Mười tháng còn lại
Luồng dữ liệu kỹ thuật từ Darmstadt từ từ được giải nén trên màn hình Mây dưới dạng các sơ đồ tái cấu trúc thủy lực, nhưng đi kèm với đó là thực tế khắc nghiệt: Trái Đất không thể gửi thêm bất kỳ mol kim loại hay giọt dung dịch nào.
Từng khối xung nhị phân nén bằng mã hóa Golay bậc ba bung ra, vẽ nên những ma trận đường cong phức tạp trên mặt kính tinh thể của bảng điều khiển trung tâm. Tần số vô tuyến 8,445 GHz thu được qua đĩa ăng-ten phụ Kepler đã vượt qua khoảng cách hơn bảy trăm triệu cây số, mang theo những phép tính lạnh lùng từ các siêu máy tính của Cơ quan Vũ trụ Quốc tế. Đó là một bản phân tích tỉ mỉ đến từng mili-giây về lưu lượng chất lưu, các hàm tối ưu hóa phân bố áp suất cho hệ thống van điều tiết của lò phản ứng hạt nhân Kifaru, cùng hàng nghìn dòng mã vá lỗi cho thuật toán điều khiển cụm bơm tuần hoàn hợp kim natri-kali.
Nhưng đằng sau những thuật toán tao nhã ấy là một khoảng trống vật chất tuyệt đối. Không có khoang tiếp tế khẩn cấp nào có thể bẻ cong cơ học quỹ đạo để xuất hiện sớm hơn dù chỉ một giây. Bốn trăm mười chín ngày nữa. Mốc thời gian được ấn định bằng lực hấp dẫn, động lực học thiên thể và ba định luật Kepler bất di bất dịch, trơ tráo như chính lớp vỏ băng dày ba cây số đang đè nặng lên nóc trạm Borealis.
Hồ An Khuê đứng khoanh tay trước cụm hiển thị ba chiều, ngón trỏ vô thức chạm nhẹ vào mép chiếc chìa khóa hợp kim vonfram cộm lên trong túi ngực của chiếc áo bọc nhiệt hai lớp. Hơi lạnh từ sàn kim loại xuyên qua lớp đế ủng cách điện dày ba centimet, len lỏi qua từng thớ tất len tổng hợp, cắn rứt vào mắt cá chân như một lời nhắc nhở liên tục về sự mong manh của hơi ấm nhân tạo.
Tiếng máy nén tuần hoàn CO2 siêu tới hạn vẫn rù rì bên dưới các tấm sàn thép có gờ chống trượt—một nhịp đập cơ khí khô khốc, chậm rãi và đều đặn đến ghê người, giữ cho không khí trong khoang sinh hoạt không tụt xuống mức đóng băng tức thì. Mùi kim loại bị oxy hóa lẫn trong luồng khí nhân tạo mang theo vị nhạt phèo của ozone loãng và độ ẩm nhân tạo bị vắt kiệt đến mức làm khô rát niêm mạc mũi.
"Bức điện chính thức từ Hội đồng Nhiệm vụ đã giải mã xong toàn bộ," giọng Mây vang lên từ dải loa trần ẩn sau các tấm đệm xốp cách âm. Giọng nói ấy êm dịu, ấm áp nhưng tuyệt đối vô cảm, một thứ âm thanh được điều chỉnh nhân tạo để trấn an thần kinh nhưng lại chỉ làm căn phòng thêm phần ngột ngạt. "Phân ban Kỹ thuật Darmstadt và Hội đồng Điều hành Không gian Sâu đã cùng ký duyệt bản ghi nhớ liên tịch."
Trên màn hình chính, bên cạnh các sơ đồ thủy lực chằng chịt các mã màu áp suất, một khung văn bản viền đỏ nhấp nháy xuất hiện. Amara Njoroge, đang ngồi trên chiếc ghế công thái học bọc đệm chịu lực—vị trí chỉ huy mà cô chỉ được phép ngồi tối đa hai giờ mỗi ngày theo lệnh cấm túc y tế nghiêm ngặt của Ingrid—khẽ nhướng đôi mày rậm.
Dù sắc mặt vị chỉ huy người Kenya vẫn còn vương những mảng nhợt nhạt và các mao mạch quanh thái dương hơi hằn lên sau cơn phơi nhiễm bức xạ trên bề mặt băng cách đây chưa lâu, ánh mắt cô vẫn sắc bén như mũi khoan hợp kim titan mài vát. Hai bàn tay Amara đan vào nhau đặt trên đùi, giữ cho các khớp ngón không run rẩy trước tác động của sự mệt mỏi thể xác.
"Đọc phần chỉ thị nguyên tắc, Mây," Amara lệnh, chất giọng khàn đặc nhưng âm vực trầm chắc nịch vẫn giữ trọn uy quyền của người gánh vác mạng sống cả trạm.
"Rõ, Chỉ huy," Mây phản hồi không một phần nghìn giây chậm trễ. "Trích yếu văn bản điều hành mã số DP-B-8802: *'Hội đồng Nhiệm vụ Quốc tế chính thức ghi nhận và biểu dương tinh thần quả cảm, kỷ luật thép cùng năng lực xử lý khủng hoảng xuất sắc của toàn thể phi hành đoàn Trạm Borealis trong biến cố địa chấn vừa qua. Việc tái khởi động lò phản ứng hạt nhân Kifaru và khôi phục kênh phát dẫn đường Kepler trong điều kiện thảm họa cục bộ là một kỳ tích kỹ thuật không gian sâu chưa từng có tiền lệ.'*"
Ren Ishikawa, đang tựa lưng vào khung cửa khoang kỹ thuật với cánh tay phải còn dán băng nẹp cơ màu xám sau chuyến đi bộ ngoài không gian đầy bão táp, khẽ nhếch mép phát ra một tiếng cười khẩy khô khốc. Cổ áo lót chịu nhiệt của anh mở rộng, để lộ mảng da cổ còn đỏ ửng vì kích ứng với lớp mạ bạc của bộ đồ du hành.
"Lời khen ngợi từ khoảng cách nửa tỷ cây số bao giờ cũng miễn phí và không tốn một watt điện nào," Ren lầm bầm, giọng anh mang theo sự chua chát đặc trưng của một thợ máy đã dành quá nhiều giờ để siết những con ốc lạnh căm dưới bóng tối Sao Mộc. "Họ gõ những dòng đó trong phòng điều hành ấm áp hai mươi bốn độ C tại Đức, vừa uống cà phê phin vừa nhìn đồng hồ đếm ngược. Đoạn sau mới là cái giá thực sự, đúng không?"
"Đoạn tiếp theo," Mây đọc tiếp, ngữ điệu phẳng lặng không bị ngắt quãng bởi lời châm biếm của Ren, "*'Tuy nhiên, Hội đồng tái khẳng định nguyên tắc bất khả xâm phạm của Quy chế An toàn Không gian Sâu: Sinh mạng của năm thành viên phi hành đoàn là ưu tiên tối thượng, đứng trên mọi mục tiêu khai thác hay nghiên cứu mở rộng. Các thuật toán van bypass gửi kèm được thiết kế để triệt tiêu dao động áp suất nhiệt trong vòng làm mát sơ cấp số một, cho phép duy trì công suất nền ba mươi lăm phần trăm với biên độ an toàn cơ học nâng từ một phẩy mười hai lên một phẩy hai mươi tám.'*"
An Khuê nheo mắt nhìn vào biểu đồ áp suất thủy lực mà Darmstadt đề xuất. Các kỹ sư Trái Đất đã tính toán rất kỹ, từng đường cong elip đại diện cho sự suy giảm ứng suất cắt đều được mô phỏng mượt mà: bằng cách mở van điều tiết nhánh phụ thêm 3,8 độ góc và giảm nhẹ lưu lượng qua bộ trao đổi nhiệt trung gian, ứng suất trượt tác động lên lớp đệm sinh học nanocellulose mà cô đã chế tạo thủ công trong khoang kỹ thuật sẽ giảm đi khoảng chín phần trăm.
Đó là một giải pháp hoàn hảo trên giấy tờ, sạch sẽ và an toàn tuyệt đối theo chuẩn mực của một phòng thí nghiệm tiện nghi ở vùng hạ lưu sông Rhine. Nhưng nó hoàn toàn phớt lờ việc dòng chảy NaK lạnh đi sẽ kéo theo sự sụt giảm tức thời của nhiệt lượng cấp cho đáy giếng.
Và văn bản không dừng lại ở đó. Một đoạn mã hóa phân cấp Cấp 1-A hiện lên tiếp theo, với dấu niêm phong điện tử hình chim bồ câu cách điệu của Ủy ban Đạo đức và Khoa học Quốc tế chớp nháy màu xanh lơ ma quái.
"Bổ sung mục mười bốn chấm ba," Mây tiếp tục xướng lên, từng từ như những hạt bi sắt rơi xuống sàn kim loại. "*'Hội đồng ghi nhận tầm quan trọng mang tính thời đại của các dữ liệu quang học thô thu được từ đáy giếng Borealis. Bằng chứng về cấu trúc phát quang tại Cánh đồng Gương Sống là tài sản chung vô giá của toàn thể nhân loại và bắt buộc phải được bảo vệ, lưu trữ đối chứng trong ít nhất ba phân vùng bộ nhớ WORM độc lập chống từ tính. Tuy nhiên, căn cứ vào giới hạn công suất thực tế của hệ thống năng lượng Kifaru sau thảm họa, Hội đồng kiên quyết bác bỏ và từ chối phê duyệt bất kỳ nhiệm vụ hay đề xuất can thiệp nào tiềm ẩn nguy cơ gây tiêu hao nguồn điện không thể đảo ngược, hoặc gây tổn hại đến hệ thống hỗ trợ sinh tồn. Không một thử nghiệm khoa học nào được phép vượt quá giới hạn an toàn nhiệt của khoang sinh hoạt.'*"
Sự im lặng lập tức bao trùm lấy Trung tâm Điều hành Mây. Nó không phải là sự yên tĩnh thanh bình, mà là sự chết lặng của một căn phòng kín đang cạn dần dưỡng khí. Tiếng vo ve của dàn quạt gió làm mát các phiến mạch xử lý lượng tử dường như rền rĩ to hơn, nặng nề hơn, hòa cùng tiếng thở nhè nhẹ ngắt quãng của năm con người.
"Nói một cách ngắn gọn và trần trụi nhất," Luísa Carvalho lên tiếng từ bàn phân tích địa chấn. Những ngón tay dài, gầy guộc của cô rút khỏi bề mặt bàn phím xúc giác, để lại những vệt mồ hôi mỏng manh bốc hơi nhanh chóng trong bầu không khí khô rốc. "Trái Đất đang nói với chúng ta: hãy ôm chặt đống dữ liệu đã có trong túi áo, đừng thò một ngón tay nào ra ngoài cửa sổ nữa, và co cụm lại như những con gấu ngủ đông trong hang tối cho đến khi con tàu Umoja tới rước cái xác của chúng ta. Họ không muốn nhận một bức điện nào báo tin lò Kifaru bị nổ tung hay sập nguồn chỉ vì chúng ta cố thắp sáng một bóng đèn tí hon dưới đáy biển."
"Họ ở cách chúng ta bảy trăm triệu cây số, Luísa," Ingrid Solberg bước vào từ hành lang Y xá, bước chân bà nặng nề dập trên sàn thép. Trên tay vị bác sĩ trưởng người Na Uy là hai túi dung dịch điện giải màu vàng nhạt và một vỉ thuốc bổ sung ion canxi có ký hiệu cảnh báo màu tím.
Ingrid đặt mạnh các túi thuốc lên mặt bàn kim loại trước mặt Amara và Ren, tạo ra một tiếng *cạch* dứt khoát. Dưới ánh đèn huỳnh quang màu trắng xám, khuôn mặt góc cạnh của người phụ nữ luống tuổi hiện rõ những nếp nhăn sâu hoắm quanh khóe miệng—những rãnh nhăn của sự căng thẳng kéo dài suốt nhiều tuần không ngủ trọn giấc.
"Họ nhìn vào những con số thống kê lạnh lùng gửi qua sóng vô tuyến," Ingrid nói, giọng trầm xuống, mang theo cái uy quyền sắt đá của người nắm quyền sinh sát y tế trong không gian cô lập. "Và lần này, những con số vô cảm đó hoàn toàn đúng. Chúng ta không có phụ tùng thay thế. Chúng ta không còn một lít dung dịch hợp kim NaK dự phòng nào trong kho lưu trữ sau vụ tràn hóa chất ở khoang số hai. Lò phản ứng Kifaru đang chạy bằng một chân khập khiễng, và chúng ta đang sống sót qua ngày nhờ vào việc nhịn ăn mười lăm phần trăm khẩu phần calo bắt buộc mỗi bữa. Cơ thể của các người đang tự tiêu hóa chính các mô mỡ và cơ bắp của mình để bù đắp nhiệt."
An Khuê nhìn Ingrid, rồi nhìn sang Amara. Cảm giác bồn chồn râm ran như kiến bò dưới da thôi thúc cô phải lên tiếng.
"Chỉ thị của Hội đồng chứa đựng một nghịch lý chết người, bác sĩ," An Khuê nói, bước tới gần bàn hiển thị trung tâm, chỉ ngón tay vào đồ thị quang phổ đang đóng băng trên màn hình phụ. "Họ yêu cầu chúng ta bảo toàn bằng chứng bằng mọi giá, nhưng lại cấm chúng ta duy trì các điều kiện tối thiểu để kiểm chứng tính xác thực của chính bằng chứng đó. Dữ liệu tĩnh trong ổ cứng WORM chỉ là những con số chết, một bức ảnh chụp nhanh vô hồn của một khoảnh khắc ngẫu nhiên. Nếu chúng ta không tiếp tục theo dõi các chu kỳ phát quang liên tục, chúng ta thậm chí sẽ không bao giờ biết được liệu quần thể cấu trúc sinh học đó có đang phản ứng với những biến đổi nhiệt dịch sau trận động băng hay không. Nó là một thực thể sống, hay chỉ là một hiện tượng phát xạ khoáng chất nhất thời? Trái Đất không thể trả lời câu hỏi đó từ bàn giấy của họ."
"Chúng ta sẽ không cần bận tâm xem nó là thực thể sống hay khoáng chất nếu tất cả chúng ta biến thành những khối thịt đông cứng ở âm một trăm sáu mươi độ C, An Khuê," Ingrid đáp trả ngay lập tức. Bà quay ngoắt lại, hai mắt nheo lại đầy đe dọa. "Cô là nhà sinh vật học, nhưng cô đang quên mất sinh thái học cơ bản nhất của loài người. Cô biết rõ hơn ai hết tình trạng thực sự của cái vỏ hộp này. Vườn Thủy Canh đang sống dở chết dở với ba phần tư diện tích tảo lục bị nhiễm nấm lạnh. Cơ số thuốc chống thoái hóa xương tủy bị hỏng hai mươi phần trăm do biến động nhiệt độ buồng lạnh tuần trước. Amara và Ren vừa phải nuốt trọn một liều bức xạ ion hóa suýt soát ngưỡng ngộ độc cấp tính khi ra ngoài gia cố ăng-ten. Chúng ta không có tư cách, không có tài nguyên, và tuyệt đối không có quyền năng lượng để chơi trò mạo hiểm quý tộc ở cái xó xỉnh này."
Không khí trong phòng như đông đặc lại. Sự đối đầu giữa bản năng sinh tồn trần trụi và khát vọng tri thức cháy bỏng chưa bao giờ hiện rõ đến thế. An Khuê cắn chặt môi dưới, vị kim loại tanh nồng thoảng qua đầu lưỡi khi hàm răng cô vô tình day vào vết nứt nẻ do thiếu nước.
Amara vẫn ngồi im lìm. Ánh mắt vị chỉ huy lướt qua vẻ căng thẳng tột độ trên gương mặt đanh lại của An Khuê, sự phòng thủ hung hăng đầy trách nhiệm của Ingrid, vẻ mệt mỏi buông xuôi của Luísa, và ánh nhìn trầm ngâm dán chặt xuống sàn của Ren. Bàn tay phải của Amara khẽ siết chặt vào lớp vải bọc ghế, các đốt ngón tay trắng bệch ra để kìm nén cơn co thắt vi mạch tiền đình—di chứng của cơn ngộ độc phóng xạ mà cô đang cố che giấu bằng mọi giá trước mặt toàn đội.
"Mây," Amara cất tiếng. Âm thanh không lớn, nhưng nội lực trong giọng nói của cô lập tức cắt đứt bầu không khí giằng co ngột ngạt. "Tải kịch bản mô phỏng Kifaru-Tide-03 lên màn hình chính. Tắt chế độ bảo vệ dữ liệu."
Giao diện trạm khẽ chớp sáng một nhịp ngắn. Những dòng chữ phê duyệt màu đỏ của Darmstadt thu nhỏ lại, dạt sang một góc màn hình phụ, nhường toàn bộ không gian trung tâm cho một mô hình ba chiều phức tạp và đồ sộ về cấu trúc vỏ băng mười kilômét vuông cùng các khoang ngầm của Trạm Borealis.
"Kịch bản Kifaru-Tide-03?" Luísa hơi nhổm người dậy khỏi ghế, đôi mắt của một nhà địa vật lý dày dạn kinh nghiệm lập tức nhận ra những dải vector màu tím kỳ lạ đang chạy ngoằn ngoèo dọc theo các mặt cắt kiến tạo ngầm. "Đây không phải là mô hình phân bổ tải thông thường. Chỉ huy, cô đã chạy mô phỏng này từ khi nào? Sao nó không nằm trong nhật ký công việc chung?"
"Từ bốn mươi tám giờ trước, ngay sau khi chúng ta vặn chiếc ốc cuối cùng trên van số ba và kích hoạt lại lò Kifaru," Amara bình thản nói, nhưng từng chữ rơi ra đều mang sức nặng nghìn cân. "Tôi đã giấu nó trong phân vùng bảo mật riêng của quyền chỉ huy để chờ các dữ liệu vi địa chấn định kỳ của cô và gói thuật toán thủy lực từ Trái Đất. Giờ thì cả hai mảnh ghép đều đã nằm trên bàn. Đã đến lúc nhìn thẳng vào sự thật."
Amara vẫy tay ra hiệu cho Mây bóc tách từng lớp hiển thị.
"Luísa, hãy tóm tắt ngắn gọn cho toàn đội về chu kỳ nhật triều của Europa trong vòng mười lăm ngày tới," Amara yêu cầu, ánh mắt hướng thẳng vào nhà địa chất.
Luísa mím môi, với tay kéo bảng thông số về phía mình. Cô thở hắt ra một hơi, giọng nói đượm vẻ căng thẳng: "Hệ thống ba mặt trăng Io, Europa và Ganymede đang tiến thẳng vào điểm hội tụ của chu kỳ cộng hưởng Laplace tuần hoàn. Lực triều hấp dẫn khổng lồ từ Sao Mộc tác động lên lớp vỏ băng quanh đới nứt Cổ Thạch sẽ đạt đỉnh cực đại trong vòng mười ngày tới. Ứng suất nén và ứng suất trượt sẽ tăng thêm ít nhất mười hai phần trăm so với mức trung bình tháng. Nhưng điều nguy hiểm nhất không phải là lực ép tĩnh, mà là hiện tượng trễ pha đàn nhớt của băng. Băng ở độ sâu này không phải là đá cứng; nó là một chất lưu phi Newton cực kỳ nhớt đang chảy chậm. Lớp băng ấy sẽ bắt đầu biến dạng dẻo, co thắt và ép chặt vào mọi khoang rỗng nhân tạo mà chúng ta đã khoan khoét vào lòng nó."
"Chính xác," Amara tiếp lời, giọng cô phẳng lặng đến rợn người. "Và khối nêm băng nặng một phẩy tám tấn đang nằm chèn ép lên trần Khoang Năng lượng Kifaru—chính là khối băng nứt mà chúng ta đã liều mạng dùng kích thủy lực để chèn giữ van rò rỉ trong trận động đất vừa qua—sẽ bị lực triều ép sâu hơn nữa vào kết cấu khung trần. Mây, cho hiển thị đồ thị dao động trao đổi nhiệt thực tế."
Một biểu đồ hình sin gãy khúc, méo mó xuất hiện chèn lên mô hình 3D. Đường cong màu xanh lam biểu thị hiệu suất dẫn nhiệt của bộ trao đổi nhiệt khí CO2 siêu tới hạn đang liên tục giật cục với biên độ dao động 0,42% quanh trục chuẩn.
"Nó không đứng yên," An Khuê thốt lên, đôi mắt cô mở to khi nhìn vào sự bất ổn của các đường răng cưa. "Nó đang... thở."
"Nó co giãn vì khối nêm băng đang truyền trực tiếp các xung ứng suất cơ học từ toàn bộ mảng kiến tạo vào lớp vỏ ngoài của buồng phản ứng," Ren giải thích thay cho Amara, nụ cười mỉa mai biến mất hoàn toàn trên gương mặt người kỹ sư robot, chỉ còn lại sự đăm chiêu u tối. "Khi lực triều kéo căng mảng băng, khe hở vi mô giãn ra, độ truyền dẫn nhiệt tụt xuống. Khi triều dâng ép lại, tảng băng nghiến chặt lên các đường ống dẫn hợp kim làm mát sơ cấp. Hiện tại, chúng ta đang ép Kifaru chạy ở mức ba mươi lăm phần trăm công suất nền—tương đương đúng hai mươi tư phẩy năm kilowatt điện cho toàn bộ sự sống của trạm. Nhưng nếu chu kỳ triều dâng cực đại này làm biến dạng thêm chỉ một phần mười milimet của thành ống dẫn, dòng đối lưu NaK sẽ bị nghẽn cục bộ. Công suất khả dụng sẽ tụt dốc không phanh."
"Đó chính là lý do Kịch bản Kifaru-Tide-03 phải được lập ra," Amara chậm rãi đứng dậy. Dù dáng người gầy sút sau những ngày ăn khẩu phần giảm trừ, chiều cao và khung xương vững chãi của cô vẫn đổ một cái bóng dài, che khuất một phần ánh sáng trên mặt bàn điều khiển. "Đây là Kịch bản Bảo tồn Tài nguyên Cấp ba. Một kịch bản mà tôi từng hy vọng sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong các dòng mã lưu trữ. Nhưng chúng ta không có quyền sống bằng ảo tưởng."
Cô chạm bàn tay mang găng mỏng vào giao diện điều khiển, nhập chuỗi ký tự mật mã quyền chỉ huy tối cao: *ALPHA-OMEGA-ZERO-NINE*.
Ngay lập tức, toàn bộ hệ thống đồ họa của Trạm Ánh Sáng Europa rùng mình chớp giật. Toàn bộ các mô-đun trên màn hình chuyển đổi trạng thái: màu xanh lục an toàn biến mất, thay thế bằng một màu hổ phách cảnh báo rực rỡ, chói gắt và nhức nhối.
Màu hổ phách trong giao thức kiểm soát môi trường sống của Borealis không đơn thuần là một màu sắc cảnh báo thông thường. Nó là biểu tượng của trạng thái "cận ngưỡng sụp đổ", nơi các thuật toán tự hành của Mây được trao quyền can thiệp cưỡng bức, sẵn sàng tước bỏ mọi quyền điều khiển thủ công của con người nếu các chỉ số vật lý vượt qua rào chắn giới hạn an toàn.
"Mây, thuyết minh toàn bộ các thông số kích hoạt tự động của Kịch bản Cấp ba," Amara lạnh lùng ra lệnh.
"Rõ, thưa Chỉ huy," AI Mây phản hồi, âm sắc vẫn mượt mà một cách tàn nhẫn giữa sắc màu hổ phách chói lòa. "Kịch bản Bảo tồn Tài nguyên Cấp ba thiết lập hai ngưỡng dừng phần cứng bất khả kháng không thể đảo ngược bằng lệnh thông thường: Thứ nhất: Nếu nhiệt độ của vòng tuần hoàn làm mát NaK số một vượt quá hai trăm bốn mươi độ C do hiện tượng nghẽn dòng đối lưu hoặc biến dạng thành ống. Thứ hai: Nếu công suất phát khả dụng của cụm tua-bin Kifaru-Gen sụt giảm thêm năm phần trăm—tương đương một phẩy hai hai lăm kilowatt điện—rơi xuống dưới ngưỡng sinh tồn tuyệt đối là hai mươi ba phẩy hai kilowatt."
"Và nếu một trong hai điều kiện đó chạm ngưỡng?" An Khuê hỏi dồn, một luồng khí lạnh buốt đột ngột chạy dọc sống lưng cô. Tim cô đập thình thịch vào lồng ngực, bàn tay đang nắm chặt mép bàn kim loại đến mức các đầu ngón tay tê dại.
Mây không có một tích tắc ngập ngừng: "Hệ thống quản lý tải khẩn cấp sẽ lập tức kích hoạt quy trình cắt bỏ phụ tải Vùng Ngoại vi để bảo toàn năng lượng cho Lõi Trú ẩn và Vườn Thủy Canh. Phân khu đứng đầu danh sách cô lập vĩnh viễn là: Phòng Thí nghiệm Ranh Giới tại độ sâu hai nghìn ba trăm tám mươi mét ở đáy giếng khoan Borealis."
Trên sơ đồ ba chiều lơ lửng giữa phòng, một vệt sáng đỏ rực như máu đột ngột bùng lên, bao trùm lấy khối hình trụ nhỏ bé nằm ở điểm sâu nhất của toàn bộ hệ thống trạm—nơi ranh giới mỏng manh đến nghẹt thở giữa tảng băng vĩnh cửu và đại dương ngầm Europa giao nhau. Vệt đỏ nhấp nháy ba lần với những tiếng bíp khô khốc phát ra từ bảng điều khiển, rồi chuyển thành một đường gạch chéo dứt khoát, tàn nhẫn.
"Quy trình cô lập bao gồm các bước sau," Mây tiếp tục đọc bản cáo trạng cơ học, giọng nói đều đều như một cỗ máy đếm nhịp. "Ngắt toàn bộ nguồn điện sưởi trở kháng chống tái đông tại cổ giếng khoan; xả toàn bộ khí trơ áp suất cao để làm sập có kiểm soát các van đệm hấp thụ chấn động; kích hoạt hệ thống ngòi nổ nhiệt cơ học thermite tại các ngàm khóa cấu trúc để cắt đứt hoàn toàn liên kết kim loại và niêm phong vĩnh viễn cửa ngăn áp suất B-Zero. Tổng thời gian thực hiện: bốn mươi lăm giây. Quá trình sau khi kích hoạt không thể đảo ngược bằng bất kỳ phương thức can thiệp nào."
"Không thể nào! Tuyệt đối không thể chấp nhận được!"
An Khuê bước vọt lên một bước dài, giọng cô vỡ tung ra giữa căn phòng trong sự bàng hoàng và phẫn nộ tột cùng. Đôi mắt cô trợn trừng nhìn vào vệt gạch chéo màu đỏ trên màn hình.
"Amara, cô có ý thức được mình đang nói về cái gì không? Cô đang nói về việc chủ động phá hủy Phòng Ranh Giới! Đó là nơi đặt bộ chuyển tiếp quang học duy nhất của chúng ta! Đó là nơi neo giữ và cấp nguồn cho sợi cáp thạch anh duy nhất nối chúng ta với con tàu Nereid đang lặn dưới đáy biển!"
"Tôi biết chính xác nó là cái gì, An Khuê," Amara nhìn thẳng vào mắt cô, ánh mắt đen sâu thẳm không một gợn né tránh, vững chãi như một vách đá hoa cương.
"Không, cô không hiểu! Hoặc cô đang cố tình giả vờ không hiểu!" An Khuê đập mạnh cả hai lòng bàn tay xuống mặt bàn kim loại. Tiếng va chạm cơ học vang dội, sắc chát chúa dội ngược vào các vách ngăn của trung tâm điều hành.
"Phòng Ranh Giới tiêu thụ bao nhiêu điện của các người? Ba trăm watt! Đúng ba trăm watt chết giẫm! Chưa đầy một phần ba kilowatt để duy trì các cảm biến thụ động và mạch tiền khuếch đại quang học! Cô muốn cắt bỏ nó, muốn vứt bỏ nó vào bóng tối vĩnh viễn chỉ để đổi lấy một biên độ an toàn năm phần trăm vô căn cứ trên một bản mô phỏng máy tính?"
"Ba trăm watt đó là điện sưởi trở kháng tối thiểu để giữ cho nước biển mặn chát dưới kia không biến toàn bộ buồng khóa áp suất thành một khối băng tảng nghiền nát mọi thứ bên trong nó!" Ingrid lạnh lùng cắt ngang, giọng bà đanh thép, từng bước chân tiến sát lại gần An Khuê.
Người bác sĩ già chỉ thẳng ngón tay vào màn hình phụ hiển thị các chỉ số sinh thái: "Và nếu nhiệt độ buồng đốt lò Kifaru tăng vọt quá ngưỡng cho phép, hoặc nếu một cơn dư chấn làm sụt giảm điện áp lưới, ba trăm watt đó chính là ranh giới mong manh giữa việc các khay nấm men trong Vườn Bình Minh tiếp tục lên men tạo dinh dưỡng hay chết cóng thành bùn đông lạnh trong vòng sáu giờ tới! An Khuê, tỉnh lại đi! Nấm men cho chúng ta protein và axit amin để thở và suy nghĩ. Đại dương dưới kia không cho chúng ta bất kỳ thứ gì có thể bỏ vào mồm được cả!"
"Đại dương dưới kia là toàn bộ lý do chúng ta tồn tại ở cái xó xỉnh chết tiệt này!"
Lồng ngực An Khuê phập phồng dữ dội dưới lớp áo bọc nhiệt. Cô cảm nhận rõ từng đợt run rẩy chạy dọc từ bả vai còn đau nhức do trận động đất lan xuống tận các đầu ngón tay. Đôi mắt cô đỏ hoe vì phẫn uất và kiệt sức.
"Chúng ta đã vượt qua hơn nửa tỷ cây số không gian chết chóc! Chúng ta đã chui xuống dưới ba cây số băng lạnh ngắt, chịu đựng động đất, chịu đựng việc bị cắt giảm khẩu phần từng bữa, chịu đựng chứng loãng xương và phơi nhiễm phóng xạ... Tất cả những điều đó chỉ để cuối cùng biến thành những con chuột chũi hèn nhát, run rẩy đào bới trong hang tối để chờ người đến cứu thôi sao? Con tàu Nereid đang ở dưới đó! Nó cách chúng ta một trăm lẻ tám cây số theo phương thẳng đứng, đang lơ lửng ngay sát mép Cánh đồng Gương Sống! Sợi cáp quang thạch anh mà Ren đã thức trắng ba đêm để luồn qua khe nứt hai nghìn mét là chiếc cầu nối vật lý duy nhất còn sót lại giữa toàn thể giống loài nhân loại và một hệ sinh thái ngoài Trái Đất!"
An Khuê quay ngoắt sang phía Ren, ánh mắt kiếm tìm một điểm tựa, một tia đồng minh trong tuyệt vọng:
"Ren! Anh hãy nói gì đi chứ! Anh đã mất bao nhiêu công sức và xương máu để chế tạo con thoi Kim Luồn? Anh đã mạo hiểm mạng sống của chính mình ngoài bề mặt băng trong cơn bão điện tích để chỉnh từng milimet đĩa Kepler! Anh hãy nói cho họ biết, nếu chúng ta cắt nguồn điện sưởi của Phòng Ranh Giới, chuyện gì sẽ xảy ra với sợi cáp thạch anh đó? Nói cho họ biết đi!"
Ren đứng thẳng người dậy khỏi khung cửa. Gương mặt người kỹ sư Nhật Bản thoáng co rúm lại trong một tích tắc vì cơn đau cơ xé rách ở bả vai phải dán nẹp, nhưng trong mắt anh lúc này chỉ còn lại sự giằng xé và dằn vặt khôn nguôi. Anh nhìn An Khuê, ánh mắt chứa chan sự thấu hiểu xót xa, rồi từ từ dời tầm mắt xuống sơ đồ trạm đang rực lên một màu hổ phách ma quái.
"Nước biển quanh cổ giếng Borealis đang ở mức âm một phẩy tám mươi hai độ C, An Khuê," Ren nói chậm rãi. Giọng anh trầm đặc, khô khốc như tiếng kim loại bị mài mòn. "Nó duy trì được trạng thái lỏng ở nhiệt độ đó chỉ nhờ vào áp suất thủy tĩnh cực cao và dòng nhiệt dư rò rỉ liên tục từ các cuộn dây sưởi của Phòng Ranh Giới. Nếu chúng ta ngắt sưởi... chỉ cần mười hai giờ đồng hồ trôi qua, nút thắt băng ở độ sâu hai nghìn không trăm mười bốn mét sẽ khép miệng hoàn toàn."
Ren hít một hơi thật sâu, giọng anh run lên một nhịp rất khẽ: "Lực nở thể tích của nước biển khi tái đóng băng dưới áp suất đó lên tới hơn một trăm megapascal. Sợi cáp thạch anh bọc vỏ gia cường Kevlar dày vỏn vẹn không phẩy chín milimet của chúng ta... sẽ bị nghiền nát như một sợi chỉ mục kẹp giữa hai tảng đá mài. Nereid sẽ bị cắt đứt. Nó sẽ trở thành một khối kim loại mồ côi trôi dạt vô định dưới đáy biển vĩnh hằng. Không ai có thể kéo nó lên được nữa. Không bao giờ."
"Các người nghe thấy những lời đó chưa?" An Khuê quay phắt lại đối diện với Amara và Ingrid, giọng cô vỡ òa, vang dội như một tiếng thét nghẹn ngào. "Vĩnh viễn! Không phải là tạm dừng nghiên cứu! Không phải là hoãn lại để chờ tiếp viện! Đó là một bản án tử hình, một phát súng ân huệ tàn nhẫn bắn thẳng vào đầu toàn bộ chương trình thám hiểm sinh học của Trạm Borealis! Nếu cắt đứt liên lạc với Nereid lúc này, chúng ta sẽ không bao giờ biết được những xung sáng bốn trăm tám mươi lăm nanomet ngoài kia là gì! Chúng ta sẽ trở về Trái Đất—nếu như chúng ta có diễm phúc sống sót mà bước lên con tàu Umoja—với hai bàn tay trắng, một tâm hồn rỗng tuếch và một ổ cứng chứa toàn những tập tin thô vô nghĩa lý!"
"Và nếu tất cả chúng ta chết rấp ở cái đáy giếng này, An Khuê, thì ai sẽ là người mang cái đống tập tin thô đó về cho nhân loại?"
Ingrid bước dồn lên hai bước, áp sát người vào An Khuê đến mức cô có thể ngửi thấy mùi dung dịch sát trùng và hơi thở nồng nặc caffeine toát ra từ người vị bác sĩ trưởng. Giọng Ingrid không còn vương chút mỉa mai nào nữa; nó chỉ còn lại sự nghiêm khắc tàn bạo của một người đã chứng kiến quá nhiều cái chết và hiểu rõ cái giá của sự sống.
"Cô muốn lấy cái gì ra để đánh cược hả An Khuê? Cô muốn đem mạng sống của Amara, của Ren, của Luísa, và của chính bản thân cô ra để đánh đổi lấy vài megabyte dữ liệu về mấy cấu trúc lân tinh dưới đáy biển sao? Cô có nhìn vào bảng theo dõi sinh trắc học sáng nay không? Cô có biết huyết áp tâm trương của Amara đang tụt xuống mức nguy hiểm vì tổn thương mạch máu không? Cô có biết hàm lượng canxi trong các đốt sống của Ren đang thất thoát với tốc độ ba phần trăm mỗi tuần không? Chúng ta đang đứng trên một bờ vực sinh học mỏng manh như một sợi tóc!"
Ingrid chém mạnh bàn tay vào không khí: "Bất kỳ một sự cố nhiệt nào làm nhiệt độ trong các khoang ngủ tụt xuống dưới mười hai độ C trong vòng tám giờ sẽ kích hoạt một phản ứng suy giảm miễn dịch hàng loạt! Vi khuẩn cơ hội sẽ bùng phát! Lúc đó, tôi cam đoan với cô, không có thứ ánh sáng ngọc lam huyền diệu nào dưới đáy biển kia có thể cứu được hai lá phổi của cô khỏi bị ngập ngụa trong màng dịch phù phổi cấp đâu!"
"Tôi không đánh cược mạng sống của bất kỳ ai ở đây cả!" An Khuê gắt lên, hai hốc mắt cay xè nhưng cô kiên quyết không lùi lại nửa bước trước cái bóng của Ingrid. "Tôi đang nói về sự cân bằng và quyền ưu tiên tài nguyên! Tôi là Sĩ quan Giám sát Tài nguyên Cấp 1-B được bổ nhiệm hợp pháp! Chiếc chìa khóa vonfram này..."—cô thọc tay vào túi áo, rút phắt chiếc chìa khóa hợp kim nặng trịch ra, giơ cao trước mặt mọi người, ánh kim loại xám xịt phản chiếu sắc cam hổ phách—"...trao cho tôi quyền điều phối độc lập năm phẩy ba kilowatt điện tự do trong hạn ngạch khẩn cấp!"
An Khuê quét ánh mắt rực lửa qua từng người: "Tại sao chúng ta không cắt giảm điện ở những phân khu khác? Tại sao máy ly tâm y tế vẫn phải duy trì chu kỳ quay chín mươi phút mỗi ngày thay vì giảm xuống sáu mươi phút? Tại sao không tắt bớt một nửa dàn đèn quang hợp ở các khay đậu lùn khi chúng đang nằm trong pha tối sinh học? Tại sao cứ mỗi khi có khủng hoảng, thứ đầu tiên mà các người nghĩ đến để đem ra hiến tế trên bàn thờ an toàn luôn luôn là nghiên cứu khoa học? Tại sao chúng ta lại hèn hạ đến mức sẵn sàng tự chọc mù đôi mắt của chính mình trước vũ trụ?"
"Bởi vì Phòng Ranh Giới không chỉ là câu chuyện về ba trăm watt điện, An Khuê. Nó là một quả bom nổ chậm về mặt cấu trúc," một giọng nói trầm lặng bất ngờ vang lên từ phía sau.
An Khuê khựng lại, sững sờ quay sang nhìn Luísa.
Nhà địa chất người Brazil vẫn ngồi bất động trước bàn làm việc, hai bàn tay buông thõng trên đùi. Đôi mắt thâm quầng của cô nhìn An Khuê với một vẻ đau đớn và bất lực sâu sắc.
"Luísa... đến cả cô mà cũng nghĩ như vậy sao?" Giọng An Khuê chùng xuống, xen lẫn một nỗi thất vọng tê tái.
"Tôi xin lỗi, An Khuê. Thật lòng tôi vô cùng xin lỗi," Luísa khẽ thở dài, một tiếng thở dài nặng nhọc như thể phải trút bỏ một gánh nặng quá sức. Cô với tay chạm vào màn hình địa chấn, phóng to vùng ranh giới tiếp giáp giữa đế băng cổ và lớp nước lỏng đại dương.
"Tôi phải nói sự thật dựa trên các định luật cơ học đá băng, dù sự thật đó có tàn nhẫn đến đâu. Hãy nhìn vào vết nứt phiến Cổ Thạch này. Phòng Ranh Giới được xây dựng ngay trên mặt trượt kiến tạo của một đới đứt gãy cổ. Sau trận động băng bảy phẩy tám độ vừa qua, toàn bộ khối băng vòm bao bọc xung quanh mô-đun đã bị rạn nứt cấu trúc nghiêm trọng cấp độ bốn. Lý do duy nhất khiến nó chưa bị bẹp dúm như một vỏ đồ hộp rỗng trong những ngày qua là vì có sự cân bằng tạm thời giữa áp suất thủy tĩnh của đại dương bên ngoài và áp suất khí nén bên trong mô-đun."
Luísa chuyển sang biểu đồ vector lực triều: "Nhưng khi chu kỳ nhật triều Laplace đạt đỉnh trong mười ngày tới, biên độ biến dạng trượt tại đáy giếng sẽ lên tới bốn centimet. Bốn centimet đối với một khối vỏ hợp kim chịu áp là một con số khổng lồ! Nếu chúng ta tiếp tục duy trì Phòng Ranh Giới ở trạng thái hoạt động, chúng ta bắt buộc phải duy trì nhiệt độ sưởi và áp suất khí bên trong. Chính điều đó sẽ tạo ra một gradient nhiệt - cơ học cực kỳ nguy hiểm giữa thành khoang ấm và khối băng nền âm hai mươi độ C xung quanh."
Luísa ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt An Khuê: "Nó giống như một vết nứt trên kính chắn gió của một chiếc xe đang chạy giữa bão tuyết: bên trong càng sưởi ấm, vết nứt sẽ càng bị xé toạc nhanh hơn dưới ứng suất nhiệt! Nếu trần băng đáy sụp đổ, khối băng hàng nghìn tấn sẽ nghiền nát Phòng Ranh Giới trong một phần nghìn giây. Nhưng điều kinh khủng nhất là: nước biển dưới áp suất tám trăm atmosphere sẽ tràn vào giếng Borealis như một mũi tên nước khổng lồ! Một làn sóng xung kích thủy lực sẽ dội ngược lên theo phương thẳng đứng dọc theo đường ống dẫn, thổi bay toàn bộ hệ thống van cách ly B-Zero, và xé toạc tầng hầm kỹ thuật của chính chúng ta! Lúc đó, không chỉ là mất điện, mà toàn bộ Trạm Borealis sẽ bị nhấn chìm và nghiền nát từ bên dưới!"
Những lời phân tích lạnh lùng, chuẩn xác đến từng chi tiết vật lý của Luísa như một gáo nước băng tạt thẳng vào lồng ngực đang sục sôi của An Khuê.
Cô đứng chết trân. Chiếc chìa khóa vonfram trong tay cô bỗng trở nên nặng nề như một khối đá tảng.
Căn phòng một lần nữa rơi vào sự tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn lại tiếng rít gió khe khẽ của hệ thống thông khí. Hóa ra, đằng sau quyết định tàn nhẫn của Amara và sự quyết liệt của Ingrid không chỉ là sự kiệt quệ của ba trăm watt điện năng. Nó là một mối đe dọa cơ học hiện hữu, một hàm răng băng khổng lồ đang chực chờ nghiến nát tất cả nếu họ sơ suất duy trì một ốc đảo ấm áp nhân tạo giữa lòng vực thẳm.
An Khuê lùi lại nửa bước, lưng cô chạm vào gờ kim loại lạnh ngắt của bảng điều khiển phụ. Một cảm giác cô độc sâu sắc, lạnh buốt và hoang hoải xâm chiếm toàn bộ tâm trí cô.
Năm con người. Năm bộ óc ưu tú nhất được Trái Đất lựa chọn kỹ lưỡng, bị nhốt chặt trong một chiếc lồng kim loại chôn sâu ba cây số dưới lòng băng của một mặt trăng chết chóc. Và giờ đây, bốn người trong số họ—những người đồng đội đã cùng cô vào sinh ra tử—đang nhìn cô bằng ánh mắt của những người thực tế, những người đang cố gắng hết sức để cắt bỏ một phần cơ thể đã hoại tử nhằm bảo toàn mạng sống cho phần còn lại.
Chỉ còn lại một mình cô đứng về phía đại dương sâu thẳm.
Nhưng An Khuê biết, và linh cảm của một nhà khoa học mách bảo cô rằng, nếu cô buông tay lúc này, cánh cửa nối liền nhân loại với bí mật vĩ đại nhất của sự sống trong hệ Mặt Trời sẽ khép lại vĩnh viễn. Con tàu cứu hộ Umoja phải mất bốn trăm mười chín ngày nữa mới có thể đến được quỹ đạo Europa. Và khi một trạm nghiên cứu mới được cấp ngân sách và xây dựng lại ở nơi này—nếu loài người còn đủ dũng khí và tài nguyên để quay lại sau một thất bại thảm khốc—thì vết nứt này, Cánh đồng Gương Sống này, có thể đã bị chôn vùi vĩnh viễn dưới hàng trăm mét băng trôi kiến tạo.
"Đủ rồi."
Tiếng nói của Amara vang lên, không lớn nhưng dứt khoát như một nhát búa gõ xuống đe thép.
Vị chỉ huy bước chậm rãi từng bước đến giữa khoảng trống trung tâm, nơi vòng tròn tranh luận vừa diễn ra gay gắt. Cô đứng thẳng lưng, che chắn khoảng không gian giữa An Khuê và Ingrid. Ánh mắt màu nâu sẫm của người phụ nữ Kenya quét qua từng khuôn mặt, tĩnh lặng và thấu suốt.
"Kịch bản Bảo tồn Tài nguyên Cấp ba là một quy trình kỹ thuật phòng vệ bắt buộc phải được thiết lập," Amara nói, giọng cô không vương một chút giận dữ, chỉ có sự điềm tĩnh sắt đá của người nắm giữ vận mệnh tối cao của nhiệm vụ. "Tôi không công khai nó để chúng ta xâu xé lẫn nhau, chỉ trích lẫn nhau là hèn nhát hay liều lĩnh. Tôi công khai nó vì sự minh bạch tuyệt đối là nguyên tắc sống còn số một của Trạm Borealis. Chúng ta không giấu giếm hiểm họa, và chúng ta không đưa ra những quyết định sinh tử trong bóng tối của sự thỏa hiệp ngấm ngầm."
Amara quay người sang phía An Khuê, ánh mắt dịu lại một phần nhưng nét nghiêm nghị vẫn không hề suy suyển:
"An Khuê, tôi hiểu chính xác những gì cô đang cố gắng bảo vệ bằng cả trái tim mình. Mười năm trước, chính tôi là một trong những người đã đặt bút ký vào bản đệ trình nhiệm vụ thám hiểm đại dương Europa trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại Geneva. Tôi không bao giờ xem Phòng Ranh Giới hay con tàu Nereid là những thứ tài sản có thể tùy tiện hy sinh một cách dễ dàng. Nhưng Ingrid nói hoàn toàn đúng: một trạm nghiên cứu khoa học không thể tồn tại nếu không còn những con người sống sót để vận hành nó. Và Luísa cũng không hề sai: các định luật địa chất và cơ học băng không có trái tim, chúng không bao giờ biết rung động trước sự kỳ diệu của sinh học ngoài Trái Đất."
"Vậy rốt cuộc... cô vẫn sẽ đặt bút ký lệnh niêm phong nó sao?" An Khuê siết chặt các ngón tay quanh chiếc chìa khóa vonfram, cạnh kim loại sắc nhọn cắm sâu vào da thịt đau nhói.
"Tôi chưa ký," Amara đáp gọn lỏn.
Câu trả lời ngắn ngủi ấy khiến bầu không khí trong phòng khựng lại một nhịp. Ingrid khẽ giật mình cau mày, bờ môi mỏng mím chặt định lên tiếng can thiệp, nhưng Amara đã dứt khoát giơ một bàn tay lên, ngăn chặn mọi lời phản đối trước khi chúng kịp thốt ra.
"Kịch bản Cấp ba đã được kích hoạt trên hệ thống giám sát tải tự động của Mây," Amara tiếp tục, ánh mắt cô dời lên biểu đồ chu kỳ nhật triều đang nhấp nháy trên cao. "Nhưng các chốt kích nổ thermite cơ học tại cửa ngăn B-Zero vẫn đang được khóa an toàn ở chế độ chờ kép. Đợt triều cường hấp dẫn Laplace sẽ đạt đỉnh cực đại sau đúng mười ngày nữa. Đó là thời điểm ứng suất trượt của mảng Cổ Thạch chạm mức giới hạn chịu đựng cao nhất, và cũng là lúc chúng ta biết chắc chắn liệu bộ trao đổi nhiệt của lò Kifaru có thể sống sót qua cơn co thắt này hay không."
Amara bước thêm một bước, áp sát lại gần An Khuê, hạ thấp giọng xuống nhưng từng âm tiết phát ra đều rành rọt như khắc vào thép:
"Tôi đặt ra cho cô một thời hạn tối hậu, An Khuê. Mười ngày. Chính xác là hai trăm bốn mươi giờ đồng hồ, tính từ giây phút này."
An Khuê ngẩng cao đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt kiên định của người chỉ huy: "Thời hạn để làm gì, thưa cô?"
"Để chứng minh cho tôi, cho Ingrid, cho Luísa, và cho Phân ban Kỹ thuật Darmstadt thấy rằng: việc giữ cho Phòng Ranh Giới mở cửa và duy trì sợi cáp quang nối với Nereid mang lại một giá trị sống còn trực tiếp cho sự tồn vong của chính Trạm Borealis," Amara tuyên bố, từng lời nói đanh thép vang vọng khắp căn phòng.
"Tôi không cần những luận điểm triết học cao siêu về vị thế của nhân loại trong vũ trụ. Tôi không cần những giả thuyết lãng mạn về những xung ánh sáng chưa được giải mã ngoài kia. Cô phải chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm cứng, có thể đo đạc và kiểm chứng được: hoặc là hoạt động sinh học của Cánh đồng Gương Sống cung cấp cho chúng ta một cơ chế cảnh báo sớm các cơn địa chấn chính xác hơn mạng cảm biến của Luísa; hoặc là cô và Ren tìm ra một giải pháp tối ưu hóa năng lượng triệt để để Nereid tiếp tục hoạt động mà không cần tiêu tốn một watt điện sưởi nào từ mạng lưới của trạm; hoặc là cô chứng minh được các nhịp quang học đó có liên hệ nhân quả trực tiếp với các luồng nhiệt dịch đáy biển có khả năng giúp chúng ta ổn định lại nhiệt độ nền của giếng khoan."
Amara dừng lại một nhịp, ánh mắt cô trở nên lạnh lùng và tàn nhẫn đến thấu xương:
"Nếu sau mười ngày nữa, cô không đưa ra được những bằng chứng khoa học có thể kiểm chứng độc lập và đạt chuẩn độ tin cậy thống kê với giá trị p nhỏ hơn không phẩy không không một; hoặc nếu bất kỳ lúc nào trong mười ngày này, công suất lò Kifaru sụt giảm năm phần trăm và đẩy trạm vào nguy cơ đóng băng... Tôi sẽ đích thân nhập mã chỉ huy, xoay chiếc chìa khóa này và bấm nút kích hoạt quy trình niêm phong. Cửa B-Zero sẽ bị nổ nhiệt để hàn chết vĩnh viễn. Phòng Ranh Giới sẽ bị cắt điện hoàn toàn. Và sợi cáp của Nereid sẽ bị bỏ lại dưới đáy băng sâu. Không có ngoại lệ. Không có tranh cãi thêm một giây nào nữa."
Sự im lặng bao trùm lấy căn phòng sau tối hậu thư tàn khốc của vị chỉ huy. Đó là một canh bạc sinh tử được vạch ra trên lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết.
"Mười ngày..." Ren khẽ lẩm bẩm, anh đưa bàn tay lành lặn lên xoa cằm, ánh mắt đăm chiêu nhìn vào khoảng không vô định. Các bánh răng tư duy của một kỹ sư robot bắt đầu quay cuồng.
"Để lập trình lại toàn bộ giao thức truyền dẫn tín hiệu và hệ thống quản lý năng lượng của Nereid, chúng ta sẽ cần tối thiểu ba mươi sáu giờ làm việc liên tục. Nhưng nếu... nếu tôi có thể viết lại một mô-đun phần mềm thích ứng quang học mới, biến các cảm biến hình ảnh CMOS của Nereid thành các bộ khuếch đại photon đơn lẻ theo chu kỳ tích phân nano-giây, chúng ta có thể tắt hoàn toàn cụm đèn chiếu sáng LED công suất cao của tàu ngầm. Nereid sẽ hoàn toàn 'nhìn' trong bóng tối thụ động. Điều đó có thể cắt giảm được khoảng tám mươi watt điện tải tiêu thụ tại đáy biển..."
An Khuê liếc nhìn Ren, một tia hy vọng mong manh, run rẩy vừa nhen nhóm bùng lên trong lồng ngực cô. Người kỹ sư Nhật Bản đã rút chiếc máy tính bảng cá nhân ra khỏi túi thắt lưng, những ngón tay anh bắt đầu lướt thoăn thoắt trên màn hình tinh thể, phác thảo những sơ đồ mạch điện sơ bộ.
"Ren, đừng vội vàng hứa hẹn những điều anh chưa từng chạy thử nghiệm trên mô hình mô phỏng áp suất cao," Ingrid lập tức lên tiếng cảnh báo.
Tuy nhiên, giọng vị bác sĩ trưởng đã dịu đi phần nào trước quyết định dứt khoát, công bằng nhưng không kém phần tàn nhẫn của Amara. Bà khẽ thở dài, nhìn An Khuê bằng một ánh mắt vô cùng phức tạp—vừa có sự bất đắc dĩ của một người bảo hộ, vừa có sự thương cảm nghiêm nghị của một người mẹ nghiêm khắc trước đứa con bướng bỉnh nhưng tài năng.
"Mười ngày, An Khuê," Ingrid nhấn mạnh từng chữ, giọng bà chùng xuống. "Và hãy nhớ cho kỹ điều này: trong mười ngày đó, cô vẫn phải hoàn thành một trăm phần trăm định mức chăm sóc Vườn Thủy Canh, thu hoạch đúng giờ mẻ mầm đậu luân phiên để bổ sung vitamin cho phi hành đoàn, và kiểm tra nồng độ nitơ trong bể men bốn giờ một lần. Nếu các cảm biến sinh trắc học báo về rằng cô ngất xỉu vì kiệt sức hoặc hạ đường huyết, tôi sẽ lập tức sử dụng quyền hạn y tế tối cao để tiêm thuốc an thần và cách ly cô ngay tại Y xá, bất kể thời hạn mười ngày của Amara còn lại bao nhiêu giờ."
"Tôi hiểu rõ điều đó, bác sĩ," An Khuê đáp, giọng cô đã lấy lại được sự điềm tĩnh sắc lạnh, vững vàng của một nhà nghiên cứu khoa học thực nghiệm đối diện với một bài toán sống còn. "Tôi chấp nhận thời hạn mười ngày."
"Rất tốt," Amara gật đầu dứt khoát. "Mây, thiết lập đồng hồ đếm ngược công khai trên phân vùng điều hành của An Khuê và kênh hiển thị chung: hai trăm bốn mươi giờ. Khóa toàn bộ các ngưỡng kích hoạt của Kịch bản Cấp ba ở chế độ chờ lệnh kép, yêu cầu xác nhận thủ công bằng chìa khóa vật lý từ tôi và Sĩ quan Giám sát Tài nguyên."
"Đã tiếp nhận chỉ thị chỉ huy," giọng nói của Mây vang lên đều đặn. "Đồng hồ đếm ngược đã được kích hoạt. Thời gian còn lại: hai trăm ba mươi chín giờ, năm mươi chín phút, năm mươi giây... bốn mươi chín giây..."
Không một ai trong phòng nói thêm lời nào nữa. Cuộc họp giải tán trong sự tĩnh lặng nặng nề và u uất.
Ingrid bước tới, nghiêm khắc thúc giục Amara và Ren rời khỏi trung tâm điều hành để quay trở lại khu sinh hoạt, bắt đầu bài tập phục hồi chức năng và truyền dịch bắt buộc theo phác đồ điều trị bức xạ. Luísa khẽ thở dài một tiếng thật khẽ, rồi cúi rạp người xuống bàn làm việc, đắm chìm vào các mô hình tensor ma trận ứng suất biến dạng của các tầng băng, chuẩn bị đón đầu đợt thủy triều khắc nghiệt nhất trong năm của Sao Mộc.
Từng người một lần lượt rời khỏi phòng qua cánh cửa áp suất trượt. Tiếng xì hơi giảm áp khẽ vang lên rồi tắt lịm.
Trung tâm Điều hành Mây dần dần vắng bóng người, chìm vào sự cô tịch tuyệt đối, chỉ còn lại một mình An Khuê đứng trơ trọi giữa không gian ngập tràn sắc hổ phách chói gắt và nhức nhối.
Cô chậm rãi ngước mắt nhìn lên tấm sơ đồ trạm ba chiều khổng lồ đang treo lơ lửng giữa không trung. Ở điểm sâu nhất, xa xôi nhất của cấu trúc ấy, Phòng Thí nghiệm Ranh Giới vẫn đang nhấp nháy một vệt sáng đỏ rực rỡ như một vết thương hở—một mục tiêu đã bị đánh dấu để sẵn sàng hy sinh, một ốc đảo tri thức đang đếm ngược từng ngày trước khi bị vùi dập vĩnh viễn vào lòng băng giá.
Sợi dây tín hiệu mảnh mai màu lam nhạt nối từ nó xuyên qua hơn hai nghìn mét đá băng nứt nẻ, cắm thẳng vào màn đêm đen kịt, câm lặng và vô tận của đại dương ngầm Europa. Ở nơi vực thẳm xa xôi ấy, con tàu nhỏ bé Nereid đang cô độc trôi dạt trong làn nước lạnh căm âm một phẩy tám độ C, kiên nhẫn căng những cảm biến quang học thụ động để lắng nghe từng nhịp đập bí ẩn, từng hơi thở lân tinh của một thế giới xa lạ đang tồn tại song song với loài người.
Chiếc đồng hồ đếm ngược kỹ thuật số ở góc trên cùng của màn hình lạnh lùng nhảy từng giây một cách vô tình: *239:58:12... 239:58:11... 239:58:10...*
An Khuê từ từ đưa tay vào túi áo ngực, những ngón tay cô siết chặt lấy chiếc chìa khóa hợp kim vonfram. Hơi lạnh buốt sắc nhọn của kim loại nhanh chóng thấm qua lớp vải bọc mỏng manh, truyền thẳng vào da thịt, buốt nhức đến tận xương tủy nhưng lại mang đến cho cô một sự tỉnh táo kỳ lạ.
Nhìn tấm sơ đồ trạm với vệt đỏ bao trùm Phòng Ranh Giới, An Khuê hiểu rằng cô chỉ còn vài tuần để chứng minh giá trị của đại dương.