Đám Cưới Ở Làng Không NgườiC.20 / 20
Chương 20

Người Trở Về Phải Nói Thật

Bốn con người tơi tả, mình đầy bùn đất, tro than và thương tích lảo đảo bước qua hai trụ vôi nứt nẻ của cổng làng Vĩnh Trầm, bỏ lại sau lưng phế tích hoang tàn đang lặng lẽ phơi mình dưới những vạt nắng rực rỡ đầu tiên của buổi sớm mai.

Không còn bất kỳ bức tường vô hình nào dội ngược bước chân họ lại như đêm qua. Không còn cảm giác nhớp nháp buốt lạnh của thứ sương độc bám riết lấy từng thớ thịt, từng sợi vải, cũng không còn tiếng nước bì bõm quẩn quanh như bầy ma đói chực chờ rình rập dưới những rãnh mương ngập ngụa phù sa đen. Dưới ánh bình minh rạng rỡ vừa tràn qua rặng núi đá vôi phía đông, hai trụ cổng rêu phong từng sừng sững như hai tên lính gác cõi âm giờ đây chỉ còn là những khối gạch vôi già nua nứt toác, trơ trọi những vệt ngấn bùn lũ khô khốc và loang lổ vết trầy xước từ cơn hồng thủy mười hai năm về trước. Gió sớm từ cánh đồng thổi thốc qua, mang theo mùi ngai ngái của rơm rạ mục và hơi đất ẩm, quét sạch mùi dầu hỏa khét lẹt cùng mùi nhang tàn mục ruỗng đã bóp nghẹt buồng phổi họ suốt một đêm dài trong ngôi đình cổ.

Ngay khi bước chân nặng nề của An vượt qua khỏi mỏm đá ranh giới tự nhiên ngăn cách thung lũng ngập tràn tử khí với thế giới bên ngoài, chiếc điện thoại thông minh nằm im lìm dưới đáy túi quần bò của anh bỗng rung lên bần bật. Một chuỗi rung dồn dập, kéo dài và run rẩy như một sinh vật vừa hồi sinh. Hàng chục tin nhắn rác, thông báo cuộc gọi nhỡ dồn ứ suốt hơn hai mươi bốn giờ qua, thông báo từ các ứng dụng mạng xã hội và cột sóng 4G đồng loạt ùa về như một dòng thác lũ vô hình xé toạc màn vô tuyến. Tiếng chuông báo tin nhắn reo lên từng hồi lanh lảnh giữa khoảng không gian tĩnh mịch của triền đồi, sắc nhọn và trần tục đến mức khiến cả bốn người đều giật mình khựng lại.

Đó là thanh âm đầu tiên của thế giới hiện đại. Đó là bằng chứng không thể chối cãi kéo họ tuột khỏi cơn ác mộng nửa hư nửa thực của cõi chết, ném trả họ về với thực tại của những con người đang sống bằng da bằng thịt.

An đứng chôn chân trên nền đất dăm, lồng ngực phập phồng sau một chặng đường dài leo dốc. Anh khẽ xốc lại bờ vai đang tê dại vì sức nặng, hai bàn tay thô ráp ghì chặt lấy cặp đùi của Vy trên lưng mình. Chiếc nẹp chân tạm bợ được ghép từ những thanh thước kẻ gỗ gãy góc và vài mảnh gỗ thông mục mượn vội từ phòng học số một cọ sát vào lớp da thịt trầy xước của Vy. Cứ mỗi bước chân nhún xuống nền đường gồ ghề của An, chiếc nẹp lại xiết chặt thêm một chút, khiến Vy phải cắn chặt bờ môi khô khốc nứt nẻ để nén lại tiếng rên rỉ. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm vầng trán tái nhợt của cô, chảy dài xuống gò má lem luốc những vệt bùn non và tàn tro đen thẫm. Dù đau đớn đến thấu xương tủy, đôi bàn tay trầy trụa của Vy vẫn bám chặt lấy hai bên vai An, đầu cô tựa hờ vào hõm cổ anh, lắng nghe từng nhịp tim đập dồn dập, nóng hổi của người đàn ông đang gánh gồng mình ra khỏi cửa tử.

Bên cạnh anh, Phúc bước đi xiêu vẹo như một kẻ mất hồn. Gã đàn ông to xác ấy giờ đây co rúm lại, một bàn tay dính đầy máu khô áp chặt vào bả vai rách toạc. Vết cào xé sâu hoắm từ những móng tay đen đúa của Quân đêm qua vẫn không ngừng rỉ ra thứ máu bầm tanh tưởi, thấm đẫm lớp vải áo sơ mi đã rách bươm từng mảng. Vòng quanh cổ họng Phúc, những vết lằn ngón tay tím ngắt, sưng vù hằn rõ trên làn da nhợt nhạt, làm cho từng nhịp thở của gã rít qua kẽ răng khàn đặc, đứt quãng như tiếng một ống bễ rách nát đang cố bơm những ngụm khí tàn. Đôi mắt Phúc đục ngầu, thi thoảng gã lại giật thót mình nhìn dáo dác xung quanh, như thể gã vẫn chưa tin nổi rằng bóng ma của người anh trai đã vĩnh viễn tan biến theo làn khói đình tàn.

Đi phía sau cùng là Loan. Cô gái nhỏ bé, gầy gò bước đi lảo đảo nhưng những bước chân lại vững chãi đến lạ kỳ. Đôi cánh tay khẳng khiu của cô ôm chặt chiếc túi vải thô màu đen trước ngực như ôm một báu vật thiêng liêng nhất trần đời. Bên trong lớp vải thô ấy là xấp tài liệu trường học loang lổ vết nước do cô giáo Duyên gìn giữ suốt hơn một thập kỷ, cuốn sổ điểm danh định mệnh trong đêm lũ rằm tháng Bảy năm Thìn, mảnh vải liệm trắng nhặt vội từ khám thờ đã sập, và bản trích lục khai tử kiêm giấy báo tử của chị Hạnh mà cô đã lén mang theo từ lúc xuất phát ở phòng trọ ngoại thành. Vạt áo Loan lem luốc bùn đất và tàn tro dầu hỏa, mái tóc dài bết lại vì nước mưa đêm, nhưng ánh mắt cô không còn sự bấn loạn, hoảng loạn hay vẻ u uất đến điên dại của một kẻ mò mẫm đi tìm cái chết để chuộc lại món nợ tâm lý nữa. Đôi mắt ấy giờ đây phẳng lặng, sâu thẳm và trong veo như mặt nước hồ sau khi cơn bão kinh hoàng nhất đã quét qua.

Họ lầm lũi đi dọc theo con đường liên xã trải đá dăm xám xịt dẫn về khu tái định cư Đồng Mới.

Khác với thung lũng Vĩnh Trầm ngập tràn tử khí vừa trút bỏ lớp vỏ bọc huyền bí để trơ ra những đống gạch ngói đổ nát, Đồng Mới thức dậy trong nhịp sống thường nhật, mộc mạc và ồn ã của một buổi sớm tinh sương miền trung du. Từng dải khói lam chiều từ những chái bếp lợp tôn fibro xi-măng bảng lảng bay lên, hòa vào sương sớm tạo nên mùi khói củi bạch đàn quen thuộc. Tiếng gà gáy tao tác gọi bầy bên những bờ rào râm bụt trổ hoa đỏ chót, tiếng lợn ủn ỉn đòi ăn trong chuồng sau nhà, và tiếng nổ giòn tan, phành phạch của những chiếc xe máy chở sọt rau củ lăn bánh trên con đường bê tông nội bộ. Cuộc sống ở đây vẫn tiếp diễn, bình lặng đến tàn nhẫn, như thể thảm kịch cách đó vài cây số chưa từng tồn tại, hoặc giả như người ta đã học được cách chôn vùi nó dưới những tầng tầng lớp lớp lãng quên.

Thế nhưng, khi bốn bóng người rách rưới, bê bết máu me, bùn lầy và mang theo hơi lạnh âm u bước vào đầu con ngõ trung tâm của khu tái định cư, nhịp sống thường nhật ấy bỗng chốc đứt phựt.

Tiếng chuyện trò rôm rả của những người phụ nữ đi chợ sớm bỗng bặt hẳn. Một người đàn bà trung niên đang quẩy đôi gánh rau muống chợt khựng lại, đôi quang gánh trượt khỏi vai, rơi phịch xuống nền đá dăm khiến những mớ rau xanh văng tung tóe. Những người đàn ông đang ngồi uống trà chén trước quán nước đầu ngõ dừng bặt động tác nâng chén, tẩu thuốc lào trên tay buông thõng. Những ánh mắt ngỡ ngàng, sững sờ, rồi nhanh chóng chuyển thành sự hoảng hốt tột cùng dán chặt vào từng bước chân của bốn người.

"Thằng An... con bé Vy... trời đất quỷ thần ơi, tụi nó... tụi nó còn sống!"

"Thằng Phúc kìa! Máu me đầy mình thế kia... Có phải người không hay là..."

"Hôm qua rằm tháng Bảy... Tụi nó vừa từ Vĩnh Trầm ra đấy! Chúng nó từ đáy sông bò lên thật rồi!"

Tiếng xì xào, bàn tán lan nhanh như một vệt dầu loang trên mặt nước phẳng lặng. Mười hai năm qua, cái tên Vĩnh Trầm đã trở thành một vùng cấm kỵ tuyệt đối, một nấm mồ tập thể khổng lồ mà bất kỳ ai ở Đồng Mới cũng chỉ dám nhắc đến bằng những lời thì thầm kiêng dè vào mùa mưa bão. Người ta sợ cái dớp sông nước, sợ những linh hồn u uẩn chưa siêu thoát, và sợ cả cái tội lỗi sâu kín mà cả ngôi làng này đã cùng nhau nhắm mắt làm ngơ. Việc bốn đứa trẻ trở về từ cõi chết ngay sau đêm rằm tháng Bảy với hình thù tơi tả, đầy thương tích chẳng khác nào một hồi chuông báo tử gióng ngược vào tâm thức, xé toạc tấm màn bình yên giả tạo mà họ đã cố công bọc lấy suốt ngần ấy năm trời.

An không dừng lại để đáp lời bất kỳ ai. Gương mặt anh lạnh tanh, đông cứng lại như một tảng đá hoa cương. Đôi mắt anh trũng sâu vì một đêm trắng vật lộn giữa sự sống và cái chết, viền mắt đỏ ngầu nhưng ánh nhìn lại sắc lẹm, kiên định đến mức khiến những kẻ tò mò bên đường phải vô thức dạt sang hai bên, không một ai dám bước tới cản lối. Anh không rẽ về phía ngôi nhà cấp bốn nhỏ bé của mẹ con mình nằm ở rìa xóm, mà hướng thẳng bước chân kiên quyết về phía ngôi nhà mái bằng khang trang nhất nằm ở cuối dãy—ngôi nhà của bà Thoa.

"An... con ơi! An ơi!"

Một tiếng thét nghẹn ngào, lạc cả giọng xé toạc bầu không khí ngột ngạt đầu ngõ.

Bà Lan từ hướng cổng ngôi nhà cấp bốn lảo đảo lao ra ngoài đường. Tóc tai bà xõa xượi, bết dính vào vầng trán nhăn nheo, chiếc áo nâu mặc vội cài lệch cả cúc, đôi bàn chân trần dẫm đạp lên những viên đá dăm nhọn hoắt mà dường như không hề cảm thấy đau đớn. Gương mặt người mẹ già tái mét, hốc hác, đôi mắt sưng húp và đỏ hoe sau một đêm dài gào khóc, thắp hương khấn vái và bấm điện thoại gọi cho con trai trong vô vọng. Nhìn thấy An bằng xương bằng thịt đang cõng Vy trên lưng, bà Lan nhào tới như một kẻ điên dại, run rẩy giơ hai bàn tay khẳng khiu, run rẩy định ôm chầm lấy đứa con trai độc nhất:

"Con còn sống... Trời phật có mắt, tổ tiên phù hộ cho nhà mình rồi... Con không sao rồi, An ơi..."

An khẽ nghiêng bờ vai, bước một bước dài sang bên cạnh, dứt khoát né tránh cái ôm đầy hoảng loạn của mẹ. Cử chỉ ấy không thô bạo, không có sự xô đẩy, nhưng nó lạnh lùng và dứt khoát đến tàn nhẫn. Nó giống như một nhát dao vô hình khứa đứt khoảng không gian giữa hai mẹ con, khiến đôi bàn tay khẳng khiu của bà Lan chơi vơi giữa gió sớm, chết lặng.

Bà Lan trừng mắt nhìn con, đôi môi run rẩy mấp máy không thốt nên lời.

"Vào nhà dì Thoa đi mẹ," giọng An trầm thấp, khàn đặc vì khói lửa và tử khí đêm qua, nhưng từng âm tiết thốt ra lại rành rọt, nặng trịch như những chiếc đinh sắt đóng thẳng vào vách đá. "Cả làng này, ai muốn nghe chuyện đêm qua ở Vĩnh Trầm, ai muốn biết món nợ mười hai năm qua được thanh toán thế nào, cứ vào hết trong đó. Hôm nay phải nói cho ra lẽ. Một lần cho xong hết."

Cánh cửa gỗ lim nặng nề của nhà bà Thoa vốn đang mở he hé bỗng bật tung ra.

Bà Thoa đứng sững ở bậc thềm tam cấp lát gạch đỏ. Trên người bà vẫn là chiếc áo bà ba màu nâu sẫm may bằng vải lụa tơ tằm quen thuộc, chiếc khăn rằn vắt vẻo bên vai, nhưng gương mặt phúc hậu, nề nếp thường ngày giờ đây xám ngoét như màu tro bếp. Đôi mắt bà đảo quanh một cách tán loạn, lướt qua thân hình lành lặn của An, rồi trượt sang vết máu khô trên cổ và vai Phúc, nhìn thấy chiếc túi vải thô đen sì trong vòng tay Loan, và cuối cùng, ánh mắt ấy dừng lại ở bờ vai trống không của đứa cháu ruột.

Bà Thoa nhìn chằm chằm vào khoảng không gian sau lưng An, dường như đang cố tìm kiếm một điều gì đó. Nhưng không có gì cả. Không có bóng hình Hoàng Minh nào mượn xác trở về. Không có phép màu nào bù đắp cho nỗi đau mười hai năm qua của bà. Chỉ có sự thật trần trụi, lạnh lẽo và tàn khốc đang từng bước tiến lại gần bậc tam cấp.

An cẩn thận bước vào nhà, tiến thẳng đến chiếc ghế trường kỷ bằng mây đặt ở gian phòng khách. Anh nhẹ nhàng đặt Vy ngồi xuống, hai tay đỡ lấy cẳng chân trái bị gãy của cô gác êm ái lên một chiếc đôn gỗ nhỏ bọc vải. Vy khẽ rụt người vì đau, nhưng ngay sau đó, cô vươn tay siết chặt lấy bàn tay thô ráp của An. Ánh mắt cô sáng quắc, tỉnh táo và kiên định, như một lời cam kết thầm lặng rằng cô sẽ ngồi ngay tại đây, làm nhân chứng sống cho từng lời anh sắp nói ra.

Loan và Phúc bước theo sau. Loan cẩn thận khép hờ cánh cửa chính lại nhưng không cài then gỗ, để mặc cho hàng chục người dân làng Đồng Mới đang tò mò kéo đến đứng chật ních ngoài sân, những gương mặt lo lắng, sợ hãi ngấp nghé qua từng khung cửa sổ chấn song gỗ.

Bà Lan lảo đảo bước vào sau cùng, đôi chân như đi mượn, đôi mắt đờ đẫn nhìn quanh căn phòng khách rộng rãi như một kẻ tội đồ sắp sửa bước lên đoạn đầu đài để nhận bản án chung quyết.

Căn phòng khách nhà bà Thoa thoang thoảng mùi gỗ mới và mùi tinh dầu sả, đối lập hoàn toàn với mùi ẩm mốc của ngôi đình cổ đêm qua. Chiếc bàn gỗ hương đặt giữa nhà bóng loáng dầu bóng, trên mặt bàn bày sẵn một ấm trà mạn đã nguội ngắt và đĩa bánh khảo phong giấy bóng kính đỏ chưa bóc vỏ.

An bước tới bên chiếc bàn. Không một động tác thừa thãi, anh giật phắt chiếc túi vải thô màu đen từ tay Loan, dốc ngược xuống mặt bàn gỗ láng coong.

*Cộp.*

Thanh que sắt cời than dài ngoằng, nham nhở những vệt muội than đen kịt và hoen gỉ rơi xuống, nảy lên một nhịp rồi nằm im. Ngay cạnh nó, chiếc chìa khóa bằng đồng đen nặng trịch dùng để mở ngách cửa sau gian hậu cung đình làng va đập vào mặt bàn, phát ra một âm thanh khô khốc, chói tai khiến tất cả những người có mặt đều phải rùng mình.

Tiếp đó, An lôi ra từ đáy túi xấp tài liệu ẩm ướt, nhớp nháp phù sa, bốc lên mùi nước sông nồng nặc: cuốn sổ điểm danh sơ tán đợt ba của cô giáo Duyên với những dòng chữ mực xanh đã nhòe nhoẹt, những mẩu giấy tập học sinh bắt chước chữ ký của chính anh lấy từ viền gương đồng trong phòng ngủ của Hoàng Minh, và cuối cùng, bản trích lục khai tử của chị Hạnh được ép một lớp plastic cũ kỹ, ố vàng bốn mép.

"Dì Thoa. Mẹ."

An cất tiếng, ánh mắt anh quét qua hai người phụ nữ lớn tuổi đang đứng chết trân ở hai góc phòng như hai pho tượng đá.

"Mười hai năm qua, hai người dạy con điều gì? Hai người dạy con rằng con nợ anh Hoàng Minh một mạng sống. Hai người nhồi nhét vào đầu con rằng trong đêm lũ năm Thìn, con là đứa trẻ hèn hạ đã cướp mất chỗ của anh ấy trên chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng, nên việc con được sống sót, được lành lặn bước ra khỏi Vĩnh Trầm là một món nợ máu. Một món nợ mà con phải cúi đầu mang theo suốt cả cuộc đời này để phục tùng, để cung phụng, để trả ơn cho cái nhà này. Đêm qua, con đã đi hết Vĩnh Trầm. Con đã vào tận gian hậu cung, đã đứng dưới chân bến Cây Gạo, đã gặp anh Minh, gặp chị Hạnh, gặp cô Duyên và đối mặt với cả lão Từ Lẫm cùng đám người của ban giữ đình. Giờ thì nhìn vào đây đi."

An đập mạnh bàn tay xuống xấp giấy tờ ướt sũng trên mặt bàn, tiếng đập dội vang khắp gian nhà:

"Nhìn thẳng vào những thứ này, rồi nói cho con nghe: rốt cuộc ai mới là người nợ ai?!"

Bà Thoa lùi giật lại một bước, tấm lưng gầy guộc đập mạnh vào mép bàn thờ tổ tiên kê sát vách tường. Cú va chạm làm rung chuyển chiếc bát hương bằng sứ Bát Tràng, tàn nhang rơi lả tả xuống mặt gỗ. Trên hương án, di ảnh Hoàng Minh trong chiếc áo sơ mi trắng tinh thuở đôi mươi vẫn nở nụ cười hiền lành, ngây thơ, nhưng trong mắt bà Thoa lúc này, nụ cười ấy như đang rỉ máu, biến thành một lưỡi dao cứa nát tâm can bà.

Bà Lan không chịu nổi áp lực khủng khiếp ấy nữa. Người mẹ già run rẩy sụp quỳ xuống nền gạch hoa bóng loáng, hai bàn tay gầy gò bấu chặt lấy khuôn mặt nhăn nheo, bật lên tiếng khóc rấm rứt, nghẹn ngào như xé ruột xé gan. Đó là tiếng khóc của sự yếu đuối bị bóc trần đến tận cùng, của mười hai năm dồn nén trong nỗi hèn nhát, sợ hãi và mặc cảm tội lỗi không lối thoát.

"An ơi... mẹ xin con... mẹ sai rồi, trời đất ơi mẹ sai rồi con ơi..." Bà Lan nấc nghẹn từng cơn, nước mắt nước mũi chảy tràn qua kẽ ngón tay khẳng khiu. "Năm đó lũ dữ dội quá... Nước từ thượng nguồn đổ về cuồn cuộn như thác đổ, ngập lút tới tận nóc đình chỉ trong vòng một canh giờ ngắn ngủi. Khi ông Từ Lẫm bưng cái bát sành màu đen đi quanh những người sống sót đang co cụm ở gò trường học, ông ấy bảo rằng muốn giữ lại phần hồn cho con cháu họ Hoàng, họ Lê, muốn làng này không bị xóa sổ thì mỗi nhà phải góp máu tươi làm lễ cầu an... Mẹ sợ quá con ơi! Mẹ nhìn thấy xác người chết trôi trắng xóa dưới bến sông, mẹ sợ mất mày, mẹ sợ cái dớp làng Vĩnh Trầm sẽ nuốt chửng nốt đứa con trai duy nhất của mẹ... Mẹ đã cầm mảnh sành rạch đầu ngón tay, nhỏ máu vào cái bát khấn của ông Lẫm!"

Bà Lan ngẩng khuôn mặt đẫm lệ, nhòe nhoẹt bùn đất lên nhìn con trai, hai bàn tay chắp lại trước ngực van lơn trong tuyệt vọng:

"Nhưng mẹ thề có trời cao đất dày chứng giám, lúc đó mẹ không hề biết ông ấy lập giao ước đổi mạng! Mẹ là đàn bà nhà quê, mẹ dốt nát, mẹ chỉ tưởng đó là lời cầu siêu giữ vía thông thường cho người sống sót! Mãi đến khi chạy dạt về khu Đồng Mới này, nghe bà Thoa nói anh Minh chưa siêu thoát, hồn vía vẫn quanh quẩn ở bến sông đợi ngày đoàn tụ, mẹ mới bàng hoàng biết ông Lẫm đã dùng máu của mẹ để khóa tên hai đứa vào cuốn sổ hộ gốc... Mẹ hèn nhát... Mẹ sợ nếu nói ra sự thật rằng Minh đã chết đuối dưới đáy bùn từ đêm đó, mày sẽ bỏ đi tìm hiểu, mày sẽ phát điên, rồi cái dớp của đình làng sẽ bắt mất mày... Mẹ lén giấu hết những lá thư họ hàng gửi về, mẹ dựng chuyện bảo mày rằng anh Minh còn sống, chỉ đi làm ăn xa ở mỏ đá tít trong Nam... Mẹ chỉ muốn giữ con lại bên đời mẹ thôi An ơi! Mẹ sợ mất con mà thôi!"

"Mẹ muốn giữ con lại?"

An gằn từng tiếng một, thanh âm nghẹn lại nơi cổ họng nhưng buốt nhói như có ngàn mũi kim châm. Lồng ngực anh phập phồng dữ dội dưới lớp áo rách:

"Mẹ giữ con lại bằng cách để cho dì Thoa và cái ban giữ đình quái đản kia lừa dối con suốt mười hai năm ròng rã? Mẹ để con sống từng ngày, từng giờ trong cái mặc cảm tội lỗi kinh tởm của một kẻ cướp đoạt mạng sống của anh họ mình? Mẹ có biết đêm qua, chỉ thiếu một chút nữa thôi, linh hồn của con đã bị xích chặt dưới đáy bùn buốt giá dưới chân bến Cây Gạo, còn cái thân xác này sẽ biến thành một cái vỏ rỗng vô hồn cho người khác mượn để sống tiếp một kiếp người giả tạo không?"

Bà Lan ngã gục hẳn xuống sàn, hai bàn tay run rẩy bấu chặt lấy gấu quần bò của An, trán dập sát xuống nền gạch lạnh ngắt. Bà khóc không thành tiếng nữa, chỉ còn những tiếng nấc giật cục nghẹn ngào từ lồng ngực cạn kiệt sinh lực.

Lúc này, mọi ánh mắt căm phẫn và bàng hoàng trong gian phòng đều đồng loạt dồn về phía người đàn bà đang đứng dựa lưng vào bàn thờ.

Bà Thoa vẫn đứng bất động, nhưng hai bờ vai dưới lớp áo lụa nâu đã bắt đầu run rẩy bần bật. Những ngón tay thon dài từng một thời quen lần tràng hạt giờ đây co quắp lại, bấu chặt lấy mép gỗ hương đến mức các đầu ngón tay trắng bệch ra không còn một giọt máu.

"Dì Thoa," An quay ngoắt sang, giọng anh đanh thép, lạnh lùng và sắc bén như một tảng băng trôi trên dòng sông mùa lũ. "Anh Quân và chị Hạnh đã nói hết toàn bộ sự thật trước linh cữu tại bến Cây Gạo đêm qua rồi. Cuốn sổ điểm danh của cô giáo Duyên vẫn còn nằm rành rành ở đây. Anh Hoàng Minh đã bước chân lên chiếc thuyền cứu hộ số hai một cách an toàn lúc mười giờ mười lăm phút đêm rằm. Anh ấy tự ý nhảy xuống dòng nước lũ, bơi ngược dòng về phía gò trường học để tìm chị Hạnh. Cái chết của anh ấy là do anh ấy tự lựa chọn vì tình yêu của mình, không liên quan, không dính dáng một chút nào đến suất thuyền số ba của con lúc nửa đêm cả!"

An bước thêm một bước về phía bàn thờ, ép bà Thoa phải nhìn thẳng vào mắt mình:

"Và điều kinh khủng nhất... điều tàn độc nhất mà dì giấu kín suốt mười hai năm qua... Lúc chiếc thuyền số ba rời bến, tay anh Minh đã bám được vào mạn thuyền. Anh ấy chưa chết đuối lúc đó! Anh ấy đã gào khóc, đã gọi 'Mẹ ơi cứu con' trong làn nước xiết. Nhưng chính dì... chính người mẹ ruột thịt này đã ra lệnh cho anh Quân không được quay mũi thuyền lại, chính dì đã gạt tay con trai mình ra để giữ an toàn cho cái thuyền đó, có đúng không?!"

Như bị một lưỡi tầm sét vô hình giáng thẳng vào tim đen, bà Thoa lảo đảo, hai đầu gối khuỵu xuống. Bà ngã ngồi phịch lên chiếc ghế gỗ chạm trổ hoa văn phía sau. Cánh tay run rẩy của bà vô tình gạt trúng chiếc chén trà mạn trên bàn. Chiếc chén sứ lăn lóc, nước trà chát chúa đổ tràn ra mặt gỗ bóng loáng, từ từ thấm ướt mép cuốn sổ điểm danh cũ kỹ của cô giáo Duyên.

Bà Thoa ngửa mặt lên trần nhà. Từ khóe miệng bà bật ra một tràng cười cay đắng, the thé, the thé và xé lòng như tiếng kêu tuyệt vọng của loài vạc ăn đêm, rồi tràng cười ấy vỡ òa thành những tiếng khóc gào giãy giụa, điên loạn:

"Phải! Là tao nhẫn tâm đấy! Mày vừa lòng chưa?!"

Bà Thoa đập mạnh hai lòng bàn tay xuống mặt bàn gỗ, đôi mắt đỏ ngầu những tia máu trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định trước mặt:

"Lúc đó nước cuồn cuộn như thác đổ, lũ dâng ngập đầu ngọn tre! Chiếc thuyền nan chở nặng mười mấy mạng người già trẻ lớn bé, mạn thuyền đã mấp mé mặt nước đen ngòm! Nó bám vào thì lật thuyền! Nó bám vào thì chết chìm cả nút, cả tao, cả mày, cả đám người trên thuyền đều phải làm mồi cho thủy thần! Tao là mẹ nó... Tao tận mắt nhìn thấy khúc ruột của tao chìm nghỉm giữa dòng xoáy đen kịt mà tao không dám thò tay kéo nó lên... Mày có hiểu... cả cái làng này có ai hiểu được cái cảm giác suốt mười hai năm qua, đêm nào nhắm mắt lại tao cũng nghe thấy tiếng thằng Minh gào thét 'Mẹ ơi cứu con' văng vẳng ngay sát bên tai không?!"

Bà Thoa quằn quại trên ghế, hai bàn tay co quắp cào cấu vào lồng ngực mình, xé rách cả vạt áo lụa nâu như muốn móc tung trái tim đang rỉ máu và mục ruỗng ra ngoài:

"Tao phát điên! Tao sống ở cái đất Đồng Mới này, tao ăn cơm, tao mặc áo ấm, tao xây nhà cao cửa rộng mà hồn tao đã chết mục dưới đáy bùn sông cùng với con tao từ cái đêm mười lăm tháng Bảy năm đó rồi! Khi ông Từ Lẫm tìm đến tao, ông ấy bảo tao... chỉ cần dụ được thằng An về, chỉ cần thằng An tự nguyện đặt bút ký tên vào cuốn sổ đón khách của đình làng, thằng Minh sẽ có lại một thân xác bằng xương bằng thịt. Nó sẽ lại về đây, lại ngồi ở cái bàn này, lại gọi tao một tiếng mẹ..."

Nước mắt giàn giụa trên những nếp nhăn chằng chịt của người đàn bà góa bụa:

"Tao đã làm tất cả! Tao cung cấp cho thằng Phúc từng địa chỉ phòng trọ của mày trên thành phố, tao kể cho nó nghe từng thói quen nhỏ nhặt nhất của mày: mày cầm đũa bằng tay trái thế nào, mày có vết sẹo ngã xe đạp năm mười tuổi ở đầu gối ra sao, mày sợ mùi dầu hỏa thế nào... Tao tiếp tay cho ban giữ đình, tao chuẩn bị áo the khăn xếp cho đám cưới ma... Tao chỉ muốn con tao được sống lại thôi! Nó chết oan uổng quá mà! Tại sao... tại sao con của em gái tao được lành lặn làm người, được học hành đàng hoàng ở thành phố lớn, còn con trai tao phải làm con ma đói ngậm bùn tanh dưới đáy sông suốt mười hai năm trời?! Tại sao chứ?!"

Tiếng gào thét xé lòng của bà Thoa dội vào từng bức tường gạch, vang ra tận ngoài sân, khiến đám đông dân làng đang tụ tập ngoài hiên im phăng phắc như tờ.

Những người già trong làng Đồng Mới chầm chậm cúi gằm mặt xuống. Tội ác của bà Thoa xuất phát từ một nỗi đau mất con tột cùng đến mức điên loạn, nhưng sự tột cùng ấy đã tha hóa, đã biến chất thành một dã tâm ghê tởm: muốn giết chết đứa cháu ruột thịt mang chung dòng máu để hồi sinh một ảo ảnh đã tan rữa thành tro bụi. Sự im lặng đồng lõa của ngôi làng này suốt mười hai năm qua chính là mảnh đất màu mỡ dung dưỡng cho thứ quái thai ấy lớn lên.

"Dì thương con của dì," An cất giọng, tiếng nói của anh run lên vì một cơn phẫn nộ tột cùng nhưng ánh mắt vẫn sắc lạnh như thép nguội, "nhưng anh Minh đêm qua đã hành xử tử tế và con người hơn dì gấp vạn lần."

Bà Thoa ngưng bặt tiếng khóc, ngơ ngác ngẩng đầu lên nhìn An.

"Trước bàn thờ tổ tiên đêm qua," An nói chậm rãi, từng chữ rõ ràng, "chính anh Minh đã tự tay giật lấy chùm chìa khóa này ném về phía con. Anh ấy đã tự tay xé nát dải lụa đỏ của đám cưới quỷ. Anh ấy đã từ chối nhận cái thân xác này, bởi vì anh ấy thà chấp nhận tan biến vào hư không chứ không muốn trở thành một con quỷ cướp đoạt mạng sống của đứa em họ mình! Sự ích kỷ tàn bạo của dì không hề cứu được anh ấy, dì Thoa ạ. Nó chỉ suýt chút nữa biến linh hồn của con trai dì thành một thứ súc sinh đê tiện giống như lão Từ Lẫm và đám người trong ban giữ đình mà thôi."

Nghe đến đó, bà Thoa dường như bị rút cạn chút sinh lực cuối cùng. Người bà mềm nhũn ra, đổ sụp xuống mặt bàn gỗ hương, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lấy đầu, miệng lẩm bẩm những tiếng gọi "Minh ơi... con ơi..." trong cơn mê sảng và nỗi ân hận muộn màng đến xé nát tâm can. Căn nhà mái bằng khang trang ngập tràn mùi vị của sự đổ vỡ. Mười hai năm xây dựng trên một nền móng dối trá, tội lỗi và máu tanh cuối cùng đã sụp đổ tan tành dưới ánh sáng chói lọi của sự thật.

Dưới sàn nhà, bà Lan vẫn gối đầu lên mũi giày của An, hai tay ôm chặt lấy chân con, vừa khóc vừa nấc nghẹn:

"An ơi... mẹ lạy con... Mẹ có tội lớn với con, mẹ có tội với dòng họ... Tha thứ cho mẹ đi con ơi... Về nhà với mẹ đi con..."

An đứng lặng hồi lâu. Anh cúi xuống nhìn người mẹ đã mang nặng đẻ đau sinh ra mình. Trong lồng ngực anh, một cơn đau buốt nhói dâng lên nghẹn ứ, nhưng lý trí và sự tỉnh táo sau một đêm sinh tử không cho phép anh mềm lòng. Chầm chậm, An ngồi xổm xuống, gỡ từng ngón tay gầy guộc, run rẩy của mẹ ra khỏi ống quần mình.

Hành động của anh dứt khoát, bình thản nhưng mang theo một khoảng cách vạn dặm. Tiếng khóc của bà Lan nghẹn bặt lại nơi cuống họng khi nhìn thấy ánh mắt kiên định, không chút lay chuyển của con trai.

"Con không hận mẹ đến mức muốn mẹ phải chết hay phải đền mạng," An nhìn thẳng vào đôi mắt đẫm lệ của mẹ, vạch rõ từng ranh giới đạo đức không thể nào thỏa hiệp. "Nhưng con không thể tha thứ cho mẹ ngay bây giờ chỉ vì mẹ là mẹ của con. Tình thân máu mủ không bao giờ là cái cớ để người ta nhân danh nó mà chà đạp lên sự thật, dung túng cho cái ác và bức tử người khác. Lời xin lỗi của mẹ và của dì Thoa hôm nay, con ghi nhận. Nhưng để mọi chuyện trở lại như cũ, để con lại làm đứa con ngoan ngoãn coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra thì không bao giờ có thể nữa. Món nợ ân nghĩa giả dối suốt mười hai năm qua chấm dứt tại đây. Chấm dứt hoàn toàn."

An đứng thẳng dậy, quay lưng lại với hai người phụ nữ đang suy sụp dưới sàn nhà. Anh bước về phía khung cửa sổ lớn nhìn ra khoảng sân rộng, nơi có hàng chục người dân làng Đồng Mới đang đứng chết lặng chứng kiến toàn bộ sự việc.

"Và còn một việc nữa," tiếng nói của An vang rền khắp gian nhà, dội thẳng ra ngoài sân, rành rọt từng lời trước mặt bàn dân thiên hạ. "Khu tái định cư Đồng Mới này nợ những người nằm lại dưới đáy sông một sự công bằng."

Anh đưa tay chỉ thẳng về phía ngọn đồi nhỏ nằm ở đầu làng, nơi có đài tưởng niệm nạn nhân thiên tai đang trơ trọi dưới nắng sớm:

"Tấm bia đá ngoài kia bị trét bùn đất, bị xi măng che giấu, bị rêu phong phủ kín suốt mười hai năm trời chỉ để phục vụ cho sự dối trá của ban giữ đình, để che đậy cái chết của anh Hoàng Minh, của chị Lê Thị Hạnh và những nạn nhân khác. Ngay trong ngày hôm nay, dân làng phải mang bàn chải sắt, mang nước vôi ra cạo sạch lớp rêu phong đó đi! Phải khắc lại cho đúng họ tên, ngày mất của từng người: Hoàng Minh, Lê Thị Hạnh, Trần Văn Quân, Từ Văn Lẫm... Người chết cần được tưởng nhớ bằng sự thật, chứ không phải bằng sự đánh tráo hay lãng quên hèn hạ của những kẻ còn sống!"

Tiếng nói của An dội vào không gian, đanh thép và uy nghiêm như một lời tuyên án.

Ngoài sân, một người đàn ông lớn tuổi—trưởng thôn Đồng Mới—chầm chậm bước lên thềm tam cấp. Ông run rẩy đưa tay quệt đi giọt nước mắt xấu hổ đang lăn dài trên gò má nhăn nheo, gật đầu thật mạnh:

"Cháu nói đúng... Làng này sai rồi. Mười hai năm qua chúng tôi hèn nhát quá... Ngay hôm nay, tôi sẽ cho người làm lại tấm bia đó."

Lúc này, từ góc tối của gian phòng khách, Phúc chầm chậm lê từng bước chân nặng nề ra giữa nhà.

Gã đàn ông to xác quỳ sụp xuống trước bàn thờ họ Hoàng, dập đầu một cái thật mạnh, rồi quay người lại đối diện với đám đông dân làng bên ngoài. Chiếc áo sơ mi rách tả tơi để lộ vết thương sâu hoắm còn rỉ máu bầm ở bả vai, khuôn mặt tím tái vì những vết bầm giập, nhưng ánh mắt gã không còn vẻ sợ sệt, lấm lét của một kẻ tội đồ nữa. Nó đã tìm lại được sự can trường của một con người bằng xương bằng thịt.

"Bà con... các bác, các cô chú..." Phúc cất giọng khàn đặc, từng âm thanh rít qua cuống họng tổn thương nhưng vô cùng rõ ràng. "Cháu là Trần Văn Phúc. Cháu đứng đây để nhận hết tất cả tội lỗi của mình trước bàn dân thiên hạ. Cháu chính là kẻ đã nhận lời anh trai cháu—Trần Văn Quân—và lão Từ Lẫm để mang những phong bì viền đỏ ẩm mùi bùn tanh từ bến sông lên tận thành phố giao cho anh An và chị Vy. Cháu đã lén xách con gà trống tế vào làng để phục vụ cho cái đám cưới quỷ quyệt đêm qua... Cháu hèn nhát, cháu sợ chết, cháu sợ linh hồn anh trai kéo cháu xuống đáy sông nên đã nhắm mắt tiếp tay cho ma quỷ. Anh An, chị Vy, chị Loan... ba người muốn đánh, muốn chém, muốn báo công an tống cháu vào tù, cháu xin chịu hết. Cháu không trốn tránh nữa."

Nói xong, Phúc dập đầu ba cái liên tiếp xuống nền gạch hoa lạnh buốt. Tiếng cộp cộp khô khốc vang lên, trán gã rách toạc, máu tươi ứa ra chảy dài xuống sống mũi, nhưng sống lưng gã lại thẳng tắp. Gã đã chính thức thoát khỏi bóng ma của người anh trai đã khuất, thoát khỏi sự đe dọa của cõi âm bằng cách dũng cảm đứng ra đối diện với pháp luật và lương tâm của người sống.

Loan bước tới cạnh Phúc. Cô gái nhỏ không nhìn bà Thoa hay bà Lan thêm một lần nào nữa. Cô ôm chặt bọc di vật của chị gái vào lòng, ngẩng cao đầu bước qua bậc cửa tam cấp, tiến thẳng ra ngoài hiên nhà rực rỡ ánh nắng.

Nắng sớm mùa thu rọi thẳng lên gương mặt thanh tú lấm lem bùn đất của Loan, sưởi ấm đôi gò má gầy guộc. Chị cô—Lê Thị Hạnh—không phải là một hồn ma độc ác muốn cướp xác đoạt hồn em gái mình. Đêm qua, chị đã tự tay xé nát dải khăn cưới đỏ thắm ném xuống bùn lầy, đã dùng linh thể thanh khiết của mình lập nên một kết giới ánh sáng bạc chắn ngang khung cửa sổ phòng học số một để bảo vệ những người sống sót cho đến phút bình minh ló rạng. Chị đã chết như một nạn nhân đau thương của thiên tai mười hai năm trước, nhưng chị đã siêu thoát như một con người tử tế, kiên cường và bao dung nhất.

Nắm chặt bản trích lục khai tử đã nhăn nhúm trong bàn tay nhỏ bé, Loan khẽ mỉm cười qua làn nước mắt đang lăn dài. Chị cô đã thực sự được giải thoát, tự do và thanh thản bay về phía biển cả bao la, không còn bị giam cầm nơi đáy bùn lạnh lẽo của con sông oan nghiệt nữa.

***

Mười giờ trưa.

Trạm y tế xã Đồng Mới nồng nặc mùi cồn đỏ Povidine, mùi gạc bông y tế và dung dịch thuốc sát trùng thanh lọc không khí. Căn phòng điều trị nhỏ nằm tách biệt ở cuối dãy hành lang quét vôi vàng đã tróc lở từng mảng, nhìn thẳng ra một khoảnh vườn nhỏ trồng đầy những luống ngải cứu xanh um và những bụi hoa sim tím đang nở rộ dưới nắng gắt.

Sau khi được bác sĩ trạm xá cùng hai cô y tá cẩn thận nắn chỉnh lại các khớp xương, vệ sinh sạch sẽ những vết rách ngoài da và cố định cẳng chân trái bằng một lớp bột thạch cao trắng tinh, Vy được chuyển ra nằm nghỉ trên chiếc giường bệnh kê sát bên cửa sổ. Cơn sốt li bì do hàn khí và tử khí xâm lấn suốt đêm qua đã hạ hẳn sau khi vết thương được làm sạch và nửa chai nước biển được truyền thẳng vào tĩnh mạch. Cô ngồi dựa lưng vào bức tường quét vôi vàng, mái tóc dài bết dính bùn đất đã được lau khô và chải gọn gàng sang một bên vai. Trên người cô là chiếc áo bệnh nhân bằng vải thô rộng thùng thình, gương mặt vẫn còn nhợt nhạt nhưng đôi mắt đã lấy lại được vẻ trong trẻo, sắc sảo và kiên định thường ngày.

An ngồi trên chiếc ghế đẩu gỗ thấp bên cạnh mép giường bệnh. Chiếc áo khoác dính tro than đêm qua đã được anh cởi bỏ, chỉ còn lại chiếc áo thun cộc tay để lộ những vết trầy xước chằng chịt trên bắp tay. Anh đang cẩn thận cầm một chiếc nhíp y tế bằng inox, tỉ mẩn gắp từng mẩu dằm gỗ nhỏ xíu và những hạt cát mịn còn sót lại trên mu bàn tay phải của Vy, rồi nhẹ nhàng chấm từng giọt cồn vàng lên làn da trầy trụa của cô.

Cứ mỗi lần đầu tăm bông mềm mại chạm vào miệng vết thương hở, khóe mi Vy lại khẽ giật giật vì xót, nhưng cô không hề rụt tay lại. Cô chỉ im lặng ngắm nhìn từng cử chỉ vụng về nhưng đầy cẩn trọng của người đàn ông trước mặt.

"Đau lắm không?" An khẽ hỏi mà không ngẩng đầu lên, giọng anh trầm xuống, ấm áp và dịu dàng, hoàn toàn khác hẳn với vẻ lạnh lùng, đanh thép lúc anh đứng đối chất giữa phòng khách nhà bà Thoa ban sáng.

"Đau chứ," Vy mỉm cười, một nụ cười nhẹ nhõm, thanh thản hiếm hoi sau chuỗi ngày nghẹt thở vừa qua. Cô nhìn An, nhìn đôi bàn tay thô ráp của anh đang khẽ run run khi băng lại vết thương cho mình. "Nhưng mà đau thế này mới tốt. Cơn đau này nhắc cho em nhớ rằng mình thực sự còn sống, rằng chúng ta đã thoát ra ngoài rồi."

Cô dừng lại một chút, khẽ nghiêng đầu nhìn anh:

"Anh nói chuyện với mẹ xong xuôi hết rồi à?"

"Xong rồi," An khẽ thở dài một hơi, đặt chiếc nhíp y tế xuống chiếc khay men trắng trên bàn đầu giường. "Mẹ anh về nhà rồi. Bác trưởng thôn và mấy thanh niên trong xóm đang đem bàn chải sắt với nước vôi ra khu đài tưởng niệm trên đồi để cạo sạch lớp rêu phong. Tên của anh Minh, chị Hạnh, anh Quân và những người khác sẽ được khắc lại rõ ràng trên bia đá mới. Bác ấy bảo tuần tới xã sẽ đứng ra tổ chức một lễ cầu siêu đàng hoàng, trang trọng theo đúng nghi thức truyền thống cho toàn bộ các nạn nhân trong đêm lũ năm Thìn. Không có giao ước máu, không có đổi mạng, không có bất kỳ thứ bùa chú giấu giếm nào nữa cả."

Vy im lặng một thoáng. Đôi mắt cô hướng ra ngoài khung cửa sổ, nơi rặng phi lao xanh rì đang rì rào đung đưa trong những làn gió trưa oi ả.

"Còn chúng ta thì sao?" Vy khẽ hỏi, thanh âm nhẹ bẫng nhưng xoáy sâu vào không gian tĩnh lặng giữa hai người. "Sau tất cả những chuyện kinh hoàng này... sau khi anh liều mạng cõng em vượt qua cánh đồng ma, sau khi em gãy chân vì lao vào đỡ đòn then lim thay cho anh... bây giờ, chúng ta là gì của nhau?"

An dừng hẳn động tác quấn băng gạc. Anh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Vy.

Anh hiểu rất rõ sức nặng đằng sau câu hỏi ấy. Suốt một đêm dài vừa qua, ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết đã kéo hai con người họ lại gần nhau đến mức tưởng chừng như không một thứ gì trên đời có thể chia lìa được nữa. Nhưng An biết, họ không thể và tuyệt đối không bao giờ được phép bắt đầu lại một mối quan hệ tình cảm từ đống tro tàn của mặc cảm tội lỗi hay món nợ ân nghĩa sinh tử. Anh đã mất trọn vẹn mười hai năm tuổi trẻ sống như một cái bóng trong món nợ máu giả dối mà gia đình áp đặt lên vai mình, và anh hiểu sâu sắc rằng món nợ ân tình là thứ xiềng xích tàn độc nhất có thể bóp nghẹt mọi tình cảm chân thật. Anh không bao giờ muốn biến mối quan hệ giữa mình và Vy thành một bản sao méo mó của món nợ hy sinh ấy.

"Vy này," An nắm nhẹ lấy những đầu ngón tay không bị thương của cô, giọng anh chậm rãi, trầm tĩnh và chân thành từ tận đáy lòng, "việc em lao ra đỡ đòn then lim đó cho anh, anh biết ơn em suốt cả cuộc đời này. Việc anh cõng em ra khỏi Vĩnh Trầm, đó là vì anh không thể và không bao giờ bỏ rơi em lại nơi bóng tối đó. Nhưng anh không muốn chúng ta quay lại với nhau chỉ vì hai đứa vừa cùng nhau trải qua một cơn ác mộng và sống sót."

Anh nhìn sâu vào mắt cô, bộc bạch từng suy nghĩ trăn trở nhất:

"Anh không muốn em ở bên cạnh anh vì cảm giác thương hại cho quá khứ tăm tối của anh, và anh cũng không muốn yêu em như một nghĩa vụ, một cách để trả nợ cho việc em đã vì anh mà gãy một bên chân. Tình cảm không thể xây dựng trên sự đền ơn đáp nghĩa. Anh đã sống trong sự trả nợ suốt mười hai năm rồi, anh không muốn em phải bước vào cái vòng lặp luẩn quẩn ấy một lần nào nữa."

Nghe những lời chân thành ấy, khóe môi Vy khẽ cong lên thành một nụ cười rạng rỡ. Một tia sáng ấm áp, dịu dàng bừng lên trong đáy mắt cô gái trẻ. Đó chính là câu trả lời mà cô mong đợi nhất từ An—người đàn ông mà cô đã không nhìn lầm, một người biết tôn trọng phẩm giá, ranh giới đạo đức và sự tự do tuyệt đối của cả hai người.

"Em hiểu," Vy đưa bàn tay lành lặn còn lại ra, nhẹ nhàng áp lên mu bàn tay thô ráp dính đầy vết trầy xước của anh, khẽ siết lại. "Chúng ta sẽ cùng nhau về thành phố. Em sẽ vào viện lớn để chụp chiếu và bó bột lại cho thật cẩn thận. Anh sẽ quay trở lại với công việc thiết kế, với những bản vẽ của anh. Chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu... như hai người bạn bình thường nhất."

Cô nhìn anh, ánh mắt lấp lánh niềm tin:

"Sau này, khi vết thương của em lành lại, khi những ám ảnh trong lòng anh thực sự tan biến, nếu cả hai chúng ta vẫn còn muốn bước tiếp cùng nhau, bằng một tình cảm tự nguyện, thuần khiết nhất mà không vướng bận bất kỳ món nợ sinh tử nào... lúc đó hẵng tính tiếp. Anh đồng ý không?"

"Đồng ý," An mỉm cười. Đó là nụ cười trọn vẹn đầu tiên của anh sau mười hai năm đằng đẵng. Một tảng đá nghìn cân vô hình đè nặng lên lồng ngực anh suốt hơn bốn nghìn ngày qua cuối cùng đã hoàn toàn tan biến thành mây khói.

Anh đứng dậy, bước từng bước khoan thai ra hàng hiên lộng gió của trạm xá xã.

Từ vị trí trên ngọn đồi cao này, phóng tầm mắt qua những mái nhà tôn fibro xi-măng của khu tái định cư Đồng Mới, An có thể nhìn thấy trọn vẹn thung lũng Vĩnh Trầm trải dài phía xa xa.

Dưới ánh nắng ban trưa chói chang, rực rỡ và gay gắt của miền Trung, thung lũng không còn màn sương xám đục ma quái bao phủ như một tấm vải liệm khổng lồ nữa. Mọi thứ hiện lên rõ ràng, chân thực đến từng chi tiết.

Ngôi đình cổ với những đầu đao gãy nát, mái ngói âm dương sụp đổ trơ trọi những thanh rui mè mục ruỗng giờ đây chỉ còn là một phế tích thiên tai bình thường, im lìm phơi mình dưới nắng như bao chứng tích lịch sử đổ nát khác trên dải đất này. Không còn bất kỳ đám cưới ma quái nào có thể mở ra được nữa. Không còn con gà trống tế nào có thể cất tiếng gáy chia cắt âm dương, và cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu chứa lời khấn máu cùng những dòng tên bị cầm tù đã vĩnh viễn hóa thành tro bụi bay biến vào hư không sau mồi lửa của Loan.

Dưới chân thung lũng, dòng sông Vĩnh Trầm lững lờ trôi xuôi.

Mặt nước sông lấp lánh muôn ngàn ánh bạc rực rỡ dưới ánh mặt trời ban trưa. Dòng nước đỏ quạch chở nặng phù sa màu mỡ từ thượng nguồn đổ về, hiền hòa bồi đắp phù sa cho những bãi ngô xanh mướt, những rặng sậy mềm mại đang đung đưa theo từng ngọn gió nam ven bờ. Con sông ấy đã thôi không còn gầm thét trong những cơn cuồng nộ vô cớ, thôi không còn nuốt chửng những số phận oan khiên vào lòng nước lạnh, mà nay đã thực sự tìm lại được sự thanh thản, trở về với sự yên nghỉ vĩnh hằng của lòng đất mẹ bao dung.

Đứng tựa lưng vào lan can trạm xá, nhìn lại khúc sông Vĩnh Trầm lần cuối cùng dưới ánh nắng chói chang, An hít một hơi thật sâu lồng ngực đầy ắp mùi cỏ cây và đất ấm. Anh biết rất rõ một điều: người chết cần được tưởng nhớ bằng sự thật, chứ không phải bằng sự đánh đổi mạng sống của người còn sống.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn