Bề mặt của thần Jupiter
Màn hình kiểm tra trục nâng rung lên từng hồi thô bạo khi hình ảnh truyền về từ robot trinh sát trên bề mặt đột ngột biến thành một khối tuyết nhiễu trắng xóa, chao đảo điên cuồng dưới luồng hạt tích điện mật độ cao phóng ra từ từ quyển Sao Mộc.
Âm thanh rè rè kéo dài của hiện tượng tĩnh điện dội qua hệ thống loa âm trần tại Trung tâm Điều hành Mây, khô khốc và buốt nhói, hệt như tiếng cát thạch anh bị nghiền vụn rồi cọ xát dữ dội vào màng nhĩ. Hồ An Khuê nheo mắt, hơi thở cô vô thức ngưng lại khi quan sát đường cong đo đạc thông lượng hạt ion hóa trên bảng giám sát trắc viễn đa phổ: một đỉnh nhọn màu đỏ thẫm vút lên gần như thẳng đứng, xé toạc ngưỡng cảnh báo an toàn mười lũy thừa chín electron trên mỗi centimet vuông trong một giây. Từng dải sóng phụ biến dạng, co giật như những sợi cơ bị sốc điện trước khi sụp đổ thành một đường thẳng nằm ngang vô hồn.
"Mất tín hiệu telemetry từ trinh sát REC-04," giọng nói trung tính, phẳng lặng đến lạnh lùng của AI Mây vang lên trong không gian nén khí của phòng điều khiển ngầm. Bản hòa âm đều đặn của cỗ máy không hề gợn chút cảm xúc, đối nghịch hoàn toàn với sự căng thẳng đang bóp nghẹt bầu không khí xung quanh. "Bộ đệm ngoại vi không phản hồi lệnh ping chu kỳ mười mili-giây. Dòng rò rỉ tại cổng logic bán dẫn CMOS của vi điều khiển vượt quá mười hai ampe. Trạng thái: đánh thủng điện môi thác lũ."
Ren Ishikawa đập mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn làm việc bọc kim loại. Tiếng va chạm kim khí vang lên chát chúa, khiến các khớp ngón tay vốn còn đơ cứng sau chuỗi ngày dài chịu đựng nhiệt độ thấp trong khoang máy khẽ co rút lại vì đau buốt. Anh nghiến răng, giật mạnh bảng chẩn đoán phần cứng sang màn hình phụ bằng một cú quét thô bạo. Trên sơ đồ mạch điện tử của REC-04, từng cụm linh kiện vi xử lý tuần tự đổi từ sắc xanh an toàn sang những vệt chéo đỏ lòm nhấp nháy liên hồi báo hiệu cái chết nhiệt.
"Mạch bán dẫn chống bức xạ cấp ba chế tạo bằng hợp chất gali nitrit cũng bị nung chảy," Ren gầm gừ trong cổ họng, giọng anh khản đặc và cay đắng như ngậm phải tro tàn. "Con robot chỉ vừa mới bò ra khỏi mép ngoài cửa sập trục nâng, chưa kịp chạm một ngón cơ khí nào vào chân đế đài xoay Kepler. Bão hạt của gã khổng lồ khí ngoài kia đã biến nó thành một đống phế liệu nung chín chỉ trong chớp mắt."
An Khuê bước lại gần bàn điều khiển chính, những ngón tay thon mảnh lướt nhẹ trên màn hình theo dõi điện tích cảm ứng bề mặt. Từ độ sâu hơn ba kilômét dưới vòm băng vĩnh cửu của Europa, trạm Borealis được che chắn tuyệt đối khỏi vành đai bức xạ chết chóc của Sao Mộc. Khối băng nghìn mét kết tinh từ hàng triệu năm địa chất đóng vai trò như một tấm khiên thụ động hoàn hảo, nuốt chửng mọi dòng tia gamma, bẻ gãy mọi chùm proton năng lượng cao trước khi chúng chạm được tới các khoang sinh hoạt ngầm. Nhưng ngay trên bề mặt hoang vu và câm lặng kia, thế giới lại là một thực tại hoàn toàn khác: đó là một lò vi sóng nguyên tử khổng lồ không có rào chắn. Từ quyển khổng lồ của Sao Mộc quét qua không gian hàng triệu hạt mang điện mỗi giây, cuốn theo những dòng plasma rực lửa có khả năng xé toạc mọi liên kết tinh thể nhạy cảm, biến những hợp kim siêu bền nhất thành vật dẫn đoản mạch trong tích tắc.
"Đài Bề mặt Kepler hiện tại thế nào, Mây?" Amara Njoroge lên tiếng.
Giọng cô vang lên từ phía sau, trầm và chắc, mang sức nặng ghìm giữ toàn bộ căn phòng không chao đảo theo cơn hoảng loạn ngầm. Vị chỉ huy người Kenya đứng tựa lưng vào mép bàn điều hướng trung tâm, hai bàn tay đan chặt trước bụng. Cơn co thắt vi mạch não cục bộ và chuỗi ngày dài thiếu ngủ triền miên vẫn in hằn dấu vết rõ rệt thành những quầng xám sâu thẳm dưới mắt cô, gò má hốc hác làm nổi bật khung xương hàm góc cạnh. Thế nhưng, ánh nhìn toát ra từ đôi mắt đen sâu ấy vẫn giữ nguyên sự sắc lạnh, tỉnh táo đến mức nghẹt thở—thứ ý chí thép đã giúp trạm Borealis cầm cự qua vụ nổ lò phản ứng Kifaru và những trận nứt băng chấn động tầng sâu.
AI Mây lập tức kích hoạt cụm máy chiếu ba chiều giữa phòng, dựng lên mô hình không gian của cụm thiết bị đặt trên mặt băng: "Ăng-ten chính parabol đường kính ba mét đã bị gãy khớp cầu định vị trong trận động băng bảy phẩy tám độ Richter, hoàn toàn mất khả năng xoay bám theo quỹ đạo Trái Đất. Ăng-ten phụ mảng pha băng thông thấp hình nón vẫn nguyên vẹn về mặt vật lý, nhưng góc phương vị đang bị lệch bốn mươi mốt độ so với đường chân trời và lệch mười tám độ góc tà. Chốt khóa an toàn thủy lực bị kẹt cứng ở vị trí mở một phần do dầu silicon đông đặc ở âm một trăm sáu mươi độ C. Động cơ bước điều khiển từ xa đã cháy cầu chì bảo vệ. Không thể tự căn chỉnh tự động."
"Nói cách khác," Ren nói, ánh mắt dời khỏi màn hình chẩn đoán cháy khét, đảo qua Amara rồi dừng lại trên gương mặt trầm ngâm của An Khuê, "chúng ta có một chiếc loa vô tuyến còn dùng được, nhưng nó đang chĩa thẳng vào một khe nứt vô tri trên nền băng thay vì hướng về phía Trái Đất. Và nếu không có bàn tay người cầm cờ-lê trèo lên khung giàn, bẻ chốt cơ học rồi dùng sức đẩy đĩa phản xạ quay bốn mươi mốt độ về tọa độ dự kiến, đài Kepler sẽ mãi mãi câm lặng."
"Cáp quang bọc giáp lên đài bề mặt đã đứt lìa ở độ sâu tám trăm mét từ đợt động băng," An Khuê nhắc lại dữ kiện thực tế nghiệt ngã bằng chất giọng trầm ổn nhưng không giấu nổi sự căng thẳng, ngón tay cô bất giác siết chặt chiếc chìa khóa vonfram dùng cho tủ kỹ thuật đang đeo bên hông. "Sợi quang thụ động dự phòng luồn theo trục thang nâng hàng là sợi duy nhất còn kết nối trạm với cụm phát Kepler. Nếu không xoay được ăng-ten phụ để phát tín hiệu dẫn đường cho tàu Umoja và gửi điện báo nén về Darmstadt, chúng ta sẽ là những bóng ma trôi dạt dưới ba ngàn mét băng mà Trái Đất không hề hay biết còn sống hay đã chết."
"Nhưng đưa con người lên bề mặt vào lúc này chẳng khác nào đưa thịt sống vào lò phản ứng trần," Luísa Carvalho cắt ngang, giọng cô dứt khoát và đanh thép khi vừa bước nhanh vào từ hành lang áp suất nối với Phân khu Địa chấn Guará.
Cô ôm theo một tập tài liệu bản ghi quang phổ từ trường cùng bảng phân tích dữ liệu quỹ đạo vệ tinh còn thơm mùi mực in cảm nhiệt. Mái tóc xoăn sẫm màu của nhà địa vật lý người Brazil buộc vội sau gáy bằng một chiếc kẹp nhựa giản đơn, để lộ vầng trán lấm tấm mồ hôi dù nhiệt độ phòng luôn được khống chế ở mức mười tám độ C. Đôi mắt nâu của cô rực lên sự căng thẳng tột độ của một người làm việc với những con số tuyệt đối—những con số không chấp nhận sự thỏa hiệp hay lòng dũng cảm mù quáng.
"Dòng bức xạ ion hóa trên bề mặt lúc này đang ở mức mười lăm đến hai mươi Gray mỗi giờ," Luísa trải mạnh tập tài liệu xuống mặt bàn, ngay cạnh mô hình ba chiều của Mây. "Một bộ đồ áp suất chuyên dụng thông thường chỉ giảm được tối đa ba mươi phần trăm lượng thông lượng hạt mang điện tích xuyên thấu. Con người bước chân ra đó sẽ nhận liều chết người chỉ trong vòng chưa đầy mười lăm phút. Phù não do tia xạ, suy tủy cấp tính, xuất huyết nội mạc. Đó không phải là một chuyến công tác kỹ thuật, Amara, đó là một vụ hành quyết bằng hạt hạ nguyên tử."
"Tôi biết điều đó, Luísa," Amara bình thản đáp lại. Giọng cô hạ thấp xuống một tông, không hề có sự gắt gỏng, nhưng mang theo sức nặng ngàn cân của một tảng đá ngầm dưới đáy biển sâu. "Nhưng chúng ta không có mười bốn tháng để ngồi yên chờ đợi trong im lặng. Tàu Umoja đang bay theo quỹ đạo quán tính Hohmann. Nếu không nhận được xung vô tuyến định vị chuẩn pha từ đài Kepler trong cửa sổ giao hội tháng này, máy tính dẫn đường của Umoja sẽ mặc định trạm Borealis đã bị hủy diệt toàn phần, kích hoạt đốt động cơ đổi hướng để chuyển sang quỹ đạo bay lướt thoát ly hệ Sao Mộc nhằm bảo toàn khoang hồi hương. Khi đó, chúng ta sẽ chết đói dưới này trước khi có bất kỳ chuyến tàu cứu hộ nào khác được phóng đi."
Cả phòng điều khiển rơi vào một khoảng lặng đặc quánh như chì. Tiếng rù rì trầm thấp, đơn điệu của hệ thống tuần hoàn chất tải nhiệt từ tàn tích lò phản ứng Kifaru vọng qua vách hợp kim dày ba lớp, nghe như nhịp tim cơ học nặng nề của một sinh vật kim loại khổng lồ đang hấp hối dưới lòng đất. Không ai nói thêm lời nào, bởi lẽ mọi người đều hiểu sự tàn nhẫn của phép tính sinh tồn ngoài rìa Hệ Mặt Trời: giữa cái chết chắc chắn sau một năm cạn kiệt tài nguyên và cái chết trong chớp mắt vì phóng xạ, ranh giới chỉ là một sợi chỉ mỏng manh.
Luísa hít một hơi thật sâu để nén lại nhịp thở dồn dập. Cô đặt tập dữ liệu xuống, dùng hai đầu ngón tay lướt mạnh trên giao diện cảm ứng lớn: "Tôi không bảo chúng ta bỏ cuộc, Amara. Tôi nói là chúng ta không thể bước ra ngoài một cách mù quáng. Hãy nhìn vào dữ liệu từ quyển này."
Những vệt sáng xanh lam và vàng kim bừng lên trên mặt bàn phẳng khi Luísa vẽ lại quỹ đạo chuyển động thực của Europa quanh Sao Mộc. Quả cầu khổng lồ với những dải mây màu caramen và đỏ gạch hiện ra ở trung tâm mô phỏng, bao bọc xung quanh bởi một vành đai từ quyển phình to hình bánh donut—dòng plasma xích đạo dày đặc các ion lưu huỳnh và oxy năng lượng cao bắt nguồn từ những miệng núi lửa phun trào điên cuồng của vệ tinh Io lân cận.
"Europa chuyển động trên quỹ đạo với chu kỳ ba phẩy năm lăm ngày," Luísa giải thích, mắt cô sáng lên những vệt phản chiếu từ biểu đồ cơ học thiên thể phức tạp. "Từ quyển của Sao Mộc quay cùng tốc độ tự quay của hành tinh—khoảng chín giờ năm mươi lăm phút một vòng. Điều đó có nghĩa là từ quyển liên tục quét qua Europa từ phía sau như một chiếc chổi khổng lồ tích điện. Tuy nhiên, mặt phẳng xích đạo từ của Sao Mộc bị nghiêng gần mười độ so với mặt phẳng quỹ đạo của các vệ tinh Galilei."
An Khuê tiến lại gần hơn, ánh mắt chăm chú dõi theo đường cắt hình sin mềm mại mà Luísa vừa dựng lên cắt ngang qua mặt phẳng quỹ đạo: "Góc nghiêng từ trục tạo ra sự dao động của vành đai plasma?"
"Chính xác," Luísa gật đầu mạnh, liếc nhìn An Khuê với ánh mắt tràn đầy sự tán thưởng đối với một khối óc kỹ thuật nhạy bén. "Vành đai hạt mang điện không hề cố định trên một mặt phẳng cứng. Nó uốn lượn lên xuống theo chu kỳ gần mười tiếng như một dải lụa bị gió thổi. Khi Europa đi qua điểm nút quỹ đạo, nơi mặt phẳng từ quyển bị uốn cong lên cực bắc, bề mặt bán cầu hướng về phía trước của Europa sẽ trượt vào một vùng thưa hạt mang điện—một 'cửa sổ bóng bức xạ' tự nhiên sinh ra do tương tác cảm ứng giữa đại dương mặn dẫn điện dưới chân chúng ta và từ trường biến thiên."
"Cửa sổ đó kéo dài bao lâu?" Amara hỏi ngay lập tức, đôi mắt cô không rời khỏi điểm giao cắt trên đồ thị.
"Chính xác năm mươi phút," Luísa nhấn mạnh từng từ, gõ đầu ngón trỏ mảnh mai lên mặt kính màn hình. "Trong năm mươi phút đó, mật độ dòng ion hóa sụt giảm chín mươi sáu phần trăm. Suất liều hấp thụ giảm từ mười lăm Gray mỗi giờ xuống còn dưới ba mươi mili-Sievert mỗi giờ. Sau năm mươi phút, mép dưới của vành đai plasma Io sẽ quét ngược trở lại. Bất kỳ ai còn đứng trên bề mặt lúc đó sẽ bị nướng chín bởi dòng proton và electron relativistic."
Cánh cửa trượt kim loại ngăn cách hành lang y tế với phòng điều khiển mở ra với một tiếng xì hơi nén sắc nhọn. Bác sĩ Ingrid Solberg bước vào, trên tay là bảng theo dõi liều lượng bức xạ tích lũy cá nhân của từng thành viên trong phi hành đoàn. Gương mặt người phụ nữ Na Uy lạnh như một tảng băng trôi vùng Svalbard, từng nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu sự kiệt quệ sau những đêm dài phẫu thuật cấp cứu công nhân rò rỉ nhiệt.
"Tôi đã nghe toàn bộ cuộc tranh luận qua kênh nội bộ," Ingrid nói, giọng bà sắc bén và dứt khoát như một nhát dao mổ rạch qua bầu không khí ngột ngạt. "Và trên cương vị sĩ quan y tế trưởng của trạm Borealis, câu trả lời ban đầu của tôi là một chữ 'Không' tuyệt đối."
Bà bước thẳng đến trước mặt Amara, xoay mặt bảng theo dõi điện tử về phía vị chỉ huy: "Liều lượng tích lũy của toàn trạm sau sự cố rò rỉ làm mát Kifaru và các ca can thiệp kỹ thuật trong khoang máy đã đẩy mọi người đến sát giới hạn an toàn nghề nghiệp của COSPAR. Đặc biệt là cô, Amara. Co thắt mạch não tiền đình của cô chưa hề ổn định, lưu lượng máu thùy trán phải vẫn đang phụ thuộc hoàn toàn vào thuốc giãn mạch vi mô liều cao. Đưa một cơ thể đang có tổn thương thần kinh cục bộ vào môi trường bức xạ ion hóa và chân không là một hành vi tự sát có tính toán."
"Chúng ta không có lựa chọn an toàn tuyệt đối nào ở độ sâu này, Ingrid," Amara đáp lại, ánh mắt không hề né tránh người đồng nghiệp lâu năm. Giọng cô trầm tĩnh lạ thường, như thể mọi nỗi sợ hãi cá nhân đã bị đốt sạch trong những ngày đen tối nhất của Borealis. "Nếu không có đài Kepler, cái chết sẽ đến sau bốn trăm ngày nữa bằng sự cạn kiệt calorie và suy sụp hệ thống tuần hoàn sinh học, chậm chãi và chắc chắn. Bước ra bề mặt là một canh bạc có xác suất sống sót; ngồi yên dưới này là một bản án tử hình có hoãn thi hành."
Ingrid siết chặt quai kim loại của bảng điều khiển, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì lực ép. Bà nhìn chằm chằm vào Amara, ánh mắt giao nhau giữa hai người phụ nữ kiên cường nhất của trạm ngầm tạo nên một áp lực vô hình khiến An Khuê và Luísa đều nín thở. Rồi Ingrid chầm chậm chuyển ánh nhìn sang Ren, người đang đứng khoanh tay dựa vào khung bàn máy tính. Căn phòng im ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng quạt gió làm mát khay vi mạch của Mây rít lên nhè nhẹ.
"Nếu tôi chấp thuận chuyến EVA này," Ingrid cất lời, từng từ ngữ như được cân đo tỉ mỉ trên bàn cân cơ học, "nó phải tuân thủ ba điều kiện không thể thương lượng. Thứ nhất: giới hạn thời gian tuyệt đối ngoài cửa sập trục nâng là bốn mươi lăm phút—rút ngắn năm phút so với cửa sổ của Luísa để làm biên an toàn cơ học dự phòng. Đến phút thứ bốn mươi lăm, dù công việc xong hay chưa, hai người bắt buộc phải quay vào buồng khóa áp suất. Thứ hai: liều phơi nhiễm bức xạ tích lũy cá nhân trong chuyến đi không được vượt quá hai mươi lăm mili-Sievert. Cảm biến liều kế trên vai áo sẽ khóa tự động; nếu chạm mốc hai mươi tư phẩy năm, nhiệm vụ dừng ngay lập tức. Thứ ba: Amara không được đi một mình."
"Tôi sẽ đi cùng Amara," Ren lên tiếng ngay lập tức, không một phần nghìn giây ngập ngừng.
Nụ cười hài hước quen thuộc của người kỹ sư cơ khí gốc Tokyo biến mất hoàn toàn, thay vào đó là sự nghiêm cẩn sắt đá của một người hiểu rõ từng thớ kim loại dưới tay mình.
"Đài Kepler là do tôi bảo trì định kỳ trước thảm họa," Ren nói tiếp, bước lên một bước đứng song song với Amara. "Tôi biết vị trí từng con ốc, từng chốt hãm thủy lực và độ cứng của hợp kim dưới cái lạnh âm một trăm sáu mươi độ. Một mình Amara sẽ không đủ lực cơ học để bẻ khóa chốt kẹt trong trọng lực không phẩy một ba bốn g. Nếu cô ấy cố dùng sức một mình, phản lực sẽ hất văng cô ấy khỏi sàn thao tác."
Amara nhìn Ren một thoáng, một thoáng rung động rất khẽ lướt qua đôi mắt mệt mỏi của cô, rồi cô gật đầu dứt khoát: "Được. Ren và tôi sẽ đi. An Khuê giữ quyền điều phối trạm từ Trung tâm Điều hành, duy trì giám sát lò phản ứng và chuẩn bị đường truyền quang học nối tầng. Luísa giám sát từ quyển và đếm ngược cửa sổ bức xạ. Ingrid quản lý vi trắc y tế."
"Cửa sổ bóng bức xạ tiếp theo sẽ mở ra sau đúng ba mươi tám phút nữa," Luísa thông báo, mắt dán chặt vào đồng hồ đếm ngược quỹ đạo đang nhấp nháy sắc vàng.
"Hai người có hai mươi phút để mặc đồ bảo hộ," Ingrid nói, giọng bà đanh lại nhưng ẩn chứa một sự lo lắng sâu sắc. "Đến phòng khóa áp suất trục nâng ngay."
***
Áp lực trong bộ đồ không gian chuyên dụng dùng cho bề mặt Europa rít lên khi van điều áp tự động bắt đầu bơm đầy hỗn hợp khí oxy-nitơ ở áp suất bốn mươi kilopascal vào từng khoang vải áp lực.
An Khuê đứng bên cạnh giá treo hỗ trợ bằng thép không gỉ, hai tay thoăn thoắt giúp Amara siết chặt các khớp khóa bằng hợp kim titan ở cổ tay và bắp chân. Bộ đồ áp suất này không hề giống những bộ đồ EVA mềm dùng trên quỹ đạo Trái Đất hay mặt trăng của Địa Cầu; nó thực chất là một pháo đài di động nhiều lớp được thiết kế riêng cho địa ngục băng giá của hệ Sao Mộc. Lớp trong cùng là khung làm mát bằng mạng lưới ống silicon dẫn chất lỏng, tiếp theo là lớp kín khí bằng màng polyurethane gia cường sợi carbon, lớp sợi aramid chống xé rách do các cạnh dăm băng sắc nhọn như dao cạo, và ngoài cùng là lớp composite polyme tẩm boron cùng bột chì siêu mịn nhằm hấp thụ và phân tán các hạt proton năng lượng cao.
"Áp suất buồng ngực ổn định ở bốn mươi kilopascal," An Khuê vừa kiểm tra van ngực của Amara vừa ngẩng lên nhìn qua lớp kính mũ bảo hiểm mạ vàng phản quang nhiều lớp. "Chỉ số lưu lượng oxy: không phẩy bốn lít một phút. Thuốc giãn mạch vi mô của chị vẫn duy trì hiệu lực trong bốn giờ tới. Nhưng Amara, chị phải hứa với em: nếu xuất hiện bất kỳ cơn rung giật cơ nào ở cánh tay phải, chị phải buông dụng cụ ngay lập tức. Đừng cố chấp."
Amara mỉm cười nhẹ sau lớp kính chắn mạ vàng, nét mặt cô dưới ánh đèn huỳnh quang phòng thay đồ có vẻ nhợt nhạt hơn thường lệ, nhưng đôi mắt đen sâu thẳm vẫn vững chãi như bàn thạch: "Tôi không bao giờ đánh cược mạng sống của Ren và sự an nguy của trạm vào sự cố chấp vô lý, An Khuê. Giữ vững nguồn điện cho máy tính Mây. Khi chúng tôi đẩy được đĩa ăng-ten vào tọa độ, sợi cáp quang dưới chân cô sẽ là thứ duy nhất truyền sự sống ngược lên bầu trời."
Ở ngăn treo đồ bên cạnh, Ren đang kiểm tra tỉ mỉ bộ túi dụng cụ cơ học gắn bên hông đai chịu lực Kevlar. Anh rút ra một chiếc cờ-lê lực cán dài bằng thép tôi mạ crom-vanadi sáng bóng, một ống kích nhiệt mini dùng hỗn hợp bột nhiệt nhôm, và hai bu-lông hãm dự phòng bằng hợp kim molypden đen tuyền.
"Không động cơ điện, không cảm biến áp điện siêu âm," Ren gõ nhẹ chiếc cờ-lê vào giáp đầu gối bằng composite, phát ra một tiếng *keng* đanh gọn và khô rốc. "Hôm nay chúng ta quay về thế kỷ mười chín. Chỉ có đòn bẩy, mô-men xoắn và cơ bắp loài người đối đầu với thần Jupiter."
"Mười phút nữa cửa sổ bóng bức xạ sẽ bắt đầu mở," giọng Luísa truyền qua tai nghe liên lạc nội bộ của bộ đồ không gian, vang lên đều đặn. "Mức thông lượng hạt mang điện đang hạ từ mười lũy thừa chín xuống mười lũy thừa bảy. Trục nâng hàng đã sẵn sàng tiếp nhận nhân sự."
Hai người nặng nề bước vào lồng thang nâng thẳng đứng—một trục giếng sâu hoắm xuyên qua ba kilômét băng nguyên thủy màu xanh thẫm, nối từ tổ hợp sinh hoạt ngầm kiên cố lên trạm quan sát khí tượng và đài liên lạc bề mặt. An Khuê đứng ở bảng điều khiển bên ngoài cửa kín, dõi mắt nhìn hai bóng hình đồ sộ màu trắng bạc lùi dần vào khoảng tối của buồng nâng qua lớp cửa thép dày nửa mét. Cô đặt bàn tay mang găng mỏng lên cần gạt khóa áp suất cơ học, hít một hơi thật sâu để lấp đầy lồng ngực đang run rẩy, rồi kéo mạnh cần gạt xuống vị trí khóa niêm phong.
"Khóa kín trục nâng. Bơm chân không sơ cấp bắt đầu hoạt động," An Khuê thông báo qua micro, giọng cô khẽ run nhẹ một thoáng ngắn ngủi trước khi lấy lại sự bình tĩnh chuyên nghiệp của một kỹ sư trưởng. "Chúc hai người may mắn. Chúng tôi chờ ở đầu dây cáp."
Thang nâng bắt đầu rùng mình chuyển động. Tiếng xích tải và cáp kéo nghiến ken két vào hệ thống ray trượt hợp kim vang lên trầm đục qua lớp băng xung quanh, rung rinh trong lồng ngực, rồi nhỏ dần, nhỏ dần khi buồng nâng vút thẳng lên trên theo phương thẳng đứng, bỏ lại trạm Borealis trong sự cô lập tuyệt đối dưới lòng sâu băng giá.
***
Cửa sập bề mặt mở ra với một luồng hơi tuyết thăng hoa phụt mạnh ra ngoài không gian, tan biến ngay tức khắc vào bóng tối chân không tuyệt đối.
Trọng lực yếu ớt không phẩy một ba bốn g khiến từng bước chân của Amara nhẹ bẫng một cách kỳ dị, cảm giác cơ thể như đang lơ lửng trên một lớp đệm lò xo vô hình. Đôi ủng từ tính nặng nề gắn các mấu đinh titan cắn phập vào lớp băng bề mặt gồ ghề, tạo nên cảm giác lạo xạo truyền ngược qua xương ống chân, rung lên tận khớp háng.
Khi ngẩng đầu lên, hơi thở của cả Amara và Ren đồng loạt nghẹn lại trong lồng ngực sau lớp mặt nạ dưỡng khí.
Đó không phải là một bầu trời. Đó là một vực thẳm đen đặc, sâu hoắm và vĩnh cửu của không gian liên hành tinh hoang vu, hoàn toàn vắng bóng những dải mây hay sắc xanh quen thuộc của khí quyển Địa Cầu. Không có bụi tán xạ ánh sáng, không có hoàng hôn hay bình minh, chỉ có những đốm sao sắc nhọn như những mũi kim đâm xuyên qua màng thị giác, lạnh lẽo và bất động giữa màn đêm vô tận.
Và ngự trị trên ba phần tư vòm trời đen đặc ấy là Sao Mộc.
Nó khổng lồ đến mức phi lý, một quả cầu khí vĩ đại choán ngợp toàn bộ tầm mắt con người, như thể một vị thần cổ đại đang cúi sát xuống từ cõi hư vô, đè bẹp sự tồn tại nhỏ nhoi của hai con người bằng một khối lượng áp chế đến nghẹt thở. Những dải mây màu hổ phách, màu kem và màu nâu đỏ cuộn xoáy thành những luồng xoáy hỗn loạn dữ dội, chuyển động chậm chạp nhưng mang theo sức mạnh cuồng bạo của hàng triệu cơn bão địa cầu gộp lại. Và ngay tại trung tâm của bán cầu hướng về Europa, Vết Đỏ Lớn đỏ rực như một con mắt quỷ khổng lồ không bao giờ chớp, rực lửa trong ánh sáng nhạt nhòa của Mặt Trời ở khoảng cách hơn bảy trăm triệu kilômét. Ánh sáng phản xạ từ Sao Mộc nhuộm cả một vùng băng hoang vu xung quanh thành một màu vàng cam ma quái, biến các sống băng trồi sụt thành những cái bóng đen kịt kéo dài vô tận về phía chân trời cong vút.
"Lạy Chúa tôi..." Ren thì thầm qua sóng vô tuyến tầm ngắn, giọng anh run rẩy qua màng micro. "Mỗi lần nhìn lên cái thứ này, tôi lại cảm thấy mình chỉ là một hạt bụi vô nghĩa sắp bị nuốt chửng."
"Đừng nhìn vào nó, Ren," giọng Amara vang lên, điềm tĩnh nhưng đanh thép qua kênh tai nghe. "Tập trung vào mặt đất. Đồng hồ đếm ngược đã chạy. Chúng ta có bốn mươi tư phút."
Bề mặt Europa dưới chân họ không hề bằng phẳng và láng mịn như một sân trượt băng nhân tạo. Hàng triệu năm chịu lực kéo thủy triều tàn bạo từ Sao Mộc và các vệ tinh anh em đã xé toạc, nghiền nát rồi hàn gắn lớp vỏ băng này vô số lần, tạo nên một cảnh quan hỗn loạn tột cùng: những gờ băng sắc nhọn như lưỡi lê nhô cao hàng mét, những rãnh nứt tối om không đáy chạy ngoằn ngoèo cắt ngang tầm mắt, và lớp tuyết bụi mịn kết tinh từ hơi nước thăng hoa phủ trên bề mặt trơn trượt đến mức một cú sảy chân có thể khiến người ta trượt dài xuống vực sâu không lối thoát.
Cách cửa sập trục nâng ba mươi mét là giàn khung của Đài Bề mặt Kepler.
Khung giàn bằng hợp kim titan ba chân đứng sừng sững trên một gờ đá băng nhô cao như một pháo đài cô độc. Đĩa parabol chính ba mét gãy gập sang một bên, nằm vặn vẹo như cánh của một con chim khổng lồ gãy gập trong bão tuyết. Nhưng phía dưới nó, gắn trên một trục khớp cầu phụ trợ kiên cố, ăng-ten mảng pha hình nón vẫn đứng vững, dù toàn bộ cụm xoay đang lệch hẳn về hướng Tây Nam, chĩa thẳng vào một rặng băng lởm chởm vô tích sự.
"Cảm biến liều kế ghi nhận mười hai mili-Sievert mỗi giờ," tiếng Luísa truyền lên từ loa trong mũ bảo hiểm, rành rọt và rõ ràng. "Cửa sổ bức xạ đang ổn định. Thông lượng hạt mang điện duy trì ở mức tối thiểu. Các bạn có bốn mươi hai phút."
"Đã tiếp cận chân giàn Kepler," Ren báo cáo, hai tay mang găng bảo hộ dày cộp bám chặt vào thanh giằng kim loại lạnh buốt. Nhiệt độ bên ngoài lúc này là âm một trăm sáu mươi lăm độ C. Ở ngưỡng nhiệt này, kim loại trở nên giòn hơn bao giờ hết, và lớp găng tay áp suất nhiều tầng khiến việc cảm nhận độ bám cơ học trở nên cực kỳ khó khăn.
Amara trèo lên bậc thang kỹ thuật trước, từng động tác được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ bụng và cơ đùi để tránh lực bật của vi trọng lực hất văng cô ra khỏi khung giàn kim loại. Ren trèo ngay phía sau, chiếc túi đồ nghề nặng trĩu đập nhịp nhàng vào hông anh.
Khi Amara vươn tay giữ lấy thanh giằng phía trên để nhấc người lên bệ đỡ ăng-ten, một gờ dăm băng sắc như thủy tinh nhô ra từ khớp nối kim loại đã cọ mạnh vào cẳng tay cô. Lớp vải bảo vệ bên ngoài phát ra một tiếng rẹt khô khốc truyền qua xương cánh tay.
Ren, lúc này đang ngửa đầu nhìn lên từ bậc thang dưới, lập tức nheo mắt qua lớp kính chắn: "Amara, dừng lại một giây! Cẳng tay trái của cô!"
Amara khựng lại, xoay cánh tay về phía ánh sáng hổ phách phản chiếu từ Sao Mộc. Lớp vải ngoài cùng bằng sợi aramid đã bị một vết rách dài khoảng mười centimet cứa thủng ngọt lịm, để lộ ra lớp polyme tẩm chì màu xám đậm bên dưới. May mắn thay, lớp kín khí bằng màng polyurethane chưa hề bị xuyên thủng; áp suất buồng ngực trên đồng hồ cổ tay vẫn giữ nguyên ở mức bốn mươi kilopascal.
"Chỉ xước lớp cách nhiệt bên ngoài, không mất áp," Amara bình tĩnh đáp, giọng cô không hề có lấy một gợn dao động. "Bộ đệm polyme vẫn nguyên vẹn. Tiếp tục nhiệm vụ. Chúng ta không có thời gian để vá đồ lúc này."
"Hiểu rồi," Ren nghiến răng trèo tiếp lên sàn thao tác bên cạnh cô. "Nhưng cẩn thận với mấy mảnh dăm băng đó. Ở nhiệt độ này, băng cứng không khác gì đá granit và sắc hơn dao cạo phẫu thuật."
Hai người đứng trên bệ thao tác hẹp chỉ rộng nửa mét, đối diện trực tiếp với khớp xoay của ăng-ten phụ.
Khớp cầu bằng thép không gỉ bị bao phủ bởi một lớp sương muối trắng nhờ và dầu bôi trơn đóng băng cứng ngắc như đá thạch anh. Chốt hãm cơ học—một thanh chốt trụ đường kính bốn mươi milimét bằng thép đặc—bị kẹt cứng ở góc chéo, chặn đứng hoàn toàn vành răng xoay phương vị.
"Đúng như chẩn đoán của Mây," Ren nói, rút chiếc cờ-lê lực cán dài ra khỏi bao đựng bên hông. "Chốt hãm thủy lực bị đông cứng khi đang mở dở dang trong trận động băng. Nếu không kéo nó ra, vành răng sẽ không thể nhúc nhích dù chỉ một milimét."
Anh tra đầu cờ-lê vào ốc hãm chân chốt, hai chân ghìm chặt vào đai giữ bằng vải Kevlar trên sàn thao tác. Dưới trọng lực 0,134 g, việc tạo ra mô-men xoắn là một cực hình vật lý: bất kỳ lực đẩy nào tác động lên cán cờ-lê cũng có xu hướng xoay ngược chính cơ thể người thực hiện theo chiều ngược lại nếu không có điểm tựa vững chắc.
"Amara, giữ chặt đai lưng của tôi!" Ren quát khẽ qua kênh vô tuyến nội bộ.
Amara vòng hai tay ôm chặt lấy khung đai an toàn sau lưng Ren, dùng trọng lượng toàn bộ cơ thể và đế ủng từ tính bám chặt vào mặt sàn để neo anh cố định xuống sàn giàn giáo.
"Một... hai... ba, kéo!"
Ren gồng toàn bộ cơ lưng, cơ vai và bắp tay, giật mạnh cán cờ-lê bằng tất cả sức lực. Khớp kim loại đông cứng không hề nhúc nhích dù chỉ nửa milimét. Một tiếng rít khô khốc, bất lực vang lên từ cơ cấu bánh cóc bên trong cờ-lê.
"Chết tiệt, dầu bôi trơn silicon đã hóa đá hoàn toàn!" Ren thở dốc, hơi ẩm từ hơi thở phả mờ một góc kính mũ bảo hiểm trước khi hệ thống sấy nhiệt tự động kịp làm khô bề mặt kính. "Nó hàn chết thanh chốt vào ống trượt rồi! Cờ-lê cơ học không thể bẻ gãy liên kết tinh thể này!"
"Dùng ống kích nhiệt," Amara ra lệnh ngắn gọn, dứt khoát.
Ren buông chiếc cờ-lê lực để nó tự do lơ lửng nhờ sợi dây an toàn nối vào cổ tay, với tay lấy một ống kim loại nhỏ bằng ngón tay cái từ túi ngực áo áp suất. Đây là ống nhiệt nhôm dùng một lần, chứa hỗn hợp bột nhôm và oxit sắt mịn, được thiết kế để tạo ra một xung nhiệt tập trung cực ngắn và dữ dội mà không sinh ra sóng nổ phá hủy kết cấu xung quanh. Anh cẩn thận gắn ống nhiệt trực tiếp vào thân chốt kẹt, kéo chốt an toàn cơ học rồi lùi lại nửa bước, nghiêng đầu che chắn kính mũ.
"Xung nhiệt kích hoạt trong ba... hai... một!"
Một tia sáng trắng chói lòa bùng lên ở khớp chốt, rực rỡ và gay gắt đến mức làm lu mờ cả ánh sáng từ Sao Mộc. Không hề có âm thanh nổ vang lên trong môi trường chân không, chỉ có một luồng nhiệt dữ dội làm tan chảy tức thì lớp dầu silicon đông cứng và sương muối, biến chúng thành một đám khói khí thăng hoa phụt thẳng vào không gian đen đặc. Kim loại phát ra tiếng lách tách giòn tan khi bị giãn nở nhiệt đột ngột.
"Ngay bây giờ!" Amara hét lên.
Ren chụp lại chiếc cờ-lê, vặn mạnh sang phải bằng một lực giật dứt khoát. Lần này, với lớp dầu đông đã bị nhiệt lượng nung lỏng và cấu trúc tinh thể bị phá vỡ, thanh chốt kim loại phát ra một tiếng *rắc* vang dội truyền qua kết cấu khung giàn kim loại. Con ốc xoay đi một phần tư vòng, rồi thanh chốt hãm từ từ tụt lùi ra khỏi vành răng định vị.
"Chốt hãm đã mở!" Ren reo lên qua kênh vô tuyến, giọng anh vỡ ra trong sự giải tỏa tột cùng. "Vành răng phương vị đã tự do!"
Dưới phòng điều khiển ngầm Borealis, An Khuê nghe thấy tiếng reo của Ren dội qua loa âm trần, cô siết chặt hai bàn tay trước ngực đến mức các đốt ngón tay đau nhức: "Luísa, tọa độ Trái Đất!"
"Góc phương vị: một trăm bốn mươi hai độ Bắc Đông Bắc," Luísa đọc nhanh qua micro, mắt không hề rời khỏi các thông số cơ học thiên thể đang nhảy múa trên màn hình. "Góc tà: ba mươi tư độ so với mặt phẳng chân trời cục bộ. Đó là vị trí chính xác của mạng lưới ăng-ten không gian sâu DSN tại Madrid trong ba giờ tới!"
"Đã nhận tọa độ," Amara đáp từ bề mặt hoang vu. "Ren, vào vị trí đẩy đĩa."
Khung ăng-ten mảng pha hình nón nặng hơn tám mươi kilôgam trên Trái Đất, nhưng trong trường hấp dẫn của Europa nó chỉ tương đương với khối lượng khoảng mười một kilôgam lực. Tuy nhiên, quán tính khối lượng của nó vẫn giữ nguyên vẹn tám mươi kilôgam. Để dịch chuyển một khối lượng như vậy trong không gian vi trọng lực mà không làm mất thăng bằng đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng tuyệt đối. Hai người đứng hai bên vành kim loại của ăng-ten, tì vai vào các thanh giằng chịu lực.
"Xoay theo chiều kim đồng hồ," Amara đếm nhịp thở. "Đẩy!"
Hai bộ đồ không gian gồng lên, từng thớ cơ bắp căng cứng dưới các lớp vải áp suất dày cộp. Vành răng khớp cầu nghiến ken két vào nhau, từng rãnh răng kim loại trượt qua nhau chậm chạp và nặng nề. Bụi băng đóng trong các khe kẽ bị lực ép nghiền vụn, rơi lả tả xuống sàn thao tác như những hạt kim cương nhỏ li ti lấp lánh phản chiếu ánh hổ phách ma mị của Sao Mộc.
Năm độ... mười lăm độ... ba mươi độ...
"Chậm lại!" tiếng An Khuê vang lên trong tai nghe của họ, khẩn trương và chính xác. "Mây đang nhận tín hiệu cảm biến góc qua sợi cáp quang dự phòng... Ba mươi tám độ... Bốn mươi độ... Bốn mươi mốt độ! Dừng lại! Giữ nguyên góc đó!"
"Đang giữ!" Ren thở hồng hộc, hai chân anh run lên bần bật vì lực cản quán tính của khối kim loại. "Amara, tra bu-lông hãm vào rãnh số hai!"
Amara rút chiếc bu-lông molypden màu đen tuyền từ đai hông, luồn ngón tay bọc giáp dày vào rãnh khóa cơ học hẹp bên dưới khớp xoay. Ở độ lạnh thấu xương này, độ khéo léo của các ngón tay giảm đi thảm hại, từng cử động nhỏ đều đòi hỏi sự tập trung cao độ của hệ thần kinh. Bàn tay phải của cô—nơi những cơn co thắt vi mạch tiền đình từng làm tê liệt các đầu dây thần kinh—bỗng khẽ giật một nhịp ngắn đầy nguy hiểm. Cảm giác tê rần chạy dọc từ bả vai xuống mu bàn tay. Amara cắn chặt môi dưới đến bật máu trong miệng, vị tanh nồng của máu giúp cô thức tỉnh ý chí, ép chặt các ngón tay ghìm lấy thân bu-lông và đẩy mạnh nó xuyên qua lỗ định vị trên vành răng xoay.
*Cạch.*
Bu-lông đã lọt trọn vào ngàm khóa.
"Ren, siết ốc!" Amara ra lệnh, giọng cô khàn đặc và đứt quãng vì kiệt sức.
Ren đưa đầu cờ-lê vào đai ốc bu-lông, siết từng vòng dứt khoát và chuẩn xác. Chiếc cờ-lê lực phát ra những tiếng *tách... tách... tách* giòn giã báo hiệu mô-men xoắn siết đã đạt ngưỡng một trăm hai mươi Newton-mét—đủ để khóa chết hoàn toàn vành đai ăng-ten trước mọi rung chấn địa chất thông thường của Europa.
Ngay khoảnh khắc chiếc bu-lông hãm cuối cùng được khóa cứng vào vị trí, một tiếng rít vô tuyến tần số siêu cao bất ngờ xé toạc kênh âm thanh của đài Kepler, dội thẳng vào màng nhĩ của An Khuê dưới phòng điều khiển ngầm.
Đó là âm thanh của mạch điện tử công suất cao vừa được tái lập liên kết vật lý.
Bộ tổng hợp tần số của đài Kepler, sau khi được kết nối thông suốt với sợi quang học từ trạm Borealis và xoay đúng góc đón sóng vô tuyến của Hệ Mặt Trời, bắt đầu tự động quét và đồng bộ pha dẫn đường với tín hiệu kiểm tra phát từ máy tính Mây. Tiếng rít the thé, dồn dập ban đầu từ từ hạ tông, chuyển hóa thành một chuỗi xung nhịp nhàng, tròn trịa và đều đặn như nhịp đập của một chiếc đồng hồ quả lắc điện tử đặt trơ trọi giữa cõi hư không.
"Đồng bộ pha hoàn tất!" An Khuê hét lên vào micro, cảm giác nghẹt thở đè nặng lồng ngực suốt gần một giờ qua vỡ òa thành một sự nhẹ nhõm run rẩy. "Ăng-ten phụ đã khóa cứng tọa độ Trái Đất! Băng thông dự phòng đạt chín mươi sáu kilobit mỗi giây!"
"Cảnh báo cấp một!" Giọng Luísa đột ngột vang lên, chói gắt và đầy khẩn cấp, cắt đứt niềm vui vừa kịp nhen nhóm trong phòng điều khiển. "Cửa sổ bóng bức xạ đang sụp đổ! Mép dưới vành đai plasma Io đang tràn xuống sớm hơn ba phút so với mô phỏng do một xung bộc phát từ trường cục bộ! Mật độ proton đang tăng vọt! Amara, Ren, hai người chỉ còn đúng năm phút để rút lui!"
"Rút lui ngay lập tức!" Amara không hề chần chừ dù chỉ một giây, nắm lấy đai vai của Ren giật mạnh về phía thang sắt. "Bỏ lại dụng cụ, xuống thang!"
Chiếc cờ-lê lực tuột khỏi tay Ren, rơi tự do trong trường trọng lực yếu ớt, va đập nhẹ vào sống băng lởm chởm bên dưới không một tiếng động rồi nằm lại vĩnh viễn trên nền băng hoang vu của Europa.
Hai người trượt vội xuống các bậc thang kỹ thuật bằng kim loại của giàn Kepler. Đôi ủng từ tính đập mạnh chan chát vào các thanh giằng, cả hai gần như nhảy từng bước dài ba mét qua địa hình gồ ghề đầy nguy hiểm của mặt băng để lao thục mạng về phía miệng cửa sập trục nâng.
Trên màn hình trắc viễn của An Khuê, đường cong bức xạ bắt đầu dựng đứng lên như một bức tường lửa vô hình không thể vượt qua. Mười mũ bảy... mười mũ tám... các hạt mang điện năng lượng cao từ từ quyển Sao Mộc đang điên cuồng quét qua bề mặt Europa như một trận bão cát nguyên tử vô hình cuốn phăng mọi sự sống.
"Liều kế cá nhân: mười tám mili-Sievert... hai mươi mốt mili-Sievert!" Ingrid thông báo dồn dập qua micro y tế, hai mắt dán chặt vào các chỉ số sinh tồn đang nhảy múa điên loạn. "Nhịp tim của Amara một trăm bốn mươi, huyết áp một trăm sáu mươi trên một trăm! Ren chạm ngưỡng hai mươi ba mili-Sievert!"
"Chúng tôi đã tới miệng cửa sập!" Tiếng Ren thở dốc qua radio ngập tràn tạp âm tĩnh điện trắng xóa do bão hạt bắt đầu gây nhiễu sóng tầm ngắn.
Amara dùng cả hai tay đẩy mạnh Ren tụt xuống thang nâng trước, rồi chính cô nhảy bổ vào lồng thang ngay sau đó. Bàn tay bọc giáp của vị chỉ huy chụp lấy cần gạt đóng cửa sập cơ học trên trần trục nâng, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể đu người kéo giật nó xuống.
Khối cửa thép dày nửa mét sập mạnh vào gioăng cao su chịu lực với một tiếng *khục* nặng nề, cơ cấu chốt khóa thủy lực bốn góc đồng loạt lao vào ổ khóa với tiếng kim loại va đập vang dội.
"Cửa sập bề mặt đã đóng hoàn toàn! Kích hoạt bơm xả khí tái lập áp suất!" An Khuê nhấn mạnh nút cưỡng chế khẩn cấp từ bảng điều khiển ngầm.
Đúng một giây sau khi chốt khóa ăn khớp hoàn toàn, cảm biến bức xạ gắn ngoài cửa sập vọt lên mức kịch trần: ba mươi lăm Gray mỗi giờ. Luồng bão hạt mang điện dữ dội từ từ quyển khổng lồ của Sao Mộc quét qua mặt băng bên trên, nướng chín lớp vỏ tuyết bề mặt thành một lớp ion hóa phát quang mờ mờ trong bóng tối vĩnh cửu. Nhưng bên dưới lớp cửa thép dày và ba kilômét băng bảo vệ kiên cố, áp suất trong lồng thang nâng đang tăng dần từ chân không lên bốn mươi kilopascal, đón hai bóng người kiệt sức trượt dần xuống lòng sâu của hành tinh băng.
***
Mười lăm phút sau, tại buồng giải tỏa áp suất ở đáy trục nâng, An Khuê và Ingrid lao tới đỡ lấy Amara và Ren khi lớp cửa thép trong cùng vừa trượt mở.
Mùi kim loại bị ion hóa nồng nặc, khét lẹt như mùi đá mài bốc ra từ các lớp vải composite của hai bộ đồ áp suất. Ren ngã ngồi bệt xuống sàn lưới thép, tháo phăng chiếc mũ bảo hiểm nặng nề ra, lồng ngực phập phồng hít lấy từng ngụm không khí ấm áp, ẩm ướt quen thuộc của trạm ngầm. Mái tóc đen của anh ướt sũng mồ hôi, bết chặt vào trán, gương mặt tái nhợt vì thiếu oxy nhưng khóe môi đã kéo lên thành một nụ cười mệt mỏi: "Tôi thề... nếu lần tới ai bảo tôi lên đó ngắm cảnh Sao Mộc... tôi sẽ nhét người đó vào máy ly tâm quay ba ngày ba đêm liên tục."
Ingrid không hề cười. Vị bác sĩ quỳ thụp xuống bên cạnh Amara, nhanh chóng tháo găng tay và quét đầu dò sinh học lên vùng cổ của vị chỉ huy. Đồng tử của Amara hơi giãn ra vì kiệt sức và căng thẳng thần kinh tột độ, nhưng nhịp tim đang chậm dần lại về mức an toàn, và quan trọng nhất: không có dấu hiệu xuất huyết mạch não hay co giật toàn thể.
"Liều tích lũy cuối cùng: hai mươi tư phẩy hai mili-Sievert cho Ren, hai mươi tư phẩy sáu cho Amara," Ingrid thở phào một hơi dài, giọng bà chùng xuống nhưng ánh mắt ngập tràn sự kính phục kín đáo dành cho hai con người vừa trở về từ cõi chết. "Cả hai người bị cấm bước chân ra khỏi khu sinh hoạt trong ít nhất ba mươi ngày tới. Đó là lệnh y tế tối cao không có ngoại lệ."
Amara tựa lưng vào vách hợp kim lạnh buốt của buồng khóa, khẽ nghiêng đầu nhìn sang An Khuê. Bộ đồ áp suất nặng nề vẫn bọc quanh người cô, vết rách trên cẳng tay trái để lộ lớp đệm chì xám xịt như một vết sẹo chiến trận vinh quang.
"Ăng-ten thế nào rồi, An Khuê?" Amara hỏi, giọng cô khàn đặc, khô khốc nhưng đôi mắt đen vẫn sáng rực một ngọn lửa bền bỉ.
An Khuê mỉm cười, giơ chiếc máy tính bảng cầm tay lại gần để vị chỉ huy có thể nhìn thấy rõ từng chi tiết trên màn hình.
Trên nền tối của giao diện điều khiển, một dải sóng vô tuyến hình sin màu xanh lục đang nhấp nhô nhịp nhàng, sắc nét và hoàn toàn sạch nhiễu. Bộ phát tín hiệu công suất thấp trên đài Kepler đang phát ra một chuỗi xung định vị nhịp một giây đều đặn, bền bỉ xuyên qua khoảng không gian lạnh lẽo của Thái Dương Hệ, hướng thẳng vào vùng trời nơi Trái Đất đang quay quanh Mặt Trời cách đó hàng trăm triệu cây số.
Trong sự tĩnh lặng nghẹt thở của buồng khóa áp suất dưới lòng sâu ba ngàn mét băng, tín hiệu dẫn đường từ đài Kepler kêu tích tắc yếu ớt; cánh cửa nối liền họ với nhân loại vừa hé mở một khe hở mong manh.