Trạm Ánh Sáng EuropaCh.8 / 42
Chapter 8

Ngọn lửa được kiềm chế

Không khí trong khoang đệm ngập tràn tiếng thở dốc nặng nhọc và tiếng tuyết tan nhỏ giọt từ các khớp bộ đồ áp suất khi cánh cửa thép dày vừa khóa chặt sau lưng đội sửa chữa.

Hệ thống điều áp của chốt gió K-01 gầm lên từng chặp gián đoạn, phát ra chuỗi âm thanh ken két nhức óc của các piston thủy lực và van xả áp cao tốc. Những họng phun bố trí so le dọc vách ngăn hợp kim bắt đầu xả xối xả các luồng khí hỗn hợp nitơ-argon khô khốc, được làm ấm nhân tạo, xoáy cuộn thành từng lốc xoáy nhỏ để thốc vào từng ngóc ngách, quét sạch lớp bụi băng siêu mịn lơ lửng bám ngoài lớp vỏ giáp composite. Thứ bụi băng ngoại hành tinh ấy không giống tuyết trên Trái Đất; chúng là những mảnh tinh thể silicat lẫn muối sulfat sắc nhọn như bột thủy tinh, sẵn sàng mài mòn các gioăng làm kín và làm đoản mạch bất kỳ phiến bán dẫn hở nào nếu lọt được vào không gian sinh hoạt kín.

An Khuê đứng tì hai tay lên khung kim loại của bàn giám sát bên ngoài khoang cách ly. Lớp sơn tĩnh điện màu xám tro trên thanh vịn kim loại lạnh buốt ngấm qua da thịt, khiến mười đầu ngón tay cô tê rần, mất cảm giác vì tì miết quá lâu. Qua lớp kính quan sát ba tầng bằng vật liệu polycarbonate gia cường chịu lực nén cực hạn, cô nhìn thấy rõ sự kiệt cùng hiện lên trên từng chuyển động cơ học nặng trềnh trệch của ba bóng người bên trong. Bộ giáp EVA chuyên dụng cho môi trường áp suất cao của trạm Borealis vốn đã cồng kềnh, nay dường như nặng thêm hàng chục ký lô bởi lớp băng muối đóng tầng và nỗi mệt mỏi thấu xương tủy bám riết lấy họ sau chuyến đi săn tìm sự sống dưới lòng địa ngục băng giá.

Amara quỳ sụp một gối xuống sàn hợp kim rập gân chống trượt. Chiếc mũ bảo hộ nặng nề gục thấp sát lồng ngực, lớp kính chắn phản quang mạ vàng lấm lem những vệt bùn khoáng hydrogel và cặn tuyết bẩn. Hai bờ vai cô rung lên từng chặp ngắn, giật cục theo từng nhịp hô hấp gấp gáp, nông và nhọc nhằn, nghe rõ cả tiếng màng loa trợ thở rách mép bên trong micro thu âm. Luísa ngồi bệt hẳn dưới chân vách thép, hai chân duỗi thẳng một cách bất lực, đầu tựa hoàn toàn vào vách kim loại lạnh ngắt đóng đầy những tinh thể muối kết tinh li ti. Lồng ngực cô phập phồng dữ dội sau lớp áo điều nhiệt, hai mắt nhắm nghiền, gương mặt nhợt nhạt như sáp sau lớp kính chắn. Trong khi đó, Ren run rẩy đưa hai tay lên trước ngực, vật lộn với các khớp khóa ngàm cơ khí ở cổ tay áo giáp. Khi lẫy thép cuối cùng bật ra với một tiếng cạch khô khốc, anh khó nhọc rút bàn tay ra khỏi lớp lót giữ nhiệt; các khớp ngón tay của người kỹ sư trưởng đã sưng phù, tím tái vì co thắt mạch máu cục bộ dưới cái lạnh âm sáu mươi độ của khoang rò rỉ.

"Chu trình khử áp hoàn tất. Áp suất buồng đệm đạt chín mươi lăm kilopascal," giọng nói trầm tĩnh, phẳng lặng như mặt nước không đáy của Mây vang lên từ loa trần, phá vỡ tiếng rít cơ khí đặc quánh đang bao trùm chốt gió. "Mức bức xạ bề mặt: không phẩy mười bảy micro-Sievert trên giờ, nằm trong ngưỡng an toàn phông. Không phát hiện nồng độ sol khí kim loại nặng độc hại. Cho phép mở cửa ngăn thứ cấp."

Ingrid lao tới đập mạnh lòng bàn tay vào lẫy khóa cơ khí khẩn cấp bên ngoài. Cơ cấu chốt then hoa xoay tròn nửa vòng, cánh cửa thép dày mười lăm phân trượt mở sang bên với một tiếng thở dài thẽ thọt của các vòng gioăng cao su silicon vừa bung nở. Luồng không khí ấm hơn đôi chút nhưng vẫn nồng nặc mùi kim loại cháy và ozone từ Khoang Trú ẩn Hạt Nhân lập tức ùa vào buồng đệm, chạm vào lớp vỏ giáp còn đang đóng băng của ba người và ngưng tụ tức khắc thành một màn sương trắng mỏng manh, cuộn xoáy quanh gối họ.

"Đừng cử động vội, Amara," Ingrid quỳ phịch xuống nền sàn ẩm ướt ngay bên cạnh người chỉ huy. Vị bác sĩ người Na Uy không lãng phí dù chỉ một giây; một tay cô giữ chặt lấy khớp bả vai bọc đệm titan của Amara để cố định tư thế, tay kia nhanh chóng ấn đầu dò y tế cầm tay áp sát vào hõm cổ, nơi động mạch cảnh đang nảy lên từng đợt hỗn loạn bên dưới lớp cổ áo lót nhiệt. Thiết bị phát ra chuỗi âm thanh tít tít dồn dập, sắc nhọn như dao cứa vào sự căng thẳng tột độ của căn phòng. "Huyết áp tâm thu một trăm sáu mươi lăm, nhịp tim một trăm hai mươi mốt. Chị đang ở ngưỡng tiền đột quỵ do co mạch ngoại vi kết hợp gắng sức cực hạn. Ngồi yên đó, hít thở sâu, không được tự ý đứng lên."

"Tôi... không sao," Amara khàn giọng đáp qua lớp màng lọc âm thanh, giọng cô nghe đục ngầu, khô khốc như thể cổ họng vừa bị cọ xát bằng giấy ráp thô. Dù cố gắng giữ vững uy quyền thường thấy, cô vẫn không gạt tay Ingrid ra như mọi lần đối mặt với các cảnh báo y tế. Bàn tay phải đeo găng bảo hộ của cô buông thõng xuống mặt sàn hợp kim, những ngón tay bọc sợi kevlar khẽ run rẩy từng chặp vô thức theo một nhịp điệu co giật ngắt quãng. "Khoang lò... thế nào rồi? Cảm biến của Ren... có tín hiệu không?"

"Mây đang đồng bộ tín hiệu phân giải cao," An Khuê vội bước tới, cúi người luồn tay dưới nách Luísa để đỡ nhà địa chất học người Brazil khi cô loạng choạng tìm cách gượng dậy. Toàn bộ phần thân trước và hai cánh tay của Luísa bám đầy những vệt hydrogel màu trắng đục đã đông cứng lại, nứt nẻ chằng chịt như lớp thạch cao chết sau phản ứng nhiệt đông. Lớp vật liệu sinh học ấy đã cứu mạng họ, nhưng nó cũng biến bộ giáp của cô thành một cái mai rùa xơ cứng, cản trở từng cử động gập duỗi nhỏ nhất. "Ren, anh gắn con cảm biến đo biến dạng đó ở đâu?"

Ren tựa lưng vào mép cửa trượt, nhếch mép cười yếu ớt dù bờ môi dưới của anh đã rớm máu vì bị cắn chặt trong suốt lúc tháo chạy. Anh cố gắng xoa nắn các ngón tay vô cảm vào nhau để tìm lại chút cảm giác nóng rát: "Ngay... ngay trên rãnh then truyền động của đòn bẩy cơ khí. Tần số chín trăm megahertz truyền thẳng qua vách kim loại... nhưng tôi không biết nó có sống sót nổi qua vụ sập trần không. Cả khối băng trần khoang kỹ thuật đổ sụp xuống như một quả núi tảng..."

"Mây, trích xuất dữ liệu đo biến dạng ngay lập tức," An Khuê ra lệnh hướng về phía màn hình trung tâm của buồng đệm, giọng cô run lên không giấu giếm được sự âu lo đang bóp nghẹt lồng ngực.

Một vệt nhiễu điện từ màu xanh lá quét ngang màn hình giao diện của Mây, tạo thành những dải sóng răng cưa sắc nhọn trước khi hệ thống lọc tín hiệu số làm sạch tạp âm phông. Từng khối số liệu vi đo thô bắt đầu đổ về thành dòng liên tục, cuộn chảy xiết trên nền đen ma trận.

"Đã thiết lập liên kết vô tuyến tầm ngắn với vi cảm biến ứng suất ST-09," Mây thông báo, chất giọng tổng hợp không hề mang theo chút hoảng loạn hay ngập ngừng nào của con người. Trên biểu đồ quang học ba chiều, một đường cong áp lực thẳng đứng vụt hiện lên, phá vỡ mọi ngưỡng dự báo mô phỏng tải trọng tĩnh trước đó. "Ghi nhận biến động tải trọng cơ học bất thường tại cụm van cô lập nhánh hai."

Ren mở to mắt, đồng tử co rút lại, dường như quên bẵng cả cơn buốt giá đang hành hạ các đầu ngón tay sưng tấy: "Nó bị đè bẹp rồi à? Vỏ van có nứt toác ra không? Ứng suất uốn đã vượt giới hạn chảy của hợp kim titan chưa?"

"Không, Ren," Mây đáp, giọng điều biến mượt mà nhưng mang một sự chuẩn xác lạnh lùng đến rợn người. "Dữ liệu cho thấy khối nêm băng trần sụt xuống nặng ước tính một phẩy tám tấn. Thay vì phá hủy cụm van, điểm rơi của khối băng đã trượt chéo dọc theo sườn dầm titan gãy, đập thẳng vào đầu mút ngoài của đòn bẩy cơ khí thủ công mà anh vừa nắn thẳng. Trọng lực kết hợp với động năng của vụ sụp đổ đã đóng vai trò như một lực ép nêm cưỡng bức."

An Khuê nín thở, ghé sát mắt vào đồ thị lực nén đang đứng yên ở một đỉnh cao chót vót: "Áp lực cục bộ... bao nhiêu?"

"Bốn mươi tư phẩy hai megapascal," Mây trả lời. "Lực nén này cao hơn mười lăm phần trăm so với lực siết mà các bạn có thể tạo ra bằng cờ-lê lực thủ công trong điều kiện không gian chật hẹp. Lớp đệm composite nanocellulose biến tính sinh học của kỹ sư Hồ đã bị ép lún hoàn toàn vào đế chặn kim loại. Dưới áp lực trên bốn mươi megapascal và nhiệt độ kim loại nền âm mười độ, phản ứng liên kết chéo của ion kẽm và canxi trong cấu trúc hydrogel đã hoàn tất quá trình lưu hóa tại chỗ."

Mọi người trong buồng đệm chết lặng trong giây lát. Tiếng giọt nước tan chảy rớt xuống tấm sàn thép rỗng phát ra âm thanh lách tách rõ mồn một giữa sự tĩnh mịch sững sờ. Mùi mồ hôi chua nồng, mùi da thịt ủ kín trong lớp nỉ tổng hợp hòa quyện với mùi ẩm ướt của hơi nước ngưng tụ tạo nên một bầu không khí nghẹt thở.

"Ý cô là..." Luísa nuốt nước bọt, đôi môi nứt nẻ vì lạnh khẽ run lên, cặp mắt mở to nhìn chăm chú vào các dải áp suất trên màn hình, "...khối băng sập xuống trúng ngay cái đòn bẩy và giúp chúng ta đóng chặt van lại?"

"Một sự hội tụ xác suất cơ học ngẫu nhiên với biên độ một phần mười nghìn," Mây khẳng định, một biểu đồ phân bố xác suất hình chuông Gauss lóe sáng rồi mờ dần trên góc phải màn hình. "Khối băng hiện đang hoạt động như một nêm giữ tải trọng vĩnh cửu. Đòn bẩy đã bị khóa cứng vào gờ chặn kim loại của vách khoang, triệt tiêu hoàn toàn khả năng đàn hồi ngược của gioăng làm kín."

Ren buông thõng hai tay, ngửa đầu ra sau chạm vào thành thép buồng đệm rồi bật cười thành tiếng — một tràng cười ngắt quãng, khô khốc và khàn đặc vang vọng khắp vách vòm chật hẹp: "Thánh thần ơi... trọng lực Europa vừa làm thay công việc của một chiếc cờ-lê mô-men xoắn. Tôi sẽ viết một bức thư cảm ơn gửi tới lực thủy triều của Sao Mộc."

"Đừng mừng vội, Ishikawa," Ingrid cắt ngang, giọng sắc bén như dao mổ khi cô giật dải đo huyết áp khỏi cổ tay Amara và cất vào hộp cấp cứu. Vị bác sĩ nhìn thẳng vào mắt Ren, ánh nhìn nghiêm khắc đến mức làm dập tắt cơn hưng phấn vừa trào dâng. "Đó mới chỉ là lực nén tĩnh của một khối băng chông chênh. Nếu vòng làm mát không giữ được áp suất thủy lực, các bạn vừa tự sát hụt để đổi lấy một khối sắt vụn bị chôn vùi dưới hai tấn đá băng."

Amara gật đầu, ánh mắt cô lấy lại sự tập trung sắt đá thường ngày dù quầng thâm đen sẫm dưới mắt trũng sâu hoắm như hai hố đen. Cô vịn chặt vào tay vịn kim loại gắn trên tường, hít sâu một hơi nén cơn choáng váng rồi gượng đứng thẳng dậy, đôi chân vẫn còn hơi run rẩy dưới sức nặng của bộ đồ áp suất chưa kịp tháo dỡ hoàn toàn: "Ren, Luísa, kiểm tra đường vòng tuần hoàn số một. Chúng ta cần dữ liệu áp suất thủy lực trước khi đưa ra bất kỳ quyết định tái khởi động nào."

***

Ren và Luísa bước nhanh tới cụm điều khiển phụ của Khoang Kifaru, nằm ngay sát vách ngăn kiên cố của khoang trú ẩn. Gian phòng điều khiển phụ này nhỏ hẹp, chỉ rộng chừng mười lăm mét vuông, bao bọc bởi những tấm chì dày năm phân xen kẽ các lớp sợi boron hấp thụ bức xạ. Không khí nơi đây vẫn còn đượm vẻ lạnh lẽo chết chóc, mùi bụi sơn cháy do ngắn mạch từ đợt địa chấn trước đó vẫn lẩn khuất trong các hốc máy.

Các bảng đồng hồ cơ học và màn hình hiển thị dự phòng ở đây được nối trực tiếp với các đường dây cáp đồng bọc giáp đi xuyên qua thân trạm, không phụ thuộc vào các vi mạch xử lý trung tâm đã bị cắt điện nhằm bảo toàn tài nguyên ắc quy. Những chiếc đồng hồ kim tròn trịa với mặt kính chống lóa mang lại một cảm giác hoài cổ kỳ lạ giữa lòng một trạm nghiên cứu ngoại hành tinh tối tân, nhưng trong tình huống sinh tử này, các thanh kim loại cơ học ấy lại là thứ duy nhất không thể bị đánh lừa bởi xung điện từ hay sự cố phần mềm.

"Bắt đầu chu trình tạo áp kiểm tra vòng làm mát khép kín số một," Ren vừa nói vừa lướt các ngón tay còn hơi cứng đờ trên bàn phím màng bọc silicone. Từng phím bấm cơ học phát ra tiếng lách cách đanh gọn. "Mở van cách ly thứ cấp nối với bình tích áp trơ."

Trên màn hình đơn sắc, sơ đồ mạng lưới đường ống làm mát hiện lên dưới dạng các dải màu phân nhánh chằng chịt như hệ tuần hoàn của một cơ thể sống. Nhánh số hai — nơi xảy ra sự cố vặn xoắn, nứt rách và xém chút nữa gây ra thảm họa phân rã nhiệt — nay đã chuyển sang màu xám mờ, bị cô lập hoàn toàn sau cánh cửa van số ba đang chịu áp lực nén 44,2 MPa từ khối băng nêm. Vòng tuần hoàn còn lại, mang hợp kim lỏng natri-kali (NaK) chạy qua một nửa số kênh nhiên liệu của tâm lò, sáng lên bằng một đường viền màu vàng nhạt run rẩy.

"Bơm khí nén đang kích hoạt," Luísa chăm chú quan sát đồng hồ đo biến thiên áp suất dạng kim cơ học. Tay cô đặt hờ trên lẫy ngắt khẩn cấp bằng thép sơn đỏ. "Đưa áp suất thử nghiệm lên một phẩy hai megapascal... giữ nguyên trong ba phút."

Cả gian phòng chìm vào im lặng. Tiếng thở của năm con người dường như cũng nén lại, chỉ còn tiếng vo ve trầm trầm, đều đặn của máy biến áp khẩn cấp và tiếng kim đồng hồ cơ học nhảy từng khấc nhỏ trên mặt số chia vạch mười kilopascal.

An Khuê đứng ngay sau lưng họ, đôi mắt dõi theo từng thông số rò rỉ trên màn hình quang phổ phụ trợ. Trong tâm trí cô, bức tranh rùng rợn về cấu tạo của lò phản ứng Kifaru hiện lên rõ mồn một. Lò phản ứng này sử dụng chất làm mát là hợp kim eutectic natri-kali — một hỗn hợp kim loại lỏng ở nhiệt độ phòng nhưng có hoạt tính hóa học hung hãn đến tột độ. Nếu vòng tuần hoàn số một bị tổn thương vi mô do trận động băng mà mắt thường hay cảm biến áp suất sơ cấp không phát hiện được, hợp kim NaK khi được bơm tuần hoàn dưới áp lực cao sẽ phun xì qua các khe nứt li ti. Kim loại lỏng gặp oxy hoặc chỉ một lượng hơi ẩm cực nhỏ rò rỉ từ vách băng sẽ lập tức bốc cháy tự phát ở nhiệt độ hàng nghìn độ C. Ngọn lửa kim loại kiềm không thể dập tắt bằng nước hay CO2 sẽ thiêu rụi lõi lò, nấu chảy lớp giáp titan và khoét một lỗ thủng chết người xuyên qua đáy khoang băng, chôn vùi toàn bộ trạm Ánh Sáng xuống vực sâu vĩnh hằng.

"Hai phút trôi qua," Luísa đọc to, mắt không hề chớp khỏi vạch chia độ của đồng hồ kim. "Độ sụt áp: không phẩy không không ba megapascal. Hoàn toàn nằm trong sai số nhiệt do hiện tượng co thể tích chất lỏng khi tiếp xúc với thành ống lạnh."

"Phổ kế khối lượng tại buồng đệm van ghi nhận nồng độ hơi kali và natri ở mức dưới một phần tỷ," Mây bổ sung qua kênh âm thanh nội bộ, giọng nói vang lên từ một hộp loa nhỏ gắn trên vách chì. "Không phát hiện sự hiện diện của khí trơ đánh dấu rò rỉ qua lớp đệm sinh học. Mức độ kín của vòng tuần hoàn sơ cấp số một đạt chín mươi chín phẩy hai phần trăm tiêu chuẩn thiết kế ban đầu."

"Chín mươi chín phẩy hai," Ren thở phào một hơi dài, buông lỏng hai vai và tựa cả nửa thân trên vào mép bàn điều khiển như thể vừa trút bỏ được một khối đá tảng vô hình. "Con số đẹp nhất mà tôi từng thấy trong đời. Tốt hơn cả mức chín mươi lăm phần trăm yêu cầu để chạy chế độ công suất thấp."

"Điều đó có nghĩa là gì đối với lò phản ứng?" An Khuê hỏi, cảm nhận một luồng nhiệt nhẹ nhõm lan tỏa sau gáy, xua bớt cái lạnh buốt đang bám vào các thớ cơ dọc sống lưng cô suốt nhiều giờ qua.

"Có nghĩa là chúng ta có một nửa trái tim hoạt động hoàn hảo," Ren quay lại nhìn cô, khóe mắt nhăn lại thành những nếp nhăn mệt mỏi nhưng ánh lên tia hy vọng rõ rệt. "Chúng ta không thể vắt kiệt công suất tối đa một trăm phần trăm của Kifaru như trước động băng, vì một nhánh tản nhiệt đã bị ngắt vĩnh viễn. Nhưng với vòng số một nguyên vẹn chín mươi chín phẩy hai phần trăm, chúng ta có thể chạy an toàn ở công suất nền ba mươi lăm phần trăm mà không sợ quá nhiệt hay kẹt dòng kim loại lỏng do kết tủa oxit."

"Thời gian còn lại của ắc quy?" Amara hỏi ngắn gọn. Giọng cô kéo mọi người trở về thực tại tàn khốc của các con số sinh tồn.

An Khuê nhìn sang bảng năng lượng khẩn cấp ở góc phòng: "Một trăm ba mươi chín kilowatt-giờ. Ở mức tiêu thụ cầm cự hiện tại, chúng ta còn chưa đầy chín tiếng trước khi hệ thống lọc CO2 bằng màng amine và các cuộn sưởi khẩn cấp sụp đổ hoàn toàn. Nhiệt độ các khoang sinh hoạt đang rớt xuống tám độ C."

"Đủ rồi," Amara nói, giọng cô đanh lại, mang trọn vẹn uy quyền không thể lay chuyển của một người chỉ huy trạm thám hiểm sâu ngoài quỹ đạo Trái Đất. "Chúng ta không đợi đến giọt điện cuối cùng. Bắt đầu quy trình tái khởi động Kifaru ngay bây giờ."

***

Giao diện điều khiển lò phản ứng hạt nhân Kifaru không nằm trên mạng ảo thông thường của trạm. Nó là một thiết bị đầu cuối độc lập, bọc kín trong lớp vỏ titan chống bức xạ và xung điện từ, chỉ có thể đánh thức bằng hai chìa khóa vật lý riêng biệt cùng mật mã sinh trắc học của chỉ huy và kỹ sư trưởng. Thiết kế có phần cổ điển này là bài học đắt giá được đúc kết từ nhiều thế kỷ chinh phục không gian: khi thảm họa ập đến và trí tuệ nhân tạo bị ngắt kết nối, số phận con người phải được trao trả về cho những cơ cấu cơ học thuần túy.

Amara bước tới trước bục điều khiển trung tâm. Từng bước chân của cô gõ xuống sàn hợp kim phát ra âm thanh nặng nề. Cô đưa tay lên cổ, rút sợi dây chuyền bện bằng sợi carbon ra khỏi ngực áo nỉ, để lộ chiếc chìa khóa hợp kim vonfram màu xám đen mờ đục. Cô cắm nó vào ổ khóa số một bên trái bục điều khiển. Ren bước tới bên cạnh, rút chiếc chìa khóa thứ hai từ túi ngực áo giáp, cắm vào ổ khóa bên phải. Khoảng cách giữa hai ổ khóa là một mét hai — cự ly được tính toán tỉ mỉ để một người không thể tự mình xoay cả hai chìa khóa cùng một lúc.

"Xác nhận ủy quyền mức Alpha," Amara cất tiếng, giọng cô vang và dứt khoát, dội vào các vách chì dày.

"Nhận diện chỉ huy Amara Njoroge," Mây phản hồi qua giao diện cô lập, màn hình quét võng mạc nhấp nháy ánh sáng đỏ rực quét qua mắt cô. "Nhận diện kỹ sư vận hành Ren Ishikawa. Giao thức phục hồi khẩn cấp SCRAM-K-02 đã sẵn sàng. Quyền kiểm soát thanh điều khiển được mở khóa thủ công."

Hai tiếng *cạch* cơ khí vang lên đồng thời khi họ xoay chìa khóa một góc chín mươi độ theo chiều kim đồng hồ. Những chiếc rơ-le tiếp điểm mạ vàng nhảy tanh tách bên dưới bảng táp-lô. Màn hình đơn sắc màu hổ phách bừng sáng, phác họa sơ đồ mặt cắt hình lục lăng của tâm lò phản ứng Kifaru. Mười hai cụm thanh điều khiển làm bằng hợp kim boron-cadmium — những chiếc "phanh" hấp thụ neutron nhiệt đang cắm sâu vào lõi uranium dioxide làm giàu cao — hiện lên thành các cột thẳng đứng màu cam sẫm, chia đều thành ba vành đai bảo vệ.

"Mây, thiết lập chế độ vận hành nền ba mươi lăm phần trăm," Amara ra lệnh. Ánh sáng màu hổ phách hắt lên gương mặt cương nghị của cô những vệt bóng sắc cạnh. "Tốc độ rút thanh hấp thụ: không phẩy năm centimet mỗi ba mươi giây. Khống chế chu kỳ lò ở mức không thấp hơn sáu mươi giây. Bất kỳ sự trôi dạt thông lượng nào vượt quá biên độ hai phần trăm phải tự động thả rơi thanh điều khiển khẩn cấp."

"Đã tiếp nhận thông số giới hạn," Mây đáp. "Bắt đầu cấp nguồn từ khối pin dự phòng vào động cơ bước của cụm thanh điều khiển số một và số ba."

Một tiếng rít điện từ the thé vang lên từ sâu bên dưới sàn thép, nơi các mô-tơ bước chuyên dụng bắt đầu kéo các khối kim loại nặng trĩu ra khỏi chất làm chậm. Âm thanh ấy truyền qua khung xương kim loại của trạm, nghe như tiếng mài giũa của những bánh răng khổng lồ đang thức giấc sau một giấc ngủ dài lạnh giá.

An Khuê dõi mắt theo màn hình hiển thị mật độ dòng neutron. Lúc này, con số chỉ là $10^3$ neutron trên centimet vuông mỗi giây — hoàn toàn là bức xạ phân hạch tự phát từ lõi uranium-235 và nguồn phát neutron phụ trợ từ hợp kim antimon-beryllium được đặt sẵn trong tâm lò để mồi phản ứng.

"Cụm một rút mười centimet," Ren báo cáo, mắt dán chặt vào chỉ số phản ứng đang nhích từng vạch nhỏ. Mồ hôi bắt đầu rịn ra trên trán anh dù nhiệt độ phòng vẫn còn lạnh ngắt. "Thừa số nhân neutron hiệu dụng, k-hiệu dụng: không phẩy chín mươi hai."

"Tiếp tục cụm hai và bốn," Amara chỉ thị. Bàn tay phải của cô nắm chặt mép bàn điều khiển, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì gồng sức để chế ngự cơn run rẩy cục bộ.

"k-hiệu dụng: không phẩy chín mươi sáu... không phẩy chín mươi tám..." Ren đếm từng nhịp, giọng anh căng thẳng đến mức nghe như nghẹn lại nơi cuống họng. "Dòng neutron bắt đầu tăng theo hàm mũ bậc thấp. Tốc độ đếm: mười mũ sáu."

Những chấm sáng biểu thị mật độ phân hạch trên màn hình chuyển dần từ màu cam tối sang màu vàng rực rỡ, lan tỏa từ tâm ra các vành đai ngoài của lõi phản ứng.

"Cụm thanh điều khiển trung tâm nhấc khỏi vùng tích cực," Mây thông báo. "k-hiệu dụng đạt một phẩy không không không. Hệ thống đã đạt trạng thái tới hạn."

Trong buồng điều khiển phụ, không một ai dám thở mạnh. An Khuê có thể nghe thấy cả tiếng tim mình đập thình thịch vào lồng ngực, từng nhịp gõ như muốn xé toạc lớp áo nỉ. Trạng thái tới hạn trên một trạm ngầm bị cô lập dưới ba cây số băng vĩnh cửu của Europa là ranh giới mong manh nhất giữa sự sống và cái chết: chỉ cần k-hiệu dụng vượt quá một phẩy không không hai ở vùng neutron tức thời, lò phản ứng sẽ phát triển công suất mất kiểm soát chỉ trong vài phần nghìn giây, biến lõi Kifaru thành một khối cầu plasma thiêu rụi mọi thứ trước khi hệ thống ngắt kịp can thiệp; ngược lại, nếu rút thanh quá chậm, kim loại lỏng NaK đang nguội dần ở mức âm mười độ sẽ đông kết vĩnh viễn trong các khe hẹp của phiến nhiên liệu, biến lò phản ứng thành một cục nghẽn kim loại chết không bao giờ có thể khởi động lại.

"Neutron trễ đang kiểm soát chu trình," Ren thì thầm, một nụ cười run rẩy thoáng qua khóe môi. "Công suất nhiệt tâm lò bắt đầu tăng: năm phần trăm... mười phần trăm... hai mươi phần trăm."

"Dừng rút thanh điều khiển ở mốc ba mươi lăm phần trăm," Amara lập tức ra lệnh. "Chuyển sang chế độ tự duy trì."

"Đã khóa chốt vị trí thanh hấp thụ," Mây thông báo. "Công suất nhiệt ổn định ở mức bảy mươi kilowatt nhiệt, tương đương ba mươi lăm phần trăm công suất định mức. Chu kỳ lò tiến về vô cực. Phản ứng phân hạch tự duy trì an toàn."

***

Nhiệt lượng sinh ra từ hàng triệu vụ vỡ hạt nhân uranium tí hon bắt đầu ngấm qua lớp vỏ gốm chống ăn mòn của các thanh nhiên liệu, truyền thẳng vào dòng hợp kim natri-kali đang nằm bất động trong các ống dẫn bằng hợp kim inconel của vòng tuần hoàn số một.

Một rung động siêu âm cực nhỏ khẽ truyền qua cấu trúc trạm khi các máy bơm cảm ứng điện từ — loại bơm không có cánh quạt chuyển động, đẩy kim loại lỏng bằng từ trường xoay chiều ba pha cực mạnh — được cấp điện trở lại. Dòng kim loại lỏng màu bạc óng ánh bắt đầu luân chuyển, mang theo dòng nhiệt lượng rực rỡ từ tâm lò Kifaru tiến về phía bộ trao đổi nhiệt trung gian.

Tại bộ trao đổi nhiệt, nhiệt năng từ vòng sơ cấp NaK nhanh chóng nung nóng chất tải nhiệt thứ cấp là khí carbon dioxide siêu tới hạn. Ở trạng thái này, CO2 không còn là khí mà cũng chẳng phải lỏng; nó là một chất lưu dày đặc có khả năng truyền nhiệt phi thường. Dưới sức nóng từ lò phản ứng, chất lưu siêu tới hạn giãn nở dữ dội trong không gian kín của hệ thống đường ống cao áp, lao vút qua các tầng cánh quạt bằng hợp kim gốm của cụm tua-bin phát điện kín Kifaru-Gen.

Một tiếng rù rì trầm ấm, sâu thẳm bắt đầu cất lên từ sâu dưới lòng đất.

Đó không phải là âm thanh chói gắt của động cơ phản lực hay tiếng ken két kim loại kinh hoàng của đợt địa chấn vừa xé toạc trạm Borealis. Nó là một âm thanh đều đặn, vững chãi, như tiếng thở phào nhẹ nhõm của một sinh vật khổng lồ vừa thức giấc sau cơn hôn mê dài bên bờ vực cái chết. Tần số dao động năm mươi Hertz truyền qua các dầm thép titan, lan tỏa khắp sàn nhà, chạy dọc theo các vách ngăn của Khoang Trú ẩn Hạt Nhân và thấm qua đế giày của từng thành viên phi hành đoàn.

An Khuê cúi đầu, đặt lòng bàn tay trần áp chặt xuống mặt sàn kim loại lạnh ngắt. Cô cảm nhận được từng đợt rung động êm ái ấy dội vào da thịt mình. Khối băng lạnh ngắt bao quanh trạm dường như không còn là một nấm mồ chôn sống họ nữa, mà đã bị đẩy lùi bởi một ngọn lửa hạt nhân được kiềm chế cẩn trọng trong lồng thép titan.

"Tua-bin đã đồng bộ pha," Ren reo lên, gần như nhảy cẫng khỏi ghế điều khiển, hai tay vung lên trời. "Tốc độ quay mười hai nghìn vòng một phút. Máy phát điện bắt đầu hòa vào lưới cục bộ!"

Trên bảng điều khiển điện lực, dải đèn LED màu đỏ rực nhấp nháy bấy lâu nay bỗng đổi màu. Từ một dải sáng màu huyết dụ đe dọa cái chết chỉ trong chín giờ tới, nó chuyển sang màu vàng tươi, rồi biến thành một dải màu xanh lam êm dịu, kiên định.

`[CẢNH BÁO NGUỒN: ĐÃ HỦY BỎ]` `[NGUỒN CẤP CHÍNH: KIFARU-CORE (35% BASELOAD)]` `[CÔNG SUẤT PHÁT HIỆN TẠI: 24.5 kWe]` `[TRẠNG THÁI KHỐI PIN TẦNG B: ĐANG NẠP LẠI (DÒNG NẠP 45A)]`

Dòng điện xoay chiều tinh khiết tràn vào mạng lưới của trạm. Dưới Tầng kỹ thuật B, các tế bào ắc quy lithium-lưu huỳnh cạn kiệt bắt đầu hút lấy năng lượng dư thừa từ tua-bin, từng bước kéo vạch dự trữ năng lượng thoát khỏi đáy vực thẳm.

Tiếp sau dòng điện là dòng nhiệt.

Hệ thống điều hòa không khí trung tâm rùng mình hoạt động sau nhiều giờ tê liệt. Các cuộn dây gia nhiệt và đường ống nước tuần hoàn mang nhiệt dư từ bộ ngưng tụ tua-bin bắt đầu đẩy luồng khí ấm áp len lỏi qua từng miệng gió thông hơi trên trần và chân tường.

Lớp băng tuyết mỏng bám trên vách buồng đệm và các mối nối kim loại bắt đầu rỉ nước, biến thành những vệt ẩm ướt lấp lánh rồi bốc hơi dần vào không khí. Tiếng quạt thông gió chuyển từ tiếng rên rỉ yếu ớt sang một luồng gió mạnh mẽ, cuốn đi mùi khét lẹt của ozone và bụi băng khô.

Màn hình nhiệt độ môi trường tại Khoang Trú ẩn Hạt Nhân bắt đầu nhảy số liên tục: 8°C... 11°C... 14°C... và cuối cùng dừng lại ở mức 18,2°C.

An Khuê hít sâu một hơi. Lồng ngực cô không còn cảm giác đau buốt buốt như bị kim châm mỗi khi lấy dưỡng khí. Không khí đã có hơi ấm của con người, mang theo mùi sáp ong bảo dưỡng các mối nối và hương vị thân thuộc của một trạm nghiên cứu đang hồi sinh từ cõi chết.

Cô lập tức mở màn hình quản lý sinh học cầm tay để kiểm tra tình trạng Vườn Thủy Canh Bình Minh. Bể nuôi cấy vi tảo số một — nơi cung cấp dưỡng khí chính cho toàn trạm — nhiệt độ từng rơi xuống mức báo động 4,8°C đe dọa làm vỡ màng tế bào của chủng vi tảo lục biến đổi gen, nay đã nhận được dòng nước ấm tuần hoàn từ bộ ngưng tụ của Kifaru. Chỉ số nhiệt của dung dịch dinh dưỡng đang nhích dần lên mức 16°C. Các khay ủ nấm men *Saccharomyces cerevisiae* mà cô cùng Ingrid chuẩn bị trước đó cũng đã bắt đầu kích hoạt quá trình lên men yếm khí trong môi trường ấm dần lên, tỏa ra một mùi bánh mì nướng thoang thoảng qua hệ thống cảm biến phân tích khí.

Họ đã sống sót qua cơn đột tử nhiệt động học.

***

Một tiếng rưỡi sau khi tua-bin Kifaru hòa mạng thành công, năm thành viên phi hành đoàn ngồi quanh chiếc bàn kim loại hình bầu dục ở trung tâm Khoang Trú ẩn Hạt Nhân.

Họ đã cởi bỏ những bộ đồ áp suất cồng kềnh, chỉ còn mặc lớp áo nỉ màu xanh đậm tiêu chuẩn của trạm Borealis. Nhưng vẻ mệt mỏi thì không lớp áo nào có thể che giấu nổi. Gương mặt Luísa xám ngoét vì mất nước, đôi mắt trũng sâu lộ rõ những tia máu đỏ quạch; Ren liên tục xoa nắn các khớp ngón tay bị tê cóng, thỉnh thoảng khẽ nhăn mặt khi các đầu dây thần kinh bị tổn thương do lạnh bắt đầu phát tín hiệu đau rát; còn Ingrid thì đang cặm cụi thu dọn các vỏ ống tiêm dinh dưỡng và túi dung dịch bù điện giải rải rác trên mặt bàn kim loại.

Amara ngồi ở đầu bàn, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên mặt kim loại phẳng lặng. Trước mặt cô là màn hình hiển thị biểu đồ phân bổ tải điện mới của trạm do Mây vừa lập xong sau khi tính toán các giới hạn an toàn nhiệt động lực học.

"Tôi tuyên bố," Amara cất tiếng, phá vỡ sự im lặng đang bao trùm căn phòng. Giọng cô trầm, mệt mỏi nhưng đanh thép. "Trạm Ánh Sáng Europa đã chính thức vượt qua giai đoạn nguy cấp cấp tính. Lò phản ứng Kifaru đang vận hành an toàn ở mức công suất nền ba mươi lăm phần trăm, cung cấp hai mươi tư phẩy năm kilowatt điện và bảy mươi kilowatt nhiệt. Khối pin dự trữ tại Tầng B sẽ đạt mức sạc tám mươi phần trăm trong vòng mười tám giờ tới. Nguy cơ đông kết kim loại lỏng và đóng băng hệ thống sinh thái đã hoàn toàn bị triệt tiêu."

Ren khẽ thở phào, ngả người ra lưng ghế tựa, vươn vai một cái thật dài: "Vậy là chúng ta có thể bật lại máy pha cà phê tổng hợp và mở sưởi toàn trạm rồi chứ? Cổ họng tôi khô rát như vừa nuốt phải cát sa mạc vậy."

"Không," Amara nhìn thẳng vào Ren, giọng nói của cô lạnh lùng và dứt khoát đến mức khiến nụ cười vừa chớm nở trên môi anh lập tức tắt ngấm. "Không có cà phê, không có máy in ba chiều, và không có sự trở lại của chế độ tiện nghi trước tai nạn."

Luísa cau mày, kéo màn hình cá nhân về phía mình, các ngón tay lướt nhanh trên bảng phân bổ công suất: "Amara, chúng ta có hai mươi tư kilowatt điện liên tục. Hệ thống hỗ trợ sinh tồn cơ bản chỉ ngốn khoảng chín kilowatt. Kể cả khi nạp pin với công suất năm kilowatt, chúng ta vẫn còn dư ra gần mười kilowatt điện khả dụng. Tại sao không cấp điện lại cho Phòng Địa chấn Guará và cụm máy tính phân tích? Chúng ta cần biết trận động băng vừa rồi là hiện tượng đơn lẻ hay mở đầu cho một chuỗi đứt gãy thủy triều mới."

"Và cả giếng khoan Borealis nữa," An Khuê lên tiếng, ánh mắt cô nhìn thẳng vào vị chỉ huy. Cảm giác bồn chồn bấy lâu nay bùng lên thành lời nói dồn dập. "Đầu dò Nereid vẫn đang kẹt lại dưới đáy giếng, ở độ sâu hơn một trăm cây số. Cáp quang có thể đã bị chèn ép cơ học, nhưng nếu chúng ta cấp nhiệt cho các vòng chống tái đông dọc thân giếng, chúng ta có thể cứu vãn tuyến kết nối với Cánh đồng Gương Sống. Tín hiệu phát quang mà chúng ta thấy trước động băng—"

"Tôi nói không, An Khuê," Amara ngắt lời cô, không hề nâng cao giọng nhưng từng từ phát ra đều nặng trịch như đá tảng đè xuống bầu không khí căn phòng. "Mười kilowatt dư thừa đó sẽ không được chia cho bất kỳ phòng thí nghiệm nào."

"Tại sao?" Luísa đập nhẹ tay xuống bàn, sự bực bội dồn nén suốt nhiều giờ đối mặt với cái chết bùng lên trong đôi mắt thâm quầng. "Chúng ta ở đây để làm khoa học! Động băng đã cắt đứt chúng ta với Trái Đất, nếu chúng ta tắt luôn cả mắt và tai của trạm, chúng ta khác gì những kẻ chờ chết trong một cái quan tài băng được sưởi ấm?"

"Bởi vì chúng ta chỉ đang chạy trên một nửa trái tim, Luísa," Amara nghiêng người về phía trước, ánh mắt sắc lẹm ghim chặt vào nhà địa chất người Brazil. "Các bạn vừa thấy điều gì đã xảy ra cách đây hai giờ. Nhánh làm mát số hai bị đè bẹp. Nhánh số một đang gánh toàn bộ tải nhiệt của lò phản ứng chỉ với một vòng đệm sinh học làm bằng nanocellulose và áp lực cơ học từ một khối băng chông chênh. Nếu chúng ta tăng tải điện lên để phục vụ nghiên cứu, nhiệt độ kim loại lỏng NaK sẽ tăng từ ba trăm hai mươi độ lên bốn trăm năm mươi độ. Áp suất nhiệt sẽ phá hủy lớp keo sinh học của An Khuê, và lần này sẽ không có khối băng thứ hai nào rơi xuống để cứu chúng ta đâu."

Cô quay sang nhìn An Khuê, ánh mắt không hề chùn bước: "Giếng khoan Borealis là một lỗ hổng nhiệt khổng lồ. Để chống tái đông một đường ống dài hơn một trăm cây số xuyên qua vỏ băng lạnh âm một trăm độ, chúng ta cần ít nhất mười lăm kilowatt nhiệt liên tục. Cấp điện cho giếng khoan lúc này đồng nghĩa với việc rút cạn nguồn nhiệt của Vườn Thủy Canh Bình Minh và buộc Kifaru phải đẩy công suất lên năm mươi phần trăm. Tôi sẽ không đánh cược mạng sống của năm con người ở đây cho một vài khung hình nhấp nháy dưới đáy biển."

Gian phòng lại rơi vào im lặng nặng nề. Tiếng vo ve của hệ thống tuần hoàn không khí dường như cũng không thể làm dịu đi sự căng thẳng giữa họ. Luísa mím chặt môi, quay mặt đi chỗ khác nhìn vào bức tường kim loại, trong khi Ren cúi đầu nhìn chằm chằm vào những ngón tay băng bó của mình.

An Khuê cảm thấy một nỗi xót xa dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng. Cô hiểu tính toán của Amara hoàn toàn chính xác về mặt nhiệt động lực học và an toàn kỹ thuật. Không một viên chỉ huy có trách nhiệm nào lại mạo hiểm đẩy lò phản ứng vừa thoát khỏi sự cố vào tình trạng quá tải chỉ để theo đuổi những giả thuyết khoa học mơ hồ. Nhưng việc phải trơ mắt nhìn giếng Borealis đông cứng dần từng mét một, vùi lấp con tàu Nereid và những nhịp sáng màu ngọc lam bí ẩn kia vào bóng tối vĩnh cửu của đại dương Europa, giống như một nhát dao cứa vào tâm can của một nhà nghiên cứu sinh học ngoài Trái Đất. Đó có thể là bằng chứng đầu tiên về sự sống ngoài Trái Đất mà nhân loại từng tìm thấy, và nó đang chết dần trong băng giá ngay dưới chân họ.

"Tôi ban bố chế độ phân phối công suất thấp nghiêm ngặt," Amara tiếp tục, mở bản phân bổ tài nguyên trên màn hình trung tâm, từng dòng chữ màu xanh lam hiện lên sắc lạnh. "Thứ nhất: duy trì ba mươi lăm phần trăm công suất nền của Kifaru. Thứ hai: toàn bộ năng lượng ưu tiên tuyệt đối cho chu trình khép kín ba tầng tại Vườn Thủy Canh Bình Minh của An Khuê, hệ thống tái chế không khí và nước, cùng Y xá Svalbard. Thứ ba: nhiệt độ các khoang sống duy trì ở mức mười tám độ C, không nâng lên hai mươi hai độ. Thứ tư: niêm phong hoàn toàn và cắt điện vô thời hạn đối với Phòng Địa chấn Guará, Khoang Sinh học Chuyên sâu, Xưởng Robot Tanuki và Giếng Borealis cho đến khi có đánh giá kết cấu toàn diện."

Cô ngẩng đầu lên, nhìn lướt qua từng khuôn mặt mệt mỏi quanh bàn: "Có ai có ý kiến phản đối về mặt quy trình an toàn không?"

Không ai lên tiếng. Kể cả Luísa cũng chỉ thở dài một tiếng cay đắng rồi khoanh hai tay trước ngực, im lặng chấp nhận mệnh lệnh.

"Phiên họp kết thúc. Mọi người có bốn tiếng nghỉ ngơi theo ca. Ishikawa, Carvalho, đi cùng Ingrid vào y xá để kiểm tra chấn thương phần mềm và chỉ số phơi nhiễm bức xạ."

Ren và Luísa uể oải đứng dậy khỏi ghế kim loại, bước đi nặng nhọc theo sau Ingrid về phía cửa khoang trú ẩn. An Khuê nán lại một chút để thu dọn bảng dữ liệu sinh học và các thiết bị đo quang phổ cầm tay của mình. Khi cô ngẩng đầu lên định bước đi, cô nhận thấy Amara vẫn ngồi yên tại vị trí chỉ huy ở đầu bàn.

Người phụ nữ Kenya không đứng dậy ngay. Cô đưa tay phải lên, định với lấy chiếc máy tính bảng cá nhân đặt trên mặt bàn, nhưng bàn tay cô bỗng khựng lại giữa không trung.

An Khuê chớp mắt, nheo mắt nhìn kỹ hơn qua ánh sáng vàng mờ của ngọn đèn khẩn cấp.

Bàn tay phải của Amara đang co giật từng nhịp rất nhỏ, ngón trỏ và ngón cái giật giật vô thức như thể các xung thần kinh vận động đang bị nghẽn lại bởi một tổn thương ngầm. Amara lập tức dùng bàn tay trái nắm chặt lấy cổ tay phải của mình, ấn mạnh xuống để ghìm cơn co giật, rồi nhanh chóng giấu cả hai bàn tay xuống dưới mép bàn kim loại. Khuôn mặt cô không hề biến sắc, ánh mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước, nhưng quai hàm bạnh ra vì cắn chặt răng nén cơn đau.

Ở ngưỡng cửa y xá, Ingrid vừa quay đầu lại để gọi Amara. Ánh mắt sắc sảo, tinh tường của vị bác sĩ người Na Uy lướt qua tư thế ngồi cứng đờ của Amara, dừng lại đúng hai giây trên đôi bàn tay đang giấu kín dưới gầm bàn của người chỉ huy. Ingrid không nói một lời nào, không đưa ra lời cảnh báo hay yêu cầu kiểm tra y tế nào lúc này. Cô chỉ lặng lẽ rút từ túi áo ngực ra một cuốn sổ tay bìa da nhỏ màu đen, dùng chiếc bút cơ học ghi chép một dòng ngắn ngủi vào trang giấy sột soạt, rồi khẽ khép cánh cửa y xá lại sau lưng.

An Khuê vờ như không nhìn thấy gì, cúi đầu bước nhanh qua cửa khoang trú ẩn, để lại Amara một mình trong ánh sáng mờ nhạt của căn phòng chỉ huy.

Tiếng tua-bin Kifaru vẫn rù rì phát ra từ sàn thép — một nhịp điệu đều đặn, ấm áp, ru ngủ sự cảnh giác của trạm Borealis sau cơn ác mộng vừa qua. Âm thanh ấy như một lời nhắc nhở rằng sự sống nơi đây mong manh biết bao, phụ thuộc hoàn toàn vào một cỗ máy cơ khí đang quay mười hai nghìn vòng mỗi phút giữa lòng băng lạnh.

An Khuê bước chậm dọc theo hành lang kỹ thuật hẹp hướng về phía Vườn Thủy Canh Bình Minh. Ánh đèn huỳnh quang dọc trần hành lang chập chờn, rọi xuống sàn thép những vệt sáng loang lổ. Nhưng khi cô vừa bước qua trạm chuyển tiếp điều khiển của Mây — nơi đặt cụm máy tính giám sát đường truyền dữ liệu sâu — một tiếng *bíp* nhỏ, rất thanh và cô độc, bất chợt vang lên từ góc khuất của bảng điều khiển ngầm.

An Khuê dừng bước, quay đầu lại.

Trên màn hình phụ vốn đã bị mờ đi của phân khu điều khiển giếng khoan sâu, nơi đáng lẽ mọi đường truyền và cảm biến quang học đã bị ngắt điện theo lệnh giới nghiêm năng lượng của Amara, một vệt sáng màu xanh ngọc lam bất chợt nhấp nháy.

Một dòng chữ nhỏ xuất hiện từ bộ nhớ đệm tạm thời mà hệ thống của Mây chưa kịp xóa sạch:

`[BỘ NHỚ ĐỆM BOREALIS-DEEP]: NHẬN GÓI DỮ LIỆU SỐ DƯ TỪ NEREID...` `[ĐỘ SÂU]: 108.4 km` `[MÃ TÍN HIỆU]: QUANG PHỔ 485 nm — CHU KỲ DAO ĐỘNG: 1.2 Hz`

Trong tiếng rù rì êm dịu của tua-bin Kifaru, màn hình của Mây đột ngột lóe lên một gói dữ liệu đệm sót lại từ giếng Borealis.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories