Trạm Ánh Sáng EuropaCh.38 / 42
Chapter 38

Thông điệp vượt khoảng tối

Gió điện từ từ từ quyển Sao Mộc rít lên qua máy thu vô tuyến khi robot bề mặt của Ren siết chặt bu-lông cuối cùng trên chóa phản xạ ăng-ten phụ Kepler.

Âm thanh ấy không phải tiếng gió khí quyển thông thường. Dưới chân trời đen kịt không một gợn mây của Europa, áp suất khí quyển gần như bằng không; cái rít kia là tiếng rạn vỡ của các hạt mang điện năng lượng cao khi chúng va đập vào lớp chắn mạ vàng của máy thu, chuyển hóa thành tạp âm nhiệt và tiếng lẹt xẹt rải rác trên phổ tần số vô tuyến cực cao. Từng chùm proton và ion lưu huỳnh phóng ra từ vành đai bức xạ Io bị từ trường khổng lồ của Sao Mộc gia tốc đến vận tốc gần bằng ánh sáng, quét qua bình nguyên băng gồ ghề như những lưỡi dao tàng hình, biến tầng chân không sát mặt đất thành một buồng ion hóa vô hình đầy độc hại.

Cách mặt băng hơn ba kilômét bên dưới, trong Trung tâm Điều hành Mây, Ren Ishikawa ngồi tựa lưng vào ghế điều khiển, hai mắt dán chặt vào màn hình hiển thị thị giác lập thể truyền về từ robot bánh xích vi sai Tanuki-Surface-02. Cánh tay anh khẽ run, một phần vì căng thẳng cơ học sau chuyến đi bộ ngoài không gian đầy hiểm họa trước đó, phần khác vì liều bức xạ tích lũy 24,2 mSv vẫn còn để lại dư âm âm ỉ trong từng khớp xương. Cảm giác buồn nôn nhè nhẹ và vị kim loại đặc trưng của hội chứng phơi nhiễm phóng xạ cấp thấp vẫn lẩn khuất dưới vòm họng anh, nhưng các ngón tay anh trên cần điều khiển cơ học bọc cao su lưu hóa thì chuẩn xác tuyệt đối. Mỗi chuyển động của ngón tay cái đều được hệ thống phản hồi xúc giác tính toán cẩn trọng đến từng phần mười milimét để bù trừ cho độ trễ truyền dẫn nội bộ xuyên qua lớp băng dày.

"Chốt khóa số bốn đã ngậm vào rãnh định vị," Ren nói, giọng khàn đặc qua lớp micro cổ áo. "Các khối vi mạch biến đổi tần số gali-nitrit GaN mà chúng ta gỡ từ máy quang phổ của Phòng Ranh Giới đang đáp ứng tốt. Khối tản nhiệt gốm giữ nhiệt độ tầng tiền khuếch đại ở âm năm mươi lăm độ C. Không bị quá nhiệt, không bị đoản mạch do đông tuyết."

Anh khẽ hít một hơi dài, nghe rõ tiếng bánh răng giảm tốc của cụm truyền động Tanuki rít lên khe khẽ trong tai nghe. Trên mặt băng âm một trăm bảy mươi độ C, lớp mỡ bôi trơn fluorosilicone đã đông cứng thành một lớp sáp giòn, buộc các mô-tơ bước phải tiêu tốn thêm mười hai watt công suất sưởi cục bộ chỉ để ngăn các ổ bi khỏi bị hàn lạnh chân không.

Bên cạnh anh, Luísa Carvalho đang theo dõi bản đồ quỹ đạo và ma trận tensor ứng suất của vỏ băng. Đôi mắt thâm quầng sau những đêm thức trắng chống chọi trận động chấn thứ hai giờ đây ánh lên sự tập trung sắc lẹm. Những quầng thâm màu xám tro dưới mí mắt không làm mờ đi vẻ kiên định của nhà địa chất học; cô liên tục đối chiếu biểu đồ đường cong biến dạng thủy triều với các vector trắc địa truyền về từ mạng lưới cảm biến địa chấn mặt ngoài.

"Độ nghiêng cục bộ của thềm băng Kepler đang lệch 0,14 độ về hướng đông nam do dư chấn trượt của đới Cổ Thạch," Luísa thông báo, đầu ngón tay lướt nhanh trên bàn phím xúc giác, hiệu chỉnh lại thông số bù góc cho cánh tay robot. "Ren, anh cần nâng góc ngẩng thêm 0,082 độ và xoay phương vị sang phải 0,31 độ. Nếu không, búp sóng chính của ăng-ten sẽ trượt khỏi cửa sổ thu của trạm mặt đất DSN ở Canberra trong mười hai phút nữa. Vỏ băng dưới chân Kepler đang oằn mình trước lực kéo thủy triều cộng hưởng từ Ganymede; chúng ta không thể dựa vào các mốc chuẩn tĩnh của ngày hôm qua."

"Hiểu rồi, nhà địa chất của tôi," Ren mỉm cười mệt mỏi, gạt nhẹ cần vi chỉnh thủy lực. "Robot đang nhích từng bước vi mô. Tám mươi micro-radian mỗi xung. Cứ như đang xỏ chỉ qua lỗ kim giữa cơn bão plasma của ngài Mộc Tinh vậy."

Trên màn hình trắc đạc, hình ảnh chóa phản xạ parabol đường kính hai mét rưỡi của đài Kepler rung rinh nhẹ dưới ánh sáng lờ mờ phản chiếu từ dải mây màu hung đỏ khổng lồ của Sao Mộc treo lơ lửng trên nền trời đen thẳm. Khối khí cầu vĩ đại ấy chiếm trọn một góc ba mươi độ của vòm trời, những dải mây quyển xoáy tròn cuộn trào sắc trắng ngà và nâu gỉ, tựa như một con mắt khổng lồ không bao giờ chớp đang nhìn trừng trừng xuống vùng đất hoang vu này. Chóa phản xạ nghiêng dần, các bánh răng hành tinh bằng hợp kim titan được gia nhiệt bằng các điện trở nhỏ nhích từng nấc răng đanh gọn. Từng vệt sáng mạ vàng trên vành chóa lóe lên le lói dưới ánh phản quang của Sao Mộc, đối lập hoàn toàn với khoảng không gian chết chóc xung quanh.

Hồ An Khuê đứng khoanh tay phía sau hai người, vai trái cô vẫn còn nhức nhói sau cú ghì giật chốt cáp cứu hộ Nereid mấy ngày trước. Vết bầm tím chạy dài từ xương bả vai xuống đến bắp tay vẫn nhói lên theo từng nhịp đập của mạch máu, nhưng cô phớt lờ nó. Hơi thở cô phả ra một làn khói mỏng trong khoang điều khiển—nhiệt độ trạm lúc này được giữ ổn định ở mức mười tám độ C nhờ 3,82 kWt nhiệt lượng thu hồi từ việc niêm phong Phòng Ranh Giới. Căn phòng thí nghiệm sâu dưới đáy băng giờ đã chìm vào giấc ngủ vĩnh cửu âm một trăm sáu mươi độ, các vách ngăn hợp kim và hệ thống ống dẫn đóng băng trong bóng tối đặc quánh, nhưng sự hy sinh của nó đã đem lại cho họ sáu khối biến đổi vô tuyến GaN và dàn tụ điện cao tần đang nằm trên bề mặt lạnh giá kia.

Một tiếng *ting* mảnh mai, thanh thoát vang lên từ loa trần, cắt đứt tiếng rì rầm của hệ thống tuần hoàn không khí.

"Kênh vô tuyến sóng milimét đã khóa pha thành công với trạm thu DSN Canberra," giọng Mây cất lên, bình thản nhưng mang một nhịp điệu ấm áp đặc trưng mà AI này thường dùng khi hoàn thành một tiến trình sinh tử. "Tỷ số tín hiệu trên tạp âm SNR đạt 4,8 dB. Công suất bức xạ đẳng hướng tương đương EIRP đạt mười bốn watt. Băng thông khả dụng đo được là một trăm hai mươi tám bit trên giây."

"Một trăm hai mươi tám bit?" Ren buông cần điều khiển, ngửa đầu ra sau thở phào một hơi dài, rồi bật cười tự giễu. "Lạy trời, đúng là một dòng suối dữ liệu cuồn cuộn! Một giây gửi được mười sáu ký tự văn bản thuần túy. Cứ như chúng ta vừa phát minh lại máy điện báo của Samuel Morse giữa lòng thế kỷ hai mươi hai vậy."

"Nhưng đó là 128 bit ổn định, Ren," Luísa quay sang, ánh mắt cô mềm lại khi nhìn thấy bàn tay băng bó của anh. Những vết nứt da do lạnh và cọ xát với găng tay áp suất vẫn rỉ máu thấm qua lớp gạc y tế màu trắng. Cô khẽ đặt tay lên vai anh, siết nhẹ. "Kênh truyền không bị gián đoạn pha. Không có hiện tượng trượt tần số Doppler do rung lắc cơ học. Đối với khoảng cách bảy trăm triệu kilômét trong vùng bão từ, 128 bit/giây là một cây cầu bằng thép."

"Xác nhận," Mây bổ sung, đồng thời hiển thị lên màn hình chính một dải sóng hình sin đồng bộ tuyệt đối màu lục thẫm. "Kênh truyền có độ trôi dạt tần số dưới 0,02 Hertz trên chu kỳ mười phút. Bộ nhớ đệm tầng phát của đài Kepler đã sẵn sàng nhận dữ liệu từ Lõi Trú ẩn. Chúng ta có thể bắt đầu truyền tải gói tin khoa học tổng hợp đầu tiên sau bốn tháng đứt gãy hoàn toàn."

Không khí trong phòng điều khiển đột ngột chùng xuống, chuyển từ sự hồi hộp kỹ thuật sang một trạng thái trang nghiêm gần như tĩnh lặng. Bốn tháng cô lập dưới tầng băng sâu, đối mặt với sự cố lò phản ứng Kifaru, sự suy thoái của bể tảo, cuộc khủng hoảng tái đông của giếng khoan Borealis và sự sụp đổ của một phân khu trạm. Suốt thời gian ấy, Trái Đất chỉ nhận được những gói tin nhịp tim tối thiểu ba mươi bảy byte xác nhận họ còn thở. Nhân loại ở cách xa bảy trăm triệu cây số hoàn toàn không biết điều gì đang thực sự diễn ra dưới đáy đại dương ngầm của mặt trăng này. Họ không biết về những vết nứt lan rộng trên vách giếng khoan, không biết về cái chết của hàng triệu tế bào vi tảo lục cung cấp oxy, và càng không biết về những phát hiện dị thường đang nằm im lìm trong bộ nhớ thể rắn của tàu ngầm Nereid.

"Mây, kích hoạt giao diện đóng gói dữ liệu Borealis-Archive-Alpha," An Khuê bước lên phía trước, kéo chiếc ghế kim loại bên cạnh Luísa lại gần bàn làm việc.

"Đã mở giao diện," Mây phản hồi. "Dung lượng bộ đệm cho phép truyền một gói tin nén tối đa 140 kilobyte trong phiên kết nối kéo dài hai giờ ba mươi phút này. Thuật toán nén không mất dữ liệu LZMA-2 đã sẵn sàng. Xin kỹ sư An Khuê lựa chọn các tập tin nguồn."

Trên màn hình trắc nghiệm, các thư mục nghiên cứu hiện lên thành một danh sách dài dằng dặc. Ở vị trí nổi bật nhất là các tệp video độ phân giải cao và chuỗi quang phổ của *Giao thức Borealis-Echo-04*: những hình thang đối xứng gương nghịch đảo hoàn hảo phát ra từ Cánh đồng Gương Sống ở bước sóng 485 nanomét, phản hồi lại tín hiệu thăm dò của Nereid sau đúng mười bảy giờ năm mươi tám phút bốn mươi giây im lặng, trùng khớp với tốc độ khuếch tán hóa học 3,3 cm/s qua chất nền hydrogel hữu cơ. Đó là bằng chứng rực rỡ nhất, ngoạn mục nhất về một trí tuệ sinh học ngoài hành tinh—thứ mà bất kỳ cơ quan vũ trụ nào trên Trái Đất cũng khao khát được nhìn thấy để chứng minh cho ngân sách hàng trăm tỷ dollar. Hình thang quang phổ ấy tỏa sáng rực rỡ trên biểu đồ dạng sóng, một trật tự toán học không thể nhầm lẫn, nổi bật lên giữa nền nhiễu loạn ngẫu nhiên của vũ trụ sơ khai.

Nhưng An Khuê không nhấp chuột vào đó trước tiên.

Những ngón tay mảnh khảnh của cô lướt trên bảng chọn, điềm tĩnh đánh dấu vào các thư mục phụ nằm khuất sâu bên dưới:

`Borealis-Echo-01-Failure-Thermal-Artifact.dat` (Dữ liệu thử nghiệm số nguyên tố thất bại do dòng vi đối lưu nhiệt tạo xoáy von Kármán).

`Negative-Control-Quantum-Random-Series.raw` (Toàn bộ chuỗi đối chứng âm bằng xung ngẫu nhiên lượng tử kéo dài hàng trăm giờ không có phản hồi).

`Sensor-07-Mechanical-Jam-Error-Log.csv` (Biên bản chi tiết về lỗi kẹt ngàm cơ học và nứt gốm bán dẫn của cảm biến áp suất số 7 trên dầm H-11, nguyên nhân gây sai số hệ thống suốt nhiều tháng).

`ECLSS-Contamination-Bacillus-Epidermidis.rep` (Báo cáo sự cố nhiễm khuẩn da người làm mất trắng bồn nấm men số 2 do kiệt sức và vi phạm an toàn).

Ren ngẩng lên nhìn cô, hàng lông mày rậm hơi nhíu lại: "Khuê, băng thông của chúng ta chỉ có 128 bit/giây. 140 kilobyte là tất cả những gì chúng ta có thể nén và tống qua cái khe cửa hẹp này trước khi Europa quay lưng về phía DSN. Em thực sự muốn dành gần bốn mươi phần trăm dung lượng quý giá đó cho các tập tin đối chứng âm và hồ sơ lỗi kỹ thuật sao? Người ta ở nhà đang chờ đợi tin tức về sự sống. Họ muốn nhìn thấy ánh sáng 485 nanomét. Họ muốn thấy chuỗi Fibonacci. Nếu chúng ta nhồi nhét cả đống dữ liệu rác kỹ thuật này vào, chúng ta sẽ phải cắt giảm một nửa độ phân giải phổ của Echo-04."

"Đúng vậy, anh Ren," An Khuê trả lời, giọng cô không hề dao động, phẳng lặng và chắc nịch như khối bazan dưới chân giếng Borealis. "Nếu chúng ta chỉ gửi đi chuỗi đối xứng Fibonacci và các đỉnh phát quang 485 nanomét, các phòng thí nghiệm trên Trái Đất sẽ rơi vào đúng cái bẫy thiên kiến mà chúng ta từng mắc phải. Họ sẽ tưởng tượng ra những sinh vật thông minh đang cố gắng vẫy tay chào con người, họ sẽ giật gân hóa nó trên các bản tin toàn cầu, và rồi các chính trị gia sẽ đưa ra những quyết định điên rồ dựa trên sự ngộ nhận."

Cô dừng lại một nhịp, nhìn thẳng vào mắt Ren, rồi nhìn sang Luísa:

"Khoa học không bắt đầu từ việc chúng ta nhìn thấy điều kỳ diệu. Khoa học bắt đầu từ việc chúng ta chứng minh được rằng điều kỳ diệu đó không phải là ảo ảnh do chính cỗ máy của chúng ta tạo ra. Nếu không có hồ sơ thất bại của xung nhiệt Borealis-Echo-01, chuỗi đối xứng của Echo-04 sẽ không có giá trị kiểm chứng độc lập. Các chuyên gia phản biện ở Viện Max Planck hay NASA sẽ lập tức chỉ trích rằng đó chỉ là một dạng cộng hưởng dòng nhiệt tự nhiên quanh thân tàu Nereid. Nếu không có biên độ sai số của cảm biến số 7, mô hình thủy văn của chị Luísa sẽ bị coi là ngụy tạo số liệu để khớp với giả thuyết về dòng hải lưu đối lưu. Em từ chối gửi về một câu chuyện cổ tích khoa học viễn tưởng. Chúng ta sẽ gửi về sự thật trần trụi, lạnh lùng, kèm theo toàn bộ sự vụng về và những lần vấp ngã của chính mình."

Luísa khẽ mỉm cười, một nụ cười tán đồng tuyệt đối. Cô vỗ nhẹ lên bàn, những vết chai sạn nơi lòng bàn tay gõ lách cách trên mặt kim loại: "Tôi đồng ý với Khuê. Tại Viện Địa chấn Quốc gia ở São Paulo, giáo sư của tôi luôn nói: một nhà khoa học tồi công bố những gì họ muốn thấy; một nhà khoa học chân chính công bố cả những vết nứt trên kính hiển vi của họ. Hãy đưa cả dữ liệu trôi dạt tần số của cáp quang Nereid vào gói tin. Nếu Darmstadt muốn chất vấn tại sao chúng ta mất cảm biến hóa học ngoài thân tàu, họ có thể đọc báo cáo giải trình cơ học thoát kẹt ở độ sâu một nghìn chín trăm mét. Để họ hiểu rằng mỗi một byte dữ liệu này được trả bằng máu và sự kiệt quệ của thiết bị."

Mây lặng lẽ xử lý yêu cầu, các thuật toán nén phân nhánh chạy ngầm làm phát ra những tiếng vo vo cực nhỏ từ các phiến tản nhiệt của khối tính toán trung tâm. Bảng phân bổ dung lượng sau khi nén hiện lên trên màn hình chính:

`TỔNG DUNG LƯỢNG GÓI TIN: 138,4 KILOBYTE` `- DỮ LIỆU ĐỐI CHỨNG ÂM & NHIỄU NỀN: 41,2 KB (29,8%)` `- HỒ SƠ LỖI CẢM BIẾN & SAI SỐ HỆ THỐNG: 22,6 KB (16,3%)` `- DỮ LIỆU PHÁT QUANG SINH HỌC BOREALIS-ECHO-02/03/04: 58,1 KB (42,0%)` `- BÁO CÁO HIỆN TRẠNG SINH TỒN & TẢI NĂNG LƯỢNG KIFARU: 16,5 KB (11,9%)` `THỜI GIAN TRUYỀN DỰ KIẾN TẠI 128 BIT/S: 2 GIỜ 27 PHÚT 38 GIÂY.`

"Một cấu trúc dữ liệu mẫu mực của sự liêm chính," một giọng nói trầm tĩnh vang lên từ cửa khoang điều khiển.

Chỉ huy Amara Njoroge bước vào. Cô đã thay bộ đồ lót áp suất dày cộm bằng bộ đồng phục dệt sợi tổng hợp màu xám đậm của trạm. Dáng người cô cao ráo, vững chãi, cánh tay phải buông lỏng tự nhiên bên sườn—những cơn co thắt mạch máu tiền đình đã giảm rõ rệt sau chuỗi ngày nghỉ ngơi và chế độ dinh dưỡng bổ sung sắt sinh học từ mẻ thu hoạch nấm men tươi. Từng bước chân cô đặt lên sàn lưới thép phát ra âm thanh dứt khoát, mang lại cảm giác an tâm lạ kỳ cho cả căn phòng. Đi cùng cô là Bác sĩ Ingrid Solberg, tay cầm bảng theo dõi y tế vật lý bằng giấy kẹp bìa cứng, ánh mắt nghiêm nghị quét qua từng thành viên để đo đạc mức độ mệt mỏi. Ingrid liếc nhìn ly nước điện giải đã cạn trên bàn của Ren, kín đáo gật đầu xác nhận mức độ bù nước của anh trước khi lùi lại một bước, giữ trật tự cho khoang chỉ huy.

"Chỉ huy," An Khuê đứng dậy nhường ghế.

Amara giơ tay ngăn lại, bước đến bên cạnh bàn điều khiển. Cô nhìn lướt qua bảng phân bổ dung lượng của gói tin, ánh mắt dừng lại hồi lâu ở mục hồ sơ đối chứng âm và sai số cảm biến. Một tia hài lòng kín đáo lóe lên nơi khóe mắt người phụ nữ Kenya.

"Khi nhận nhiệm vụ chỉ huy Trạm Ánh Sáng năm năm trước," Amara nói chậm rãi, giọng vang vọng sự từng trải của một phi hành gia kỳ cựu, "Hội đồng Điều hành tại Darmstadt từng dặn tôi một điều: 'Mối

đe dọa lớn nhất đối với các sứ mệnh không gian sâu không phải là bức xạ hay sự cô độc, mà là sự kiêu ngạo của những người phát hiện.' Họ sợ chúng ta vì muốn trở thành lịch sử mà bóp méo dữ liệu. Hôm nay, các bạn đã chứng minh phi hành đoàn này xứng đáng với sự ủy thác đó."

Amara rút từ túi áo ngực ra một chiếc thẻ nhớ bảo mật mạ vàng—chìa khóa xác thực chỉ huy tối cao mang mã định danh COM-AUTH-01. Khối kim loại nhỏ bé, nặng trịch trên những ngón tay chai sần vì nhiều năm siết găng tay chịu áp, phản chiếu ánh sáng trắng lạnh lẽo từ dàn đèn huỳnh quang trần khoang. Cô tiến lại gần bệ điều khiển chính, đưa chiếc thẻ vào khe nhận chuyên dụng bằng cơ cấu khóa lẫy vật lý hai cấp. Một tiếng tách cơ học khô khốc vang lên, tiếp nối bằng tiếng rít nhỏ của vòng đệm cao su chân không khép kín quanh rãnh cắm, kích hoạt bảng giao diện quyền lực cao nhất của hệ thống quản trị trạm.

"Mây, ghi nhận sắc lệnh COM-2091-118," Amara tuyên bố dõng dạc. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào điểm cảm biến quang học của trí tuệ nhân tạo gắn trên góc màn hình trung tâm, chất giọng không một gợn run rẩy, rành rọt từng âm tiết như đang đọc một bản tuyên thệ trước pháp đình quốc tế. "Phê chuẩn việc đóng gói và phát phát gói tin khoa học Borealis-Scientific-Package-Alpha qua đài Kepler. Khóa mã băm toàn vẹn SHA-512. Áp dụng mã sửa sai Reed-Solomon tỷ lệ 1/2 để bảo đảm không một bit nào bị tha hóa bởi bão từ Sao Mộc. Ký duyệt: Chỉ huy Amara Njoroge."

"Lệnh đã được xác thực hoàn toàn trên cả ba kênh độc lập," giọng nói tổng hợp của Mây đáp lại, điềm tĩnh nhưng dường như mang theo một tần số rung động sâu hơn thường lệ.

Ngay tức khắc, bảng hiển thị trên màn hình vòm tái cấu trúc toàn bộ bố cục. Một đồ thị thanh nằm ngang mang sắc xanh lam đậm xuất hiện ở trung tâm, chia cắt thành 8.857 khối dữ liệu hình chữ nhật li ti như những lát cắt của một chuỗi ngọc bích. Mỗi khối nhỏ đại diện cho mười sáu byte thông tin đã được mã hóa đan xen, sẵn sàng đón nhận luồng bức xạ điều biến.

"Bắt đầu điều biến tín hiệu tần số vi ba 12,14 GHz," Mây thông báo đều đặn qua hệ thống loa định hướng. "Công suất máy phát của đài Kepler duy trì ổn định ở mười bốn watt. Tốc độ truyền thực tế: mười sáu byte mỗi giây. Dòng dữ liệu đang rời loa phản xạ búp sóng hẹp của đài Kepler, vượt qua biên giới từ quyển hỗn loạn của Europa, hướng thẳng vào đường chân trời Trái Đất."

Cả phòng điều khiển chìm vào một sự im lặng gần như nghẹt thở.

Tiếng thì thầm của máy móc, vốn là thứ âm thanh nền quen thuộc đến mức bị bộ não gạt bỏ suốt nhiều tháng ròng, bỗng nhiên hiện hữu rõ mồn một. Tiếng quạt tản nhiệt của các phiến vi xử lý quang tử rên rỉ dưới sàn lưới kim loại; tiếng dịch tuần hoàn rù rì nhịp nhàng trong ống dẫn mềm áp suất cao; tiếng rắc nhẹ rất khẽ của các mối hàn hợp kim titan trên vách khoang khi lớp vỏ ngoài co lại dưới sức ép nhiệt độ âm một trăm sáu mươi độ C của màn đêm Europa.

An Khuê nhìn chăm chú vào dòng số nhảy chầm chậm ở góc dưới màn hình. Từng khối chữ nhật màu xanh lam từ từ chuyển sang màu trắng sữa khi được xác nhận đã rời khỏi mảng ăng-ten định hướng. Mỗi một khối dữ liệu được phóng thích vào chân không không đơn thuần là những con số nhị phân không hồn, mà là một mảnh vụn của hiện thực trần trụi được phi hành đoàn chắt lọc qua mồ hôi, máu và cả những đêm mất ngủ đến cùng kiệt. Đó là kết quả của hàng ngàn giờ quan sát kiên nhẫn, của những phép đo phổ trắc quang học tỉ mỉ đến từng phần triệu lumen, của những chuỗi đối chứng âm nhạt nhẽo nhưng trung thực đến tàn nhẫn mà họ kiên quyết bảo lưu trước mọi cám dỗ muốn tô vẽ sự thật.

Ở ngoài kia, bên ngoài lớp vỏ bảo vệ bằng hợp kim bọc composite nhiều tầng của Trạm Ánh Sáng, giữa bóng tối vĩnh cửu và lạnh lẽo tuyệt đối của không gian liên hành tinh, chùm sóng vô tuyến công suất chỉ vỏn vẹn mười bốn watt—yếu ớt chẳng khác nào ánh sáng của một ngọn nến le lói giữa cơn bão biển—đang đơn độc vạch một đường thẳng vô hình qua quãng đường hơn bảy trăm triệu kilômét.

Đó là một hành trình gian nan đến mức vượt ngoài khả năng hình dung của trực giác con người. Chùm vi ba ấy phải xuyên qua chiếc lồng từ trường khổng lồ đầy giận dữ của Sao Mộc—nơi những đai bức xạ Van Allen hung bạo liên tục phóng ra những dòng hạt mang điện tích cao với mật độ hủy diệt. Nó phải lướt qua khoảng trống hoang vu, đầy bụi đá của vành đai tiểu hành tinh, băng qua quỹ đạo cắt ngang lạnh lẽo của Sao Hỏa, xuyên qua gió mặt trời đang thổi phần phật giữa các tầng không gian trống rỗng, để nhắm tới một chấm xanh lam mờ nhạt treo lơ lửng ở phía chân trời nội hệ. Ở nơi đó, ba cụm đĩa ăng-ten khổng lồ đường kính bảy mươi mét thuộc Mạng lưới Không gian Sâu của nhân loại, đặt tại Goldstone trong sa mạc Mojave, Robledo gần Madrid và Tidbinbilla bên ngoài Canberra, đang kiên nhẫn xoay những chiếc bát kim loại khổng lồ ngược hướng gió, im lặng lắng nghe từng xung động yếu ớt của vũ trụ.

Tốc độ ánh sáng là ba trăm nghìn kilômét mỗi giây—hạn định vật lý tối thượng của vũ trụ khả kiến. Nhưng ở quy mô mênh mông rợn ngợp của Thái Dương Hệ, ngay cả ánh sáng cũng chỉ là một kẻ bộ hành chậm chạp, lê từng bước mệt mỏi qua những hố sâu không đáy của không-thời gian.

"Thời gian truyền một chiều tại khoảng cách hình học quỹ đạo hiện tại: ba mươi tám phút mười hai giây," giọng Mây phá vỡ sự tĩnh lặng đặc quánh của khoang tàu. "Thời gian trễ tín hiệu hai chiều (RTT), đã tính toán độ trễ đồng hồ tương đối tính cùng dung sai cho khâu tiếp nhận, tái cấu trúc gói tin và hội chẩn phản hồi cấp cao từ Trung tâm Điều hành ESOC tại Trái Đất dự kiến: một giờ hai mươi sáu phút."

"Một tiếng rưỡi chờ đợi," Ren buông một tiếng thở dài thườn thượt. Anh thả lỏng toàn bộ cơ thể, duỗi dài hai chân xuống gầm bàn làm việc bọc đệm cách điện, với lấy chiếc bình giữ nhiệt bằng thép mạ bạc chứa nước ấm pha thảo mộc được chưng cất từ Vườn Bình Minh. "Đủ để tôi ngủ một giấc ngắn không mộng mị, hoặc đủ để nhịp tim của bác sĩ Ingrid nhảy vọt lên ngưỡng một trăm hai mươi nhịp mỗi phút vì rối loạn lo âu thứ phát."

"Nhịp tim nghỉ ngơi của tôi lúc này hoàn toàn bình thường ở mức sáu mươi bốn, Ishikawa," Ingrid đáp trả ngay tắp lự, chất giọng mang ngữ điệu hài hước khô khốc đặc trưng của những người sinh ra bên bờ vịnh hẹp bán đảo Scandinavia. Ánh mắt cô vẫn dán chặt vào các chỉ số sinh hóa trên bảng kẹp hồ sơ vật lý, không buồn ngẩng lên. "Nhưng nếu anh không chịu uống hết hai trăm năm mươi mililit dung dịch bù điện giải chứa kali và magie hữu cơ trong vòng ba mươi phút tới, tôi thề sẽ đích thân dùng ống thông mười bốn gauge cắm thẳng vào tĩnh mạch nền trên cánh tay anh đấy. Đừng thách thức một bác sĩ đang thiếu ngủ."

Mọi người trong phòng khẽ bật cười. Tiếng cười không lớn, nhưng ấm áp và chân thành, đủ sức làm tan đi bầu không khí căng thẳng đặc quánh như chì đã tích tụ trong từng ngóc ngách của khoang điều khiển suốt nhiều tháng ròng rã.

Luísa mỉm cười, lắc đầu nhẹ rồi đứng dậy khỏi chiếc ghế giảm chấn của trạm địa chấn. Cô bước chậm rãi về phía góc phòng, nơi có chiếc máy đun nước áp suất thấp dùng cho môi trường vi trọng lực, cẩn thận rót cho mỗi người một cốc nước nóng bốc khói nghi ngút. Mùi thơm dịu nhẹ, thanh khiết của những ngọn lá bạc hà tươi—thành quả của những khay ươm thủy canh sống sót kỳ diệu sau trận rung chấn băng dữ dội tháng trước—nhanh chóng lan tỏa, lấn át mùi tanh kim loại và ozon nhân tạo cố hữu của hệ thống tuần hoàn khí quyển.

An Khuê nhận lấy chiếc cốc thép hai lớp từ tay Luísa. Hơi ấm truyền qua lớp kim loại xoa dịu những đầu ngón tay đang tê cóng của cô. Cô khẽ gật đầu cảm ơn người bạn đồng hành Brazil, rồi bưng cốc nước bước lùi lại phía sau, ngồi xuống chiếc ghế dài kỹ thuật bọc da tổng hợp áp sát góc tường khoang.

Cô đặt cốc nước sang một bên bệ tì tay, thò tay vào túi áo ngực của bộ áo liền quần, rút ra thiết bị ghi chép cá nhân dạng gập mỏng như một tấm mica.

Màn hình quang điện tử sáng lên dưới ánh sáng dịu mắt. An Khuê lướt ngón tay qua giao diện điều hướng, bỏ qua những trang nhật ký sinh học dày đặc biểu đồ hấp thụ photon và mật độ vi tảo quen thuộc. Dưới đáy của cây thư mục lưu trữ cục bộ, một tệp tin văn bản thuần túy không khóa bảo mật mang tiêu đề `Resignation-Draft-AnKhue-DeepSpace.txt` vẫn nằm im lìm ở đó.

Tệp tin này được khởi tạo từ ngày thứ mười bốn sau khi cô bước chân lên tàu vận tải liên hành tinh rời bỏ quỹ đạo Trái Đất, cách đây hơn năm năm trời.

Đó là bản nháp lá đơn xin rút lui hoàn toàn khỏi chương trình thám hiểm không gian sâu sau khi kết thúc sứ mệnh Europa. Ngày ấy, nhìn qua ô cửa sổ tròn dày năm lớp kính thạch anh của tàu mẹ, thấy Trái Đất từ một quả cầu xanh biếc rực rỡ thu nhỏ dần thành một đốm sáng xanh lơ cô độc giữa màn nhung đen ngòm vô tận, một nỗi sợ hãi nguyên thủy đã bóp nghẹt tâm can cô. Cô từng tin rằng khoảng cách vật lý không tưởng và độ trễ thời gian nghiệt ngã của vũ trụ sâu sẽ từ từ cắt đứt mọi sợi dây liên kết vô hình giữa cô và những gì thân thương nhất: người em gái An Bình với nụ cười rạng rỡ, căn nhà nhỏ rợp bóng cây bằng lăng ở Hà Nội, và những cơn mưa rào mùa hạ xối xả gột rửa mặt đường nhựa bốc mùi ngai ngái của đất phù sa. Cô từng khiếp sợ rằng sự cô lập tàn bạo, câm lặng dưới lớp băng dày hai mươi kilômét của Europa sẽ dần nuốt chửng nhân tính trong cô, biến cô thành một cỗ máy sinh học khô khan, vô cảm, cả đời chỉ biết quẩn quanh đo đếm từng miligram nitơ, từng micromol phosphor và tính toán hiệu suất quang hợp của các cụm rêu nhân tạo.

An Khuê nhìn chăm chú vào những dòng chữ trên bản nháp đơn từ chức. Từng câu chữ được viết bằng sự hoang mang, non nớt và bất an cùng cực của một nhà thực vật học ba mươi tuổi lần đầu đứng trước miệng vực thẳm của vũ trụ bao la. Giờ đây, đọc lại chúng giữa trạm nghiên cứu ngầm này, những dòng tâm sự ấy bỗng hiện lên xa xăm như thể được viết bởi một người xa lạ từ kiếp trước.

Bốn tháng ròng rã sinh tử dưới lớp băng vĩnh cửu đã đập tan những ảo tưởng và cả những nỗi sợ hãi ấu trĩ của cô. Cô đã tận mắt chứng kiến Chỉ huy Amara cắn chặt răng chiến đấu với từng cơn đau đầu tiền đình dữ dội do vi trọng lực và thiếu máu não cục bộ gây ra, chỉ để giữ cho kỷ luật vận hành của trạm không bị lung lay dù chỉ một giây. Cô đã thấy Ren Ishikawa liều mình bò ra ngoài khoang điều áp trong bộ đồ bảo hộ EVA cồng kềnh, chịu đựng giá lạnh âm một trăm sáu mươi độ để nối lại từng mối hàn sợi cáp quang bị xé đứt sau đợt trượt nêm băng, khi mà chỉ một vết nứt nhỏ trên găng tay cũng đủ làm bàn tay anh hoại tử vĩnh viễn. Cô đã thấy Luísa thức trắng ba đêm liền trước màn hình địa chấn, đôi mắt đỏ hoe nhưng đôi tai vẫn căng ra để lắng nghe từng tiếng nứt gãy vi mô sâu trong lòng mảng kiến tạo băng, tìm kiếm quy luật an toàn cho cả đoàn. Và cô đã thấy Ingrid, người phụ nữ Bắc Âu tưởng chừng sắt đá và lạnh lùng như băng tảng, khẽ rơi nước mắt khi băng bó vết bỏng lạnh cho Ren, học cách chấp nhận sự mong manh của thể xác con người mà không hề tuyệt vọng.

Đứng trước sự khắc nghiệt cùng cực của vũ trụ, An Khuê mới thấu hiểu một chân lý giản dị nhưng sâu sắc mà không một cuốn giáo trình sinh học vũ trụ nào từng nhắc tới.

Vũ trụ bao la không hề có dã tâm biến con người thành những sinh vật nhỏ bé hay tầm thường. Vũ trụ chỉ tước đoạt đi những lớp vỏ bọc hào nhoáng, giả tạo của danh vọng, sự tự phụ và những ảo tưởng cá nhân, để trơ trọi lại cái lõi kiên cường, thuần khiết và ấm áp nhất của sự sống. Chính sự gắn kết, lòng trắc ẩn và tinh thần trách nhiệm không vụ lợi giữa những con người bằng xương bằng thịt mới là thứ mỏ neo duy nhất giữ cho họ không bị trôi dạt vào cõi hư vô.

Ngón tay An Khuê dừng lại trên phím bấm xóa tập tin. Một thoáng ngập ngừng lướt qua, nhưng rồi cô không ấn phím. Cô khẽ mỉm cười, một nụ cười an tĩnh tự đáy lòng, rồi gập thiết bị lại và nhét sâu vào túi áo ngực, ngay sát nhịp đập của trái tim mình. Có những quyết định không cần thiết phải vội vã tuyên bố hay hủy bỏ bằng một thao tác kỹ thuật; tâm thế của cô đã tự tìm thấy câu trả lời trọn vẹn và vững chãi nhất trong từng chồi non xanh mướt của Vườn Bình Minh đang vươn mình mạnh mẽ giữa lòng băng giá.

Thời gian bên trong khoang điều khiển trôi đi nặng nề và chậm chạp, tựa như chuyển động nghiền nát của những khối nêm băng ngoài rãnh nứt địa chất. Không ai nói thêm câu nào, dường như sợ rằng một âm thanh bất cẩn cũng có thể xua đi luồng sóng vô tuyến đang trên đường trở lại.

Đồng hồ đếm ngược trễ tín hiệu hai chiều của Mây hiển thị những con số màu vàng nhạt, nhích từng giây một cách kiên nhẫn và vô tình:

`ĐỒNG HỒ ĐẾM NGƯỢC RTT: 00:41:15...` `ĐỒNG HỒ ĐẾM NGƯỢC RTT: 00:20:00...` `ĐỒNG HỒ ĐẾM NGƯỢC RTT: 00:05:32...` `ĐỒNG HỒ ĐẾM NGƯỢC RTT: 00:00:10... 00:00:03... 00:00:00.`

Khi chuỗi số rơi hẳn về các số không tròn trĩnh, một phản xạ tự nhiên khiến cả năm thành viên phi hành đoàn đồng loạt ngồi thẳng lưng dậy. Mọi ánh mắt, từ ánh nhìn mệt mỏi của Ren đến đôi mắt nghiêm nghị của Amara, đều ghim chặt vào bảng hiển thị trạng thái vô tuyến băng X.

Một phút trôi qua. Rồi năm phút. Mười phút.

Màn hình vẫn giữ nguyên một màu xám tro tĩnh lặng. Không có bất kỳ khung dữ liệu nào xuất hiện. Sự im lặng của không gian sâu lúc này chẳng khác nào một bức tường đá hoa cương vô hình, lạnh lùng nuốt chửng mọi kỳ vọng vừa nhen nhóm. Tiếng nhịp tim của chính mình dường như vang vọng trong lồng ngực An Khuê.

"Độ trôi pha do tương tác plasma của tầng điện ly Sao Mộc có thể đã làm lệch búp sóng, khiến trạm Madrid phải mất thêm thời gian căn chỉnh bám vết mảng pha," Ren thì thầm, hai bàn tay anh đan chặt vào nhau đến trắng bệch các khớp ngón. "Hoặc Hội đồng Điều hành tại Darmstadt cần thêm thời gian để triệu tập khẩn cấp ủy ban kiểm chứng độc lập..."

"Đang nhận sóng mang ở tần số 8,445 GHz băng X!"

Giọng của Mây bất ngờ vang lên, âm lượng tự động tăng vọt lên một tông rõ rệt, đánh tan bầu không khí ngột ngạt. "Góc phương vị búp sóng: chuẩn xác tuyệt đối. Cường độ tín hiệu đo được: -142 dBm. Trạm DSN tại Madrid đã khóa kênh đường xuống thành công! Bắt đầu chuỗi giải mã khung truyền tin. Khung dữ liệu đầu tiên mang tiêu đề: `ESOC-DARMSTADT-OFFICIAL-RESPONSE-PACKET-ALPHA`!"

"Mây, xuất toàn bộ nội dung đã giải mã lên màn hình trung tâm ngay lập tức!" Amara đứng bật dậy, chiếc ghế xoay sau lưng cô trượt lùi lại đập khẽ vào thanh chắn an toàn. Giọng nói mang uy quyền chỉ huy sắc bén lập tức quay trở lại trên gương mặt người phụ nữ Kenya.

Từng khối ký tự màu xanh lá cây sáng rực bắt đầu tuôn trào trên nền màn hình đen sẫm, cuộn xuống với tốc độ chóng mặt theo chu kỳ quét của vi xử lý. Đi kèm với dòng văn bản là con dấu mật mã điện tử đa lớp của Hội đồng Nhiệm vụ Quốc tế (IMC) và Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA), khẳng định tính xác thực tuyệt đối ở cấp độ nguyên thủ:

`XÁC THỰC BỨC ĐIỆN TỬ: TRUNG TÂM ĐIỀU HÀNH SỨ MỆNH ESOC (DARMSTADT, ĐỨC)` `GỬI TỚI: PHI HÀNH ĐOÀN TRẠM ÁNH SÁNG EUROPA (BOREALIS BASE)` `THỜI GIAN NHẬN: 2091-11-04 T 14:22:08 UTC` `TỔNG DUNG LƯỢNG GIẢI MÃ: 138,4 KB (TOÀN VẸN 100%, CRC KHỚP HOÀN HẢO)`

`KÍNH GỬI CHỈ HUY AMARA NJOROGE VÀ CÁC THÀNH VIÊN,`

`HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH VÀ CỘNG ĐỒNG KHOA HỌC QUỐC TẾ XIN NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC SỰ KIÊN CƯỜNG VÀ TÍNH MINH BẠCH KHOA HỌC TUYỆT VỜI CỦA CÁC BẠN. VIỆC BẢO TOÀN ĐẦY ĐỦ CÁC CHUỖI ĐỐI CHỨNG ÂM VÀ HỒ SƠ SAI SỐ KỸ THUẬT LÀ BẰNG CHỨNG HÙNG HỒN NHẤT CHO TÍNH XÁC THỰC CỦA TOÀN BỘ CƠ SỞ DỮ LIỆU.`

`DỮ LIỆU BOREALIS ĐÃ ĐƯỢC CHUYỂN GIAO ĐỒNG THỜI TỚI NĂM VIỆN NGHIÊN CỨU ĐỘC LẬP: VIỆN SINH HỌC VŨ TRỤ MAX PLANCK (HEIDELBERG), PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐỘNG CƠ PHẢN LỰC JPL (CALTECH), ĐẠI HỌC TOKYO, VIỆN ASTRONOMY CAMBRIDGE VÀ VIỆN NGHIÊN CỨU KHÔNG GIAN QUỐC GIA BRAZIL (INPE).`

Dòng chữ đột ngột tạm dừng trong vài giây dài dằng dặc khi gói dữ liệu thứ hai được ghép nối và giải nén khỏi thuật toán sửa sai. Căn phòng im ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng máy bơm tuần hoàn dung dịch dinh dưỡng khẽ rù rì ở vách sau khoang chỉ huy, nhịp nhàng như nhịp thở của một sinh thể nhân tạo.

Rồi phần văn bản phê chuẩn khoa học chính thức hiện ra, rực rỡ và đanh thép:

`KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘC LẬP TỔNG HỢP:`

`1. BÁC BỎ HOÀN TOÀN GIẢ THUYẾT VÔ HỮU VỀ NGUỒN GỐC VÔ SINH: CÁC NHÀ VẬT LÝ ĐỊA CẦU VÀ HÓA HỌC ĐẠI DƯƠNG XÁC NHẬN MẪU XUNG ÁNH SÁNG 485 NM KÉO DÀI 18 GIỜ ĐỐI XỨNG GƯƠNG NGHỊCH ĐẢO VÀ CÁC KHOẢNG LẶNG FIBONACCI TUYỆT ĐỐI KHÔNG THỂ HÌNH THÀNH TỪ CÁC PHẢN ỨNG OXY HÓA KHỬ VÔ CƠ, HIỆN TƯỢNG TÁCH XOÁY THỦY ĐỘNG LỰC HỌC HAY DAO ĐỘNG TRIỀU LAPLACE TỰ NHIÊN.`

`2. XÁC THỰC BẢN CHẤT SINH HỌC PHÂN TÁN: MÔ HÌNH KHUẾCH TÁN HÓA HỌC VỚI VẬN TỐC 3,3 CM/S QUA CHẤT NỀN NGOẠI BÀO TRÙNG KHỚP VỚI CÁC MÔ PHỎNG VỀ MẠNG LƯỚI QUORUM SENSING VĨ MÔ QUY MÔ LỚN. KHẢ NĂNG LƯU TRỮ CẤU TRÚC ĐỐI XỨNG VÀ TÁI HIỆN NÓ SAU KHOẢNG NGHỈ 18 GIỜ LÀ MINH CHỨNG KHÔNG THỂ BÁC BỎ CHO MỘT HỆ THỐNG CÓ TRÍ NHỚ SINH HỌC PHÂN BỐ (DISTRIBUTED BIOLOGICAL MEMORY).`

`3. CÔNG NHẬN LỊCH SỬ: HỘI ĐỒNG NHIỆM VỤ QUỐC TẾ CHÍNH THỨC CÔNG NHẬN PHÁT HIỆN CỦA TRẠM ÁNH SÁNG EUROPA: NHÂN LOẠI ĐÃ CHÍNH THỨC XÁC NHẬN SỰ TỒN TẠI CỦA SỰ SỐNG CÓ CẤU TRÚC NHẬN THỨC BÊN NGOÀI TRÁI ĐẤT.`

Một tiếng nấc nghẹn ngào, ngắn ngủi nhưng vỡ òa khẽ bật ra từ lồng ngực Luísa. Người phụ nữ Brazil kiên cường, người từng bình thản đối mặt với những cơn rung chấn đe dọa xé toạc trạm nghiên cứu, lúc này không kìm được xúc động. Cô quay sang ôm chặt lấy hai vai An Khuê, những giọt nước mắt nóng hổi trào ra, lăn dài trên đôi gò má sạm đi vì ánh đèn nhân tạo.

Ren Ishikawa lặng người đi như hóa đá. Toàn bộ sức lực dường như rời bỏ anh trong khoảnh khắc; anh ngả hẳn người ra sau lưng ghế tựa, đưa cả hai bàn tay thô ráp lên che kín khuôn mặt mình. Đôi bờ vai rộng của người kỹ sư viễn thông rung lên nhè nhẹ trong một niềm xúc động không lời, giải tỏa toàn bộ gánh nặng nghìn cân đã đè bẹp tâm trí anh suốt những ngày đứt gãy liên lạc. Bác sĩ Ingrid khẽ bước tới, đặt một bàn tay ấm áp lên lưng Ren, đôi mắt xanh xám vốn luôn nghiêm nghị của cô lúc này nhạt nhòa trong một niềm hân hoan thanh thản chưa từng thấy.

Chỉ huy Amara Njoroge vẫn đứng bất động ở vị trí danh dự giữa phòng điều khiển. Cô không khóc, không thốt lên một lời ca vang, nhưng An Khuê nhìn thấy lồng ngực người chỉ huy phập phồng dữ dội dưới lớp vải sợi xám của bộ đồng phục trạm. Amara ngẩng cao đầu, ánh mắt nhìn thẳng vào dòng chữ công nhận lịch sử trên màn hình. Trong ánh mắt ấy rực sáng một niềm kiêu hãnh sâu sắc và thuần khiết nhất—niềm kiêu hãnh của một người thuyền trưởng đã dẫn dắt thủy thủ đoàn vượt qua tâm bão kinh hoàng giữa biển sâu liên hành tinh mà không để mất đi một sinh mạng nào, không để sứt mẻ một nguyên tắc đạo đức khoa học thiêng liêng nào.

Nhưng bản điện văn giải mã từ Trái Đất chưa dừng lại ở những lời vinh danh.

Khối dữ liệu cuối cùng tiếp tục cuộn lên, mang theo một chỉ thị kỹ thuật bổ sung từ bộ máy quản lý sứ mệnh tại Darmstadt, khiến nhịp thở vừa mới thả lỏng của An Khuê lập tức ngưng đọng lại trong lồng ngực:

`CHỈ THỊ KỸ THUẬT TIẾP THEO (BAN ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN UMOJA):` `KẾT QUẢ ĐÃ XÁC NHẬN TẦM QUAN TRỌNG TỐI CAO CỦA CÁNH ĐỒNG GƯƠNG SỐNG. TÀU VẬN TẢI TIẾP TẾ UMOJA ĐANG HIỆU CHỈNH QUỸ ĐẠO TIẾP CẬN ĐÚNG KẾ HOẠCH (CÒN 418 NGÀY).` `HỘI ĐỒNG YÊU CẦU PHI HÀNH ĐOÀN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG HỘP THU MẪU KÍN ÁP LỰC CAO CỦA NEREID ĐỂ THU THẬP MỘT PHẦN MẪU MÀNG PHÁT QUANG VẬT LÝ VÀ CHẤT NỀN HYDROGEL TỪ ĐÁY BIỂN, BẢO QUẢN ĐÔNG LẠNH TRONG KHOANG VÔ TRÙNG ĐỂ CHUYỂN LÊN TÀU HỒI HƯƠNG MANG VỀ TRÁI ĐẤT PHỤC VỤ GIẢI MÃ GEN TOÀN DIỆN...`

An Khuê đọc đi đọc lại từng từ ngữ lạnh lùng của bản chỉ thị mới. Nụ cười vừa chớm nở trên môi cô khẽ thu lại, nhường chỗ cho một cảm giác ớn lạnh quen thuộc.

Trong tâm trí cô, hình ảnh lớp màng sinh học mỏng manh màu ngọc lam bám quanh những cột khoáng nhiệt dịch sừng sững dưới đáy biển sâu Europa hiện lên sống động đến nhức nhối. Thực thể ấy đang thở, đang giao tiếp bằng những nhịp quang thông thanh tao theo chu kỳ thủy triều chậm rãi của Sao Mộc. Thu thập mẫu vật lý? Dùng cánh tay robot cơ học nạo một mảng sinh khối sống ra khỏi môi trường bản địa của nó, ép nó vào một chiếc hộp thép áp suất cao, rồi đông lạnh nó để phục vụ cho các máy giải trình tự gen của các phòng thí nghiệm trên Trái Đất?

Đó có còn là sự thấu hiểu và tôn trọng, hay chỉ là khởi đầu cho một chu kỳ khai thác và xâm lấn mang tính bạo lực nhân danh khoa học?

An Khuê bất giác nhìn sang Ingrid. Vị bác sĩ người Na Uy cũng vừa đọc xong đoạn văn bản ấy. Ánh mắt Ingrid lập tức đanh lại; vẻ dịu dàng hiếm hoi tan biến, thay vào đó là sự cảnh giác sắc bén và lạnh lùng quen thuộc của một chuyên gia an toàn sinh học và bảo vệ hành tinh. Hai người phụ nữ chạm mắt nhau giữa khoang tàu. Không cần trao đổi một lời nào, cả hai đều hiểu rõ mười mươi: một cuộc chiến mới—cuộc chiến đầy cam go để bảo vệ tính toàn vẹn của sinh thái ngoài Trái Đất và giữ vững đạo đức của những kẻ thám hiểm—sắp sửa bùng nổ ngay khi men say chiến thắng này lắng xuống.

Nhưng ngay lúc này, trước mắt họ, dòng cuối cùng của bức điện tín từ quê nhà xa xôi bừng sáng lên giữa màn hình trung tâm, khép lại phiên liên lạc lịch sử sau chuỗi ngày tăm tối:

Tín hiệu hồi đáp từ Trái Đất hiện rõ trên màn hình: "Nhân loại đã nghe thấy các bạn. Hãy chuẩn bị cho cuộc đối thoại chính thức."

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories