Trạm Ánh Sáng EuropaCh.31 / 42
Chapter 31

Lựa chọn có thể đảo ngược

Tiếng băng rạn nứt giòn tan như thủy tinh thạch anh vỡ vụn dội ngược qua màng loa liên lạc tần số thấp, rung bần bật trong khoang điều khiển hẹp và ẩm ướt của Trung tâm Mây, trong khi đồ thị nhiệt lượng giếng Borealis hiển thị trên màn hình chính rơi tự do về ngưỡng đóng băng chết chóc.

Trên mặt kính màn hình bám một lớp hơi nước mờ đục—hệ quả của sự chênh lệch nhiệt độ giữa không khí ngột ngạt bên trong trạm và lớp vỏ titanium đang gồng mình chịu đựng cái lạnh âm hai trăm độ của bề mặt Europa—dải đường cong biểu diễn nhiệt độ tại đốt số bốn đã cắm thẳng đứng xuống đáy vực số liệu. Đốt số bốn, đoạn ống chịu lực nằm kẹt giữa độ sâu 1.150 mét và 1.280 mét bên dưới tầng băng mặt, vừa chạm mốc âm 19,6 độ C. Ở ngưỡng nhiệt ấy, dung dịch nước muối siêu bão hòa rò rỉ từ các vi đới đứt gãy không còn duy trì được trạng thái lỏng nhớt; nó kết tinh thành một ma trận tinh thể sắc nhọn, ken dày đặc với tốc độ đo được là 22 milimét mỗi giờ. Tốc độ tái đông khủng khiếp đó biến lòng giếng khoan thăm dò thành một chiếc kìm thủy lực vô hình khổng lồ, một hàm răng băng giá đang chậm rãi nghiến chặt lấy thân ống. Từng mẩu tinh thể băng muối đang đâm chồi, nở rộ trong bóng tối nghìn mét, xiết chặt dần lớp vỏ bảo vệ bọc sợi Kevlar và nhựa fluoropolymer của tuyến cáp truyền dẫn tín hiệu quang học đơn mốt.

Mọi cặp mắt trong Trung tâm Điều hành Mây lúc này đều khóa chặt vào Hồ An Khuê.

Chiếc chìa khóa vonfram Cấp 1-B treo lơ lửng trước ngực cô trên một sợi dây dù bện màu xanh ô-liu, khẽ đung đưa theo từng nhịp thở dồn dập, phản chiếu ánh sáng lam nhờ nhợt và lạnh lẽo hắt ra từ các khối điều khiển phụ. Kim loại vonfram nặng trịch, lạnh buốt thấu qua lớp vải dệt sợi aramid chống cắt của bộ đồ bảo hộ chuyên dụng, tì lên xương ức cô như một lời cảnh báo không ngừng về trọng lượng trần trụi của quyền hạn phân bổ tài nguyên sinh tồn mà Amara Njoroge và Ingrid Solberg đã ủy quyền cho cô ba tuần trước.

Bốn kilowatt nhiệt điện liên tục trong suốt sáu giờ đồng hồ.

Đó là cái giá tối thiểu mà thuật toán tối ưu hóa phụ tải của AI Mây vừa xuất ra trên bảng tính ma trận nhiệt. Bốn kilowatt để kích hoạt toàn bộ các vòng gia nhiệt cảm ứng dọc theo thân ống đốt số bốn, nung chảy lớp băng muối đang đông đặc, tái lập đường kính lưu thông tối thiểu ba trăm tám mươi milimét và mở toang cuống họng của giếng khoan đang ngạt thở từng phút. Nhưng lò phản ứng nhiệt thạch Kifaru ở đuôi trạm hiện tại đang bị ghìm cứng ở mức 35% công suất danh định sau sự cố hỏng hóc van điều áp kênh thứ cấp từ tuần trước; hệ thống tản nhiệt ngoài trời bị đóng băng một nửa khiến trạm không thể mạo hiểm đẩy công suất phản ứng lên cao hơn mà không kích hoạt chuỗi nổ hơi nước thảm khốc. Không còn một kilowatt dôi dư nào trong mạng lưới điện nội bộ. Muốn gom đủ bốn kilowatt ấy trong sáu tiếng, trạm không còn một khe hở tải nào khác ngoài việc ngắt điện hoàn toàn Vườn Thủy Canh Bình Minh và đình chỉ hoạt động của dàn máy ly tâm y tế Svalbard.

Ren Ishikawa đứng tựa hẳn nửa thân trên vào góc bàn điều khiển bọc đệm cao su của Xưởng Tanuki. Hai bàn tay anh siết chặt lấy gờ kim loại đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, không còn một giọt máu. Mái tóc đen bù xù của anh bết dính mồ hôi muối, đôi mắt vằn lên những tia máu đỏ ngầu vì ba ca trực liên tiếp không ngủ và tàn dư của bụi gốm mài cách điện bám nơi khóe mi.

“An Khuê, sợi cáp chỉ còn chịu được áp lực nén ngang tối đa bốn mươi phút nữa trước khi hiện tượng suy hao quang học vượt ngưỡng mười lăm decibel,” giọng Ren khản đặc, run rẩy bởi một sự căng thẳng tột cùng đè nặng lên các dây thanh quản. “Lớp băng tái đông không chỉ ép dẹp ống dẫn; nó đang tạo ra các vi uốn cong cục bộ trên từng sợi thạch anh. Nếu chúng ta không bơm dòng nhiệt vào đốt số bốn ngay bây giờ, chỉ cần một biến dạng trượt nhỏ nữa thôi, ứng suất cắt sẽ bẻ gãy lõi sợi quang thạch anh không hồi phục. Nereid sẽ bị chôn vùi vĩnh viễn ở độ sâu hai nghìn bốn trăm mét nơi cửa xả đáy giếng. Chúng ta sẽ mất con tàu. Mất trắng toàn bộ dữ liệu.”

An Khuê không nhìn vào Ren. Cô cắn chặt môi dưới cho đến khi nếm thấy vị mằn mặn của máu, cố giữ cho ánh mắt mình không dao động trước sự hoảng loạn đang chực chờ bùng phát từ người bạn đồng hành. Thay vì nhìn vào đôi mắt đỏ ngầu của kỹ sư robot, cô dán mắt vào bảng hiển thị trạng thái sinh khối của Vườn Bình Minh đang nhấp nháy màu hổ phách ở góc dưới màn hình phụ.

Ở đó, sâu trong khoang sinh học số hai cách Trung tâm Mây bốn mươi mét hành lang áp suất, bốn mươi lít hỗn dịch nấm men biến đổi gene *Saccharomyces cerevisiae* chủng Y-44 đang sủi bọt lăn tăn trong bồn nuôi cấy chân không số một. Chúng là nguồn cung cấp vitamin nhóm B, ergosterol và protein đơn bào duy nhất còn lại để bù đắp cho khẩu phần ăn nhân tạo của năm con người. Ngay sát cạnh bồn men, hàng trăm phôi đậu lùn *E-09-Delta* vừa mới nhú những mầm rễ ngang trắng muốt đầu tiên sau mười lăm ngày ròng rã được chắt chiu từng lumen ánh sáng đỏ sâu từ dàn đèn đi-ốt quang tử công suất thấp.

“Tôi không ký lệnh chuyển tải,” An Khuê cất tiếng.

Giọng cô ban đầu có chút khô khốc, nhưng từng âm tiết rơi xuống giữa không gian kim loại đặc quánh mùi ozone và hơi ẩm tái chế với một sức nặng tuyệt đối không thể lay chuyển. Cô đứng thẳng lưng, bàn tay khẽ chạm vào mặt lạnh ngắt của chiếc chìa khóa vonfram.

“Tôi từ chối dứt khoát phương án cắt toàn bộ điện sưởi của Vườn Bình Minh.”

Ren sững sờ. Đôi vai anh chùng xuống trong một phần giây trước khi cơn giận dữ và nỗi tuyệt vọng bùng nổ, đẩy anh dấn bước về phía trước:

“An Khuê! Cô có hiểu chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa nào không? Chúng ta vừa mới xác nhận được phản hồi lân tinh sinh học từ Cánh đồng Gương Sống! Chưa đầy bốn giờ trước, Nereid đã ghi lại cấu trúc phát quang tuần hoàn của chúng—những xung ánh sáng màu ngọc lam có chu kỳ Fibonacci thuần khiết! Chúng ta vừa chứng minh rằng lớp nước lỏng dưới lớp vỏ băng này không phải là một hoang mạc vô sinh, rằng họ có tri giác không gian, rằng nhân loại không hề đơn độc trong cái vũ trụ câm lặng này! Cô muốn vứt bỏ toàn bộ kỳ tích đó, vứt bỏ mục đích tối thượng của cả sứ mệnh này chỉ vì…”

“Vì sự sống của chính chúng ta, Ren!” An Khuê quay phắt lại, ánh mắt cô như hai mũi khoan thép khóa chặt lấy người kỹ sư robot, chặn đứng bước chân anh ngay mép bàn tương tác. “Anh nói bốn kilowatt trong sáu giờ nghe nhẹ tựa lông hồng, nhưng anh có từng tính toán đường cong nhiệt động học của khoang sinh học số hai chưa? Bốn kilowatt ấy sẽ đẩy nhiệt độ các khay ươm của Vườn Bình Minh xuống dưới âm năm độ C chỉ trong vòng bốn mươi lăm phút! Tốc độ thoát nhiệt thực tế của khoang sinh học qua các cầu nhiệt chân không bị nứt nhanh hơn ba mươi hai phần trăm so với mọi mô hình mô phỏng lý thuyết mà các anh cài đặt sẵn trên máy chủ. Các màng tế bào lipid kép của mầm đậu E-09 sẽ bị các tinh thể đá hình kim đâm thủng từ trong ra ngoài. Cấu trúc enzyme phosphofructokinase trong bồn nấm men Y-44 sẽ biến tính và đông tụ hoàn toàn. Đó là cái chết không thể đảo ngược, Ren! Không có cái nút ‘Ctrl-Z’ hay quy trình khởi động lại nào cho cái chết của tế bào thực vật một khi cấu trúc tinh thể nội bào đã vỡ nát!”

Cô bước thêm một bước dứt khoát về phía Ren, ngón tay trỏ run lên vì phẫn nộ chỉ thẳng vào bảng số liệu dự trữ lương thực khẩn cấp đang sáng mờ mờ ở vách ngăn đối diện:

“Tàu tiếp tế Umoja còn đúng bốn trăm mười chín ngày nữa mới tới được quỹ đạo Sao Mộc để chuẩn bị chuyển tiếp vào quỹ đạo Europa. Bốn trăm mười chín ngày! Trong khi đó, kho lương thực ép chân không dự phòng khẩn cấp của trạm chỉ còn đủ dùng cho đúng hai trăm bốn mươi ngày, đó là tính theo định mức thắt lưng buộc bụng ngặt nghèo nhất: một nghìn sáu trăm kilocalorie mỗi người mỗi ngày! Nếu mất lứa mầm đậu này và bồn men Y-44, chu trình tái tạo dinh dưỡng tươi của chúng ta sẽ sụp đổ dây chuyền. Chúng ta sẽ bắt đầu biểu hiện các triệu chứng suy dinh dưỡng toàn phần, thiếu hụt folate, thiếu vitamin C và phù nề toàn thân sau chín mươi ngày nữa. Đến ngày thứ hai trăm, không một ai trong năm người chúng ta—kể cả anh, kể cả tôi, kể cả Amara—còn đủ mật độ hồng cầu, còn đủ sức mạnh cơ bắp hay sự minh mẫn thần kinh để bước vào buồng điều khiển này, chứ đừng nói đến chuyện ngồi đây vận hành robot hay tiếp tục giao tiếp với bất kỳ sinh vật nào dưới đáy biển kia! Tôi là nhà sinh vật học chịu trách nhiệm sinh tồn của trạm này. Tôi không thể và sẽ không bao giờ đánh cược mạng sống sinh học của cả phi hành đoàn lấy một cuộc giải cứu cơ khí hoàn toàn thiếu chắc chắn!”

Bầu không khí trong phòng điều khiển căng thẳng đến nghẹt thở. Tiếng vo ve đơn điệu của các quạt thông gió làm mát giàn máy chủ dường như cũng bị đè bẹp bởi sự im lặng buốt giá. Luísa Carvalho thở dài một hơi nặng nhọc, đưa những ngón tay thô ráp, chai sần vì nhiều năm cầm búa địa chất lên day day sống mũi, đôi mắt cô nhắm nghiền lại để tránh nhìn vào sự đối đầu trực diện giữa hai người đồng nghiệp.

Ở phía sau, Ingrid Solberg khoanh hai tay trước ngực, đứng tựa lưng vào khung cửa thép dẫn sang vách ngăn y tế Svalbard. Chiếc áo blouse dệt sợi polymer kháng khuẩn màu xám tro của nữ bác sĩ người Na Uy phẳng lặng như chính phong thái của cô. Ingrid không nói một lời nào, nhưng ánh mắt xám tro lạnh lùng, sắc sảo của cô chăm chú quan sát từng biến thiên nhỏ nhất trên cơ thể An Khuê: tần số phập phồng của lồng ngực, nhịp đập của động mạch cảnh nơi cổ áo hở, và sự cương quyết không hề lay chuyển trong ánh nhìn. Sau một thoáng im lặng kéo dài như vô tận, Ingrid khẽ gật đầu một cái thật kín đáo—một cử chỉ xác nhận dứt khoát về mặt y học lâm sàng và đạo đức sinh tồn: An Khuê nói đúng, không thể chạm vào nguồn sống của trạm.

Ren bắt gặp cái gật đầu đó của Ingrid. Anh lảo đảo lùi lại nửa bước, bàn tay vô thức buông lỏng khỏi gờ bàn Tanuki.

“Nhưng nếu chúng ta không cấp nhiệt và buộc phải cắt cáp quang để bảo vệ miệng giếng,” Ren thì thào, giọng anh nghẹn đắng, vỡ vụn ra thành từng âm thanh tuyệt vọng, “Nereid sẽ cạn sạch năng lượng pin hóa học dự phòng chỉ trong vòng ba mươi giờ. Con tàu sẽ chết ngạt trong bóng tối vĩnh cửu. Trạm Borealis sẽ mất hoàn toàn đôi mắt duy nhất dưới đáy đại dương. Mọi nỗ lực khoan thủng tầng băng dày hai mươi kilomet này suốt bốn năm qua… tất cả sẽ trở thành một đống phế liệu vô nghĩa.”

“Ai nói với anh rằng chúng ta buộc phải cắt cáp?” An Khuê hỏi ngược lại.

Tông giọng của cô đột ngột thay đổi. Sự giận dữ phòng thủ biến mất, nhường chỗ cho một sự sắc bén, lạnh lùng và chuẩn xác đến kinh ngạc của một tư duy khoa học thực nghiệm khi bị dồn vào chân tường.

An Khuê bước vòng qua Ren, đi thẳng tới bàn tương tác không gian ba chiều đặt ở trung tâm gian phòng. Cô đặt lòng bàn tay lên bề mặt cảm ứng quang học, kích hoạt giao diện mở rộng. Mô hình mặt cắt dọc của Giếng Borealis lập tức bừng sáng, lơ lửng giữa không trung dưới dạng một cột ánh sáng phức tạp thể hiện cấu trúc địa tầng kéo dài từ bề mặt băng xốp cho đến lớp nước lỏng thăm thẳm bên dưới. Bằng một cử chỉ gạt tay dứt khoát, cô kéo vệt sáng màu vàng cam—vốn đang biểu thị vị trí của tàu lặn Nereid ở cửa xả đáy giếng sâu hai nghìn bốn trăm mét—ngược trở lên phía trên ống giếng.

“Sai lầm căn bản của các anh từ đầu đến giờ là đang cố gắng cứu toàn bộ chiều dài giếng khoan bằng vũ lực nhiệt động học trần trụi,” An Khuê nói, đôi mắt cô lướt nhanh qua các chuỗi phương trình truyền nhiệt vi phân đang chạy dọc rìa bàn tương tác. “Tại sao chúng ta phải sưởi ấm hàng trăm mét khối băng dọc theo toàn bộ chiều dài các đốt ống chỉ để giữ cho Nereid tiếp tục nằm yên ở cửa giếng sâu hai nghìn bốn trăm mét? Mục tiêu sống còn duy nhất của chúng ta trong thời khắc hiểm nghèo này là bảo toàn tính toàn vẹn của con tàu lặn và tuyến cáp quang huyết mạch, chứ không phải là bướng bỉnh duy trì phiên tiếp xúc quang học với Cánh đồng Gương Sống!”

Cô dùng hai ngón tay phóng to mặt cắt của thân giếng khoan tại hai tọa độ cụ thể:

“Chúng ta sẽ thực hiện một phương án trung gian mang tính thỏa hiệp chiến thuật: thay vì sưởi ấm dàn trải toàn bộ chiều dài giếng khoan trong suốt sáu giờ, trạm sẽ lập tức tiến hành quy trình khẩn cấp, dùng tời cơ học kéo thu hồi Nereid từ đáy biển lên vị trí an toàn tạm thời ở độ sâu một nghìn tám trăm mét. Tại mốc 1.800 mét, con tàu sẽ nằm gọn trên một thềm nén kiến tạo tương đối ổn định của tầng băng dẻo, hoàn toàn thoát khỏi vùng nước mặn dâng trào và áp suất thủy tĩnh khủng khiếp của đáy đại dương. Và quan trọng nhất: chúng ta sẽ tuyệt đối không cấp nhiệt liên tục, dàn trải. Mây, kích hoạt mô phỏng ma trận phân bổ nhiệt vi mô theo tọa độ xung.”

AI Mây lập tức phản hồi bằng một giọng nữ trầm tĩnh, không mang bất kỳ sắc thái cảm xúc nào nhưng vô cùng chuẩn xác. Những luồng sáng màu xanh lục tái lập trình lại sơ đồ nhiệt trên mô hình ba chiều:

“Đã nhận lệnh phân tích. Dữ liệu cảm biến biến dạng sợi quang Bragg (FBG) xác định hai điểm nghẽn cơ học nguy hiểm nhất dọc thân giếng Borealis: Điểm nghẽn Alpha tại đốt gia nhiệt số bốn, độ sâu từ 1.150 đến 1.280 mét, nơi đang xảy ra hiện tượng trượt tầng băng dẻo chứa muối; điểm nghẽn Beta tại độ sâu 2.014 mét, nơi tồn tại một khe hẹp tái đông chỉ còn đường kính danh định bốn mươi tám milimét do dư chấn trượt tầng địa chấn cách đây bảy mươi hai giờ.”

“Chính là nó,” An Khuê tiếp lời, ánh mắt cô rực lên tia sáng tự tin của một người vừa bóc tách được khối u chết người trong một mớ bòng bong dữ liệu hỗn loạn. “Chúng ta sẽ không đun nóng cả đoạn giếng. Chúng ta chỉ kích hoạt các xung nhiệt cục bộ vi mô đúng vào hai điểm thắt hẹp nhất này: điểm Alpha tại đốt số bốn và điểm Beta tại mét thứ 2.014! Hãy tận dụng chính các cụm phiến dẫn nhiệt bằng hợp kim đồng-berili gắn trên thân robot luồn ống và các điện trở dự phòng công suất nhỏ còn sót lại trên vách ống ngoài. Mỗi xung nhiệt cục bộ chỉ được phép kéo dài đúng ba mươi giây. Chúng ta chỉ cần làm mềm bề mặt vài milimét lớp băng muối tiếp xúc trực tiếp, tạo ra một lớp màng vi nước bôi trơn dạng nhờn thay vì cố gắng đun sôi hay làm tan chảy toàn bộ thể tích chất lưu! Làm như vậy, tổng công suất tiêu hao tức thời sẽ giảm từ bốn kilowatt xuống dưới một phần ba—chỉ còn dao động trong khoảng 1,3 đến 1,5 kilowatt. Với mức phụ tải này, Vườn Bình Minh chỉ cần giảm mười hai đến mười lăm phần trăm công suất chiếu sáng quang phổ hẹp trong thời gian ngắn. Các bồn nấm men Y-44 và phôi đậu E-09 hoàn toàn có thể vượt qua an toàn nhờ vào quán tính nhiệt dung riêng rất lớn của khối nước dinh dưỡng tuần hoàn.”

Ren chớp mắt liên hồi. Đôi lông mày rậm rạp của anh giãn dần ra. Bộ não kỹ thuật nhạy bén của người kỹ sư robot gần như ngay lập tức bắt kịp nhịp độ tư duy của An Khuê. Anh nhìn trừng trừng vào mô hình phân rã nhiệt độ vừa xuất hiện, các ngón tay vô thức gõ lách cách trên mặt bàn khi anh nhẩm tính các hằng số truyền nhiệt của băng muối:

“Kéo ngược lên... Một nghìn tám trăm mét. Nghĩa là chúng ta phải thu hồi hơn sáu trăm mét cáp quang thụ động bọc Kevlar... Đưa con tàu vượt hơn sáu trăm mét, lọt qua điểm thắt 2.014 mét và đốt số bốn bằng xung nhiệt vi mô...”

Đột nhiên, nét mặt Ren lại đanh lại. Nỗi lo âu không biến mất mà biến đổi thành một dạng thức kỹ thuật phức tạp và nguy hiểm hơn gấp bội. Anh bước vội sang bảng điều khiển phụ của Xưởng Tanuki, gạt mạnh công tắc gọi sơ đồ cấu trúc chi tiết của tàu lặn Nereid lên màn hình trung tâm.

“Về mặt cân bằng năng lượng, phương án của An Khuê hoàn toàn khả thi và thông minh,” Ren nói, giọng anh chùng hẳn xuống, mang một vẻ nặng nề thực tế. “Nhưng về mặt động lực học cơ khí trong lòng ống, đây là một canh bạc vô cùng nguy hiểm. Hãy nhìn vào cụm tay máy thao tác phía mạn phải của Nereid.”

Mô hình đồ họa kỹ thuật phóng to cánh tay robot sáu bậc tự do của Nereid, làm nổi bật khớp xoay số ba bằng một quầng sáng màu đỏ cảnh báo.

“Mọi người ở đây đều nhớ chuyện gì đã xảy ra trong lần triển khai đèn mốc ba ngày trước,” Ren ngước lên nhìn Luísa rồi nhìn thẳng vào Chỉ huy Amara. “Khớp xoay trục ba từng bị quá tải lực nghiêm trọng khi chúng ta cố gắng nêm mốc định vị vào khe nứt bazan. Dù tôi và Luísa đã lắp bổ sung cụm chốt ly hợp trượt cơ học dùng lò xo đĩa Belleville bằng hợp kim titan-vanadi để cơ cấu tự động trượt ngắt lực ở ngưỡng giới hạn ba mươi lăm Newton-mét, nhưng độ rơ cơ khí sau sự cố đó đã lên tới 3,8 độ. Khớp không thể gập gọn hoàn toàn vào hốc thân tàu như thiết kế ban đầu. Cánh tay máy hiện tại đang bị khóa chết cơ học ở tư thế hơi vươn ra ngoài sườn vỏ tàu đúng mười hai centimét.”

Ren chuyển sang hình ảnh quét cắt lớp siêu âm cấu trúc thành giếng Borealis vừa được robot con sâu mini ghi nhận cách đây ít giờ:

“Thành giếng Borealis không phải là một ống thép đúc nhẵn bóng của phòng thí nghiệm. Sau trận động băng 7,8 độ richter và vô số đợt biến dạng trượt dẻo vi mô, vách băng đã biến thành một mê lộ gồ ghề đầy những gờ đá vụn, gờ băng tái kết tinh nhô ra lởm chởm và sắc nhọn như lưỡi dao cạo, đặc biệt là xung quanh các đới nứt nẻ. Trong quá trình tời cuốn kéo ngược Nereid lên từ độ sâu hai nghìn bốn trăm mét, thân tàu sẽ chịu dao động lắc lư không ngừng do dòng đối lưu nhiệt của nước biển dâng. Cánh tay máy bị nhô ra mười hai centimét kia rất dễ va đập hoặc móc thẳng vào một gờ băng nhô ra trên thành giếng. Nếu cánh tay bị móc kẹt trong khi hệ thống tời cơ học ở mặt đất vẫn tiếp tục cuốn cáp với lực kéo hàng nghìn Newton, chốt ly hợp Belleville có thể sẽ trượt để bảo vệ cánh tay, nhưng mô-men xoắn cục bộ sinh ra sẽ giật nghiêng toàn bộ thân tàu Nereid. Khi thân tàu bị vặn nghiêng, sợi cáp quang thạch anh đường kính danh định chỉ 0,9 milimét sẽ bị cứa đứt ngay lập tức vào mép sắc của miệng vỏ bọc titan định hướng!”

Một khoảng lặng nặng trĩu lại bao trùm Trung tâm Mây. Từng lời Ren nói đều dựa trên các nguyên lý cơ học lạnh lùng, trần trụi. Kéo một thiết bị cơ điện tinh xảo nặng hàng tấn, với một cánh tay máy bị biến dạng nhô ra ngoài, vượt qua hàng nghìn mét giếng khoan hẹp ngoằn ngoèo đầy rẫy chướng ngại vật tái đông, chẳng khác nào luồn một sợi chỉ mỏng manh qua hàng trăm lỗ kim đang rung lắc dữ dội trong bóng tối.

“Không chỉ có mỗi vấn đề cơ học của cánh tay máy,” Luísa Carvalho đột ngột cất tiếng phá vỡ bầu không khí ngột ngạt.

Nhà địa chất học người Brazil đã rời khỏi ghế tựa từ lúc nào. Cô bước tới đứng chắn trước màn hình phụ hiển thị dữ liệu mạng lưới cảm biến địa chấn của Trạm Guará—hệ thống trạm vệ tinh địa vật lý cắm rải rác trên bề mặt băng. Trên màn hình của Luísa, những dải sóng địa chấn màu vàng cam đang nhấp nhô liên tục, vẽ nên nhịp đập cơ học sâu thẳm và đầy đe dọa của lòng vệ tinh băng.

“Vách giếng không phải là một thực thể tĩnh đang đứng yên chờ chúng ta kéo tàu lên,” Luísa vừa nói vừa lướt nhanh những ngón tay ngắn và chắc nịch trên bàn phím số, gọi ra bảng số liệu tensor ứng suất địa tầng. “Đới đứt gãy Cổ Thạch và các tầng băng dẻo chứa muối ở độ sâu từ một nghìn đến hai nghìn mét hiện đang nằm dưới tác động nghiền nát khủng khiếp của trường hấp dẫn Sao Mộc. Lực nén kiến tạo thành giếng đo được tại thời điểm này là 4,2 megapascal. Nếu chúng ta cố tình kéo tàu lên ngay lúc này, áp lực nén ngang khổng lồ đó sẽ ép chặt các gờ băng lồi vào sát thân Nereid hơn. Lực ma sát trượt dọc theo thành ống sẽ tăng vọt lên gấp ba lần bình thường. Tời cuốn sẽ bị quá tải trước cả khi tàu chạm tới độ sâu hai nghìn mét.”

“Vậy cô có phương án nào khả dĩ về mặt địa vật lý không, Luísa?”

Chỉ huy Amara Njoroge, người nãy giờ vẫn đứng bất động bên cạnh cột kết cấu chịu lực của trạm, cất giọng trầm tĩnh.

Căn phòng dường như chùng xuống trước giọng nói của người phụ nữ Kenya. Amara đứng đó, vóc người cao gầy trong bộ đồng phục chỉ huy màu xanh thẫm đã sờn rách ở mép ve áo. Gương mặt cô hốc hác, lộ rõ những góc cạnh xương xẩu sau đợt phơi nhiễm bức xạ hạt tích điện liều cao trong chuyến đi bộ sửa chữa mảng pin mặt trời ngoài bề mặt ba tuần trước. Dưới mép cổ tay áo bảo hộ bên phải, An Khuê có thể nhận thấy những ngón tay của Amara thỉnh thoảng lại co giật nhẹ—những cơn co cơ vi mô do tổn thương hệ thần kinh ngoại biên vì bức xạ mà người chỉ huy luôn cố gắng giấu kín bằng cách siết chặt nắm tay. Nhưng bất chấp những tổn thương thể xác ấy, ánh mắt Amara vẫn sâu thẳm, điềm tĩnh và toát lên uy quyền tối cao của một người nắm giữ trách nhiệm sinh tử cho toàn bộ sinh mạng trên trạm này.

Luísa không vội vã trả lời. Cô gõ một chuỗi lệnh dài, kích hoạt mô hình động lực học quỹ đạo Laplace đồng bộ giữa ba thiên thể: Io, Europa và Ganymede. Trên màn hình ba chiều, ba chấm sáng đại diện cho ba mặt trăng khổng lồ đang quay cuồng quanh quả cầu Sao Mộc khổng lồ đầy những dải mây màu hung đỏ.

“Tôi đã rà soát lại toàn bộ biểu đồ biến thiên ứng suất thủy triều do Sao Mộc tác động lên vỏ băng Europa trong suốt sáu giờ qua,” Luísa nói, ánh mắt nâu sẫm của cô rực sáng lên khi các đường cong dự báo bắt đầu hội tụ lại một giao điểm hẹp. “Hãy nhìn vào chu kỳ nhật triều Europa. Trong đúng mười tám phút nữa, Europa sẽ di chuyển qua điểm cực viễn trong quỹ đạo cộng hưởng ba bên với Ganymede và Io. Tại vị trí cực viễn này, tương tác hấp dẫn vi sai sẽ tạo ra một hiện tượng hồi phục đàn hồi bất đối xứng trên vỏ băng: thay vì nén ép dữ dội như hiện tại, trường ứng suất cục bộ quanh phân khu Borealis sẽ chuyển đổi trạng thái từ nén trượt sang trạng thái kéo giãn đàn hồi!”

Luísa cầm bút quang học, khoanh một đường tròn màu đỏ rực quanh một khoảng thời gian trên đồ thị:

“Đây là một khung thời gian vàng. Một cửa sổ cơ học địa chất kéo dài đúng bốn mươi lăm phút. Không hơn, không kém. Trong bốn mươi lăm phút ngắn ngủi này, lực kéo vi mô từ trường hấp dẫn Sao Mộc sẽ làm giãn nở nhẹ chu vi lòng giếng khoan Borealis. Bán kính danh định của ống giếng tại các điểm nghẽn nguy hiểm nhất sẽ tạm thời tăng thêm từ ba đến năm milimét! Đồng thời, ứng suất cắt cục bộ dọc theo toàn bộ đới nứt nẻ Cổ Thạch sẽ suy giảm xuống mức thấp nhất trong chu kỳ tám mươi lăm giờ—giảm tới ba mươi tám phần trăm!”

Ren Ishikawa ngẩng phắt đầu lên. Đôi mắt anh dán chặt vào vùng giới hạn đỏ mà Luísa vừa đánh dấu, đồng tử giãn ra:

“Năm milimét... Ba đến năm milimét khe hở tăng thêm đối với một thân tàu lặn có đường kính ba mươi tám centimét... Lạy Chúa, trong cơ học chính xác, đó là cả một đại dương tự do!”

“Chính xác là như vậy,” Luísa gật đầu mạnh, giọng cô rắn rỏi. “Nhưng chúng ta chỉ có đúng bốn mươi lăm phút ấy. Trước phút thứ mười tám tính từ lúc này, giếng khoan vẫn là một cái bẫy nghiền nát đang siết chặt. Và sau phút thứ sáu mươi ba, khi Europa rời khỏi điểm cực viễn, sóng triều nén dội ngược của Sao Mộc sẽ quay trở lại với cường độ nén ép tăng thêm mười hai phần trăm so với hiện tại. Nếu khi đó Nereid vẫn còn kẹt lại lưng chừng giữa các đới đứt gãy, giếng khoan sẽ nghiền nát con tàu thành những mảnh vụn kim loại.”

An Khuê lập tức nối kết toàn bộ các mảnh ghép dữ liệu trong tâm trí. Mọi mâu thuẫn dường như vừa tìm thấy một đường thoát duy nhất:

“Nếu chúng ta đồng bộ toàn bộ quy trình: bắt đầu kích hoạt động cơ tời ở tốc độ chậm ngay từ bây giờ để triệt tiêu độ chùng quán tính của sợi cáp dọc theo hơn hai nghìn mét ống dẫn; điều chỉnh tốc độ cuốn để mũi tàu Nereid tiếp cận điểm nghẽn Beta ở độ sâu 2.014 mét và đốt gia nhiệt Alpha ở mét thứ 1.280 đúng vào khoảnh khắc cửa sổ thủy triều của Luísa mở ra! Ngay khi thành giếng giãn nở cực đại, chúng ta phóng các xung nhiệt vi mô làm mềm lớp băng tiếp xúc. Tàu lặn sẽ trượt êm ái qua các khe hẹp mà không để gờ băng móc vào khớp tay máy bị lệch!”

Ren hít một hơi thật sâu, ngực anh phập phồng khi những ngón tay bắt đầu múa trên bàn phím mô phỏng động lực học tời cuốn:

“Tốc độ cuốn cáp trung bình phải duy trì ổn định ở mức ba mươi lăm mét mỗi phút. Ở dải tốc độ đó, mô-tơ tời điện tầng dưới sẽ ngốn khoảng sáu trăm watt tải cơ học. Cộng với các xung nhiệt cục bộ ba mươi giây luân phiên giữa hai điểm nghẽn... Tổng công suất phụ tải đỉnh sẽ dao động ổn định trong khoảng 1,3 đến 1,5 kilowatt!”

“Một con số hoàn toàn nằm trong biên độ chịu đựng của hệ thống sinh tồn,” An Khuê khẳng định dứt khoát, ánh mắt cô chuyển về phía Chỉ huy Amara. “Với mức phụ tải đỉnh 1,5 kilowatt, Vườn Bình Minh chỉ cần giảm mười hai phần trăm cường độ ánh sáng LED trong một giờ. Nhiệt độ khối nước dinh dưỡng sẽ không suy giảm quá 0,5 độ C. Bồn men Y-44 và toàn bộ phôi mầm đậu E-09 sẽ an toàn tuyệt đối. Chúng ta giữ được nguồn sống của phi hành đoàn, và đồng thời cho Ren một cơ hội cứu Nereid.”

Căn phòng chìm vào sự tĩnh lặng tuyệt đối. Mọi số liệu kỹ thuật, mọi phương trình nhiệt động học, mọi tham số cơ học thiên thể và giới hạn sinh học đã được đặt trọn vẹn lên bàn điều khiển. Không còn chỗ cho sự phỏng đoán cảm tính, không còn những lời tranh cãi gay gắt hay những nỗi sợ hãi mơ hồ. Bản kế hoạch cứu hộ đã được gọt giũa thành một chuỗi hành động vật lý chính xác đến từng giây.

Chỉ huy Amara Njoroge bước lên phía trước nửa bước. Cô nhìn lướt qua từng gương mặt: từ nét mặt căng thẳng nhưng bừng lên hy vọng của Ren, vẻ quả quyết khoa học của Luísa, sự điềm tĩnh chuẩn mực của Ingrid, cho đến ánh mắt kiên định, không hề nao núng của Hồ An Khuê.

“Các thông số kỹ thuật đã hoàn toàn minh bạch,” Amara cất giọng. Âm lượng của cô không lớn nhưng vang vọng một uy quyền thép được tôi luyện qua hàng ngàn giờ huấn luyện không gian sâu. “Chiếu theo Điều 14 của Hiến chương Vận hành Trạm Không gian Sâu Borealis về quy trình ứng phó tình huống khẩn cấp đe dọa tài nguyên chiến lược, chúng ta sẽ tiến hành biểu quyết phê chuẩn phương án hỗn hợp. Mục tiêu: thu hồi tàu lặn Nereid từ đáy biển lên điểm trú ẩn an toàn ở độ sâu 1.800 mét bằng tời cơ học, kết hợp phóng xung nhiệt vi mô cục bộ trong cửa sổ thủy triều bốn mươi lăm phút.”

Amara giơ bàn tay phải lên ngang ngực:

“Tôi bỏ phiếu thuận, kèm theo một lằn ranh đỏ mang tính nguyên tắc tuyệt đối: tổng công suất phụ tải phân bổ cho toàn bộ chiến dịch cứu hộ giếng khoan không được phép vượt quá ngưỡng trần 1,5 kilowatt trong bất kỳ khoảnh khắc nào. Bất kỳ sự tăng vọt công suất ngoài dự kiến nào vượt quá con số 1,5 kilowatt sẽ lập tức kích hoạt rơ-le ngắt mạch tự động, hy sinh chiến dịch cứu hộ để bảo vệ tuyệt đối cho Vườn Bình Minh và hệ thống hỗ trợ sinh tồn ECLSS.”

Ingrid Solberg khẽ nâng cằm, giơ bàn tay đeo găng y tế lên:

“Thuận. Với điều kiện nồng độ dưỡng khí và áp suất sinh hoạt trong khoang y tế không bị can thiệp.”

Luísa Carvalho giơ bàn tay chai sần lên:

“Thuận. Tôi sẽ trực tiếp bám sát từng mili-giây biến thiên áp lực nén của thành giếng.”

Ren Ishikawa giơ cả hai tay lên, trong mắt anh ánh lên ngọn lửa của một quyết tâm sinh tử:

“Hoàn toàn thuận!”

Mọi ánh mắt dồn về phía Hồ An Khuê. Cô nhìn chiếc chìa khóa vonfram trên ngực mình, khẽ mỉm cười—một nụ cười thanh thản của người vừa bảo vệ được ranh giới sinh tồn của đồng đội—rồi giơ tay lên:

“Thuận. Yêu cầu AI Mây khóa cứng trần công suất 1,500 kilowatt vào bộ điều phối vi mạch của lò Kifaru.”

“Biên bản biểu quyết đã được ghi nhận vào nhật ký chỉ huy với năm trên năm phiếu thuận,” giọng AI Mây vang lên rành rọt qua hệ thống loa khoang. “Mã vận hành khẩn cấp: Borealis-Rescue-Delta. Đã kích hoạt rơ-le ngắt mạch ưu tiên tại ngưỡng 1,500 kilowatt trên toàn tuyến nhánh phụ tải giếng khoan.”

Amara quay phắt sang Ren Ishikawa, ánh mắt cô sắc như một lưỡi dao mổ:

“Ren, quyền chỉ huy tời cuốn và hệ thống động lực cáp giếng Borealis thuộc về anh. Anh là người lắp ráp từng con ốc, viết từng dòng mã điều khiển cho Nereid. Hãy đưa con tàu của chúng ta vượt qua khe hẹp đó mà không làm đứt sợi cáp.”

“Rõ, thưa Chỉ huy!” Ren đáp gọn lỏn.

Vẻ lúng túng và kích động thường ngày của người kỹ sư trẻ hoàn toàn biến mất. Anh xoay người, bước những bước dài dứt khoát về phía bàn điều khiển trung tâm của Xưởng Tanuki, ngồi sụp xuống chiếc ghế lái bọc da nhân tạo có dây đai cố định.

Trước mặt Ren, bảng điều khiển tời cuốn cáp giếng Borealis bừng sáng với hàng loạt đồng hồ cơ học và màn hình hiển thị số liệu thời gian thực: Lực căng danh định (Tension), Vận tốc thu hồi (Line Speed), Nhiệt độ cuộn dây mô-tơ tời, và Góc lệch trục sợi cáp (Cable Angle).

Nằm ngay sát mép phải bàn phím cơ bọc cao su chịu nhiệt, bàn tay trái của Ren khẽ run rẩy khi ngón tay trỏ của anh lướt qua một phím bấm cơ học lớn. Phím bấm đó được che chắn cẩn mật bên dưới một nắp gập bằng nhựa mica trong suốt, trên nắp dán những dải băng phản quang chéo màu vàng-đen cảnh báo nguy hiểm cấp độ một.

Đó là phím lệnh Cắt Cáp Khẩn Cấp (Emergency Guillotine Cut).

Bên dưới miệng giếng khoan sâu ba mét trong lòng sàn trạm, một cơ cấu dao cắt nhiệt-cơ học bằng hợp kim titan siêu cứng đang nằm chờ sẵn. Bên trong cơ cấu dao cắt đó là một lượng nổ vi lượng picrate ổn định, sẵn sàng kích hoạt để chém đứt ngọt ngào toàn bộ sợi cáp quang bọc Kevlar dày dặn chỉ trong vòng tám phần nghìn giây nếu nhận được tín hiệu. Ren đã bí mật nạp sẵn mã ủy quyền chỉ huy cho phím lệnh này từ mười phút trước, khi cuộc tranh cãi còn đang ở đỉnh điểm. Anh yêu Nereid; anh đã thức trắng hàng trăm đêm trong buồng áp suất để tinh chỉnh từng khớp nối chân vịt, viết từng dòng thuật toán nhận diện thủy âm cho nó. Nereid là đứa con tinh thần, là kiệt tác cơ khí của đời anh. Nhưng Ren trước hết là một kỹ sư không gian sâu. Anh hiểu rõ tính toán tàn nhẫn của vũ trụ: nếu Nereid bị kẹt cứng trong lòng giếng và lực kéo của tời làm sập khung giá đỡ chịu lực chính, miệng giếng sẽ bị xé toạc, áp suất chân không của Europa sẽ hút cạn dưỡng khí của toàn trạm trong vài chục giây. Nếu kịch bản tồi tệ ấy xảy ra, chính tay anh sẽ phải đập vỡ nắp mica này và ấn nút tử thần để cắt đứt đứa con của mình nhằm cứu mạng đồng đội. Anh giữ kín điều đó, chỉ để ngón tay trỏ khẽ chạm vào mặt ngoài nắp bảo vệ mica, như một lời nhắc nhở lạnh lùng về trách nhiệm tối hậu.

“Đồng hồ đếm ngược mở cửa sổ thủy triều: mười hai phút nữa,” giọng Luísa vang lên đều đặn, đanh thép trên kênh liên lạc nội bộ. “Ứng suất nén của đới Cổ Thạch đang bắt đầu giảm tốc độ gia tăng, từ 4,2 megapascal xuống 3,9 megapascal. Vỏ băng đang chuẩn bị chuyển pha biến dạng đàn hồi.”

“Đốt gia nhiệt số bốn: nhiệt độ âm mười tám phẩy chín độ C,” AI Mây tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu vi mô. “Quá trình tái đông tinh thể muối đã làm co hẹp đường kính danh định tại mét thứ 1.200 xuống còn ba trăm sáu mươi lăm milimét. Cần một xung nhiệt làm mềm trong vòng hai mươi phút tới.”

An Khuê đứng sát cạnh Amara, ánh mắt cô dán chặt vào màn hình giám sát năng lượng mạng lưới trạm. Bàn tay cô vẫn áp hờ lên chiếc chìa khóa vonfram treo trên ngực, cảm nhận cái lạnh của kim loại đã bắt đầu ấm dần lên bởi nhiệt độ cơ thể.

“Vườn Thủy Canh Bình Minh đã chuyển đổi thành công sang chế độ tiết kiệm năng lượng cấp hai,” An Khuê báo cáo mạch lạc. “Toàn bộ hệ thống đèn LED dải xanh lam đã ngắt; chỉ duy trì đèn đỏ sâu xung ngắt quãng mười giây một lần. Nhiệt độ bồn nấm men Y-44 đang giữ ổn định ở mức hai mươi mốt phẩy hai độ C. Phôi mầm đậu E-09 duy trì độ ẩm giá thể chín mươi tư phần trăm. Chúng ta đã giải phóng được đúng 1,42 kilowatt điện khả dụng sẵn sàng chuyển tải cho hệ thống giếng khoan.”

Amara nhìn vào màn hình trung tâm, nơi biểu tượng đại diện cho Nereid dưới đáy biển sâu thăm thẳm đang nhấp nháy một vệt sáng màu vàng nhạt.

“Ren, bắt đầu quy trình thu hồi.”

“Rõ!” Ren hít một hơi thật sâu, hai bàn tay nắm chặt lấy cụm cần điều khiển kép bằng kim loại mờ. “Kích hoạt động cơ bước tời kéo chính. Dòng khởi động: mười hai Ampe. Thiết lập lực căng ban đầu: bốn trăm năm mươi Newton. Bắt đầu cuốn cáp chậm để triệt tiêu độ võng quán tính trên toàn bộ chiều dài hơn hai nghìn bốn trăm mét ống dẫn.”

Trên màn hình đo từ xa của Giếng Borealis, biểu tượng tang trống tời cuốn bằng hợp kim titan bắt đầu quay những vòng đầu tiên.

Từ độ sâu thăm thẳm bên dưới lớp vỏ băng vĩnh cửu, sợi cáp quang thạch anh bọc Kevlar—mảnh dẻ như một sợi tơ nhện giăng giữa lòng đại dương Europa nhưng mang theo toàn bộ hy vọng khoa học của nền văn minh loài người—bắt đầu căng ra. Tiếng rền rĩ cơ khí trầm đục, nặng nề của cụm mô-tơ tời điện công suất lớn đặt dưới sàn kỹ thuật tầng trệt bắt đầu truyền qua khung dầm thép của trạm, dội ngược lên sàn buồng điều khiển thành những rung chấn vi mô đều đặn dưới đế ủng phi hành đoàn. Đó là một âm thanh khô khốc, nghiệt ngã, nghe như tiếng thở nặng nhọc của một cỗ máy khổng lồ đang gồng mình chống lại lực hút của cả một hành tinh.

*Két... Két... Vùuu...*

Từng vòng cáp bọc Kevlar đen nhánh bắt đầu cuộn tròn đều đặn vào tang trống tời đa tầng. Đồng hồ vận tốc hiển thị trên bảng điều khiển nhích dần lên: năm mét một phút... mười mét một phút... hai mươi mét một phút.

“Cáp bắt đầu chuyển động tịnh tiến đều,” Ren báo cáo, hai mắt đảo liên tục giữa đồ thị lực căng và dòng tải động cơ. “Lực cản ma sát thủy tĩnh ban đầu đo được là bảy trăm Newton, hoàn toàn nằm trong biên độ an toàn danh định của cụm lò xo đĩa Belleville. Nereid đã nhấc mình rời khỏi thềm bùn đáy biển, đang bắt đầu hành trình đi ngược lên ống giếng.”

Không một ai trong phòng điều khiển dám cất tiếng hay thở mạnh. Không gian tĩnh lặng đến mức người ta có thể nghe thấy tiếng những giọt nước ngưng tụ tí tách rơi từ đường ống làm mát phía trên trần nhôm, rơi trúng một tấm cách nhiệt xốp bên dưới.

An Khuê chăm chú nhìn vào màn hình quang học phụ, nơi camera góc rộng gắn ở mũi Nereid đang truyền về những hình ảnh trực tiếp cuối cùng từ đáy biển sâu.

Trên màn hình đen đặc của màn đêm vĩnh cửu, những đốm sáng màu ngọc lam huyền ảo của Cánh đồng Gương Sống—những tập đoàn sinh vật phát quang kỳ vĩ bám quanh các cột khói khoáng nhiệt dịch mà cô vừa mới chạm tới tâm trí chúng cách đây vài giờ—đang từ từ thu nhỏ lại. Chúng mờ dần, nhấp nháy những chu kỳ lân tinh yếu ớt như một lời tiễn biệt thầm lặng, rồi cuối cùng chìm hẳn vào bóng tối vô tận khi con tàu lặn được tời kéo bốc bổng lên vùng nước tự do bên trên.

Một cảm giác tiếc nuối nhói buốt dâng lên trong lồng ngực An Khuê. Cô cảm thấy như mình vừa tự tay đóng sầm một cánh cửa sổ nhìn ra vũ trụ bao la. Nhưng cô lập tức lắc đầu, xua đi sự yếu đuối ấy. Đây không phải là sự từ bỏ. Đây là một cuộc rút lui chiến thuật cần thiết. Sự sống của con người phải được bảo toàn trước tiên thì mới có thể tiếp tục chiêm ngưỡng và thấu hiểu sự sống của những sinh linh ngoài hành tinh kia.

“Đồng hồ đếm ngược cửa sổ thủy triều: năm phút nữa,” giọng Luísa cất lên, phá tan dòng suy nghĩ của An Khuê. “Ứng suất nén ngang của đới Cổ Thạch đã hạ xuống mốc 2,8 megapascal! Cửa sổ vàng đang mở ra chuẩn xác theo từng giây mô phỏng!”

“Tăng tốc độ cuốn cáp lên ba mươi lăm mét một phút!” Ren khẽ đẩy cần điều khiển về phía trước một nấc. “Nereid đang lướt qua vùng nước tự do bên dưới thềm băng. Độ sâu đo được: hai nghìn bốn trăm sáu mươi mét... hai nghìn bốn trăm ba mươi mét... hai nghìn bốn trăm mười mét...”

Những con số đo độ sâu nhảy lùi liên tục trên màn hình LED khi từng mét cáp quang được thu hồi gọn gàng vào tang trống tời. Giai đoạn di chuyển qua khối nước lỏng sát vòm thềm băng diễn ra êm ả ngoài dự kiến, bởi ở khoảng trống đó chưa có các gờ băng hẹp cản trở. Nhưng tất cả mọi người trong phòng đều hiểu rằng, thử thách sinh tử thực sự chỉ bắt đầu khi Nereid chui tọt vào phần cuống họng hẹp của giếng khoan xuyên qua lớp vỏ băng cứng.

“Độ sâu: hai nghìn bốn trăm lẻ năm mét... hai nghìn bốn trăm mét,” giọng Ren bắt đầu căng nghẹt lại, các khớp hàm anh bạnh ra. “Mũi Nereid chuẩn bị chạm mép dưới của giếng khoan Borealis ở độ sâu hai nghìn bốn trăm mét! Cửa sập khóa áp suất thủy tĩnh đáy giếng đã mở hoàn toàn!”

“Cửa sổ thủy triều đã mở trọn vẹn!” Luísa đập mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn địa chấn. “Ứng suất nén ngang chạm đáy: 2,1 megapascal! Thành giếng đang giãn nở đàn hồi tối đa! Đây là thời điểm vách băng lỏng lẻo nhất, Ren!”

“Hiểu rồi! An Khuê, kích hoạt xung nhiệt vi mô đợt một tại điểm thắt Beta!” Ren hét lên trong mic.

“Đã kích hoạt xung nhiệt Beta!” An Khuê lập tức nhấn phím xác nhận trên bảng phân phối điện.

Một xung nhiệt công suất 1,2 kilowatt bùng lên trong đúng ba mươi giây qua các phiến dẫn nhiệt bằng hợp kim đồng-berili gắn tại độ sâu 2.014 mét. Trên màn hình quét hồng ngoại truyền về từ cảm biến vách ống, lớp băng muối tái đông bám quanh khe hẹp bốn mươi tám milimét lập tức bừng sáng lên. Mép băng sắc nhọn chuyển đổi màu sắc từ lam sẫm sang vàng cam khi các liên kết tinh thể hydro bề mặt bị bẻ gãy tức thời dưới nhiệt lượng tập trung. Lớp băng ngoài cùng tan chảy thành một lớp màng vi nước trơn trượt có độ nhớt hoàn hảo.

“Nereid đang đi vào điểm thắt 2.014 mét!” Ren nín thở, hai mắt dán chặt vào đồng hồ đo mô-men xoắn của chốt ly hợp trục ba. “Mũi tàu đã lọt qua... Khung thân titan lọt qua... Cánh tay máy mạn phải... đang trượt qua khe hở! Khe hở an toàn đo được: tám milimét! Bảy milimét... Đã qua! Chúng ta đã vượt qua điểm nghẽn Beta an toàn!”

Một tiếng thở phào đồng thanh vang lên khẽ khàng nhưng đầy nhẹ nhõm giữa gian phòng điều khiển.

Nhưng Ren không hề thả lỏng dù chỉ một phần mười giây. Anh biết rằng ải tử thần thực sự vẫn còn nằm ở phía trước: đoạn giếng từ độ sâu 1.800 mét kéo dài lên tới 1.150 mét—nơi ngự trị của đốt gia nhiệt số bốn và các đới nứt nẻ trượt ngang phức tạp nhất của tầng băng dẻo.

Mô-tơ tời điện tầng dưới tiếp tục quay đều đặn. Để triệt tiêu tối đa các dao động lắc ngang có thể khiến cánh tay máy va đập vào vách ống, Ren chủ động gạt cần điều khiển, ghìm vận tốc cuốn cáp chậm lại ở mức ba mươi mét mỗi phút.

Con số độ sâu trên màn hình tiếp tục đếm lùi một cách chậm rãi: 2.000 mét... 1.980 mét... 1.960 mét...

An Khuê đứng chôn chân tại chỗ, đôi mắt mở to nhìn chằm chằm vào biểu đồ lực căng sợi cáp thời gian thực. Một cảm giác bất an mơ hồ, một linh cảm nghề nghiệp lạnh buốt đột ngột dấy lên dọc sống lưng cô khi nhận thấy những đường răng cưa nhỏ li ti bắt đầu xuất hiện trên dải đồ thị vốn đang phẳng lặng như mặt hồ.

“Ren,” An Khuê khẽ gọi, giọng cô đanh lại, sắc lẹm. “Nhìn vào cảm biến biến dạng FBG trên thân cáp ngay lập tức.”

Ren liếc mắt sang màn hình phụ bên cạnh. Ngay lập tức, đôi lông mày anh nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm.

Tại mốc độ sâu 1.950 mét—nơi chỉ còn cách thềm trú ẩn an toàn một trăm năm mươi mét nữa—chỉ số lực kéo của tời cuốn bắt đầu xuất hiện những dao động ma sát bất thường cực kỳ nguy hiểm. Kim đo lực căng không còn giữ nguyên ở giá trị ổn định tám trăm Newton mà bắt đầu giật nảy liên hồi, nhảy múa điên cuồng trên mặt đồng hồ: 850 Newton... 920 Newton... 1.050 Newton...

Đó hoàn toàn không phải là lực cản thủy tĩnh đồng nhất của khối nước lỏng đối lưu. Đó là dấu hiệu cơ học điển hình và đáng sợ nhất của hiện tượng trượt-kẹt (stick-slip)—hiện tượng xảy ra khi một bộ phận cơ khí nào đó trên thân tàu lặn đang liên tục cọ xát, va quệt ngắt quãng vào một bề mặt gồ ghề, lởm chởm của thành giếng.

“Có vật cản cơ học cục bộ ngoài dự kiến!” Ren thì thào qua kẽ răng, hai bàn tay anh siết chặt lấy cần điều khiển tời đến mức các khớp ngón tay run lên bần bật, trong khi ngón trỏ bàn tay trái bất giác áp sát hơn vào mặt ngoài nắp mica bảo vệ của phím cắt cáp khẩn cấp. “Một gờ băng muối mới nhô ra sau đợt biến dạng trượt ngang của đới Cổ Thạch mà cảm biến siêu âm chưa kịp quét tới!”

“Nereid còn cách vị trí trú ẩn an toàn 1.800 mét đúng một trăm năm mươi mét nữa!” Luísa hét lên, giọng cô lạc hẳn đi vì hoảng hốt. “Cửa sổ thủy triều chỉ còn lại đúng hai mươi mốt phút trước khi sóng triều nén dội ngược quay trở lại!”

“Ren, giảm tốc độ tời xuống mười lăm mét một phút ngay lập tức!” Chỉ huy Amara ra lệnh, giọng nói của cô vang lên như một tiếng sét xé toang sự hoảng loạn trong phòng.

Ren gạt cần điều khiển lùi lại một nấc sâu. Tang trống tời cuốn quay chậm dần lại.

Nhưng hiện tượng trượt-kẹt ma sát không hề thuyên giảm; ngược lại, khi vận tốc tời giảm xuống, lực bám dính tĩnh giữa thân tàu và vách giếng càng lúc càng trở nên dữ dội hơn. Tiếng xích tải và bánh răng của cụm tời cuốn cơ học ở sàn kỹ thuật tầng dưới bắt đầu phát ra những tiếng rên rỉ ken két khô khốc, nghiến ken két vào nhau đầy đau đớn, dội thẳng qua sàn kim loại lên tận buồng điều khiển.

*Két... Khực... Kéttt!*

Đột nhiên, một tiếng va đập kim loại nghẽn đặc, nặng trịch truyền thẳng qua màng loa âm học kết cấu của trạm.

Đồng hồ đo lực căng của tời cuốn đột ngột nhảy vọt lên ngưỡng đỏ khi thân tàu lặn khựng lại giữa lòng giếng tối tăm.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories