưới đáy ba lô của mẹ cô, mà là một chứng nhân bằng xương bằng thịt đang sống cô độc, dằn vặt giữa dải cát bỏng miền Trung. Ông chính là chiếc chìa khóa cuối cùng, nắm giữ bí mật về sự sụp đổ tinh thần và nỗi ám ảnh câm lặng đã đè nặng lên nửa đời sau của bà ngoại cô.

Đúng lúc tâm trí An đang quay cuồng trong những dòng suy tưởng, chiếc điện thoại di động đặt sâu trong túi áo khoác của cô bỗng rung lên từng hồi ngắt quãng. Màn hình nhấp nháy báo hiệu một tin nhắn thoại được mã hóa gửi đến từ Quỳnh Lam thông qua đường truyền mạng chập chờn của vùng cao.

An bấm nút mở loa nhỏ, ghé sát vào tai. Giọng nói quen thuộc của nữ nhà báo vang lên gấp gáp giữa những tiếng rè rè của sóng viễn thông:

*“An ơi, tình hình ở hậu phương đang diễn biến cực kỳ căng thẳng. Thám tử nội bộ của tòa soạn vừa báo về cho chị biết: Đỗ Thành Vinh đã bắt đầu vươn vòi bạch tuộc tới các huyện miền tây Nghệ An rồi. Hắn đang dùng nguồn tiền tài trợ khổng lồ dưới chiêu bài ‘dự án số hóa di sản ẩm thực vùng cao’ để gây sức ép trực tiếp lên một số cán bộ phụ trách du lịch và hội đồng văn hóa địa phương. Mục đích thực sự của tập đoàn Vị Việt là muốn thâu tóm, độc quyền toàn bộ quy trình làm cơm lam ống nứa, cá nướng gióng tre và các công thức gia vị bản địa của người Thái, nhằm biến chúng thành dây chuyền sản phẩm đóng gói công nghiệp hàng loạt mang nhãn hiệu của hắn. Chị nghe nói hắn đã cho người tiếp cận huyện Con Cuông rồi đấy. Em và Khang phải hết sức cẩn trọng với những kẻ mang danh nghĩa cán bộ văn hóa hay đoàn làm phim địa phương!”*

Đoạn ghi âm kết thúc bằng một tiếng “tút” dài khô khốc.

An nắm chặt chiếc điện thoại trong lòng bàn tay, những khớp ngón tay trắng bệch ra vì giận dữ. Cô ngước nhìn lên gian nhà sàn ấm áp, nhìn những gióng cơm lam thơm thảo đang tỏa khói nghi ngút bên bếp than hồng. Bộ mặt thật của Đỗ Thành Vinh và cỗ máy thương mại hóa tàn nhẫn, tham lam đang bám đuổi theo hành trình của cô từng bước một. Chúng không chỉ muốn tước đoạt công thức nấu ăn của bà ngoại cô, mà còn lăm le biến cả những giá trị văn hóa ngàn đời, những nét sinh hoạt thuần phác và thiêng liêng nhất của đồng bào vùng cao thành món hàng đóng hộp vô hồn để kiếm chác lợi nhuận.

An hít một hơi thật sâu, nén chặt cơn phẫn nộ xuống đáy lòng. Cô với tay lấy cây bút mực nằm bên cạnh thớt gỗ. Dưới sự chứng kiến im lặng của Khang và ánh mắt đăm chiêu, thấu hiểu của bà Vi Thị Hờ, An lật mặt sau của tấm thẻ số 11 đặt trên mặt chiếc hộp mun xà cừ.

Bằng những nét chữ nắn nót, dứt khoát và sắc sảo, cô viết:

*“Thẻ số 11: Cơm lam nếp nương và cá nướng gióng tre — Bản người Thái Con Cuông.* *Ghi chú xác lập ranh giới: Món ăn này sinh ra từ mồ hôi lao động nương rẫy nhọc nhằn, được nuôi dưỡng bằng sự tinh khiết của nứa bánh tẻ còn nguyên màng lụa và sự thích ứng sinh tồn của rau dớn bờ suối khi nguồn thảo dược tự nhiên bị con người hủy hoại. Bữa ăn thường nhật nuôi sống thể xác con người phải được tách biệt hoàn toàn và dứt khoát với không gian nghi lễ tâm linh ma bếp (phi hươn).*

*Những kẻ đứng ngoài, dù mang danh nghĩa phát triển du lịch sinh thái hay cỗ máy truyền thông thương mại hóa, tuyệt đối không được phép xâm phạm, dàn dựng hay biến các tín ngưỡng thiêng liêng của tổ tiên bản địa thành món hàng trình diễn giả dối phục vụ cho lòng tham vô đáy.”*

An đặt chiếc bút mực xuống, cẩn thận nhấc tấm thẻ số 11 đặt trở lại vào vị trí ngay ngắn bên trong lòng chiếc hộp gỗ mun xà cừ, rồi cài chiếc then đồng lại.

Bữa cơm tối đạm bạc giữa ba con người diễn ra trong sự tĩnh lặng thiêng liêng của bóng đêm đại ngàn Pù Mát. Không có đèn điện rực rỡ, không có tiếng máy quay hay những lời khấn vái giả tạo, chỉ có tiếng gió rừng vi vu thổi qua mái lá và ánh than hồng sưởi ấm những đôi bàn tay lao động.

An cắn một miếng cơm lam dẻo quánh. Vị ngọt bùi của hạt nếp nương quyện chặt trong hương thơm thanh khiết của màng lụa nứa non, hòa cùng vị béo ngậy của thịt cá mát nướng than và vị chát ngọt sâu thẳm của ngọn rau dớn nước khe làm bừng sáng cả vị giác, lan tỏa một luồng sinh khí ấm áp khắp cơ thể.

Nhìn ngọn lửa đỏ le lói phản chiếu trong mắt An, bà Hờ khẽ gắp thêm một miếng cá nướng đặt vào bát cô, buông một lời nhắc nhở như đúc kết cả một đời người miền núi:

— Lửa nuôi sống người bản, sưởi ấm hạt cơm lam qua mùa đông giá rét; nhưng mang lửa ra diễn trò quay phim bậy bạ để kiếm chác thì chính ngọn lửa ấy sẽ thiêu cháy cả lòng tự trọng đấy cháu à.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn