Trọng Sinh Năm 2008Ch.8 / 48
Chapter 8

Vết nứt trên bàn trà

Tiếng ấm chè bốc khói nghi ngút trên bàn nước bằng gỗ tạp đặt giữa gian nhà ngoài, nơi ông chú họ xa vừa trải xấp giấy thỏa thuận góp vốn vừa liến thoắng giục giã bố Thành.

Ngọn đèn tuýp một mét hai gắn hờ hững trên thanh xà nhà bằng gỗ xoan đã ngả màu nâu xỉn chập chờn phát ra những tiếng vo ve quen thuộc của chiếc chấn lưu cũ rỉ sét. Luồng ánh sáng trắng xanh nhợt nhạt, run rẩy rọi thẳng xuống mặt bàn đầy những vết đục, vết khắc sâu hoắm và những quầng ố dầu mỡ cơ khí chưa bao giờ được lau sạch hẳn. Bên ngoài hiên, cơn mưa rào đầu hạ rả rích dội từng đợt rát rạt lên mái fibro-xi măng xám xịt. Từng giọt nước đục ngầu men theo rãnh nứt chân chim nơi góc máng xối rỏ xuống chiếc xô nhựa màu đỏ đã bạc phếch đặt sát vách tường, tạo nên những âm thanh lộp độp đơn điệu, nặng nề và ẩm ướt như đếm từng nhịp thời gian đang chậm chạp trôi qua.

Người đàn ông vừa bước vào nhà cách đây nửa giờ đồng hồ là ông Quý, người bà con bắn đại bác bảy tầm mới tới ở tít mạn thị trấn Cổ Lễ. Chiếc áo sơ mi cộc tay dính nước mưa bết chặt vào hai bên bả vai thô kệch, chiếc thắt lưng da giả đã sờn rách viền mép cùng mùi thuốc lá Thăng Long nồng nặc bốc ra từ người ông ta át cả mùi dầu luyn ẩm mốc vốn ngự trị bao năm qua trong căn nhà cấp bốn kiêm xưởng sửa chữa cơ khí này. Ông Quý vuốt lại mái tóc hoa râm ướt rượt, đập bàn tay hộ pháp bè bè xuống xấp giấy pơ-lu mỏng tang màu xanh lét có in sẵn mấy dòng chữ đánh máy lem nhem mực than, giọng điệu hối hả như thể nếu chậm trễ một giây thì cả kho vàng lộ thiên trước mắt sẽ lập tức bốc hơi mất.

“Anh Thành! Em nói thật ruột thật gan với anh, đời người thợ như anh em mình giỏi lắm chỉ gặp được thời vận một lần duy nhất này thôi!” Ông Quý chồm hẳn nửa thân trên qua mặt bàn, ngón tay trỏ với móng tay cáu bẩn gõ lách cách liên hồi xuống dòng chữ in hoa lem nhem: ‘Biên bản thỏa thuận nguyên tắc về việc liên doanh xưởng xay xát chế biến lương thực xuất khẩu’. “Anh nhìn ra ngoài xã hội mà xem, bão giá thế này, dân tình khắp nơi đang nháo nhào tích trữ gạo. Vụ chiêm này gặt rộ vào cuối tháng Sáu, lúa ngoài đồng năm nay trúng mùa lớn nhưng nhà máy xay xát của công ty lương thực trên tỉnh thì đang quá tải nghiêm trọng. Tay phó giám đốc công ty lương thực tỉnh là bạn chí cốt hồi đi lính chiến trường Tây Nam với em, nó tuồn nội bộ cho mình nguyên một dàn máy xay xát liên hoàn ba tầng công suất bốn tấn một giờ, thanh lý theo diện nội bộ giá chỉ bằng một phần ba mua mới tinh ngoài thị trường!”

Bố Thành ngồi đối diện, chiếc lưng còng hơi khòm xuống, hai bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần, những vết sẹo cắt kim loại đen sì đan chặt vào nhau đặt trên đùi. Đôi mắt trũng sâu vì những đêm dài mất ngủ dán chặt vào những con số chi chít trên trang giấy mỏng tang.

Đức Anh đứng nép sau tấm rèm vải hoa đã phai màu ngăn cách giữa gian bếp ẩm tối và nhà ngoài, nhìn thấy rất rõ bờ vai gầy guộc của bố đang khẽ run lên từng chặp. Bố anh đang dao động. Một sự dao động đến tội nghiệp của một người đàn ông cả một đời quẩn quanh với chiếc cờ lê, mỏ lết, cả đời chắt bóp từng đồng bạc lẻ tiền công vá săm, sửa máy nổ cọc cạch mà vẫn không đủ lo cho vợ một manh áo mới tinh tươm, không đủ cho con trai một kỳ học phí đàng hoàng trên thành phố. Cái nghèo truyền đời như một khối chì nặng ngàn cân đè nghẹt lên lồng ngực người thợ già, và lúc này, một tia hy vọng đổi đời dù mong manh đến đâu cũng đủ khiến lý trí của ông chao đảo.

“Nhưng mà... chú Quý à,” giọng ông Thành khàn đặc, ngập ngừng, từng lời thốt ra nghe nhọc nhằn như tiếng kim loại rỉ sét cọ vào nhau. “Ba trăm triệu... số tiền ấy lớn quá. Cả đời tao tích cóp tằn tiện, cùng lắm trong nhà chỉ có dăm bảy triệu lận lưng phòng lúc ốm đau tai ương. Giờ bảo gom đâu ra ngần ấy tiền một lúc?”

“Thì em đã tính đường đi nước bước trọn vẹn cho anh cả rồi!” Ông Quý ghé sát tai ông Thành, giọng hạ thấp xuống đầy vẻ tâm phúc cơ mật, nhưng từng từ ngữ tuôn ra lại như những mũi dùi sắc nhọn xoáy thẳng vào tâm can người nghe. “Anh có cái xưởng cơ khí mặt đường liên xã này, lại thêm mảnh đất thổ cư ông bà để lại rộng rãi thênh thang. Thằng Thắng ‘đen’ ngoài phố huyện nó cầm sổ đỏ, lãi suất năm phân một tháng, thủ tục giấy tờ nó lo trọn gói trong một buổi sáng là giải ngân ngay hai trăm triệu tiền tươi thóc thật. Còn một trăm triệu nữa, em với anh đứng tên vay nóng anh em họ hàng nội ngoại mỗi người dăm bảy triệu, chục triệu gom lại là đủ đứt đuôi. Vụ này máy móc vào guồng chạy rầm rập, chỉ cần ba tháng cao điểm xay xát vụ chiêm, trừ hết chi phí xăng dầu công thợ đi, mỗi tháng anh bỏ túi nhẹ nhàng không dưới sáu chục triệu bạc! Trả sạch nợ gốc lẫn lãi chỉ trong nháy mắt, rồi sau đấy cái xưởng xay xát cứ thế mà đẻ ra tiền triệu mỗi ngày. Anh Thành, anh định cả đời cắm mặt vào đống sắt vụn này, hít khói xăng dầu khét lẹt để người làng người xã người ta gọi là thằng thợ vá săm dạo mãi à? Thằng Đức Anh nó học đại học trên Hà Nội, tốn kém trăm bề, anh không bứt phá lên thì lấy gì mà lo cho nó sau này cưới vợ làm nhà, lấy gì cho bằng bạn bằng bè?”

Từng câu, từng chữ của ông Quý đánh trúng vào nỗi mặc cảm tự ti, sự bất an thường trực và cả khát vọng đổi đời cháy bỏng đang âm ỉ trong lồng ngực người cha nghèo. Bố Thành thở dốc một hơi, bàn tay run rẩy với lấy bao thuốc lá Du Lịch đặt ở góc bàn nhưng rồi ngón tay lại rụt lại. Đôi mắt ông ánh lên một tia hy vọng cuồng nhiệt xen lẫn nỗi hoang mang tột độ. Ông đưa mắt nhìn sang góc nhà, nơi có chiếc hòm gỗ cũ kỹ khóa bằng chiếc khóa đồng hoen gỉ đựng cuốn sổ đỏ – tài sản duy nhất chứng minh cho cả một đời lao động lương thiện, mồ hôi nước mắt của hai vợ chồng.

Mẹ Lan từ dưới bếp bước lên, hai bàn tay gầy gò bưng chiếc đĩa sứ sứt mép đựng mớ lạc rang còn bốc hơi ấm, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn lo âu khắc khổ. Bà rụt rè đặt đĩa lạc xuống góc bàn, ngập ngừng lên tiếng, giọng run run:

“Chú Quý ơi... cái tiền lãi năm phân một tháng là năm phần trăm đấy chú à. Hai trăm triệu mỗi tháng riêng tiền lãi đóng cho người ta đã là mười triệu bạc rồi, bằng cả năm trời tôi ngồi bán mớ rau củ cải ngoài chợ huyện. Ngộ nhỡ máy móc mang về nó hỏng hóc, hay lúa má năm nay mất mùa người ta không mang đến xay thì...”

“Chị dâu thì biết cái gì về chuyện kinh doanh lớn!” Ông Quý xua tay quầy quậy, giọng lộ rõ vẻ bực dọc, khinh khỉnh không thèm giấu giếm. “Đàn bà con gái quanh năm chỉ biết mấy mớ rau con cá ngoài chợ thì làm sao mà nhìn ra được thời cơ tầm cỡ vĩ mô! Máy móc của công ty nhà nước thanh lý, người ta bảo dưỡng định kỳ từng con ốc vít, hỏng là hỏng thế nào được mà chị gở mồm gở miệng? Tôi là em họ trong nhà, có mối làm ăn béo bở như miếng mỡ gà mới lặn lội mưa gió đêm hôm đem đến tận mâm cho anh chị xơi, chứ người ngoài đời nào tôi thèm rủ! Anh Thành, ký đi! Ký giấy ủy quyền thế chấp xưởng với cái biên bản góp vốn này, đêm nay em bắt chuyến xe khách muộn lên tỉnh đặt cọc luôn, chậm chân là thằng khác nó hớt tay trên mất trắng!”

Chiếc bút bi mực xanh Bến Nghé được ông Quý tháo nắp tanh tách, dúi thẳng vào lòng bàn tay thô ráp của ông Thành. Bố Thành hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng, ngón tay run rẩy chạm vào thân nhựa trơn tuột của chiếc bút.

Đúng lúc mũi bi sắp sửa ấn xuống mép giấy pơ-lu mỏng manh, tấm rèm vải hoa khẽ lay động xột xoạt.

Đức Anh bước ra.

Không vội vã, không gào thét, từng bước chân của cậu sinh viên hai mươi tuổi vững chãi và điềm tĩnh một cách lạ thường trên nền gạch xỉ lồi lõm ẩm ướt. Trên tay anh là chiếc phích nước Rạng Đông vỏ sắt in hình bông hoa thược dược đỏ thắm và một ấm trà gốm tráng men màu lam vừa châm thêm nước sôi sùng sục. Khói nóng bốc lên nghi ngút từ vòi ấm, mang theo hương chè xanh thoang thoảng làm dịu đi phần nào bầu không khí ngột ngạt, sực mùi toan tính và thuốc lá khét lẹt trong gian phòng khách.

“Chú Quý đi đường mưa gió lạnh lẽo, uống chén trà nóng cho ấm người đã ạ.”

Giọng nói của Đức Anh trầm, vang và rõ ràng đến mức khiến cả ba người lớn trong phòng đều giật mình. Ông Thành ngẩng phắt đầu lên, bàn tay cầm bút khựng lại lơ lửng giữa không trung. Mẹ Lan vội vã bước lại gần con trai, ánh mắt đầy vẻ thấp thỏm lo âu vì sợ con trai lại nổi tính nóng nảy bốc đồng như mọi khi.

Ông Quý nhíu đôi lông mày rậm rạp nhìn trừng trừng vào Đức Anh. Trong ký ức hạn hẹp của ông ta, thằng con trai độc nhất của ông Thành vốn là một đứa ngỗ ngược, lầm lì, suốt ngày chỉ biết cắm đầu ngoài quán net thị trấn bấm điện tử thâu đêm suốt sáng, mỗi lần từ Hà Nội về quê chỉ biết xòe tay xin tiền rồi vùng vằng bỏ đi. Nhưng người thanh niên đang đứng trước mặt ông ta lúc này lại toát ra một phong thái hoàn toàn xa lạ. Cậu mặc chiếc áo sơ mi bạc màu cài kín cúc cổ ngay ngắn, ánh mắt sắc sảo, điềm đạm và sâu thẳm như mặt hồ mùa đông, dường như đã nhìn thấu suốt mọi ngóc ngách tăm tối nhất của lòng người.

Đức Anh nghiêng phích rót một dòng nước sôi tráng qua chén sứ, đổ nước đầu vào chiếc ống nhổ bằng nhôm dưới gầm bàn, rồi cẩn thận rót một chén trà xanh sóng sánh đặt ngay ngắn, vững chãi trước mặt người chú họ. Từng cử chỉ, từng động tác đều chuẩn mực, lễ độ và chừng mực đến mức khiến ông Quý dù có muốn nổi cáu cũng không thể tìm ra một kẽ hở nào để bắt bẻ.

“Cháu Đức Anh đấy à? Lâu lắm mới thấy mặt mũi về quê nhỉ,” ông Quý cười nhạt một tiếng, cầm chén trà nhấp một ngụm nhỏ lấy lệ rồi lập tức quay ngoắt sang ông Thành, giọng lại đầy vẻ giục giã: “Anh Thành ký nhanh tay lên cho em nhờ, xe khách chuyến mười một giờ đêm nay nó chạy ngang qua đường quốc lộ rồi đấy!”

Đức Anh không hề lùi bước. Anh nhẹ nhàng kéo chiếc ghế gỗ đẩu con con, ngồi xuống sát cạnh bố, đặt bàn tay ấm áp của mình lên mu bàn tay gầy gò, lạnh ngắt đang cầm bút của ông. Cảm nhận được luồng hơi ấm vững chãi từ bàn tay con trai, các khớp ngón tay cứng đờ của ông Thành khẽ nới lỏng chuôi bút bi.

“Bố cứ từ từ đã,” Đức Anh mỉm cười nhẹ nhàng, rồi chuyển ánh mắt thẳng tắp nhìn sang ông Quý. “Chú Quý này, cháu học ở trường Đại học Thương mại trên Hà Nội, ngành Quản trị Kinh doanh, mấy hôm nay trên lớp các thầy cô bộ môn cũng đang giảng dạy rất kỹ về các mô hình liên doanh sản xuất thời bão giá. Cháu ngồi trong nhà nghe chú trình bày nãy giờ thấy dự án của chú quy mô lớn và hấp dẫn quá, nhưng cháu vừa liếc mắt đọc qua tập giấy tờ này có mấy điểm mấu chốt về hạch toán chi phí và cơ sở pháp lý chưa được thông suốt, muốn nhờ chú giải thích cặn kẽ hộ bố cháu một chút được không ạ?”

Nụ cười gượng gạo trên môi ông Quý thoáng đông cứng lại. Ông ta đưa mắt nhìn tập giấy pơ-lu trên bàn, rồi lại nhìn xoáy vào Đức Anh với vẻ bề trên trịch thượng và khinh miệt:

“Mày thì biết cái thớ gì mà hạch với toán! Ba cái mớ chữ nghĩa viển vông trong sách vở nhà trường chỉ toàn lý thuyết suông của mấy ông giáo già, ra ngoài đời thực tế người ta làm ăn bằng quan hệ, bằng thời cơ! Chú với bố mày đang bàn chuyện đại sự làm giàu cho cả dòng họ, trẻ con mới nứt mắt ra đừng có xía mồm vào!”

“Chuyện cả ba trăm triệu bạc, cả cái sổ đỏ mồ hôi nước mắt của bố mẹ cháu tích cóp suốt hai mươi năm trời, không thể gọi là chuyện trẻ con được đâu chú,” Đức Anh vẫn giữ nguyên ngữ điệu ôn hòa, nhưng từng âm tiết phát ra đều đanh thép, rành rọt như chuông đồng. Anh vươn tay, nhẹ nhàng xoay tờ giấy thỏa thuận về phía mình, ngón tay gõ nhẹ lên dòng điều khoản đầu tiên.

“Thứ nhất, cháu muốn hỏi chú về tư cách pháp nhân của dự án này. Biên bản này ghi rõ ràng là ‘Liên doanh xưởng xay xát chế biến lương thực’, nhưng bên A đứng tên ký kết chỉ là tên cá nhân một ông bạn phó giám đốc nào đó của chú, hoàn toàn không có con dấu tròn của Công ty Lương thực tỉnh, không có quyết định thanh lý tài sản nhà nước theo đúng trình tự thẩm định và đấu thầu công khai. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các quy định hiện hành của Chính phủ về quản lý tài sản công, bất kỳ máy móc trang thiết bị nào của doanh nghiệp nhà nước khi thanh lý mà không thông qua hội đồng định giá tài sản và bán đấu thầu công khai theo luật định thì đều bị coi là tài sản bất hợp pháp, tài sản tẩu tán trái phép. Nếu thanh tra giao thông, thanh tra tài chính hoặc công an kinh tế vào cuộc kiểm tra hóa đơn chứng từ nguồn gốc thiết bị, toàn bộ dàn máy ba tầng công suất bốn tấn này sẽ lập tức bị niêm phong, tịch thu vô điều kiện sung công quỹ. Khi cái ngày đó xảy ra, ai sẽ đứng ra bồi thường khoản tiền góp vốn ba trăm triệu của bố cháu? Bản thỏa thuận viết tay lem nhem này có điều khoản nào quy định trách nhiệm bồi hoàn cá nhân vô điều kiện của bên A không, hay chỉ ghi chung chung một câu vô thưởng vô phạt là ‘mọi rủi ro do thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường hai bên tự nguyện cùng gánh chịu’?”

Sắc mặt ông Quý bắt đầu biến đổi rõ rệt. Khóe mi mắt cáu bẩn của ông ta giật giật liên hồi, chén trà nóng trên tay khẽ chao đảo khiến vài giọt nước sôi sánh ra ngoài mu bàn tay. Ông ta trừng trừng mắt:

“Mày... mày nói nhăng nói cuội cái gì đấy! Bạn tao là lãnh đạo cốt cán trên tỉnh, có ô dù che chắn vững như bàn thạch, ai dám đến thanh tra tịch thu máy móc của các sếp!”

“Thời buổi này không có cái ô dù nào che nổi sai phạm tài chính khi thanh tra vào cuộc đâu chú ạ,” Đức Anh mỉm cười lạnh lùng, lật dứt khoát sang trang thứ hai của tập giấy. “Thứ hai, cháu muốn hỏi chú về đơn giá máy móc và bài toán chi phí nhiên liệu. Dàn máy xay xát liên hoàn ba tầng mà chú luôn miệng bảo ‘giá rẻ như cho’, thực chất là dòng máy bóc vỏ trấu và đánh bóng gạo công nghệ cũ rích từ thập niên tám mươi, vận hành bằng động cơ diesel kéo dây curoa truyền động, chạy hoàn toàn bằng dầu DO. Hiện tại là tháng Năm năm 2008. Chú có biết giá dầu thô thế giới trên sàn giao dịch New York hôm nay đã vượt mốc bao nhiêu không ạ? Gần một trăm ba mươi lăm đô la một thùng! Ở trong nước, giá dầu diesel vừa rồi đã tăng một mạch từ chín nghìn ba trăm đồng lên hơn mười ba nghìn đồng một lít, và đến tháng Bảy tới đây theo đà lạm phát phi mã này chắc chắn sẽ còn tăng vọt lên mức kỷ lục chưa từng thấy trong lịch sử! Một dàn máy công suất bốn tấn một giờ, chạy liên tục một ngày mười tiếng sẽ ngốn hết bao nhiêu lít dầu? Với đơn giá dầu tăng dữ dội thế này, chi phí nhiên liệu đầu vào sẽ chiếm tới bốn mươi lăm phần trăm tổng doanh thu xay xát của xưởng!”

Gian nhà ngoài bỗng chốc rơi vào một khoảng lặng nghẹt thở đến rợn người. Chỉ còn tiếng mưa đầu hạ rơi lộp độp trên mái tôn ximăng và tiếng thở ngày một dồn dập, nặng nề của bố Thành.

Ông Thành là một người thợ cơ khí lành nghề bậc thầy ở cái đất này. Cả cuộc đời ông gắn liền với việc rã máy, sửa chữa đầu nổ diesel, máy cày tay, máy bơm nước cho bà con khắp ba xã lân cận. Ông hiểu rõ hơn bất kỳ ai trên đời này rằng những khối động cơ đốt trong cũ kỹ ngốn nhiên liệu khủng khiếp đến mức nào một khi pít-tông và xéc-măng đã mòn vẹt. Những con số lạnh lùng, chính xác mà Đức Anh vừa rành rọt nêu ra như một gáo nước đá tạt thẳng vào cái đầu đang bốc hỏa vì ảo mộng làm giàu của ông.

Chưa dừng lại ở đó, ánh mắt Đức Anh sắc lẹm như dao cạo, tiếp tục bóc tách từng lớp vỏ bọc dối trá được che đậy vụng về trong bản kế hoạch làm ăn ma quỷ:

“Thứ ba, cháu muốn nói về đơn giá sắt thép xây dựng và sự thay đổi của tập quán thị trường. Để dựng một cái nhà xưởng khung thép đủ cao, đủ kiên cố để chứa vừa cái dàn máy ba tầng nặng hàng chục tấn kia, chú cần ít nhất bảy tấn thép hình và tôn lợp mái loại dày. Giá thép Thái Nguyên trên thị trường hiện tại đã chạm đỉnh mười tám nghìn đồng một cân, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. Tiền dựng xưởng chú dự toán ba mươi triệu trong bản thỏa thuận này là một con số hoàn toàn hoang đường, trên thực tế khi bắt tay vào làm nó sẽ đội vốn lên không dưới bảy mươi triệu đồng! Chưa hết, lúa vụ chiêm năm nay toàn miền Bắc vừa phải gánh chịu một đợt rét đậm rét hại kỷ lục kéo dài suốt ba mươi tám ngày hồi tháng Hai, diện tích mạ non chết rét phải cấy lại chiếm non nửa, chu kỳ sinh trưởng của cây lúa bị kéo lùi, tỷ lệ lép hạt rất cao, sản lượng thóc thực thu sẽ giảm sụt ít nhất hai mươi phần trăm. Quan trọng hơn cả, các hộ nông dân trong huyện bây giờ người ta đang ồ ạt chuyển sang dùng máy xay xát mini chạy điện ba pha đặt rải rác ngay tại từng ngõ xóm, vừa tiện lợi, xát bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu lại đỡ tốn công chuyên chở bằng xe thồ. Thử hỏi có người nông dân nào dại dột chở hàng tấn thóc lúa cồng kềnh ra tận cái xưởng lớn ngoài đường liên xã này để thuê xay xát với giá cao ngất ngưởng nhằm gánh chi phí dầu mỡ cho chú không?”

“Mày... mày câm mồm lại ngay!”

Mặt ông Quý đỏ tía tai như gà chọi, giận dữ đứng bật dậy khỏi ghế. Chiếc ghế gỗ đẩu va mạnh vào chân bàn phát ra tiếng kêu cọt kẹt chói tai. Ông ta run rẩy chỉ thẳng ngón tay trỏ hộ pháp vào mặt Đức Anh:

“Thằng ranh con mất dạy! Mày học hành được ba mớ chữ tẩy não trên Hà Nội mà dám ngồi đây vắt mũi chưa sạch dạy khôn tao à? Mày bảo ai lừa đảo? Mày bảo ai vẽ hươu vẽ vượn? Tao là bậc cha chú bề trên của mày đấy! Đồ con hoang đàng vô phép!”

“Cháu chưa từng dùng một từ ngữ nào thất lễ hay xúc phạm danh dự của chú, cháu chỉ đang đặt câu hỏi dựa trên các biến số kinh tế vĩ mô có thật và số liệu thị trường thực tế,” Đức Anh vẫn ngồi yên bất động, lưng thẳng tắp, ánh mắt nhìn thẳng không hề chớp, tạo nên một thứ áp lực vô hình nhưng bức người đến lạ lùng. “Và câu hỏi quan trọng nhất, câu hỏi sinh tử của cái nhà này, cháu muốn hỏi chú về cái bẫy đòn bẩy tài chính với mức lãi suất năm phân một tháng này.”

Đức Anh từ từ xoay người sang nhìn người cha đang ngồi chết lặng bên cạnh, giọng nói của anh chùng xuống, trầm lắng nhưng tràn đầy sức nặng ngàn cân:

“Bố à, hai trăm triệu vay của lão Thắng ‘đen’ ngoài phố huyện với lãi suất năm phần trăm một tháng, tức là sáu mươi phần trăm một năm! Đây là hình thức lãi mẹ đẻ lãi con, là cái bẫy tín dụng đen xiết nợ tàn độc nhất! Mỗi tháng bố chưa cần biết xưởng có chạy được hay không, có hạt thóc nào đổ vào phễu máy hay không, bố đã phải nôn ra đúng mười triệu tiền mặt chỉ để trả tiền lãi cứng cho người ta. Với một dự án mà chi phí nhiên liệu tăng gấp rưỡi, chi phí xây lắp xưởng đội lên gấp đôi, nguồn cung nguyên liệu sụt giảm nghiêm trọng và pháp lý nguồn gốc máy móc hoàn toàn mập mờ, dòng tiền hoạt động của xưởng chắc chắn sẽ bị âm nặng nề ngay từ tháng thứ hai! Khi dòng tiền đã âm, bố lấy đâu ra mười triệu tiền mặt mỗi tháng để đóng lãi cho thằng Thắng ‘đen’? Chỉ cần bố chậm lãi ba tháng liên tiếp, tiền lãi phạt sẽ cộng dồn vào tiền gốc thành hai trăm ba mươi triệu, lão Thắng sẽ đem cả đàn đầu gấu nghiện ngập đến quậy nát cái nhà này, kéo rào kẽm gai siết sạch toàn bộ xưởng sửa chữa, giật phăng cuốn sổ đỏ và tống cổ cả nhà mình ra đường đứng ăn mày!”

Từng lời Đức Anh thốt ra đanh thép như những nhát búa tạ giáng thẳng vào tâm can ông Thành.

Trong tâm trí sâu thẳm của Đức Anh, những ký ức kinh hoàng của kiếp trước lại ùa về cuồn cuộn như một cơn ác mộng sống động: cũng chính vì bản hợp đồng ma quỷ này, cũng chính vì người chú họ Quý này đem miếng mồi ngon đến nhử, mà bố anh trong một phút bốc đồng vì muốn kiếm tiền cho con ăn học đã cắm sạch nhà cửa đất đai vào tay trùm tín dụng đen phố huyện. Để rồi chỉ chưa đầy nửa năm sau, xưởng vỡ nợ, bọn đầu gấu kéo đến ném mắm tôm, xiết nhà, bố phải dắt díu mẹ bỏ xứ mà đi, trốn chui trốn lủi thuê một túp lều rách nát ven bờ sông Đào ẩm thấp. Người thợ cả kiêu hãnh ngày nào phải đi làm thuê mạt hạng trong những xưởng đúc đồng thủ công độc hại, ngày đêm hít khói chì, hít bụi kim loại nặng đến nát cả buồng phổi để rồi ra đi trong đau đớn tột cùng ở tuổi năm mươi ba...

Đức Anh không thể để thảm kịch đẫm máu và nước mắt ấy tái diễn thêm một lần nào nữa. Tuyệt đối không!

“Ở Hà Nội, tại khu công nghiệp Quang Minh và dọc mạn Gia Lâm, hàng loạt xưởng sản xuất tư nhân dùng đòn bẩy nợ vay lãi suất cao từ cuối năm ngoái đến nay đều đã đồng loạt phá sản, vỡ nợ dây chuyền vì lạm phát chi phí đẩy,” Đức Anh quay ngoắt lại nhìn thẳng vào đôi mắt đang đục ngầu, dao động dữ dội của ông Quý, giọng nói lạnh lẽo như băng tuyết mùa đông. “Nếu chú Quý thực sự tự tin vào cái dự án béo bở đẻ ra tiền này đến thế, tại sao chú không đem cuốn sổ đỏ căn nhà khang trang của chú ở thị trấn Cổ Lễ đi mà cắm lấy hai trăm triệu? Sao chú không tự mình đứng tên ký hợp đồng vay nặng lãi với lão Thắng ‘đen’, mà nhất quyết phải lặn lội mưa gió đêm hôm ép bố cháu đem mảnh đất hương hỏa cha ông để lại ra làm bia đỡ đạn thế chấp?”

“Mày... Mày... đồ ranh con...”

Lồng ngực ông Quý phập phồng kịch liệt, mặt cắt không còn một giọt máu. Những lý lẽ đanh thép, những con số hạch toán kinh tế sắc bén cùng việc bị lột trần tâm địa đen tối ngay trước mặt người anh họ cả tin khiến toàn bộ phòng tuyến ngụy biện của ông ta hoàn toàn sụp đổ tan tành.

Bố Thành từ từ ngẩng đầu lên. Ánh mắt đùng đục của người thợ già nhìn người em họ xa lúc này không còn sót lại một chút vẻ tin tưởng, háo hức mù quáng như ban đầu nữa. Thay vào đó là sự nghi hoặc, dò xét cay đắng và một nỗi thất vọng sâu sắc đến tột cùng. Bàn tay thô ráp của ông buông lỏng hoàn toàn, chiếc bút bi Bến Nghé rơi tuột xuống mặt bàn gỗ tạp, lăn lóc vài vòng rồi phát ra một tiếng ‘cạch’ khô khốc.

“Chú Quý... Thằng Đức Anh nó nói... có đúng sự thật không?” Giọng ông Thành trầm hẳn xuống, nặng trĩu và u uất như một khối đá tảng ngàn năm dưới đáy vực.

“Anh Thành! Anh... anh lại đi tin lời một thằng ranh con ăn chưa no lo chưa tới, cả đời chưa kiếm nổi một xu dính túi để nuôi thân à?” Ông Quý gào thét lên lạc cả giọng để cố che giấu sự chột dạ đang cào xé trong lòng, đôi bàn tay hộ pháp hấp tấp, vội vã gom mớ giấy tờ pơ-lu mỏng tang trên bàn nhét bừa vào chiếc cặp giả da đã tróc vảy. “Được rồi! Đúng là làm ơn mắc oán! Tao thấy anh em ruột thịt nghèo khó túng quẫn mới mang mối ngon đến tận mâm cơm cho húp, không ngờ bị thằng con trời đánh thánh vật nhà anh nó ngồi lên đầu lên cổ dạy đời, coi tao như quân trộm cướp lừa đảo! Anh cứ việc ôm lấy cái xưởng cơ khí rách nát này với thằng con tiến sĩ giấy của anh mà chết đói nhé! Từ nay về sau có chết rấp ở xó nào cũng đừng bao giờ vác mặt đến cửa nhà thằng Quý này mà xin xỏ!”

Nói đoạn, ông Quý giật phăng chiếc cặp da kẹp chặt vào nách, không thèm chào hỏi lấy một câu lệ bộ với mẹ Lan, xỏ vội đôi dép tông lê mòn vẹt rồi hầm hầm đạp cửa lao thẳng ra ngoài màn mưa đen kịt.

Chỉ mấy giây sau, tiếng nổ bành bạnh, chói tai của chiếc xe máy phân khối lớn vang lên xé toang màn đêm tĩnh mịch của đường làng rải đá dăm. Ánh đèn pha quét một vệt sáng vàng vọt, sắc lẹm qua khung cửa sổ gỗ rồi nhanh chóng lịm dần vào bóng tối mịt mùng của cơn mưa đầu hạ.

Gian phòng khách nhỏ bé lại rơi vào một bầu không khí im lặng đến ngột ngạt, chỉ còn tiếng mưa dội rầm rầm lên mái fibro-xi măng và tiếng thở phì phò của hai cha con.

Mẹ Lan run rẩy thở phào một cái thật dài, hai bàn tay thô ráp chắp lại trước ngực vái lấy vái để vào khoảng không: “Đội ơn trời phật... May quá... May mà thằng Đức Anh nó về kịp, không thì mất cả nhà lẫn đất...”

Nhưng người phụ nữ tội nghiệp ấy vừa dứt câu thì một tiếng động kinh hoàng bỗng chốc nổ tung giữa căn phòng.

*RẦM!*

Chiếc bàn nước bằng gỗ tạp rung bần bật như vừa trúng phải một quả búa tạ. Chiếc ấm trà men lam nảy tung lên khỏi mặt bàn rồi rơi nghiêng đổ ụp xuống, dòng nước chè xanh nóng rẫy tràn ra lênh láng khắp mặt gỗ nứt nẻ, chảy tong tỏng xuống nền gạch xỉ đỏ au.

Bố Thành đứng bật dậy, một tay chống nạnh vào hông, một tay nắm chặt lại thành nắm đấm gân guốc vừa nện thẳng xuống mặt bàn. Gương mặt người thợ già đỏ bừng lên vì cơn giận dữ tột độ, những đường gân xanh nổi chằng chịt, giật giật trên trán và hai bên thái dương bạc trắng. Đôi mắt ông trừng trừng nhìn thẳng vào mặt Đức Anh, chất chứa một cơn cuồng nộ hoang dại bùng phát sau chuỗi ngày dài đằng đẵng bị dồn nén đến tận cùng của sự bế tắc.

“Mày cút ngay cho tao!”

Tiếng thét của ông Thành xé toang gian nhà, vang dội đinh tai nhức óc, át cả tiếng sấm ầm ì đang cuộn lên ngoài cánh đồng xa.

“Mày cút ngay lên Hà Nội cho tao!”

Mẹ Lan kinh hoàng lao tới ôm chặt lấy cánh tay gầy guộc của chồng, nước mắt giàn giụa: “Kìa ông! Ông phát điên cái gì thế hả ông? Thằng Đức Anh nó vừa cứu cái nhà này một bàn thua trông thấy, cứu cả cái mảnh đất tổ tiên này đấy! Ông không cảm ơn con một câu thì thôi, sao tự nhiên lại nổi khùng quát tháo xua đuổi nó như quân thù thế!”

“Cứu cái gì? Cảm ơn cái gì hả con đàn bà ngu dốt?!” Ông Thành gạt phăng cánh tay gầy yếu của vợ ra khiến bà lảo đảo ngã dúi vào góc tường. Cả thân hình gầy còm của người thợ già run rẩy bần bật, ngón tay trỏ đen đúa vì dầu luyn chỉ thẳng vào chóp mũi Đức Anh:

“Nó là cái thớ gì? Nó là cái giống gì mà dám nghênh ngang ngồi vào bàn nước dạy đời người lớn? Nó tưởng nó thi đỗ được vào cái trường đại học trên Hà Nội, đọc được ba cái mớ chữ tây chữ tàu trong sách kinh tế vớ vẩn là nó thành ông tướng, ông trời con trong cái nhà này rồi đấy à? Nó có biết tao phải nuốt nhục, phải hạ mình uống từng chén rượu cay xè, phải quỳ lụy cầu cạnh người ta suốt bao nhiêu tháng trời nay để người ta thương tình nhả cho một chân liên doanh không? Cơ hội đổi đời duy nhất của cả cái gia đình khốn khổ này, chén cơm manh áo của cả cái nhà này bao nhiêu năm trời tích cóp, bị một câu ‘kinh tế lượng’ với ‘lạm phát chi phí đẩy’ của mày đạp đổ sạch trơn rồi!”

Đức Anh vẫn đứng yên bất động tại chỗ. Anh không hề lùi bước lấy nửa phân, cũng không hề có ý định mở miệng phản kháng hay biện minh.

Nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu vằn lên những tia máu của bố, trong lòng anh không hề dấy lên một chút tức giận hay ấm ức nào, mà chỉ có một nỗi xót xa vô bờ bến cào xé lồng ngực như bị muối xát vào da thịt.

Anh hiểu. Trải qua một đời thăng trầm nếm đủ mùi vị đắng cay của kiếp trước, anh quá hiểu người cha nghèo này. Cơn cuồng nộ điên cuồng, mù quáng của bố lúc này hoàn toàn không phải vì căm ghét anh, mà nó xuất phát từ sự bất lực tột cùng, từ nỗi sỉ nhục cay đắng của một người đàn ông trụ cột trong gia đình khi bàng hoàng nhận ra bản thân vừa suýt bị người ta lừa vào tròng như một kẻ ngốc nghếch. Và cay đắng, nhục nhã hơn cả đối với ông, người vạch trần sự ngây thơ, thất bại và dại dột ấy của ông lại chính là đứa con trai độc nhất mà bấy lâu nay ông vẫn coi là một đứa trẻ con lông bông, vô tích sự. Sự tự trọng của một người đàn ông cả đời lao động chân chính bằng mồ hôi nước mắt đã bị tổn thương sâu sắc đến mức rách toạc.

“Bố... con chưa bao giờ có ý nghĩ muốn dạy đời bố cả,” Đức Anh khẽ cất lời, giọng điệu run rẩy vì xúc động nghẹn ngào. “Con chỉ không muốn bố phải chịu thêm bất kỳ sự khổ cực nào nữa. Con không muốn bố mẹ phải mất đi nơi chốn dung thân duy nhất này...”

“Mày im cái mồm mày lại!” Bố Thành gắt lên chói tai, giọng khàn đặc, vỡ vụn ra từng mảng trong không gian ngột ngạt. “Mày bảo tao khổ? Ai làm cho tao khổ? Hai mươi năm ròng rã qua tao nai lưng ra làm thợ, hít bụi sắt, uống nước lã trừ bữa, hai bàn tay tao nát tươm, chai sần biến dạng thế này là vì cái gì, vì ai? Tao chắt bóp từng đồng tiền công, nhịn từng điếu thuốc gửi lên Hà Nội cho mày ăn học bằng người, để rồi mày tiêu tiền triệu như rác rưởi ngoài đường, mày nợ môn, mày cắm đầu vào mấy cái máy tính chơi game thâu đêm suốt sáng! Mày đã làm ra nổi một đồng một cắc nào tự nuôi sống cái thân mày chưa mà mày lấy tư cách gì đứng đây phán xét chén cơm manh áo của tao? Mày bảo tao không biết tính toán à? Tao biết chứ! Tao biết vay nặng lãi năm phân là nguy hiểm, là kề dao vào cổ chứ! Nhưng tao già rồi... mày có hiểu không hả trời? Tao sắp không gõ búa, không vặn nổi con ốc vít nữa rồi! Tao không liều một phen này thì lấy cái gì lo cho mày tốt nghiệp, lấy cái gì cho cái gia đình rách nát này ngẩng mặt lên nhìn thiên hạ hả trời đất ơi?!”

Những lời ruột gan nghẹn ngào, cay đắng thốt ra trong cơn thịnh nộ khiến lồng ngực người cha phập phồng dữ dội. Bố Thành nghiến chặt hai hàm răng vào nhau, ánh mắt nhìn trân trân vào khoảng không mịt mờ trước mặt. Toàn bộ sinh lực tích tụ bấy lâu nay dường như đã bị rút cạn theo từng tiếng gào thét tuyệt vọng ấy.

Nhưng đúng vào cái khoảnh khắc cơn thịnh nộ đang lên đến đỉnh điểm nghẹt thở, đột nhiên giọng nói gầm rít của ông Thành nghẹn bặt lại nơi cuống họng.

Một âm thanh khục khặc, nghẹn ứ quái dị phát ra từ sâu thẳm trong cuống phổi của ông.

Gương mặt đỏ bừng vì giận dữ của bố Thành thoắt cái chuyển sang một màu trắng bệch, rồi nhanh chóng xám ngoét lại như một nắm tro tàn. Hai tròng mắt ông trợn ngược lên, một bàn tay gầy guộc vội vã đưa lên túm chặt lấy cổ áo sơ mi sờn rách của mình, các ngón tay giật giật dữ dội như thể toàn bộ dưỡng khí trong gian phòng vừa bị một bàn tay vô hình hút cạn sạch trong tích tắc.

“Khụ... Khụ khụ!”

Tiếng ho đầu tiên bật tung ra, khô khốc, nghẹt thở và chói gắt như tiếng hai thanh kim loại rỉ sét bị người ta nghiến mạnh vào nhau.

Ngay sau đó là một chuỗi ho sặc sụa, dữ dội đến mức kinh hoàng, không có cách nào kìm hãm hay kiểm soát nổi. Từng cơn ho quặn thắt kéo giật cả thân hình gầy còm của người thợ già còng gập xuống như một cánh cung bằng tre sắp sửa gãy đôi.

“Ông ơi! Kìa ông làm sao thế này!” Mẹ Lan thét lên một tiếng thất thanh đầy hoảng loạn, quên cả đau đớn vội vàng lao tới ôm chầm lấy bả vai chồng.

Bố Thành không thể gượng đứng vững được nữa. Hai đầu gối ông khuỵu xuống đánh rầm trên nền gạch xỉ, cả người lảo đảo ngã chúi về phía trước. Bàn tay khẳng khiu, đầy những vết chai sần đen bóng vì dầu mỡ cơ khí của ông run rẩy quờ quạng trong không trung, rồi bấu chặt lấy mép chiếc bàn gỗ tạp bằng một sức mạnh tuyệt vọng. Những đốt ngón tay gầy guộc siết mạnh đến mức trắng bệch ra, gân xanh nổi chằng chịt dưới lớp da mỏng dính, khiến chiếc bàn nước rung lên bần bật theo từng cơn co giật xé ruột xé gan của lồng ngực.

“Khụ... oẹ... khụ khụ khụ... khẹc!”

Từng cơn ho dồn dập, liên tiếp như những đợt sóng thần muốn xé toang cuống họng và phế quản của người đàn ông tội nghiệp. Tiếng thở rít lên từng hồi ken két qua khe răng nghiến chặt, nhọc nhằn, đứt quãng và khô khốc hệt như tiếng một chiếc pít-tông cũ kỹ bị kẹt cứng trong xi-lanh máy nổ vì cạn kiệt dầu nhớt bôi trơn. Từng giọt mồ hôi lạnh toát vã ra như tắm trên vầng trán nhăn nheo, chảy ròng ròng xuống hai bên gò má hốc hác, nhợt nhạt không còn một giọt máu.

Đức Anh chết lặng trong tích tắc. Trái tim trong lồng ngực anh như bị một bàn tay sắt vô hình bóp nghẹt lấy, đau đớn đến mức suýt chút nữa khiến anh ngã quỵ.

Cảnh tượng này...

Dáng điệu đau đớn còng gập người này...

Âm thanh thở rít lên nghẹt ngào, tuyệt vọng như tiếng kim loại mài mòn này...

Nó giống hệt! Giống hệt một cách khủng khiếp với buổi chiều định mệnh của mười năm sau trong dòng đời cũ của kiếp trước! Đó là buổi chiều mùa đông lạnh lẽo tại hành lang nồng nặc mùi thuốc sát trùng và cồn y tế của khoa Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai, khi vị bác sĩ trưởng khoa ái ngại lắc đầu nhìn anh, thông báo rằng bố anh đã bước vào giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư phổi di căn sang xương, toàn bộ nhu mô phổi đã bị xơ hóa và hoại tử, xuất huyết phế quản diện rộng không còn khả năng cứu vãn!

Hóa ra... mầm mống của căn bệnh quái ác cướp đi sinh mạng người cha nghèo không phải đến tận năm 2018 mới xuất hiện. Nó đã âm thầm, lặng lẽ gặm nhấm, đục khoét cơ thể hao mòn của ông từ chính những năm tháng này, từ những ngày tháng ông giấu giếm mọi cơn đau tức ngực, nhịn ăn nhịn mặc, cắm đầu hít khói hàn xì độc hại và bụi kim loại nặng trong căn xưởng tồi tàn này để chắt bóp từng đồng tiền mồ hôi nước mắt gửi lên Hà Nội cho anh nướng vào những trận chiến ảo vô nghĩa!

“Bố!”

Đức Anh lao tới nhanh như một tia chớp. Anh quỳ rạp cả hai đầu gối xuống nền gạch xỉ ẩm ướt, hai cánh tay rắn chắc ôm choàng lấy tấm lưng gầy guộc, nhô lên từng dải xương sườn cong queo của bố. Qua lớp vải áo sơ mi mỏng dính ướt đẫm mồ hôi lạnh, anh cảm nhận được từng cơn rung chuyển dữ dội, từng nhịp đập hoảng loạn, đứt quãng của trái tim người cha đang bị cơn khó thở hành hạ đến chết đi sống lại.

“Bố ơi, thở chậm lại... Bố nghe con, hít sâu vào bằng mũi, thở từ từ ra bằng mồm, nhìn vào mắt con này bố!” Đức Anh nghẹn ngào, nước mắt lưng tròng nhưng giọng nói vẫn cố giữ vẻ trấn tĩnh. Một bàn tay anh vuốt mạnh dọc sống lưng bố từ gáy xuống thắt lưng, cố gắng áp dụng tất cả những kỹ năng sơ cứu khai thông đường thở mà anh từng học được ở kiếp sau để giúp giải tỏa cơn co thắt phế quản cấp tính của ông. “Mẹ! Lấy ngay cho con một cốc nước ấm! Nhanh lên mẹ ơi!”

Bố Thành vẫn không ngừng ho giật cục. Trong cơn quằn quại đau đớn, bàn tay run rẩy như người mắc bệnh liệt rung của ông vội vã thò vào túi quần tây sờn rách, rút ra một chiếc khăn mùi xoa màu cháo lòng vo tròn méo mó, vội vàng đưa lên bịt chặt lấy miệng. Ông cố hết sức nghiêng đầu, quay mặt đi về phía góc tường tối tăm, tuyệt vọng không muốn để vợ con nhìn thấy những thứ đang trào ra từ miệng mình.

Nhưng Đức Anh đã nhìn thấy tất cả.

Dưới ánh sáng trắng xanh chập chờn của ngọn đèn tuýp trên xà nhà, trên mép chiếc khăn mùi xoa vải thô trắng đục, một vệt đờm đặc quánh màu nâu sẫm lẫn những tia máu tươi đỏ lòm rỉ ra, thấm loang lổ trên thớ vải, bốc lên một mùi tanh nồng xộc thẳng vào khứu giác.

Cơn ho quằn quại kéo dài thêm chừng hai phút kinh hoàng nữa rồi mới từ từ yếu dần đi, để lại một người đàn ông hoàn toàn kiệt quệ, toàn bộ nửa thân trên buông thõng tựa hẳn vào lồng ngực vững chãi của đứa con trai.

Hơi thở của bố Thành dốc lên từng chặng ngắn, ngắt quãng, hai con mắt kèm nhèm khép hờ mệt mỏi, đôi môi thâm sì run rẩy bần bật không thể thốt nên lời. Bàn tay khẳng khiu của ông vẫn nắm chặt lấy mép chiếc bàn gỗ tạp như đang cố bấu víu vào chút sinh lực tàn tạ cuối cùng của cuộc đời mình.

“Ông ơi... Tôi đưa ông đi viện nhé... Tôi van ông lạy ông, sáng mai tôi đi vay nóng tiền đưa ông lên bệnh viện huyện khám...” Mẹ Lan vừa khóc nức nở vừa bưng cốc nước ấm lại gần, hai bàn tay run lẩy bẩy đến mức nước trong cốc sóng sánh rớt cả ra ngoài sàn gạch.

Bố Thành khẽ lắc đầu một cách yếu ớt đến tội nghiệp. Ông hớp một ngụm nước nhỏ súc miệng rồi vội vã nhổ vào chiếc xô dưới góc sân, cố gắng dùng hết chút tàn lực còn sót lại đẩy nhẹ Đức Anh ra, gượng gạo ngồi thẳng lại trên chiếc ghế gỗ đẩu. Khuôn mặt người thợ già vẫn xám xịt như tro tàn, nhưng sâu thẳm trong đáy mắt đùng đục của ông lúc này lại tràn ngập một nỗi sợ hãi tột cùng – nỗi sợ hãi bản năng của một con người biết rõ lục phủ ngũ tạng của mình đang mục ruỗng từng ngày, nhưng lại tuyệt vọng tìm mọi cách trốn tránh sự thật tàn khốc ấy, bởi vì ông thừa hiểu rằng cái gia cảnh bần hàn này không bao giờ cho phép ông được quyền ngã bệnh.

“Không... không viện vẹo gì hết...” Giọng ông Thành thều thào, đứt quãng như tiếng gió lọt qua khe liếp mục nát. “Chỉ là... bị trúng gió lạnh... với lại viêm họng hạt do mấy hôm nay hàn xì nhiều khói quá thôi. Uống viên thuốc cảm... vào giường ngủ một giấc là mai lại khỏe re ngay...”

“Bố đừng nói gì nữa, con đưa bố vào giường nằm nghỉ ngơi,” Đức Anh nén chặt nỗi đau đớn đang cuộn trào từng cơn trong lồng ngực, giọng anh trầm xuống, dịu dàng nhưng kiên quyết lạ thường.

Anh nhẹ nhàng đỡ lấy một bên nách của bố, cẩn thận luồn cánh tay qua eo ông, cùng với mẹ Lan nửa dìu nửa nâng người đàn ông gầy còm, nhẹ bẫng ấy bước qua tấm rèm vải hoa đã bạc màu, đi vào gian buồng ngủ tối tăm và ẩm thấp phía trong.

Căn buồng ngủ chật chội chỉ kê vừa vặn một chiếc giường bằng gỗ thông ọp ẹp và một chiếc tủ con đựng quần áo cũ kỹ. Đức Anh cẩn trọng đặt bố nằm xuống chiếc đệm bông gạo đã lún sâu theo năm tháng, nhẹ nhàng kéo tấm chăn chiên mỏng đắp ngang ngực cho ông.

Bố Thành nhắm nghiền hai mắt lại, từng nhịp thở tuy vẫn còn nặng nề nhưng nhịp tim đã dần ổn định trở lại sau cơn ho xé ruột xé gan. Bàn tay thô ráp của ông buông thõng trên mặt chăn, những ngón tay khẳng khiu vẫn thỉnh thoảng khẽ giật giật từng chặp theo phản xạ vô thức.

Đức Anh đứng lặng người bên mép giường chừng năm phút đồng hồ. Trong không gian tĩnh mịch chỉ có tiếng thở nhọc nhằn của người cha, anh lặng lẽ ngắm nhìn từng nếp nhăn khắc khổ hằn sâu nơi khóe mắt, từng sợi tóc hoa râm lốm đốm trên mái đầu đã bạc sớm của bố dưới ánh đèn ngủ quả ớt màu đỏ mờ ảo.

Trong lòng Đức Anh trào dâng một cảm giác tội lỗi và ân hận khôn nguôi về những năm tháng tuổi trẻ nông nổi, hoang đàng đã qua, nhưng đồng thời, từ tận đáy sâu tâm can anh, một ngọn lửa quyết tâm mãnh liệt bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết.

Anh đã được ông trời ban cho cơ hội trọng sinh quay trở lại cái mốc thời gian định mệnh này. Anh đã kịp thời ngăn chặn được thảm họa tài chính sắp sửa đẩy cả gia đình vào cảnh tan đàn xẻ nghé, và nhất định, bằng bất cứ giá nào, anh tuyệt đối sẽ không để thần chết cướp đi sinh mạng của người cha này thêm một lần nào nữa!

Khẽ khàng kéo lại mép chăn che kín hai bàn chân lạnh ngắt của bố, Đức Anh ra hiệu bằng ánh mắt cho mẹ Lan ngồi lại bên mép giường trông chừng, rồi anh rón rén bước chân đi ra gian nhà ngoài.

Căn phòng khách lúc này hoang tàn, bừa bộn sau cơn giông bão dữ dội của cảm xúc. Nước chè xanh đổ lênh láng vẫn loang lổ trên mặt bàn gỗ tạp nứt nẻ, chiếc đĩa sứ đựng mớ lạc rang đã nguội ngắt từ lâu, và bên ngoài hiên nhà, tiếng mưa rào đầu hạ đã bắt đầu ngớt dần, chỉ còn những giọt nước rỉ rả rơi từ mái fibro-xi măng xuống nền đất ướt sũng.

Đức Anh cúi người xuống, cầm lấy chiếc giẻ lau bằng vải sợi thô đặt trên bàn thợ cơ khí để dọn dẹp đống nước chè đổ trên mặt bàn. Anh cẩn thận lau sạch từng vệt nước nóng, dựng lại chiếc ấm men lam sứt vòi.

Khi anh khom lưng lau qua vệt nước trà rớt xuống gầm bàn cạnh mép chân chiếc ghế gỗ đẩu nơi bố Thành vừa ngồi quằn quại ban nãy, ánh mắt sắc sảo của anh bỗng khựng lại.

Dưới khe hở hẹp giữa chân bàn gỗ và nền gạch xỉ lồi lõm ẩm ướt, lẫn sâu trong đám phoi bào kim loại sắc lẹm và lớp bụi sắt đen ngòm tích tụ bao năm qua, có một vật thể nhỏ bé chỉ bằng đầu ngón tay đang lấp lánh phản chiếu ánh sáng trắng của ngọn đèn tuýp.

Đức Anh nín thở. Một linh cảm chẳng lành nhói lên trong lồng ngực.

Anh từ từ quỳ một gối xuống nền đất lạnh, vươn những ngón tay dài, gầy guộc luồn sâu vào khe kẹt dưới chân bàn, cẩn thận nhặt vật thể đó lên.

Đó là một mẩu vỏ thiếc thuốc tây màu bạc đã bị xé rách nham nhở. Mép của vỉ thuốc bằng nhôm mỏng bị bóp méo mó, biến dạng hoàn toàn, trông giống như thể người sử dụng nó đã phải dùng một lực bóp nghiến rất mạnh trong một cơn đau đớn tột cùng thể xác để bẻ vụn viên thuốc ra uống vội.

Đức Anh đưa mẩu vỏ thiếc lại gần luồng ánh sáng trắng của bóng đèn tuýp, chăm chú quan sát. Mặt sau của vỉ nhôm in những dòng chữ dập nổi màu xanh đen đã bị mồ hôi tay mặn chát làm nhòe nhoẹt đi non nửa, nhưng những ký tự y khoa cốt lõi thì vẫn còn sót lại lờ mờ:

*“...Tramadol... 50mg... Thuốc giảm đau trung ương... Chỉ định dùng theo đơn...”*

Bàn tay Đức Anh khẽ siết chặt lại. Các khớp ngón tay anh trắng bệch ra vì một cơn chấn động tâm lý cực kỳ dữ dội.

Tramadol!

Là một người từng trải qua những năm tháng chăm sóc bố trong bệnh viện ở kiếp trước, Đức Anh hiểu quá rõ bản chất của cái tên này. Tramadol là loại thuốc giảm đau cực mạnh thuộc nhóm opioid tổng hợp, có cơ chế tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương để phong bế cảm giác đau đớn. Trong y khoa, loại thuốc này chỉ được phép kê đơn ngặt nghèo cho những bệnh nhân vừa trải qua các ca đại phẫu thuật cắt ghép nội tạng, hoặc những bệnh nhân mắc bệnh ung thư ác tính giai đoạn tiến triển chịu đựng những cơn đau thể xác vượt quá ngưỡng chịu đựng thông thường của con người.

Ở một vùng quê nông thôn nghèo nàn, một thị trấn huyện heo hút như thế này, một người thợ sửa xe cơ khí bình thường như bố Thành làm sao có thể tiếp cận được loại thuốc này theo con đường bệnh viện chính ngạch? Chắc chắn ông đã phải lén lút tìm mua chui từ những quầy thuốc tây tư nhân trên phố huyện với giá cắt cổ, nhằm mục đích tự mình gây tê liệt thần kinh, tự mình cắn răng gồng mình chịu đựng những cơn đau thấu xương, xé buồng phổi mỗi ngày chỉ để có thể tiếp tục đứng bên bàn thợ cầm cờ lê, mỏ lết!

Đức Anh quay đầu, đưa ánh mắt đượm buồn nhìn về phía chiếc bàn thợ cơ khí đặt ở góc tối của gian nhà.

Trong ngăn kéo bàn thợ bừa bộn mà ban chiều anh vô tình liếc mắt nhìn thấy, ngoài chiếc khăn mùi xoa thứ hai dính những vệt máu khô đen sì giấu dưới đáy ngăn kéo, chắc chắn vẫn còn những vỉ thuốc giảm đau tương tự như thế này bị giấu kín dưới đống ốc vít, bugi hỏng và những bản vẽ chi tiết máy đã ố vàng.

Bố đang âm thầm giấu giếm cả gia đình. Bố đang liều mạng đánh cược chính sinh mệnh mong manh của bản thân mình từng ngày từng giờ, gặm nhấm những cơn đau đớn thể xác đến tột cùng chỉ để tằn tiện từng đồng bạc lẻ, gom góp từng nghìn tiền công gửi lên thủ đô hoa lệ cho anh ăn học.

Đức Anh cẩn thận dùng các đầu ngón tay vuốt phẳng phiu lại mẩu vỏ thiếc nhăn nhúm. Anh nhìn thật kỹ, ghi nhớ từng con số dập nổi chỉ số lô sản xuất và dòng chữ thành phần hóa học còn sót lại trên mảnh nhôm mỏng manh.

Sau đó, với một cử chỉ vô cùng cẩn trọng và trang nghiêm, Đức Anh lặng lẽ nhét mẩu vỏ thuốc giảm đau Tramadol ấy vào sâu trong túi áo sơ mi bên ngực trái của mình – nơi đặt ngay phía trên trái tim đang đập từng nhịp nhức nhối, đau đớn nhưng tràn đầy ý chí quyết tâm của anh.

Anh phải mang mẩu vỏ thuốc này lên Hà Nội ngay trong chuyến xe khách đầu tiên vào sáng ngày mai.

Anh phải tìm ngay đến những giáo sư, những chuyên gia đầu ngành tại các bệnh viện lớn trên thủ đô, dùng mọi mối quan hệ và sự hiểu biết của một người trọng sinh để tra cứu nguồn gốc, định lượng mức độ tổn thương thực thể trong phổi của bố, tìm ra một phác đồ điều trị kịp thời và chính xác nhất nhằm giành giật lại sinh mạng của bố từ tay lưỡi hái tử thần trước khi mọi chuyện biến thành quá muộn màng.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories