Cuộc Gọi Đầu Hẻm Và Dịch Vụ Tìm Sách
Tiếng chuông điện thoại bàn reng rỉ rả từ quán nước đầu hẻm cắt ngang buổi trưa tĩnh mịch, kéo theo tiếng bà chủ quán với giọng the thé gọi Tuệ Anh ra nhận cuộc gọi đường dài.
“Cô Tuệ Anh ơi! Nghe máy mau lên, người ta gọi từ miệt dưới lên nè, tính cước theo phút đó đa!”
Tiếng la lanh lảnh của bà Năm bán cà phê cóc xé toang bầu không khí oi bức đặc quánh của góc đường Trần Nhân Tôn. Cái nắng tháng Năm như dội lửa xuống mặt đường nhựa bốc hơi nghi ngút, hắt lên những vách tường vôi bong tróc mùi ẩm mốc, mùi rêu phong tích tụ qua năm tháng và lớp bụi đường khô khốc. Trong tiệm Mộc, Tuệ Anh đang lúi húi dùng chiếc chổi lông gà cán tre đã rụng gần nửa số lông để phủi bụi trên mấy chồng sách giáo khoa cũ vừa được dời tạm ra gian trước. Nghe tiếng gọi giật giọng vang vọng qua mấy mái tôn rỉ sét, cô vội vàng buông chổi, quệt vội những giọt mồ hôi đang túa ra ròng ròng trên trán vào vạt áo sơ mi vải thô bạc màu, rồi vớ lấy cuốn sổ tay bìa cứng cùng chiếc bút bi Thiên Long dắt trên vành tai.
“Dạ, cháu qua liền đây dì Năm ơi!”
Tuệ Anh xỏ vội đôi dép nhựa Tiền Phong mòn vẹt đế, bước thoăn thoắt qua bậu cửa gỗ lim đã nhẵn thín vết chân người. Căn tiệm sau cuộc dọn dẹp khẩn cấp và gia cố tối hôm qua trông vẫn còn ngổn ngang bề bộn. Toàn bộ gian kho sau đã bị kẹp chì niêm phong tạm thời, ngắt cầu dao tổng để Quốc Dũng đi lại hệ thống ống ghen PVC chống cháy cùng hộp cầu chì sứ mới toanh, khiến hàng trăm cuốn sách có giá trị phải dồn ứ toàn bộ ra gian trước. Lối đi hẹp giữa hai hàng kệ gỗ tạp giờ chỉ vừa khít cho một thân người lách nghiêng qua, bốn bề nồng nặc mùi giấy mục, mùi băng phiến xua gián và mùi gỗ thông mới cưa thơm ngai ngái.
Bên dưới khoảng hiên nhỏ lợp tôn fibro-xi măng, Phạm Hoàng Vĩnh đang ngồi bệt trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ tạp. Bàn tay phải của anh quấn một lớp băng gạc y tế trắng toát hơi lấm lem bụi gỗ, nhưng những ngón tay dài xương xẩu vẫn cẩn thận tì chặt cữ gỗ để một cậu bạn cùng lớp Kiến trúc cưa nốt mấy thanh giằng chữ X từ những nan pallet thông vừa tháo dỡ. Tiếng cưa tay xèn xẹt nhịp nhàng ăn vào thớ gỗ, rải xuống nền gạch tàu những vệt mùn cưa vàng mịn như cám. Thấy Tuệ Anh bước vội ra với vẻ mặt căng thẳng, Vĩnh ngẩng đầu lên, quẹt quầng mồ hôi đọng trên sống mũi cao gầy, ánh mắt lấp lánh sự quan tâm:
“Có chuyện gì gấp hả Tuệ Anh? Coi chừng vấp bậc cửa đó.”
“Có điện thoại nhờ ở quán dì Năm, nghe nói gọi đường dài từ dưới tỉnh lên. Anh cứ làm từ từ thôi nghen, đừng có dùng sức nhiều quá coi chừng bục miệng vết rách ở lòng bàn tay hôm qua đấy,” cô vừa dặn với lại vừa sải bước thật nhanh ra mé hẻm.
Vĩnh nhìn theo bóng lưng gầy guộc nhưng nhanh nhẹn của cô gái, khẽ mỉm cười trấn an rồi cúi xuống giữ lại đầu thanh gỗ cho bạn cưa tiếp.
Quán nước của dì Năm thực chất chỉ là một khoảng hiên che bạt ni-lông sọc xanh đỏ rách mép nép bên hông tiệm may cờ hiệu, kê vỏn vẹn ba chiếc bàn gỗ thấp cáu ghét nước chè và chục cái ghế nhựa lùn màu đỏ đã bạc phếch vì dãi nắng dầm mưa. Trên chiếc bàn con kê sát quầy pha chế cáu cặn cà phê phin và những hũ thủy tinh đựng kẹo lạc, chiếc điện thoại bàn màu cam hiệu Daewoo – niềm kiêu hãnh và là trạm thông tin liên lạc duy nhất của cả con hẻm nhỏ lao động này vào năm 1996 – đang nằm trơ trọi. Chiếc ống nghe bằng nhựa đục dày cộp đã được dì Năm nhấc sẵn đặt nằm nghiêng trên mặt bàn gỗ bóng nhẫy.
“Nhanh lên cô nương, nãy giờ bên bưu điện người ta chuyển mạch réo hai ba chặng rồi đó. Gọi liên tỉnh đường dài tốn bạc dữ lắm nghen, trễ một chút là nhảy thêm một block cước đấy!” Dì Năm vừa quấy đều ly cà phê đá cho một bác tài xích-lô vừa liếc xéo sang, chiếc muôi nhôm nhỏ gõ lách cách vào thành ly thủy tinh nghe sốt ruột khôn xiết.
Tuệ Anh gật đầu mỉm cười cảm ơn dì một tiếng, vội vã đặt cuốn sổ tay lên mặt bàn bết dính nước đường rồi cầm ống nghe nhựa nặng trịch áp vào tai. Ống nghe bốc lên mùi nhựa cũ ngai ngái lưu cữu xen lẫn mùi dầu gió xanh Con Ó quen thuộc của người lớn tuổi. Đầu dây bên kia rè rè tiếng sóng viễn thông analog cổ lỗ, kèm theo tiếng xột xoạt, lẹt xẹt của đường truyền dây đồng xa xôi kéo dài hàng trăm cây số xuyên qua miền đồng bằng sông Cửu Long.
“A-lô, tiệm sách Mộc xin nghe ạ.”
“A-lô? Có phải cô Tuệ Anh ở tiệm Mộc đó không?” Đầu dây bên kia vọng lại giọng một người đàn ông trung niên, âm sắc rành rọt, đĩnh đạc và mang âm hưởng phương ngữ Nam Bộ đặc trưng của giới công chức xưa, nhưng lúc này không giấu nổi vẻ sốt ruột, nôn nóng. “Tôi là Luật sư Nguyễn Phan đây. Hôm trước tôi có ghé thăm anh Trịnh Văn Nghiêm bên Quận 3 lúc lên thành phố họp án, được anh Nghiêm giới thiệu rất kỹ là tiệm Mộc của cô cháu đang lưu giữ và nhận tìm các đầu sách luật cùng văn bản pháp quy cũ từ thời trước.”
Tuệ Anh hít một hơi sâu để ổn định lồng ngực đang phập phồng sau khi chạy gấp, bàn tay cầm chiếc bút bi Thiên Long bấm nhẹ đầu ngòi tạch một tiếng:
“Dạ đúng rồi chú Phan. Bác Trịnh hôm nọ có ghé qua tiệm dặn cháu là chú đang cần tìm tài liệu nghiên cứu án điểm gấp lắm. Chú cứ nói rõ tên sách, tác giả, nhà xuất bản hoặc năm phát hành nếu nhớ, cháu sẽ ghi chép cẩn thận từng chi tiết một ạ.”
“May quá, nghe anh Nghiêm khen cô cháu tháo vát mà tôi mừng rơn!” Giọng người đàn ông sáng lên một nhịp rõ rệt, đầu dây bên kia lạo xạo tiếng lật giở giấy tờ nghe rất dày và khô giòn. “Tôi đang thụ lý một vụ tranh chấp thừa kế đất đai có yếu tố địa bạ vô cùng phức tạp, hồ sơ gốc kéo dài từ trước năm 1975 ở miệt Phong Điền, Cần Thơ. Bên tòa án nhân dân tỉnh yêu cầu phải đối chiếu lại các án lệ và quy định chi tiết trong bộ *Dân luật giản yếu* của cụ Vũ Văn Mẫu, bản in năm 1961 hoặc tái bản năm 1964 của Bộ Quốc gia Giáo dục. Bộ này gồm hai cuốn: cuốn thứ nhất về Thể nhân và Gia đình, cuốn thứ hai về Tài sản và Khế ước. Chú cần nhất là cuốn thứ hai, nhưng nếu có trọn bộ thì quý vô cùng. Ngoài ra, nếu cháu lùng được thêm tập hai của bộ *Luật học chuyên khảo* xuất bản khoảng đầu thập niên bảy mươi chuyên về chế độ quản trị bất động sản thì tốt biết mấy. Dưới Cần Thơ này, mấy thư viện tỉnh hay tủ sách gia đình của các bậc trí thức cũ tôi đã lùng khắp hang cùng ngõ hẻm mà không thấy đâu trọn vẹn, trang thì bị mối xông rỗng ruột, cuốn thì rách bìa mất sạch phần phụ lục án lệ. Chú Nghiêm bảo cô Mộc Lan ngày xưa giữ nhiều sách luật và tài liệu lưu trữ của Viện Đại học Sài Gòn lắm, không biết bên tiệm cô còn lưu bản nào không?”
Đầu óc của một biên tập viên xuất bản kỳ cựu từ năm 2026 lập tức vận hành hết công suất, rà soát lại toàn bộ kho tàng tri thức về lịch sử ấn loát pháp luật Việt Nam. Ở thời đại số mà cô từng sống, chỉ cần gõ vài từ khóa lên cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia hay thư viện số của Đại học Luật, hàng trăm trang tài liệu số hóa dạng PDF nguyên bản sẽ hiện ra sau đúng nửa giây nhấp chuột. Nhưng ở năm 1996 này, giữa một Sài Gòn đang cựa mình bước vào thời kỳ Đổi Mới với những khung pháp lý đất đai chuyển giao phức tạp giữa cũ và mới, những cuốn sách chuyên khảo bằng xương bằng thịt nằm phủ bụi trong các kho sách tư nhân chính là kim chỉ nam duy nhất, là bằng chứng thép quyết định số phận pháp lý của cả một gia tộc trước phiên tòa phúc thẩm.
“Dạ chú Phan, bộ *Dân luật giản yếu* của cụ Vũ Văn Mẫu thì trong kho cũ của dì Mộc Lan cháu nhớ man mác là từng thấy tập một bản bìa mềm màu xanh lam. Nhưng riêng tập hai về phần Khế ước và Tài sản thì cháu phải rà soát lại thực tế xem tình trạng giấy má có bị ố vàng hay gián cắn mép chữ hay không. Còn bộ *Luật học chuyên khảo*, cháu đã ghi nhận lại đầy đủ tên công trình và niên giám xuất bản rồi ạ. Cháu sẽ trực tiếp liên hệ với mạng lưới các nhà sưu tầm và các kho lưu trữ quen thuộc để lùng bằng được cho chú.”
“Tốt quá cô Hai ơi! Tiền bạc thù lao không thành vấn đề đâu!” Vị luật sư tha thiết nói qua ống nghe rè rè, tiếng thở phào của ông vang lên nghe rõ mồn một. “Miễn là sách nguyên vẹn, không mất trang điều khoản và các án lệ tham chiếu nguyên bản, giá gấp đôi hay gấp ba giá thị trường tôi cũng sẵn sàng thanh toán sòng phẳng bằng tiền mặt. Cháu ráng tìm giúp tôi trong vòng mười ngày tới được không? Nếu có bất kỳ manh mối nào, cháu cứ gọi điện hoặc nhắn tin nhắn lại số máy bàn cố định của văn phòng luật sư tôi dưới Cần Thơ nhé!”
Tuệ Anh nắn nót ghi lại từng con số điện thoại sáu chữ số của bưu điện tỉnh Cần Thơ, tên người liên hệ, cùng các chi tiết xuất bản cụ thể vào trang sổ carô. Ngay khi cô vừa nói lời cảm ơn và đặt chiếc ống nghe nặng trịch về lại giá máy, dì Năm đã chống một tay lên hông, tay kia cầm chiếc khăn lau bàn sờn rách bước tới, ngón tay trỏ gõ cồm cộp lên mặt gỗ:
“Ba phút bốn mươi giây nghen cô Hai! Bưu điện họ tính tròn bốn phút đó. Gọi từ dưới miền Tây lên, tui lấy hữu nghị cô hai ngàn rưỡi thôi. Dạo này cước viễn thông nhà nước tăng giá ghê quá, tui hổng lấy thêm tiền công chạy ra chạy vô réo cô là nể tình chòm xóm lắm rồi đó nghen!”
Tuệ Anh khẽ thở dài một hơi thật khẽ để người khác không nhận thấy, móc từ túi chiếc quần tây bạc màu ra một tờ bạc hai nghìn đồng màu tím và một tờ năm trăm đồng đã nhăn nhúm mép đưa cho dì Năm.
Cầm cuốn sổ tay quay trở về tiệm Mộc dưới cái nắng trưa hầm hập như rang, lòng cô dấy lên một cảm giác vừa trĩu nặng lại vừa nhen nhóm một tia hy vọng mãnh liệt. Hai ngàn năm trăm đồng tiền cước điện thoại – con số ấy bằng đúng năm lượt cho thuê truyện tranh thiếu nhi của bé Hạnh và đám trẻ con xóm lao động suốt cả buổi sáng nay cộng lại. Nhưng nhu cầu bức thiết của vị luật sư tỉnh xa kia lại gợi mở một lối thoát hoàn toàn khác, một hướng đi mang tính sống còn cho tiệm Mộc giữa lúc ngặt nghèo này.
Bước qua khoảng sân nhỏ vào lại bóng râm mát rượi của mái hiên tiệm sách, Tuệ Anh dừng lại nhìn quanh. Đám sinh viên Đại học Kiến trúc vẫn đang xúm xít quanh chiếc bàn gỗ thông dài mà Vĩnh vừa ghép xong bộ khung chân. Cậu sinh viên đeo cặp kính cận dày cộp tên Tuấn đang lật giở từng trang một cuốn giáo trình *Hình học họa hình và Vẽ kỹ thuật xây dựng* đã sờn rách hết gáy vải, miệng không ngớt xuýt xoa đầy vẻ thèm thuồng:
“Trời đất ơi, cuốn này của Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp in từ năm 1982 nè Vĩnh! Bản dịch chuẩn xác từng thuật ngữ mặt cắt với hình chiếu xiên luôn. Tụi tao đi tìm đỏ cả mắt ở mấy hiệu sách quốc doanh ngoài đường Nguyễn Huệ với mấy sạp sách cũ góc đường Lê Lợi cả tháng nay mà toàn lắc đầu. Giờ kiếm đâu ra tài liệu chuẩn xác đến từng milimét thế này để làm đồ án chi tiết kết cấu tốt nghiệp chứ!”
“Tiệm Mộc có đúng một cuốn độc nhất vô nhị đó thôi,” Vĩnh vừa đưa tay áo quẹt mồ hôi trên cằm vừa cười hì hì, tay vẫn thoăn thoắt nhổ mấy chiếc đinh rỉ ra khỏi thanh gỗ. “Bữa trước Tuệ Anh dọn cái xó kho mạng nhện giăng kín mới lôi ra được từ đáy rương gỗ đấy. Mấy ông tướng lật giở nhẹ tay giùm một cái, đừng có làm quăn mép hay rách trang của người ta, cô chủ tiệm mà bắt đền là tôi hổng có tiền bao cơm trưa cho cả đám đâu nghen.”
Tuệ Anh bước tới gần chiếc bàn dài, khẽ mỉm cười nhìn nhóm sinh viên trẻ đang say mê với những bản vẽ kỹ thuật:
“Các bạn sinh viên bên Kiến trúc cần thêm tài liệu gì phục vụ cho đợt đồ án sắp tới cứ nói thật chi tiết, mình sẽ ghi nhận lại hết vào sổ theo dõi.”
Cậu sinh viên tên Tuấn ngẩng phắt đầu lên, cặp mắt sau tròng kính cận dày cộp sáng ngời lên vẻ hy vọng:
“Thiệt hả chị Tuệ Anh? Tụi em đang khát tài liệu kinh khủng! Tụi em đang cần mấy cuốn chuyên khảo sâu về kết cấu bê tông cốt thép trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, với mấy tập tạp chí *Kiến trúc* của Hội Kiến trúc sư Việt Nam xuất bản từ đầu những năm tám mươi. Thư viện trường em thì nghèo nàn, mỗi đầu sách chỉ có vẻn vẹn hai ba bản lưu, sinh viên năm cuối đăng ký mượn kín lịch cả kỳ học, đứa nào muốn tham khảo bản vẽ phối cảnh hay công thức tính tải trọng mái dốc đều phải chực chờ chép tay từng trang một đến toét cả mắt. Nếu chị lùng được cho tụi em mua đứt hoặc cho thuê dài ngày để làm đồ án, bảo đảm cả khoa Kiến trúc tụi em sẽ kéo qua tiệm sách Mộc này đóng đô luôn!”
“Không chỉ sinh viên tụi em đâu chị ơi,” một cậu bạn khác gầy gò đứng bên cạnh cũng hào hứng xen vào, tay hua hua chiếc thước chữ T bằng gỗ mộc. “Mấy thầy giáo kỳ cựu trong bộ môn tụi em cũng đang ráo riết lùng mấy bản dịch giáo trình kiến trúc cổ điển của Pháp thời trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương để lại. Ai mà tìm được mấy cuốn chuyên khảo in bản vẽ chi tiết các thức cột Hy Lạp - La Mã chuẩn xác ngày xưa, các thầy sẵn sàng chi tiền túi trả giá rất cao, không bao giờ kì kèo một cắc!”
Từng câu từng chữ của nhóm sinh viên như những tia lửa điện lóe lên trong đầu Tuệ Anh, kết nối những mảnh ghép tưởng chừng vụn vặt và rời rạc suốt mấy ngày qua: sự tha thiết đến mức chấp nhận trả giá gấp đôi của vị luật sư Nguyễn Phan dưới Cần Thơ, cơn khát tài liệu học thuật bỏng cháy của đám sinh viên nghèo, những lời dặn dò đầy trăn trở của ông giáo Trịnh, và thực tế phũ phàng là doanh thu từ việc cho thuê truyện tranh trẻ em lắt nhắt hai trăm, năm trăm đồng mỗi lượt chỉ đủ trang trải tiền mắm muối dưa cà qua ngày, hoàn toàn bất lực trước món nợ khổng lồ một triệu tám trăm ngàn đồng tiền thuê nhà đang lơ lửng trên đầu, hạn chót phải trả dứt điểm cho bà Tư Lành vào đúng trưa Chủ nhật này.
Tiệm Mộc không thể và không bao giờ sống sót nếu chỉ thụ động trông chờ vào lượng khách vãng lai tạt qua lề đường nhặt nhạnh vài ba cuốn sách cũ nát bán tháo đồng nát. Nó phải vươn mình trở thành một trung tâm điều phối và cung ứng tri thức chuyên sâu, một cây cầu nối vững chắc kết nối những người thực sự khao khát tài liệu hiếm với những kho sách quý đang nằm im lìm phủ bụi rải rác khắp Sài Gòn.
Tuệ Anh kéo chiếc ghế gỗ tựa ngồi xuống bên quầy thu ngân ọp ẹp, lật mở cuốn sổ tay kẻ ô carô mới toanh bằng giấy Bãi Bằng. Với tư duy sắc sảo, mạch lạc và chuẩn mực của một biên tập viên xuất bản chuyên nghiệp đến từ thế kỷ hai mươi mốt, cô dùng chiếc thước kẻ gỗ vạch những đường kẻ thẳng tắp bằng mực xanh, phân chia các cột mục một cách cực kỳ khoa học:
Cột 1: Mã số yêu cầu (bắt đầu đánh số hệ thống từ ĐS-001); Cột 2: Thông tin chi tiết tác phẩm & Tác giả; Cột 3: Năm xuất bản, Nhà xuất bản & Tình trạng vật lý chấp nhận được (nguyên bìa, đủ trang, hay chấp nhận phục chế); Cột 4: Họ tên khách hàng, Nghề nghiệp & Địa chỉ/Số điện thoại liên lạc; Cột 5: Hạn chót cần sách phục vụ công việc; Cột 6: Giá trần dự kiến khách hàng chấp nhận chi trả; Cột 7: Tiền đặt cọc bảo chứng (thu trước từ ba mươi phần trăm đến năm mươi phần trăm tổng giá trị ước tính).
Bên cạnh cuốn sổ cái quản lý danh mục, cô lấy chiếc kéo cán sắt cắt những tập giấy bìa tạp kỷ màu nâu nhạt – loại giấy xi măng thô mộc, dai và dày dặn đặc trưng của thập niên chín mươi – thành từng mảnh hình chữ nhật ngay ngắn kích thước mười hai nhân tám xăng-ti-mét. Trên mỗi tấm phiếu bìa nâu ấy, cô dùng cây bút dạ kim mực đen nắn nót viết từng dòng chữ ngay ngắn:
**TIỆM SÁCH CŨ MỘC – ĐƯỜNG TRẦN NHÂN TÔN** *PHIẾU HẸN TÌM SÁCH THEO YÊU CẦU* *Mã số hồ sơ: .................... Ngày tiếp nhận: ....................* *Tên tài liệu / Tác phẩm: ............................................................* *Khách hàng: .................................... Số tiền cọc: ....................* *Cam kết: Hoàn cọc 100% nếu không tìm thấy sách sau thời hạn thỏa thuận.*
“Anh Vĩnh này,” Tuệ Anh ngẩng đầu lên nhìn Vĩnh, giọng nói chứa chan sự kiên định và quả quyết. “Em tính mở ngay một dịch vụ mang tên ‘Đặt Sách Theo Yêu Cầu’. Những ai cần giáo trình hiếm, sách chuyên ngành luật, y khoa, kiến trúc xây dựng hay các tác phẩm văn học tuyệt bản chỉ cần để lại thông tin cụ thể và đặt cọc trước một phần chi phí. Mình sẽ dùng toàn bộ mạng lưới giao lưu sách cũ và các mối quan hệ để lùng mua cho họ. Anh thấy hướng này khả thi không?”
Vĩnh đặt chiếc cưa tay xuống sàn gạch, phủi lớp mùn cưa vàng mịn bám đầy trên ống quần bò bạc phếch, bước chầm chậm lại gần quầy thu ngân. Đôi mắt sáng và hàng mày rậm của anh chăm chú nhìn lướt qua những dòng chữ nắn nót, khoa học trên trang sổ cái và những tấm phiếu hẹn được cắt gọt vô cùng tinh tươm. Anh khẽ gật đầu, ánh mắt ánh lên vẻ thán phục không hề che giấu:
“Cách này quá thông minh Tuệ Anh à! Sinh viên tụi tui hay giới nghiên cứu ngán nhất là cảnh đạp xe rạc cẳng đi lùng sục từng sạp sách cũ vỉa hè dưới trời nắng đổ lửa mà mười bận thì hết chín bận ôm nỗi thất vọng đi về tay không. Nếu tiệm Mộc đứng ra làm đầu mối bao tiêu, cam kết tìm đúng ấn bản người ta cần, khách hàng sẵn sàng trả thêm một khoản phí dịch vụ tương xứng. Nhưng mà...” Vĩnh ngập ngừng, đưa ngón tay trỏ gãi nhẹ lên sống mũi, vẻ băn khoăn hiện rõ trên gương mặt phong trần, “cô tính kiếm nguồn sách chuyên khảo hiếm đó ở đâu bây giờ? Quanh mấy vựa ve chai phế liệu hay mấy xe ba gác gom giấy vụn ở Quận 10 này, người ta chở về đa phần là sách báo vụn, tập học sinh cũ nát đem cân ký bán cho nhà máy giấy thôi.”
“Em đang tính nước cờ đó đây,” Tuệ Anh trầm ngâm, ánh mắt nhìn vào khoảng không trước mặt.
Đúng lúc ấy, ký ức về mảnh danh thiếp bằng bìa cứng ố vàng tìm thấy sau hốc tường kho chiều hôm qua lại hiện lên rõ mồn một trong tâm trí cô: *Lâm Sáu Phước – Hiệu sách cũ Văn hóa Sài Gòn – Chợ Lớn*. Nhưng trước khi tính đến chuyện tìm đến ông trùm bí ẩn đó, cô phải kiểm chứng thực tế xem bộ máy vận hành thủ công này sẽ vấp phải những trở ngại gì trong bối cảnh hạ tầng năm 1996.
Và thực tế khắc nghiệt của thời đại analog đã tạt ngay một gáo nước lạnh buốt vào sự hào hứng của Tuệ Anh chỉ sau chưa đầy hai tiếng đồng hồ.
Đầu giờ chiều, Tuấn và hai người bạn kiến trúc sau khi bàn bạc kỹ lưỡng đã gom góp sạch tiền túi, chính thức mở hàng hai đơn đặt sách đầu tiên trong cuốn sổ cái: một cuốn *Kết cấu công trình dân dụng* (Nhà xuất bản Xây dựng in năm 1985) và một tập bản vẽ đồ án mẫu nhà ở truyền thống Nam Bộ, đặt cọc trước tổng cộng ba mươi ngàn đồng tiền mặt. Cộng với đơn đặt sách luật của luật sư Nguyễn Phan ghi nhận từ sáng, Tuệ Anh đã có trong tay ba đơn hàng cụ thể, rõ ràng từng chi tiết.
Để xác nhận xem mối hàng sách cũ ở khu vực Gia Định – một địa chỉ do dì Lan ghi lại trong cuốn sổ danh bạ cũ – có còn lưu giữ bộ sách luật hay không, Tuệ Anh lại phải lội bộ ngược ra quán cà phê cóc của dì Năm để thực hiện cuộc gọi thứ hai.
“Lại gọi điện nữa hả cô Hai?” Dì Năm vừa thấy bóng cô bước vào đã cằn nhằn ngay tắp lự, hai tay thoăn thoắt vắt mớ chanh vào xô nước rửa ly cáu bẩn. “Tui nói trước nghen, quán tui mở ra là bán nước giải khát cho mấy ông thợ hồ với tài xế xích-lô ngồi nghỉ trưa, chứ cô cứ chạy ra chạy vô chiếm nguyên cái bàn đầu máy điện thoại hoài, khách quen người ta ngại hổng dám ghé ngồi uống nước đâu đó!”
“Dạ, cháu biết dì bận mà, cháu chỉ gọi nhanh chừng một hai phút thôi dì Năm, cháu gửi thêm tiền nước cho dì coi như bù vào chỗ ngồi ạ,” Tuệ Anh nhẹ giọng năn nỉ, đặt ngay ngắn lên mặt bàn bết dính một tờ bạc một nghìn đồng lẻ.
Sự bất tiện, chậm chạp và tụt hậu của hạ tầng viễn thông công cộng năm 1996 bộc lộ trần trụi đến mức khiến một người từng quen với tốc độ ánh sáng của internet như Tuệ Anh suýt bật khóc vì sốt ruột. Cô nhấc ống nghe, quay từng con số trên mặt số tròn bằng nhựa kêu cạch cạch, gọi đến số máy bàn của một nhà sưu tập sách cũ bên Bình Thạnh. Tiếng chuông tút tút bên tai kéo dài vô tận, tốn mất một block cước vô ích, rồi một giọng phụ nữ lạ hoắc đanh đá bắt máy, bảo chủ nhà đã đi ăn giỗ từ sáng sớm, muốn gặp thì phải đợi đến sau bốn giờ chiều gọi lại.
Tuệ Anh không thể ngồi lì ở quán nước suốt hơn hai tiếng đồng hồ dưới ánh mắt khó chịu của bà chủ quán. Cô đành nuốt bực bội quay về tiệm Mộc tiếp tục quét dọn, bọc lại mép những cuốn sách giáo khoa rách bìa, rồi đúng bốn giờ kém mười lăm lại tất tả chạy sang quán dì Năm, quay số gọi lại một cuộc nữa tốn thêm một ngàn đồng cước phí. Lần này may mắn gặp được người phụ trách kho sách, nhưng đối tác đầu dây bên kia lại trả lời bằng một giọng điệu ậm ờ, uể oải đầy vẻ thờ ơ:
“Sách luật của cụ Vũ Văn Mẫu hả? Hình như trong kho cũ nhà tui còn một bộ bìa giả da, nhưng bụi đóng lớp lớp trên gác xép, tui đang mắc nhậu với mấy ông bạn già ngoài hiên, để chút nữa biểu thằng con trèo thang lên lục coi còn đủ tập không đã. Có gì cô đợi chừng một tiếng nữa gọi lại hỏi nghen!”
“Dạ chú ơi, chú làm ơn kiểm tra giùm cháu liền được không ạ? Cháu đang phải gọi nhờ điện thoại ngoài quán nước đầu hẻm, gọi đi gọi lại tốn tiền cước và phiền người ta lắm chú ơi...” Tuệ Anh khẩn khoản.
“Trời đất ơi, sách vở chất đống như núi lầu sao mà lục liền cho cô được cô Hai! Chuyện làm ăn chứ có phải trò đùa đâu. Chút nữa gọi lại đi!”
*Cạch!* Đầu dây bên kia cúp máy lạnh lùng, dứt khoát, để lại chuỗi âm thanh tút dài tút dài vô cảm như trêu ngươi màng nhĩ.
Tuệ Anh đứng chết trân bên chiếc bàn gỗ dính nước chè, bàn tay nắm chặt lấy thân ống nghe bằng nhựa đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra. Ở năm 2026, chỉ một tin nhắn hay một bức ảnh chụp nhanh gửi qua ứng dụng điện thoại là mọi giao dịch, tình trạng hàng hóa đều được xác nhận trong vòng ba mươi giây ngắn ngủi. Còn ở đây, giữa năm 1996 này, một sự việc cỏn con phải trả giá bằng từng nghìn đồng tiền lẻ chắt bóp từ mồ hôi nước mắt, bằng hàng giờ đồng hồ mòn mỏi chờ đợi bên ly trà đá loãng toẹt, và hoàn toàn phó mặc vào tâm trạng hỉ nộ ái ố của những kẻ nắm nguồn hàng.
Đúng lúc Tuệ Anh đang đứng tần ngần móc thêm một tờ tiền lẻ trả cho dì Năm, một bóng người gầy guộc mặc bộ bà ba lụa màu ngà, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy chầm chậm bước từ đầu hẻm vào quán.
“Chú Trịnh!” Tuệ Anh mừng rỡ reo lên, bao nhiêu nỗi bực dọc trong lòng phút chốc tan biến.
Ông giáo Trịnh Văn Nghiêm dừng bước, đưa mắt nhìn cô qua cặp kính lão gọng đồi mồi trễ xuống sống mũi, nụ cười hiền hậu, bao dung làm giãn ra những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe mắt:
“Ủa, cô Tuệ Anh làm gì mà đứng chôn chân bên cái máy điện thoại đầu hẻm mặt mày ủ dột, sầu não vậy cháu? Có phải anh luật sư Phan dưới Cần Thơ gọi lên làm phiền cháu chuyện sách vở không?”
“Dạ không phiền đâu chú ơi, cháu mừng còn không hết!” Tuệ Anh vội bước tới đỡ lấy cánh tay gầy guộc của ông giáo già, lễ phép mời ông cùng bước về phía tiệm Mộc. “Cháu đang nhờ người kiểm tra nguồn sách luật cho chú Phan, nhưng việc liên lạc thời này khó khăn quá chú ạ. Gọi mấy cuộc điện thoại tốn cả mớ tiền cước mà đầu dây bên kia người ta cứ ậm ờ, chưa chịu chốt cho mình xem sách còn hay mất.”
Về đến tiệm Mộc, Vĩnh thấy ông Trịnh tới liền vội vã phủi sạch bụi gỗ trên chiếc ghế tựa bằng gỗ thông mới đóng ra cho ông ngồi, rồi nhanh nhảu chạy vào góc quầy rót một ca nước vối nóng nghi ngút khói mời ông. Ông giáo Trịnh nhấp một ngụm nước vối thơm mùi thảo mộc, khẽ khà một tiếng khoan khoái rồi đưa mắt ngắm nhìn gian nhà trước tuy chật chội nhưng đã được quét dọn sạch bong, sách vở xếp đặt đâu ra đấy vô cùng tinh tươm. Ánh mắt từng trải của ông lập tức dừng lại trên cuốn sổ tay carô mở rộng và những tấm phiếu hẹn đặt sách theo yêu cầu bằng bìa nâu vừa viết dở của Tuệ Anh đặt ngay ngắn trên mặt bàn quầy.
Ông với tay cầm một tấm phiếu lên, chăm chú đọc từng dòng kẻ thẳng tắp, từng điều khoản cam kết hoàn tiền rành mạch. Đôi lông mày bạc phơ của ông giáo già khẽ nhướng lên đầy vẻ kinh ngạc:
“Mã số theo dõi... Phiếu hẹn ngày hoàn trả... Tạm ứng bảo chứng ba mươi phần trăm... Rất hay! Rất quy củ và có óc tổ chức khoa học! Con bé này làm ăn bài bản, cẩn trọng hệt như cung cách của mấy nhà phát hành sách lớn bên Pháp hay các nhà in danh tiếng của Sài Gòn ngày trước vậy.”
Tuệ Anh kéo chiếc ghế đẩu thấp ngồi xuống đối diện ông, khẽ thở dài một tiếng:
“Quy củ trên giấy tờ sổ sách vậy thôi chú ơi, chứ khâu tìm kiếm nguồn sách thực tế thì cháu đang bế tắc hoàn toàn. Quanh mấy vựa ve chai phế liệu ở Quận 10 hay mấy xe đẩy bán sách dạo vỉa hè thì toàn là tiểu thuyết ba xu, sách bói toán linh tinh với sách giáo khoa cũ rách. Muốn tìm sách chuyên khảo luật pháp hay giáo trình kỹ thuật chuẩn xác thì đúng là mò kim đáy biển.”
Ông giáo Trịnh từ tốn đặt tấm phiếu nâu xuống bàn, đưa tay vuốt chòm râu bạc, rồi chầm chậm rút từ trong túi áo bà ba ra một tờ giấy học trò gấp tư đã ngả sang màu vàng nhạt, mép giấy có những vết ố tròn của bã trà tích tụ lâu ngày. Ông mở tờ giấy ra, vuốt cho thật phẳng phiu trên mặt bàn gỗ thông. Đó là một danh sách chép tay bằng nét bút mực tím học trò vô cùng bay bướm, thanh thoát: những tác phẩm văn học tiền chiến của nhóm Tự Lực Văn Đoàn in trước năm 1945 như *Hồn bướm mơ tiên*, *Nửa chừng xuân*, các bản dịch *Chiến tranh và Hòa bình* của học giả Nguyễn Hiến Lê, bản in đầu tiên tập truyện ngắn *Gió đầu mùa* và *Nhà mẹ Lê* của Thạch Lam do Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành...
“Đây là danh sách mà mấy ông bạn già hưu trí bên Hội Ái hữu Giáo chức của chú gửi gắm nhờ tìm giùm suốt mấy tháng nay,” ông Trịnh chậm rãi nói, giọng trầm ấm, ngân vang nhưng chất chứa đầy sức nặng của một bậc thức giả. “Người già tụi chú, cả một đời gắn bó máu thịt với con chữ, đến lúc xế bóng về chiều chỉ mong mỏi tìm lại được đúng cái bản sách nguyên vẹn với mùi mực in mà mình từng nâng niu đọc thời hoa niên. Nhưng Tuệ Anh à, chú khuyên cháu một lời gan ruột, nếu cháu muốn làm dịch vụ tìm sách theo yêu cầu này cho đàng hoàng và có thể sống sót được bằng nó, cháu tuyệt đối không bao giờ được phép chỉ trông cậy vào mấy nguồn hàng trôi nổi quanh quận hay thụ động ngồi chờ người ta mang ve chai tới bán từng cân.”
Tuệ Anh chăm chú lắng nghe, hai bàn tay đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn:
“Vậy cháu phải tìm ở đâu mới có nguồn hàng chuẩn xác hở chú?”
Ông giáo Trịnh mỉm cười, ánh mắt nhìn xa xăm ra phía ngoài con hẻm, nơi những rặng cây xà cừ cổ thụ đang đung đưa cành lá dưới ánh nắng chiều vàng vọt của Sài Gòn:
“Sách hay, sách quý trong thiên hạ không đời nào tự nhiên nằm lăn lóc ở vỉa hè cho người ta nhặt đâu cháu. Giới chơi sách và buôn sách Sài Gòn từ xưa tới nay đều có mạng lưới ngầm, có quy ước bất thành văn của riêng họ. Chợ sách cũ thực sự và chuyên nghiệp nhất không phải là mấy cái sạp bán lẻ lôm côm ở góc đường, mà là cả một nghiệp đoàn ngầm tập trung sâu trong khu vực Chợ Lớn – nơi giao thoa của những kho tàng tri thức gia đình, những tủ sách đồ sộ của giới trí thức, cựu công chức xưa để lại sau bao nhiêu biến thiên của thời cuộc. Ở mảnh đất đó, người ta không bao giờ bán sách theo cân, cũng không nhìn mặt mà bắt hình dong bằng vài ba câu mặc cả thô thiển ngoài chợ trời.”
Ông giáo già hạ thấp giọng xuống, nhìn thẳng vào mắt Tuệ Anh với vẻ nghiêm nghị:
“Cháu muốn tìm sách luật cho anh luật sư Phan, muốn tìm tài liệu kiến trúc cho đám thằng Vĩnh, hay muốn tìm lại những di cảo bản thảo quý giá mà dì Mộc Lan của cháu từng trăn trở ấp ủ... cháu bắt buộc phải dấn thân thâm nhập vào mạng lưới Chợ Lớn. Nhưng cháu phải nhớ thật kỹ lời chú dặn: đất Chợ Lớn có luật lệ riêng của đất Chợ Lớn. Kẻ buôn sách ở đó vừa là những con buôn lọc lõi, ranh ma bậc nhất, vừa là những bậc thầy sành sỏi, am tường từng li từng tí về văn tự và ấn bản. Cháu bước chân vào đó mà ngơ ngác như nai tơ, người ta không những không chịu bán sách thật cho cháu, mà còn gạt cho cháu ôm về một đống sách phục chế giả cổ, sách chắp vá mất trang để rồi mất trắng toàn bộ số tiền cọc của khách đó!”
Từng lời răn dạy của ông giáo Trịnh như rót thẳng vào tâm can Tuệ Anh. Từng câu chữ ấy lập tức đánh thức trong đầu cô lời cảnh báo sắc lạnh của Quốc Dũng tối hôm qua về những kẻ đầu nậu sách sừng sỏ bên Chợ Lớn đang rình rập tiệm Mộc, rồi hình ảnh tấm danh thiếp cũ phủ bụi trong hốc tường lại bùng cháy lên mãnh liệt.
Đúng lúc đó, tiếng còi xe đạp bóp bóp inh ỏi quen thuộc vang lên giòn giã ngay trước cửa tiệm. Bác đưa thư già mặc bộ đồng phục bưu điện màu xanh lá cây đã bạc phếch vai áo chống chân chiếc xe đạp thồ nặng trịch bên lề đường, thò tay rút từ trong chiếc giỏ da to bản ra một xấp bì thư:
“Có phải tiệm sách Mộc của bà Lương Mộc Lan ở đây không? Ký nhận giùm tôi tờ giấy báo phát này cô ơi!”
Tuệ Anh vội vàng đứng dậy bước nhanh ra hiên đón lấy. Đó không phải là một lá thư tay thông thường, mà là một tờ giấy báo phát bưu phẩm bảo đảm bằng giấy pơ-luya màu vàng nhạt có đóng dấu mộc đỏ chót của bưu điện. Bác đưa thư vừa đưa tay quẹt mồ hôi trên trán vừa chỉ đầu ngón tay dính mực vào ô địa chỉ gửi:
“Có một kiện bưu phẩm bảo đảm loại đặc biệt gửi từ tận bưu điện trung tâm thành phố Huế vào cho bà Lương Mộc Lan từ hồi tuần trước lận. Nhưng ngặt nỗi địa chỉ ngoài phong bì bị ghi sai một nét ở số nhà, thành thử bưu cục khu vực của tôi phải giữ lại đối chiếu sổ sách hộ khẩu mấy bữa rày mới xác minh được. Cô cầm lấy tờ giấy báo này, mang theo giấy chứng minh nhân dân gốc ra thẳng Bưu điện Trung tâm Quận 10 mà làm thủ tục ký nhận nghen. Thư từ bảo đảm của gia tộc người ta gửi vào quan trọng lắm đó, quy định bưu điện để quá mười lăm ngày không có thân nhân đến nhận là họ sẽ làm thủ tục hoàn hồi bưu phẩm về lại ngoài Trung đó đa!”
Tuệ Anh nhìn chằm chằm vào dòng chữ đề tên người gửi nắn nót ở góc trên tờ giấy báo phát: *Hội đồng Trị sự Tộc Lương – Kim Long, Huế*.
Trái tim cô bỗng thắt lại một nhịp đau nhói. Kim Long, Huế – đó chính là quê hương bản quán của người dì quá cố, và cũng chính là nguyên quán được ghi rành rành trên tấm giấy chứng minh nhân dân mang tên Lương Tuệ Anh mà cô đang sở hữu ở năm 1996 này. Một sợi dây liên kết tâm linh vô hình và huyền bí từ quá khứ xa xôi dường như đang âm thầm trỗi dậy, kéo cô lại gần hơn với những bí mật gia tộc chưa từng có lời giải đáp.
Thế nhưng thực tại nghiệt ngã trước mắt không cho phép cô có lấy một giây phút phân tâm. Hạn chót trưa Chủ nhật của món nợ khổng lồ một triệu tám trăm ngàn đồng tiền thuê nhà của bà Tư Lành đang đè nặng lên từng hơi thở của cô. Mọi việc đều phải được giải quyết dứt điểm theo thứ tự ưu tiên, và bài toán sống còn đầu tiên chính là dòng tiền mặt của ngày hôm nay.
Sau khi lễ phép tiễn bác đưa thư già và cung kính tiễn ông giáo Trịnh ra đầu ngõ, ánh hoàng hôn đỏ rực như máu bắt đầu đổ dài xuống con đường Trần Nhân Tôn, nhuộm thắm mái hiên tiệm Mộc. Đám bạn sinh viên của Vĩnh cũng đã thu dọn thước kẻ, cưa tay và đồ nghề ra về sau khi hoàn thành việc ráp nối hệ thống khung giằng chữ A vô cùng vững chãi cho kho sau. Căn tiệm sách cũ dần chìm vào sự tĩnh lặng quen thuộc khi ánh đèn đường vàng vọt của phố xá bắt đầu bật sáng.
Tuệ Anh ngồi một mình bên chiếc quầy thu ngân dưới ánh sáng trắng lạnh lẽo của bóng đèn neon dài vừa được Quốc Dũng đấu nối an toàn tuyệt đối qua cầu dao sứ. Không gian xung quanh chỉ còn lại tiếng đồng hồ quả lắc tích tắc từng nhịp khô khốc trên vách tường. Cô với tay kéo chiếc hộp thiếc Danisa tròn màu xanh quen thuộc đặt lên bàn, cẩn thận mở nắp kim loại ra.
Từng tờ tiền giấy cotton của thập niên chín mươi được cô rút ra, dùng hai ngón tay miết thật phẳng phiu từng nếp gấp rồi xếp ngay ngắn thành từng xấp riêng biệt trên mặt bàn gỗ thông:
Mười bốn ngàn năm trăm đồng tiền mặt tự do còn sót lại từ sáng sớm;
Ba mươi ngàn đồng tiền đặt cọc tìm sách giáo trình kỹ thuật của nhóm sinh viên kiến trúc;
Năm mươi ngàn đồng tiền cọc chuyển qua bưu điện của luật sư Nguyễn Phan mà ông giáo Trịnh vừa trượng nghĩa đứng ra bảo lãnh, ứng trước bằng tiền túi đưa cho cô;
Cộng với số tiền lẻ cho thuê truyện tranh thiếu nhi tích cóp từng đồng hai trăm, năm trăm bạc suốt cả ngày hôm nay...
Sau khi cộng nhẩm cẩn thận ba lần trên cuốn sổ carô, Tuệ Anh xác định con số chính xác: tổng cộng cô đang có trong tay tròn một trăm mười lăm ngàn đồng tiền mặt tự do.
Một trăm mười lăm ngàn đồng – con số ấy quá nhỏ bé và còn cách quá xa cột mốc một triệu tám trăm ngàn đồng mà bà Tư Lành đòi siết tiệm vào trưa Chủ nhật. Nhưng đối với Tuệ Anh lúc này, một trăm mười lăm ngàn ấy không đơn thuần là tiền, mà là mồ hôi, là công sức, và là những viên gạch lòng tin đầu tiên mà những độc giả của năm 1996 đã trao gửi trọn vẹn vào tay cô.
Tuệ Anh hít một hơi thật sâu, lồng ngực căng tràn quyết tâm. Cô đưa tay vào ngăn kéo nhỏ, lấy ra mảnh danh thiếp cũ kỹ màu vàng ố đã tìm thấy từ sâu trong hốc tường kho chiều hôm qua, đặt nó nằm ngay ngắn bên cạnh xấp tiền cọc.
Dưới ánh sáng trắng rọi thẳng của ngọn đèn tuýp neon, những dòng chữ in bằng kỹ thuật sắp chữ chì typo màu mực tím than hiện lên sắc nét, lạnh lùng và đầy bí ẩn:
*HIỆU SÁCH CŨ VĂN HÓA SÀI GÒN – CHỢ LỚN* *Chủ sự: LÂM SÁU PHƯỚC* *Địa chỉ: Sạp số 4, Cư xá Bưu điện, Quận 5.* *Lưu ý: Chỉ tiếp khách quen có hẹn trước.*
Và lật mặt sau tấm danh thiếp, dòng lạc khoản viết tay bằng mực Cửu Long thanh mảnh, run rẩy của dì Mộc Lan trước khi ngã bệnh hiện ra như một lời trăn trối đè nặng lên đôi vai gầy của cô: *“Bộ chữ chì và bản thảo gốc năm 1943 đang ở chỗ anh Sáu. Tiệm Mộc sống hay chết, trông cậy cả vào chuyến này...”*
Tuệ Anh lật qua lật lại tấm danh thiếp trên tay, đầu ngón tay khẽ miết nhẹ lên mép giấy bìa đã bị mối gặm nham nhở. Đêm nay, kho sách sau đã an toàn trước nguy cơ chập cháy nhờ bàn tay tài hoa của Dũng và bộ khung giằng chắc chắn của Vĩnh. Thế nhưng linh hồn thực sự của tiệm Mộc – bản thảo di cảo tiền chiến vô giá cùng bộ chữ chì đúc thủ công trị giá tới mười lăm triệu đồng tiền mồ hôi nước mắt của dì cô – vẫn đang lưu lạc, bị cầm giữ giữa một hang hùm miệng cọp đầy cạm bẫy nào đó bên Quận 5.
Cô không thể tiếp tục ngồi thụ động chờ đợi những cuộc gọi thất thường qua chiếc điện thoại bàn ở quán nước dì Năm. Cô càng không thể khoanh tay trông chờ vào sự rủ lòng thương hại của thời gian hay sự nhân nhượng của bà chủ nhà trọ độc đoán.
Tuệ Anh đứng phắt dậy. Cô cẩn thận nhét toàn bộ số tiền cọc cùng mảnh danh thiếp vào chiếc ví vải bố dày dặn, cài kim băng chắc chắn vào bên trong túi áo ngực. Cô khoác thêm chiếc áo gió mỏng màu lam cũ kỹ để che chắn gió đêm, kiểm tra lại toàn bộ khóa chốt ngăn kéo quầy thu ngân, rồi bước dứt khoát ra ngoài hiên.
Chiếc xe đạp mini Nhật cũ kỹ của dì Lan dựng nép bên vách tường vôi bong tróc. Dù chiếc giỏ xe bằng sắt đã han gỉ theo năm tháng, nhưng sợi xích líp vừa được Vĩnh tỉ mỉ tra dầu hồi chiều quay êm ru, nhẹ bẫng. Cô bước tới, cẩn thận lắp từng tấm ván gỗ lim vào rãnh then cửa tiệm Mộc, tra ổ khóa Việt-Tiệp nặng trịch vào then cài rồi bấm khóa cái cạch.
Đường phố Sài Gòn năm 1996 khi đêm về bắt đầu dịu mát, trút bỏ bớt cái hầm hập nghẹt thở của ban ngày. Tiếng chuông xe đạp lách cách hòa cùng tiếng nhạc cassette trữ tình vọng ra từ những quán nước mía ven đường, phảng phất mùi khói xăng nồng nặc của những chiếc xe máy hai thì đang rồ ga lướt qua màn đêm.
Cầm chặt mảnh danh thiếp cũ tìm được trong kho, Tuệ Anh một mình đạp xe tiến về khu chợ sách cũ nổi tiếng giữa lòng Chợ Lớn.