Đám Cưới Ở Làng Không NgườiC.11 / 20
Chương 11

Hai Cửa Đều Có Người Canh

Dải khăn trùm đầu màu đỏ của Hạnh rơi chạm nền gạch rêu buốt lạnh trong sự bàng hoàng câm lặng của cả sân đình, trước khi tiếng quát tháo phẫn nộ của ông Từ Lẫm xé toạc bầu không khí đặc quánh.

"Quân bay đâu! Khóa hết các ngả lại! Không một ai được rời khỏi chiếu tiệc!"

Tiếng gậy gỗ bịt đồng của Từ Lẫm nện chan chát xuống phiến đá xanh trước thềm tiền tế. Lực đập giáng xuống mạnh đến nỗi mũi đồng tóe ra những tia lửa cằn cỗi, chớp lên một thoáng le lói rồi lịm tắt giữa bóng đêm nhờ nhờ sương khói. Âm vang kim loại va vào đá dội ngược vào lòng mái đình cổ, đập vào từng vòm rui mè mục ải, đánh thức những mảng bồ hóng tích tụ hàng chục năm rụng lả tả xuống mặt bàn tiệc.

Đám tuần phiên với những gương mặt trương phềnh, da thịt màu chì bủng nước bắt đầu dậm chân huỳnh huỵch. Chúng chuyển động không bằng khớp xương linh hoạt của người sống mà bằng những bước giật cục, cứng đờ của những cái xác ngâm đáy sông lâu ngày mới bị dựng dậy bởi tà thuật. Đám ma đinh tỏa ra như một đàn linh cẩu khép chặt vòng vây quanh sân đình, tay lăm lăm những thanh then gỗ lim và sào tre bịt sắt nhọn hoắt. Mùi bùn non của lòng sông sâu, mùi nước tù đọng mười hai năm và mùi tử khí hôi tanh từ những chiếc áo the rách nát bốc lên nồng nặc. Thứ chướng khí quái đản ấy quánh đặc lại như một lớp váng dầu vô hình, chui qua từng kẽ răng, bịt kín hốc mũi, bóp nghẹt buồng phổi của những sinh linh còn mang hơi ấm.

Giữa sự hỗn loạn tột cùng ấy, Hạnh không hề lùi bước. Chiếc áo the xanh thẫm của cô ướt sũng nước sông, dính chặt vào da thịt lạnh lẽo. Gương mặt cô dẫu trắng bợt không chút huyết sắc của một kẻ đã vùi thây nơi đáy vực nước lũ, nhưng đôi mắt sâu hoắm lại rực sáng lên một quyết tâm sắt đá đến phi thường. Cô vươn bàn tay tái ngắt nắm lấy cổ tay Loan, dùng một lực dứt khoát đẩy mạnh em gái về phía lồng ngực An.

Loan run rẩy ngã dúi dụi, hai bàn tay buốt cóng bấu chặt lấy vạt áo khoác dính đầy bùn đất của An. Nước mắt cô gái nhỏ giàn giụa trên đôi gò má tái nhợt, cổ họng nghẹn ứ không thốt nên lời:

"Chị Hạnh... Chị ơi..."

"Đi ngay! Đừng nhìn lại!" Hạnh hạ thấp giọng. Thanh âm của cô không giống tiếng người trần, nó sắc lạnh và mỏng dính như mảnh sành cứa vào da thịt, nhưng từng chữ từng lời lại rành rẽ rót thẳng vào tai An và Vy giữa mớ âm thanh gào rú hỗn loạn.

Hạnh nép sát người vào bóng tối nhờ nhờ của cây cột đình lim lớn, nơi bóng tối che khuất nửa thân xác đẫm nước của cô. Ngón tay trỏ trắng bệch, móng tay thâm sì màu rêu đáy vực chỉ thẳng về phía vách hồi hoang phế bên chái tây:

"Lối cửa chính hậu cung đã bị lão Lẫm đích thân dùng máu chó mực pha bùn sông vẽ phù chú niêm phong, bùa son dán kín ba tầng then khóa, người sống chạm vào da thịt sẽ cháy rụi như chạm gang sôi, không tài nào xông vào được đâu! Nhưng phía sau bức bình phong chái tây, chỗ giàn hoa thiên lý chết khô mười hai năm trước, có một rãnh thoát nước cũ ăn ngầm dưới móng đình, thông thẳng vào cửa ngách gian chứa đồ tế lễ. Cánh cửa gỗ mun ấy khóa ngoài bằng ổ đồng, nhưng then cài bên trong chỉ gài một chốt ngang bằng gỗ lim, không dán bùa máu! Lách qua được gian đồ lễ là tiếp cận ngay lưng khám thờ!"

Phúc đứng nép sát sau lưng Vy, hai đầu gối run rẩy va vào nhau côm cốp, hàm răng gõ liên hồi. Gã run rẩy thò bàn tay ướt đẫm mồ hôi nhớp nháp vào túi quần, móc ra một chiếc chìa khóa bằng đồng đen xỉn màu, rãnh khóa bám đầy một lớp rêu nhớt tanh nồng. Gã nuốt nước bọt đánh ực, hơi thở đứt quãng phả ra mùi sợ hãi tột cùng:

"Chìa... chìa khóa đây! Hồi chiều lão Từ Lẫm đưa tôi đi dọn dẹp để lấy bộ lư hương đồng ra bao sái... tôi lén giữ lại chưa kịp trả! Nhưng còn... còn con gà thì sao? Con gà trống tế không nhốt chung với khám thờ đâu! Nó bị giam trong cái buồng chái đông, sát nách nhà kho chứa kiệu bát cống, cạnh vách đất nứt nẻ ấy! Thằng Bảy đang dẫn bốn thằng tuần phiên vác then gỗ lim đứng chôn chân ngay trước cửa buồng gà rồi! Làm sao mà động tới nó được?"

"Biết rồi, rút mau!" Vy nắm chặt lấy cánh tay An, giật mạnh một cái sắc lẹm để kéo anh ra khỏi cơn chấn động thị giác.

Tận dụng khoảnh khắc Từ Lẫm đang điên cuồng vung gậy điều động đám thây ma vãn hồi trật tự quanh bàn hương án nghi ngút khói đen, và gã Minh chú rể còn đang quỳ sụp dưới nền gạch trong nỗi bẽ bàng cay đắng khi chiếc khăn che mặt cô dâu rơi xuống, An kéo ghì lấy Loan. Vy thúc giục Phúc cùng ba người khách sống khác còn chưa bị chỉ định cặp hoán đổi tháo chạy thục mạng ra khỏi sân đình.

Đám khách sống kia gồm hai người đàn ông trung niên từng là dân chài làng cũ trước trận lũ lớn—Thắng và Đạt—cùng một thanh niên trẻ trạc tuổi An đi theo người quen đến ăn cỗ từ xế chiều. Cả ba kẻ ấy lúc này mắt đã dại đi, con ngươi co giật liên hồi, môi xám ngắt như người ngâm nước đá. Nỗi kinh hoàng tột độ khi tận mắt chứng kiến những người ngồi cùng mâm cỗ, gắp thịt, rót rượu cho mình nãy giờ thực chất đều là những xác chết trôi sông trương phềnh đã đánh sụp hoàn toàn lý trí của họ. Tiếng gào thét thất thanh, tiếng khóc nghẹn ngào vì hoảng loạn và tiếng bước chân bì bõm giẫm đạp lên cỏ ướt vang lên hỗn loạn trong màn đêm mù mịt, lẫn vào tiếng nước sông Vĩnh Trầm cuộn sóng ầm ào dưới chân dốc đá.

***

Chái nhà kho của ngôi trường tiểu học cũ nằm cô lập trên một gò đất cao, cách đình làng chừng hai trăm mét đường chim bay. Nơi đây từng là điểm sơ tán tạm bợ của dân làng Vĩnh Trầm trong đêm lũ kinh hoàng mười hai năm về trước. Những bức tường gạch quét vôi vàng qua hơn một thập kỷ ngâm bùn rồi phơi nắng đã bong tróc từng mảng lớn, để lộ ra những hàng gạch non đỏ quạch như những thớ thịt lở loét. Trên vách tường rêu mốc xám xịt, ngấn nước lũ màu nâu sẫm vẫn hằn ngang quá đầu người lớn—một vết sẹo địa tầng của quá khứ bi thảm, vĩnh viễn không thể tẩy xóa.

Cánh cửa kho bằng những thanh gỗ tạp ghép lại kêu lên một tiếng cót két nặng nề, rợn người rồi khép chặt lại sau khi cả nhóm ùa vào bên trong. Phúc vội vã nhặt một thanh xà gồ mục nát rơi vãi dưới sàn, run rẩy cài ngang qua then cửa. Toàn thân gã tựa hẳn vào cánh gỗ ọp ẹp, ngực phập phồng dữ dội, thở dốc như một kẻ vừa ngoi lên từ đáy của một cái giếng sâu không đáy.

Ánh trăng rằm tháng Bảy bị những dải mây xám xịt và màn sương mù bốc lên từ lòng sông che khuất, chỉ còn rọi xuống qua những lỗ thủng trên mái ngói võng mục như một đốm lân tinh úa tàn. Trong bóng tối ẩm thấp nồng nặc mùi mốc meo của giấy vở cũ, mùi rơm rạ mục nát và bùn khô, tiếng thở dồn dập của những kẻ còn sống sót quấn chặt lấy nhau, biến thành một thứ âm thanh đặc quánh sự sợ hãi.

Thắng—người đàn ông trung niên làm nghề chài lưới—ngã quỵ xuống nền đất nện ẩm ướt. Hai bàn tay gân guốc thô ráp ôm chặt lấy đầu, mười ngón tay cào cấu vào mớ tóc bù xù, giọng run rẩy đến méo mó:

"Ma... Toàn là ma rữa nát! Thằng cháu họ tôi... thằng Cường con ông chú hai... nó chết đuối trôi xác từ cái năm lũ cuốn sạch bến Cây Gạo rồi mà... Hồi chập tối nó còn ngồi bên cạnh, gắp miếng thịt gà vào bát tôi, cười bảo chú ăn đi cho ấm... Bàn tay nó lúc chạm vào cổ tay tôi lạnh ngắt như cục đá tủ lạnh... Trời cao đất dày ơi, chúng ta chết chắc rồi! Không có đường ra đâu! Ngoài kia sương mù dày như bức tường thành, gió thổi buốt tận xương tủy, chạy ngả nào sương cũng dạt ngược chân mình quay về cái sân đình chết tiệt ấy thôi!"

"Im miệng lại để người ta còn tính đường sống!" Vy gắt khẽ. Giọng cô đanh lại, ánh mắt sắc lẹm như một lưỡi dao quét qua gian kho tăm tối, chặn đứng cơn hoảng loạn đang có nguy cơ lây lan như dịch hạch.

Cô bước nhanh tới bên cạnh An, tự điều chỉnh lại nhịp thở đang dồn dập trong lồng ngực rồi nói dứt khoát:

"Chúng ta không thể ngồi thụ động chờ chết ở cái xó này được. Nhìn đồng hồ đi, đã hơn hai giờ hai mươi sáng rồi. Canh ba đang đến rất gần. Con gà trống tế kia... nó chính là mấu chốt kích hoạt từng giai đoạn của giao ước chết chóc này!"

Vy bước tới sát gần An, ghé đầu lại gần anh. Hơi thở ấm áp của người sống phả nhẹ vào gò má An, đối lập hoàn toàn với cái lạnh chết chóc đang rình rập ngoài khe cửa:

"Tiếng gáy thứ nhất lúc nửa đêm đã khóa chặt ranh giới toàn bộ ngôi làng và bắt đầu ghép cặp tên trong cuốn sổ. Theo những gì cô Duyên đã ghi lại trong tập bệnh án và nhật ký lũ lụt, tiếng gáy thứ hai vào canh ba sẽ xé toạc hoàn toàn rào cản tâm thức của chúng ta. Nó sẽ đổ toàn bộ ký ức ngạt nước, nỗi kinh hoàng của sự ngạt thở và sự giãy giụa tuyệt vọng của những cái xác chết trôi mười hai năm trước vào thẳng não bộ người sống! Nếu để tiếng gáy thứ hai cất lên, tinh thần của anh, của em, của Loan và Phúc sẽ bị bẻ gãy vụn. Não chúng ta sẽ ngỡ rằng chính mình đang chết chìm dưới bùn, tứ chi sẽ bại liệt, ý chí sinh tồn sẽ tan biến hoàn toàn. Lúc đó, chúng ta sẽ ngoan ngoãn buông xuôi cho chúng cướp xác mà không thể kháng cự! Em đề xuất: chúng ta phải đột nhập vào buồng chái đông ngay bây giờ, vặn gãy cổ con gà trống tế sống ấy! Giết con gà, nghi thức sẽ bị đứt đoạn, tiếng gáy thứ hai và thứ ba sẽ vĩnh viễn không thể cất lên!"

Phúc nghe Vy nói vậy thì hai mắt sáng bừng lên trong bóng tối lờ mờ, như kẻ sắp chết đuối vớ được chiếc cọc rào trôi sông. Gã gật đầu lia lịa, giọng nói run rẩy bỗng có thêm vài phần quả quyết:

"Đúng! Đúng đấy anh An! Chị Vy nói chí phải! Con gà thiến lông đỏ ấy là do chính tay tôi nhận mối từ ngoài khu tái định cư Đồng Mới mang vào nộp cho lão Từ Lẫm hồi chiều! Nó chỉ là một con gà thịt bình thường, bằng xương bằng thịt, không phải ma quỷ gì biến ra cả! Cứ lẻn vào bẻ cổ nó vứt xác xuống rãnh nước, nghi lễ mất con gà tế sống thì cụ Từ Lẫm lấy cái gì mà điểm canh ba? Mất điểm canh, chúng ta sẽ kéo dài được thời gian, cầm cự cho đến khi mặt trời mọc!"

Người thanh niên đi cùng và Thắng cũng nhao nhao đồng tình. Ánh mắt họ lộ rõ sự cuống cuồng muốn bám víu lấy một giải pháp nghe có vẻ trực diện và dễ thực hiện nhất. Họ không muốn đối mặt với những bí thuật ma quái trong đình; họ chỉ muốn bóp chết một sinh vật trần tục để tự cứu lấy mạng mình.

Thế nhưng, An đứng sững giữa căn phòng kho hoang tàn, đôi mày nhíu chặt lại thành một vệt sâu hoắm. Dưới ánh trăng lờ mờ rọi qua mái ngói thủng, gương mặt anh đanh lại, đôi mắt sâu thẳm phản chiếu một vẻ lạnh lùng và tỉnh táo đến rợn người. Anh siết chặt tập tài liệu điểm danh của cô Duyên trong tay—những trang giấy đã ngả màu vàng ố vì thời gian nhưng chứa đựng toàn bộ sự thật nghiệt ngã của ngôi làng này.

An lắc đầu một cách chậm rãi nhưng kiên quyết:

"Không được. Giết con gà không giải quyết được tận gốc rễ của tai ương này."

"Tại sao lại không?" Vy nhíu mày, bước dồn một bước về phía anh, giọng đầy vẻ sốt ruột. "Đó là cách nhanh nhất và duy nhất lúc này để chặn đứng tiếng gáy thứ hai! Anh có biết một khi ký ức chết đuối tràn vào đầu, chúng ta sẽ biến thành cái gì không? Chúng ta sẽ tự cào rách họng mình vì ảo giác ngạt bùn đấy!"

"Vì con gà chỉ là cái đồng hồ báo giờ của cõi âm, nó không phải là bản giao ước!" An nhìn thẳng vào mắt Vy, giọng anh trầm xuống, từng chữ nện vào không gian tĩnh mịch nặng tựa ngàn cân. "Hãy nhớ lại những gì cô Duyên đã đánh cược tính mạng để lại cho chúng ta. Bản giao ước máu giữ chân hàng trăm linh hồn chết trôi và trói buộc thân xác của những người bước chân vào làng nằm ở cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu đang khóa chặt trong khám thờ hậu cung! Con gà trống chỉ là vật dẫn giờ khắc, là tiếng chuông điểm nhịp cho các linh hồn chuẩn bị thế mạng. Nếu chúng ta mạo hiểm đột nhập chái đông giết con gà trống, tiếng gáy có thể bị dập tắt, nhưng sợi dây liên kết bằng máu nối tên chúng ta với Minh, với Bảy, với Quân trong cuốn sổ kia có biến mất không? Hoàn toàn không!"

An hít một hơi sâu, không khí ẩm mốc tràn vào phổi buốt rát:

"Ranh giới phong tỏa quanh làng có tan biến không? Không hề! Màn sương mù quái đản kia vẫn sẽ giam cầm chúng ta trong cái thung lũng chết này cho đến tận sáng mai. Và khi bình minh ló rạng, Từ Lẫm hoàn toàn có thể cắt tiết một con vật khác, hoặc dùng chính máu của một người trong chúng ta để nhỏ vào cuốn sổ hộ tịch, hoàn tất việc cướp xác! Giết gà chỉ là cắt ngọn tỉa cành, cái rễ độc của cây đại thụ chết chóc vẫn còn nguyên dưới lòng đất. Chỉ có một con đường duy nhất để chúng ta sống sót rời khỏi Vĩnh Trầm: đột nhập vào tận hậu cung, phá tung khám thờ và thiêu hủy hoàn toàn cuốn sổ hộ gốc chứa lời khấn máu mười hai năm trước!"

Không gian trong căn phòng kho hoang phế bỗng chốc rơi vào một sự im lặng tuyệt đối, ngột ngạt đến nghẹt thở. Lời phân tích sắc bén, lạnh lùng của An như một gáo nước buốt tạt thẳng vào mặt mọi người, dập tắt ngấm ảo tưởng về một lối thoát dễ dàng.

Vy nhìn trân trân vào gương mặt kiên định của An. Lồng ngực cô phập phồng sau lớp áo khoác mỏng. Là một người luôn suy nghĩ dựa trên tính thực tế và sự sinh tồn, cô nhanh chóng nhận ra sự logic tàn nhẫn trong lời cảnh báo của anh. Cô thở dài một hơi dài, buông thõng hai cánh tay đang gồng cứng, khẽ gật đầu:

"Anh nói đúng... Cuốn sổ da trâu mới là ngọn nguồn của pháp trận. Nhưng anh có nghĩ đến việc làm thế nào để tiêu hủy nó không? Anh có nhớ cuốn sổ đó được làm bằng gì không?"

Vy tiến lại gần một chiếc bàn học mục nát, gõ nhẹ ngón tay xuống mặt gỗ sũng nước:

"Nó được làm bằng giấy bổi thủ công cổ truyền dày cộp, bìa bọc da trâu thuộc thảo mộc. Đã vậy, nó còn bị tẩm máu tươi của hàng trăm gia đình từ đêm lũ mười hai năm trước và bị ngâm trong bầu không khí ẩm ướt, nhớp nháp của vùng thung lũng sông nước này suốt hơn một thập kỷ! Giấy bổi ẩm tẩm máu và dầu mỡ động vật cực kỳ dai và trơ lì với lửa! Nếu chúng ta chỉ dùng một que diêm hay cái bật lửa ga cỏn con mang theo người để châm vào mép sổ, nó sẽ chỉ bốc lên một làn khói khét lẹt, âm ỉ cháy xém từng tí một chứ không tài nào bùng cháy rụi thành tro ngay lập tức được! Mà chỉ cần khói bốc lên một cái, lão Lẫm và đám tuần đinh thây ma sẽ ập vào hậu cung dập tắt ngọn lửa ngay. Khi ấy, chúng ta sẽ chết rục xương bên trong cánh cửa sắt!"

"Chúng ta cần mồi lửa cực mạnh," An đáp, ánh mắt anh lóe lên tia sáng kiên quyết khi đảo quanh những góc tối tăm, ẩm thấp của gian nhà kho. "Phải có chất dẫn cháy và bùi nhùi khô ráo. Phải tạo ra một ngọn lửa bùng phát dữ dội trong chớp mắt, nhiệt lượng đủ lớn để thiêu rụi cả lớp da trâu lẫn từng trang giấy bổi trước khi bất kỳ kẻ nào kịp xông vào can thiệp."

"Dầu hỏa!" Phúc bỗng thốt lên, thanh âm của gã giật nảy lên vì một tia hy vọng vừa lóe sáng trong ký ức. Gã vỗ mạnh vào trán mình, mắt mở to: "Trường học cũ này hồi xưa làm gì có điện lưới kéo về tận nơi! Toàn bộ các lớp học ở đây hồi mười hai năm trước đều phải trang bị đèn bão dầu hỏa treo lủng lẳng trên xà nhà để phòng khi bão lũ ập đến bất ngờ làm mất điện! Trong cái góc kho kia... tôi nhớ hồi còn đi học, cô Duyên thường cất mấy can dầu hỏa dự trữ để thắp đèn cho các em học sinh ở lại trú bão qua đêm!"

Không chần chừ thêm một giây nào, An vỗ mạnh vào vai Phúc:

"Tìm ngay! Tất cả mọi người lùng sục khắp các góc của gian kho này và hai phòng học kế bên. Tìm tất cả những thứ gì có thể bắt lửa được: can dầu hỏa cũ, giẻ lau bảng, mùn cưa khô, giấy kiểm tra cũ trong hộc bàn. Nhanh lên, chúng ta đang chạy đua từng giây với canh ba!"

Lời ra lệnh của An như một luồng điện kích hoạt đám người đang chết lặng vì sợ hãi. Nỗi hoảng loạn vô phương hướng biến thành một cơn cuống cuồng làm việc. Họ xé toang bóng đêm ẩm mốc, chia nhau sục sạo vào từng ngóc ngách tăm tối nhất của dãy nhà cấp bốn xiêu vẹo.

Tiếng gỗ mục gãy răng rắc, tiếng giấy cũ sột soạt vang lên giữa bầu không khí ngột ngạt. Mùi bụi phấn mười hai năm trước hòa lẫn với mạng nhện và bùn khô bốc lên cay nồng nơi sống mũi, khiến người ta muốn hắt hơi nhưng phải cắn răng nín nhịn vì sợ kinh động đến đám tuần ma ngoài sân đình.

Loan tìm thấy một chiếc tủ gỗ ép đã mục nát một nửa ở góc lớp học kế bên. Cánh cửa tủ sụp xuống để lộ ra những xấp giấy kiểm tra học sinh cũ kỹ, ố vàng loang lổ vết ẩm nhưng may mắn thay phần ruột bên trong vẫn còn khô ráo vì được bọc cẩn thận trong một lớp bao tải dứa dẻo. Cô ôm chầm lấy xấp giấy như ôm báu vật, run rẩy chạy mang lại cho Vy. Vy lập tức ngồi thụp xuống sàn, đôi bàn tay nhanh thoăn thoắt xé vụn từng trang giấy kẻ ô ly, vò nát chúng thành những nắm bùi nhùi xốp tơi xốp để tối đa hóa diện tích tiếp xúc với ngọn lửa.

Ở góc sâu nhất của gian kho, nơi đống bàn ghế học sinh gãy chân chất đống cao ngất như một bãi rác khổng lồ, Phúc và An dùng một thanh sắt gỉ cạy tung những thanh gỗ ngáng đường. Dưới lớp rơm mục nát, bụi bặm và mạng nhện giăng dày đặc như lớp lưới bắt cá, Phúc bỗng reo lên khe khẽ trong sự nghẹn ngào. Gã lôi ra từ hốc tường ẩm ướt một chiếc can nhựa màu trắng đục loại năm lít đã cáu bẩn đen sì.

Phúc dùng hết sức vặn chiếc nắp nhựa đã giòn rụm, ghé mũi ngửi sâu vào miệng can rồi ngẩng đầu lên, hai mắt rực sáng:

"Dầu hỏa! Vẫn còn khoảng hơn một lít dầu hỏa cũ bên trong! Hơi lẫn cặn bùn và nước đọng ở đáy nhưng mùi dầu vẫn bốc lên nồng nặc!"

Cùng lúc đó, người thanh niên đi cùng cũng tìm thấy nửa tá giẻ lau bảng bằng vải thô dày dặn nằm lăn lóc dưới đáy một hộc bàn giáo viên phủ đầy bụi rác. Dù lớp vải bên ngoài bám bụi xám ngoét, nhưng sợi vải bên trong vẫn khô cong và hút ẩm rất tốt.

An nhận lấy chiếc can nhựa từ tay Phúc. Bằng những động tác cẩn trọng nhưng dứt khoát, anh nghiêng can, rót thứ chất lỏng màu vàng nhạt đùng đục tẩm đẫm vào từng cuộn giẻ lau bảng. Mùi dầu hỏa nồng gắt, cay xè lập tức bốc lên ngùn ngụt, lấn át hoàn toàn mùi tử khí và bùn non tanh tưởi đang lẩn khuất quanh gò đất. An cẩn thận nhét những cuộn giẻ tẩm đẫm dầu cùng những nắm giấy vụn đã được vò xốp của Vy vào chung trong một chiếc túi bạt rách có quai đeo chắc chắn.

Họ đã chuẩn bị xong một khối bùi nhùi dẫn hỏa hoàn hảo—một khối chất cháy có khả năng bùng lên thành một quả cầu lửa ngùn ngụt chỉ trong một cái chớp mắt, thừa sức thiêu rụi cuốn sổ da trâu ẩm ướt kia thành một đống tro tàn đen đúa trước khi bất kỳ bàn tay ma quỷ nào kịp thò vào dập tắt.

Thế nhưng, ngay giữa lúc An đang siết chặt nút thắt của quai túi bạt và Vy rút chiếc bật lửa ga trong túi áo ra kiểm tra tia lửa, một biến cố chí mạng ngoài tầm kiểm soát đã giáng xuống.

Đạt—người đàn ông trung niên còn lại trong nhóm khách sống, kẻ từ lúc bước vào kho đến giờ luôn ngồi co ro ở góc cửa sổ vỡ kính với đôi mắt đờ đẫn, thất thần—đột nhiên phát cuồng.

Trong suốt quãng thời gian ẩn nấp, ánh mắt của gã không hề rời khỏi khoảng sân tiền tế của ngôi đình làng phía xa xa. Qua rặng chuối xơ xác bị gió đêm dập vùi, gã nhìn thấy ánh lửa bập bùng, đỏ quạch hắt ra từ chiếc lò đốt vàng mã bằng gạch nung sừng sững bên góc sân tiền tế. Trong bộ óc đã bị nỗi khiếp đảm tột cùng bóp méo và thiêu rụi toàn bộ khả năng tư duy logic, Đạt không thể tiếp thu nổi những toan tính phức tạp về khám thờ, về hậu cung hay cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu mà An và Vy vừa bàn bạc.

Thứ duy nhất còn in hằn sâu sắc trong tâm trí của một kẻ đang cận kề bờ vực điên loạn là hình ảnh cuốn sổ đón khách bìa bọc gấm điều đỏ rực nằm chình ình trên chiếc bàn gỗ hương ngoài tiền tế—nơi mà chính tay gã, cùng với Thắng, với An và Vy, đã run rẩy ký tên điểm chỉ khi bước chân qua cổng đình lúc chập tối.

"Đốt sổ... Đúng rồi, đốt cuốn sổ đón khách ngoài kia là xong hết! Đốt nó đi là tao được về nhà! Vợ tao, con tao đang đợi ở Đồng Mới... Chúng nó nấu cơm đợi tao về mà!" Đạt lảm nhảm điên cuồng, khóe miệng sùi ra những bọt mép trắng xóa, hai tròng mắt trợn ngược lên đỏ ngầu những tia máu.

"Đạt! Đứng lại! Không phải cuốn sổ đó đâu! Đừng có manh động!" An giật mình quát lớn, toan lao bổ tới chộp lấy vai áo gã.

Nhưng nỗi sợ hãi tột cùng khi bị dồn vào chân tường đã biến một gã đàn ông trung niên gầy gò, ốm yếu thành một con thú hoang mang sức mạnh cuồng bạo phi nhân tính. Đạt vung mạnh hai tay gạt phăng thanh xà gồ cài then cửa, xô mạnh Phúc ngã dúi dụi vào đống bàn ghế gãy nát rồi lao vút qua khung cửa kho, biến mất vào màn đêm mịt mùng như một bóng ma bị săn đuổi.

"Chết tiệt! Cản nó lại mau!" Vy hét lên thất thanh. Cô cùng An không một giây chần chừ lao vụt qua ngưỡng cửa đuổi theo.

Thế nhưng Đạt chạy quá nhanh. Cơn điên loạn đã truyền một nguồn sinh lực đen tối vào đôi chân trần của gã. Gã không thèm nhìn đường, đạp nát những bụi gai tầm xuân sắc nhọn, băng qua rãnh nước ngập bùn thụt sâu đến bắp chân, xé toang những tàu chuối rách tơi tả, lao thẳng một mạch về phía ánh đuốc đỏ quạch của sân đình như con thiêu thân lao vào ngọn lửa hủy diệt.

Lúc này, khoảng sân tiền tế của đình làng Vĩnh Trầm vẫn đang chìm trong bầu không khí ngột ngạt, quái dị đến rùng mình của bữa tiệc cưới cõi âm. Ông Từ Lẫm đang đứng quay lưng lại bàn hương án, chắp hai tay sau chiếc áo the rách nát, lạnh lùng chỉ đạo đám tuần đinh khiêng những mâm cỗ ôi thiu đổ vào những chiếc hố sâu hoắm bên hông đình. Trong khi đó, hàng trăm bóng ma dân làng ngồi bất động quanh các dãy bàn gỗ mục nát như những pho tượng sáp mọc rêu, đôi mắt vô hồn của họ nhìn chăm chú vào khoảng không vô định.

Cuốn sổ đón khách bìa bọc gấm điều đỏ thắm vẫn nằm nguyên vẹn trên chiếc bàn gỗ hương kê sát bậc tam cấp dẫn lên tiền tế. Bên cạnh cuốn sổ là một nghiên mực tàu đen nhánh đã đông đặc lại như máu khô và một ngọn nến sáp ong leo lét tỏa ra làn khói màu xanh nhờ nhờ.

Cách chiếc bàn gỗ chỉ chừng bốn bước chân là chiếc lò hóa vàng mã bằng gạch nung hình lục giác. Nơi đó, ngọn lửa đỏ quạch từ những xấp tiền âm phủ, vàng thỏi bằng giấy bản và những hình nhân thế mạng vẫn đang bốc cháy ngùn ngụt, phát ra những tiếng nổ tanh tách ghê rợn, cuốn theo từng tảng tro tàn bay lơ lửng giữa màn sương đêm.

Đạt lao thẳng lên thềm đá tam cấp của tiền tế như một cơn lốc điên cuồng.

Đám tuần phiên đứng gác quanh thềm đá hoàn toàn chết sững, không kịp phản ứng trước một hành động bộc phát liều lĩnh và phi lý đến mức độ ấy của một kẻ người trần. Đạt lao bổ vào chiếc bàn hương án bằng gỗ quý. Cánh tay gầy guộc của gã quét mạnh một đường, gạt phăng chiếc bát hương bằng đồng cổ rơi loảng xoảng xuống thềm đá, tro tàn và chân nhang văng tung tóe khắp nền gạch. Gã chộp lấy cuốn sổ đón khách bìa gấm điều đỏ rực bằng cả hai bàn tay run lẩy bẩy.

"Tao đốt mày! Tao đốt chết cụ lũ ma quỷ tụi mày!" Đạt gào lên the thé. Tiếng thét méo mó, lạc giọng của gã xé toạc sự tĩnh mịch tang tóc của ngôi đình, dội ngược vào vách đá phía sau lưng làng: "Chúng mày không giữ được tao đâu! Tao không chết thay cho đứa nào hết!"

Không một giây do dự, không một thoáng chần chừ, gã vung mạnh hai cánh tay, ném thẳng cuốn sổ đón khách bìa gấm điều vào chính giữa lòng chiếc lò hóa vàng mã đang rực lửa!

"Dừng lại! Không được ném!" Tiếng An thét lên tuyệt vọng từ phía rặng chuối ven hồ xé toạc màn sương, nhưng bàn tay gã đàn ông điên loạn đã buông ra.

Cuốn sổ rơi chuẩn xác vào đống than hồng đang cuồn cuộn cháy rực trong lòng lò gạch. Ngọn lửa đói khát lập tức chồm lên, liếm trọn lấy lớp bìa gấm điều đỏ thắm. Tiếng xèo xèo tanh tách rợn người rộ lên như tiếng mỡ người bị rán trên chảo nóng. Lớp vải gấm bén lửa nhanh như chớp, phát ra mùi khét lẹt của sợi tơ tằm cháy rụi hòa lẫn mùi lưu huỳnh nồng nặc. Giấy bản bên trong quăn queo lại, từng trang, từng trang một bùng cháy dữ dội.

Từng dòng chữ ghi danh sách những người khách bước vào dự tiệc, từng nét mực tàu tươi rói mang tên của An, của Vy, Loan, Phúc, Đạt, Thắng và những người vô tội khác nhanh chóng bị ngọn lửa nuốt chửng, biến thành những mảng than hồng đỏ rực, cong queo rồi vỡ vụn thành những mảnh tro tàn đen ngòm bay lả tả theo làn khói đen kịt bốc thẳng lên trời đêm.

Chỉ trong chưa đầy mười lăm giây ngắn ngủi, cuốn sổ đón khách bìa gấm điều linh thiêng nơi tiền tế đã cháy rụi hoàn toàn, không còn sót lại dù chỉ là một mẩu giấy vụn bằng đầu ngón tay.

Đạt đứng thở hồng hộc trước cửa lò gạch hắt ra hơi nóng hầm hập. Hai mắt gã trừng trừng nhìn vào đống tro tàn, ngực phập phồng như cái ống bễ lò rèn. Khóe môi nứt nẻ, dính đầy bùn đất của gã từ từ nhếch lên thành một nụ cười điên dại, méo mó đến ghê người:

"Cháy rồi... Cháy sạch rồi! Hết rồi! Tên tao biến mất rồi! Tao tự do rồi! Ha ha ha... Tao về đây! Lũ chúng mày ở lại mà chìm dưới sông một mình!"

Gã quay ngoắt người lại. Không thèm liếc nhìn đám tuần đinh ma quái và hàng trăm cặp mắt trắng dã của người chết đang chằm chằm nhìn mình từ các dãy bàn tiệc, Đạt cắm đầu cắm cổ phóng thục mạng về phía cổng làng Vĩnh Trầm. Gã lao như bay qua khoảng sân gạch rêu trơn tuột, lướt qua hai gốc bàng cổ thụ cành lá khẳng khiu như những bộ xương khô khổng lồ, hướng thẳng tới ranh giới mỏm đá tự nhiên—nơi con đường mòn duy nhất dẫn ngược về thế giới của người sống, dẫn về khu tái định cư Đồng Mới.

Nấp sâu sau bức tường hoa đổ nát ở góc mép sân đình, An, Vy, Phúc và Loan nín thở, trố mắt nhìn theo bóng lưng đang lao điên cuồng của Đạt. Thắng và người thanh niên sống sót nấp phía sau cũng run rẩy dõi mắt theo từng bước chân của gã, trong lồng ngực họ bỗng le lói một tia hy vọng mong manh đến nghẹt thở: *Liệu có phải... giao ước đã thực sự bị phá vỡ rồi không? Liệu một hành động điên rồ có thể vô tình cứu rỗi tất cả bọn họ?*

Thế nhưng, sự thật tàn khốc của cõi âm đã giáng xuống một đòn nghiệt ngã, dập tắt ngấm tia hy vọng le lói ấy ngay tức khắc.

Khi Đạt chỉ còn cách hai trụ cổng làng quét vôi trắng nứt nẻ chừng năm bước chân ngắn ngủi, màn sương mù xám đục quanh cổng làng bỗng nhiên cuộn trào dữ dội như một bức tường nước khổng lồ dựng đứng giữa không trung. Không khí trước mặt gã uốn éo, vặn vẹo một cách quái đản, dồn nén lại thành một khối áp lực hữu hình đặc quánh như chì lỏng.

*RẦM!*

Một tiếng va chạm khô khốc, nặng nề vang lên giữa khoảng không vô hình, tựa như một cơ thể sống bằng xương bằng thịt vừa đâm sầm hết tốc lực vào một tấm kính cường lực dày hàng tấc hoặc một bức tường đá tảng vô hình.

Toàn bộ thân hình của Đạt bị dội ngược trở lại với một lực phản hồi kinh hoàng. Cả người gã văng bổng lên không trung gần hai mét rồi rơi dập mặt xuống nền gạch rêu buốt lạnh của sân đình. Tiếng xương khớp gãy răng rắc vang lên rõ mồn một giữa đêm thanh vắng. Máu tươi từ mũi, khóe miệng và hốc mắt gã ộc ra đỏ lòm, nhuộm ướt đẫm vạt áo và mặt gạch xám xịt. Gã co giật dữ dội, hai tay cào cấu trong tuyệt vọng xuống những thớ rêu trơn trượt, không thể thốt ra nổi một tiếng kêu cứu trọn vẹn ngoài những âm thanh ặc ặc nghẹn ứ nơi cổ họng.

Bức tường ranh giới ma quái phong tỏa làng Vĩnh Trầm không hề suy suyển dù chỉ một phần nghìn phân!

Sương mù quanh hai trụ cổng không những không tan biến mà trái lại, dường như bị kích động bởi sự xáo trộn của kẻ dám đào thoát, bắt đầu trườn bò vào sân sâu hơn, dày đặc và buốt giá hơn bao giờ hết. Từng dải sương cuộn tròn như những xúc tu vô hình nuốt chửng từng tấc đất quanh phế tích. Hai ngọn đèn lồng giấy treo trên hai trụ cổng bỗng lóe lên ánh sáng đỏ quạch như hai giọt máu tươi khổng lồ, hắt xuống bóng dáng đang quằn quại trong vũng máu của Đạt một thứ ánh sáng ma mị, rùng rợn.

Tiếng cười khùng khục, trầm đục và khô khốc như tiếng cọ xát của hai mảnh xương người chết bỗng chậm rãi vang lên từ phía bậc thềm tiền tế.

Ông Từ Lẫm ung dung bước tới mép thềm đá xanh. Lão chắp hai tay sau lưng, chiếc gậy gỗ bịt đồng kẹp bên sườn, đôi mắt đục ngầu không tròng đen khinh miệt nhìn xuống kẻ đang giãy giụa hấp hối dưới nền sân. Trên gương mặt bủng nước của lão hoàn toàn không có lấy một nét bối rối, tức giận hay hoảng hốt nào khi thấy cuốn sổ đón khách bị thiêu rụi thành tro.

Khóe miệng thâm tím, nhăn nheo của lão nhếch lên thành một nụ cười ghê rợn, để lộ những chiếc răng đen kịt bám đầy bùn:

"Đám người trần mắt thịt ngu xuẩn... Lũ bay tưởng một cuốn sổ đón khách tầm thường đặt nơi tiền tế là cái gông cùm trói buộc được linh hồn bay với cõi này sao? Cuốn sổ gấm điều ấy chỉ là cái danh thiếp trần gian để kiểm diện kẻ bước chân qua ngưỡng cửa đình, ghi nhận những kẻ hữu duyên đến dự tiệc mà thôi! Lời khấn máu của trăm họ làng Vĩnh Trầm từ mười hai năm trước đã được các cụ tiền nhân phong ấn trong cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu, cất sâu nơi thâm nghiêm của khám thờ hậu cung! Một khi giọt mực chu sa pha bùn đáy sông đã nối tên bay vào từng trang sổ ấy sau tiếng gà điểm canh một, thì dẫu bay có đốt sạch cả gian tiền tế này ra tro tàn, ranh giới âm dương vẫn đời đời khóa chặt!"

Từ Lẫm vung mạnh tay áo the rách nát, giọng lão quát lên the thé, lạnh lùng như một bản án tử hình không thể kháng cáo:

"Lôi nó vào chái đình! Đợi gà điểm canh ba, cho nó nếm mùi nước sông tràn vào buồng phổi đầu tiên để nó biết thế nào là nỗi đau của trăm họ chết chìm mười hai năm trước!"

Hai tên tuần phiên thây ma to lớn, vạm vỡ lập tức lặc lè bước tới. Bàn tay tím tái, móng tay bám đầy rong rêu của chúng thô bạo túm lấy hai mắt cá chân đầy máu của Đạt, kéo lê thân xác gã trên mặt gạch rêu buốt lạnh. Cơ thể Đạt để lại một vệt máu dài ngoằng, sẫm màu trên sân đình trước khi biến mất sau bóng tối dày đặc của dãy hành lang chái đình. Chỉ còn sót lại vài tiếng rên rỉ đứt quãng, yếu ớt lịm dần giữa màn sương đêm buốt giá.

Cảnh tượng kinh hoàng, tàn nhẫn diễn ra ngay trước mắt đã chứng minh một quy tắc sắt đá, nghiệt ngã đến rợn gáy: cuốn sổ đón khách bên ngoài tiền tế hoàn toàn vô hiệu, chỉ là một thứ vỏ bọc nghi lễ bên ngoài đối với bản chất huyền thuật của giao ước hoán đổi thân xác. Vật lưu giữ sức mạnh siêu nhiên thực sự, thứ neo giữ linh hồn và thể xác người sống vào số phận bị thế mạng dưới đáy sông sâu, chính là cuốn sổ hộ gốc bọc da trâu đang nằm bất khả xâm phạm trong khám thờ hậu cung.

Nấp sâu trong bóng tối của rặng chuối sau bức tường hoa đổ nát, An siết chặt quai túi bạt chứa đầy giẻ tẩm dầu hỏa trong tay. Các khớp ngón tay anh trắng bệch ra vì dùng lực kìm nén cơn giận dữ và nỗi kinh hoàng đang chực trào dâng. Anh cảm nhận được bàn tay của Vy đang khẽ run rẩy nhưng nắm chặt lấy cổ tay anh, truyền sang một luồng hơi ấm kiên định của sự sống.

"Anh đã đúng hoàn toàn," Vy thì thầm, giọng cô cực kỳ nhỏ, chỉ đủ để hai người nghe thấy nhưng từng âm tiết đều chắc nịch, dứt khoát. "Đốt sổ bên ngoài chỉ là tự sát trong vô vọng. Con đường sống duy nhất của chúng ta là cuốn sổ gốc trong khám thờ hậu cung."

"Nhưng em thấy rồi đấy," An quay sang nhìn Vy, ánh mắt sắc như dao cạo phản chiếu ánh lửa le lói từ chiếc lò hóa vàng mã phía xa. "Lão Lẫm không hề có một chút nao núng nào khi cuốn sổ đón khách bị đốt, nghĩa là lão cực kỳ tự tin vào sự phòng thủ bất khả xâm phạm của hậu cung và buồng gà tế. Thằng Bảy và đám tuần đinh thây ma đang chốt chặn nghiêm ngặt cả hai cửa ngách."

Vy đưa mắt nhìn về phía chái đông—nơi có ánh sáng vàng vọt leo lét hắt ra từ khe cửa buồng nhốt gà tế sống, rồi lại liếc mắt nhìn sang chái tây—nơi giàn hoa thiên lý chết khô che khuất rãnh thoát nước dẫn vào gian đồ tế lễ mà Hạnh vừa chỉ điểm. Trán cô lấm tấm những giọt mồ hôi lạnh, nhưng bộ óc sắc sảo, thực tế của cô đang vận hành với tốc độ tối đa để phân tích cục diện sinh tử.

"An, chúng ta không thể đánh một ván bài mù quáng được. Chúng ta phải chơi một nước cờ hai bước," Vy ghé sát tai An, hơi thở gấp gáp vạch ra kế hoạch tác chiến cuối cùng:

"Nếu chúng ta liều lĩnh xông thẳng vào hậu cung để đốt sổ gốc ngay bây giờ, thời gian chuẩn bị sẽ quá dài: phải lách qua rãnh nước bẩn chái tây, dùng chìa khóa của Phúc mở ổ khóa đồng ngoài, rồi phải dùng sức cạy bung then chốt gỗ lim bên trong gian đồ lễ, tiếp cận lưng khám thờ, rồi mới châm lửa cho giấy bổi bắt cháy. Toàn bộ quá trình đó sẽ ngốn của chúng ta ít nhất mười lăm đến hai mươi phút trong điều kiện lén lút! Trong khoảng thời gian ấy, nếu con gà trống cất tiếng gáy thứ hai điểm canh ba, toàn bộ chúng ta sẽ lập tức sụp đổ! Ký ức ngạt nước sẽ đổ ập vào đầu, biến chúng ta thành những kẻ co giật như cá mắc cạn. Tay anh sẽ không còn sức mà bật lửa, chân em sẽ mềm nhũn ra như xác chết trôi. Toàn bộ kế hoạch đốt sổ sẽ chết yểu ngay trước ngưỡng cửa khám thờ!"

An gật đầu thật chậm. Anh hiểu sâu sắc mối nguy hiểm tột cùng mà cô vừa chỉ ra:

"Cho nên, bước một: chúng ta vẫn phải thử đột nhập vào buồng chái đông để xử lý con gà tế trước!"

"Chính xác!" Vy quả quyết, ánh mắt lóe lên sự tính toán lạnh lùng. "Xử lý con gà tế sống là để mua thời gian, để chặt đứt ngòi nổ của tiếng gáy thứ hai! Phúc biết rõ cấu trúc buồng nhốt gà vì chính tay gã mang nó vào từ Đồng Mới. Chúng ta sẽ dùng kế điệu hổ ly sơn: cho một người tạo tiếng động giả dụ thằng Bảy và đám tuần đinh rời khỏi cửa buồng chái đông chừng vài mét, sau đó một người lách thật nhanh vào trong bẻ cổ con gà! Nếu bước một thành công, mối nguy ký ức ngạt nước điểm canh ba sẽ hoàn toàn bị triệt tiêu! Khi đó, con gà không thể gáy được nữa, chúng ta sẽ có thong thả thời gian từ giờ cho đến tận lúc bình minh để mở khóa gian đồ lễ, đột nhập hậu cung và thiêu rụi cuốn sổ da trâu một cách an toàn nhất!"

"Còn nếu bước một không thành?" An hỏi, nhìn thẳng vào mắt người con gái đã đồng hành cùng mình qua bao hiểm nguy sinh tử.

Vy cắn chặt môi dưới đến rướm máu, ánh mắt lóe lên một quyết tâm tàn nhẫn và dứt khoát:

"Nếu mũi đột kích buồng gà thất bại, nếu đám ma đinh quá đông và canh phòng cẩn mật đến mức không thể tiếp cận được con gà... chúng ta tuyệt đối không được phép dùng dằng hay rút lui! Bằng mọi giá phải lập tức dồn toàn bộ nhân lực, liều mạng mang theo khối bùi nhùi dầu hỏa này xông thẳng vào cửa ngách chái tây! Dùng chìa khóa của Phúc mở ổ ngoài, giật tung then chốt gỗ bên trong, xông thẳng vào hậu cung và châm lửa thiêu rụi toàn bộ khám thờ trước khi con gà kịp cất tiếng gáy thứ ba lúc bình minh ló rạng! Một sống, hai chết! Không còn đường lùi nào khác nữa đâu!"

An quay đầu nhìn lại phía sau. Loan đang cắn chặt môi kìm nén những tiếng nấc nghẹn ngào, bàn tay nhỏ bé nắm chặt lấy cánh tay áo anh như bám vào sợi dây cứu sinh duy nhất. Phúc đang run rẩy nép mình dưới bóng bức tường hoa, nhưng hai bàn tay gã đang siết chặt chiếc chìa khóa đồng đen xỉn màu bám rêu như thể đó là chiếc vé duy nhất đưa gã trở về cõi sống. Thắng và người thanh niên sống sót mắt mở to, nín thở chờ đợi từng mệnh lệnh.

An cúi xuống nhìn lại chiếc túi bạt rách trên tay mình. Mùi dầu hỏa nồng nặc bốc lên qua lớp vải thô, đắng ngắt nơi đầu lưỡi nhưng mang theo hơi ấm của ngọn lửa trần gian—thứ vũ khí duy nhất có thể đối chọi lại tà thuật ngàn năm của cõi âm.

Mọi ảo tưởng trốn chạy qua cổng làng đã tan thành tro bụi cùng cuốn sổ bìa gấm điều dưới đáy chiếc lò nung vàng mã. Trước mặt họ lúc này chỉ còn lại hai cánh cửa tử sinh: buồng gà tế ở chái đông và gian khám thờ hậu cung ở chái tây—hai cánh cửa đang được những thây ma khát máu canh giữ cẩn mật trong bóng đêm dày đặc.

Ngọn lửa trong lò đốt vàng mã ngoài sân tiền tế bỗng bùng lên một tia sáng đỏ quạch cuối cùng, liếm qua những tảng tro tàn bay lơ lửng, rồi lụi tàn hẳn thành một đống tro đen xám xịt, lạnh ngắt. Nhưng màn sương mù quanh cổng làng Vĩnh Trầm chỉ càng lúc càng dầy đặc thêm, buốt giá như muốn đóng băng từng giọt máu nóng hổi của những kẻ còn đang thở giữa ranh giới âm dương.

Chương này thế nào?Đánh giá giúp Readeep đề xuất đúng hơn cho bạn