Quyền được phát một tia sáng
Trên màn hình trung tâm điều hành, đồ thị năng lượng trạm lần đầu tiên ghi nhận mức thặng dư ổn định 80 watt-giờ từ nhiệt dư của Kifaru, mở ra cánh cửa hẹp cho đề xuất phát sáng của An Khuê.
Đó là một dải màu xanh lục mỏng manh như một sợi tơ huỳnh quang, dao động khẽ khàng ở sát mép dưới của bảng phân phối tải điện chính, nép mình đầy khiêm nhường bên cạnh những cột công suất khổng lồ đỏ quạch dành cho hệ thống duy trì sự sống khép kín và các vòng gia nhiệt ngăn băng kết tinh bóp nghẹt lớp vỏ kép của trạm. Kể từ khi lò phản ứng Kifaru được ghìm lại ở mức công suất nền 35% sau biến cố quá nhiệt và mẻ rau mầm cải xoong đầu tiên của Vườn Bình Minh được cắt ngọn để bổ sung enzyme tươi cho khẩu phần dinh dưỡng kiệt quệ, đây là buổi sáng đầu tiên cán cân nhiệt động học của Trạm Ánh Sáng Europa thực sự nghiêng về phía có lợi cho năm con người đang nương náu nơi đây.
Tám mươi watt-giờ — một lượng điện năng bé nhỏ đến mức khó tin trong ký ức của bất kỳ ai từng sống dưới bầu trời Trái Đất. Ở quê nhà, nó chẳng đủ để thắp sáng một bóng đèn dây tóc kiểu cũ trong một buổi tối mùa đông, thậm chí không bằng năng lượng hao phí của một chiếc lò vi sóng chạy không tải. Nhưng giữa lòng địa ngục băng lạnh âm một trăm bốn mươi độ C của mặt trăng Galileo, dưới sức ép tàn nhẫn của khối kiến tạo trôi dạt và bức xạ chết chóc từ vành đai sao Mộc rền rĩ bên ngoài, con số tám mươi ấy là máu, là tủy xương, là biên độ sống còn mong manh được chắt chiu từ từng giọt hỗn hợp kim loại lỏng natri-kali đang âm thầm luân chuyển qua cuộn trao đổi nhiệt phụ cấp ba.
Sáu chiếc ghế tại Trung tâm Điều hành Mây đã được lấp đầy, dù chiếc ghế thứ sáu chỉ dành cho bảng hiển thị quang học tích hợp của trí tuệ nhân tạo.
Không gian bên trong khoang vòm hình bán cầu nén chặt thứ mùi ozone thoang thoảng phát ra từ các bo mạch vừa được hàn nguội bằng hợp kim thiếc-bạc, hòa lẫn với mùi ẩm xốp ngai ngái của đất mùn nhân tạo bám trên nếp gấp gấu áo bảo hộ dã chiến của An Khuê. Đó là thứ mùi của sự sống đang chật vật tự tái tạo sau thảm họa. Bầu không khí tĩnh lặng đến mức rợn ngợp; người ta có thể nghe thấy rất rõ tiếng rù rì trầm đục, đều đặn như nhịp thở của một con quái thú ngủ đông từ cụm tua-bin kín của Kifaru vọng qua ba lớp vách ngăn hợp kim titan bọc aerogel cách âm. Thỉnh thoảng, một tiếng *rắc* khô khốc lại truyền qua khung dầm chịu lực — âm vang từ sự co ngót của khối băng vỏ ngoài khi nhiệt độ biểu kiến trên bề mặt Europa dao động theo quỹ đạo quay quanh hành tinh mẹ.
An Khuê hít một hơi sâu, lồng ngực cô thắt lại dưới lớp áo lót nhiệt điện. Cô đưa bàn tay trái — nơi khớp vai vẫn còn hơi nhói buốt sau chấn thương từ đợt sập trần khoang kỹ thuật số hai tuần trước — chạm nhẹ vào mặt bàn cảm ứng trung tâm. Mặt kính thạch anh lạnh ngắt truyền một kích thích quen thuộc lên đầu ngón tay ráp mịn vì hóa chất khử khuẩn.
"Thưa Chỉ huy, thưa toàn đội," giọng An Khuê vang lên. Âm sắc của cô không lớn, nhưng bình tĩnh và chứa đựng một sức nặng đã được nén chặt qua hàng trăm giờ suy ngẫm trong bóng tối của phòng canh ly tâm. "Tôi chính thức đệ trình bản Giao thức Quang học Chủ động Vô trùng — mã dự án Borealis-Echo-01. Đây là văn bản kỹ thuật hoàn chỉnh đề xuất sử dụng cụm đèn LED đa sắc công suất thấp của tàu lặn không người lái Nereid để phát chuỗi xung ánh sáng chủ động xuống Cánh đồng Gương Sống ở độ sâu một trăm lẻ tám kilomet dưới mực nước biển ngầm."
Ngay khi ngón tay cô lướt qua biểu tượng kích hoạt tài liệu, giao diện do AI Mây kết xuất lập tức tái cấu trúc toàn bộ không gian hiển thị ba chiều phía trên mặt bàn.
Sơ đồ thiết kế tỷ lệ thực của tàu lặn Nereid hiện lên, xoay chậm rãi trong làn nước mô phỏng tối đen như mực. Điểm nhấn thị giác không nằm ở hệ thống cánh lái thủy động lực học hay các ống lấy mẫu trầm tích, mà tập trung tuyệt đối vào mảng đi-ốt phát quang thể rắn gắn theo hình vành khăn quanh vòm kính thạch anh chịu áp ở mũi tàu.
"Chúng ta đã ghi nhận những nhịp sáng 485 nanomét lặp lại quanh các cột trầm tích khoáng nhiệt dịch suốt mười hai chu kỳ quỹ đạo vừa qua," An Khuê tiếp tục, ánh mắt cô di chuyển chậm rãi, nhìn thẳng vào từng gương mặt đang ngồi quanh bàn tròn. "Nhật ký phân tích dữ liệu số 14-B do chính tôi lập đã chỉ ra rằng phần lớn các nhịp quang học chu kỳ 1,2 giây đó tương quan tới 91,4% với chu kỳ phun khí mê-tan và hydro sunfua từ các miệng thoát thủy nhiệt — một hiện tượng phát quang thụ động do xoáy von Kármán kích hoạt cơ học các phức hợp khoáng chất p-type khi dòng chất lỏng siêu tới hạn va đập vào vách đá. Tôi không quên điều đó. Tôi cũng không hề phủ nhận bài học cay đắng về thiên kiến nhận thức và xu hướng gán ghép trật tự nhân tạo vào những hiện tượng ngẫu nhiên mà bác sĩ Ingrid đã nghiêm khắc cảnh báo toàn đội."
Cô dừng lại một nhịp, chạm ngón tay sang trang tài liệu kỹ thuật kế tiếp, để các đồ thị phổ quang học và các đường cong áp suất thủy tĩnh hiển thị song song:
"Nhưng chúng ta cũng đã tận mắt chứng kiến qua ống kính của Nereid: vào chu kỳ quan sát ngày ba mươi mốt tháng trước, khi van phun nhiệt dịch số ba tắt ngấm hoàn toàn trong gần chín phút do sụt lún địa tầng cục bộ, ba xung độc lập cách miệng thoát mười lăm mét vẫn nhấp nháy trong bóng tối tuyệt đối. Khoảng cách giữa các xung, cường độ suy giảm và góc lệch chùm tia hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ dòng đối lưu cơ học nào. Tự nhiên vô cơ không tự ngắt mạch rồi chớp nháy cục bộ với độ lệch phương sai dưới 0,02 giây như vậy."
An Khuê ngẩng cao đầu, giọng cô trở nên dứt khoát hơn:
"Giao thức Borealis-Echo-01 được xây dựng trên nguyên tắc tối thượng: không tìm cách gây hấn, không thu thập cơ học xâm lấn, và trên hết, bảo đảm vô trùng tuyệt đối ở mức cao nhất theo Nghị định thư COSPAR Cấp năm dành cho các thiên thể nhóm IV-b. Chúng ta sẽ không xả bất kỳ phân tử hóa học đánh dấu nào vào cột nước. Chúng ta không giải phóng bất kỳ dòng điện rò rỉ nào qua vỏ bọc titan của tàu lặn. Và chúng ta tuyệt đối không chạm cơ học vào bất kỳ cấu trúc dạng phiến hay màng nhầy sinh học nào ở đáy biển. Tín hiệu duy nhất, phương tiện giao tiếp duy nhất được truyền đi giữa hai thế giới, chỉ là các hạt photon thuần khiết."
"Và cô định nói gì với chúng bằng những hạt photon đó, An Khuê?"
Giọng của Ingrid Solberg vang lên từ góc bàn bên phải. Âm thanh sắc lạnh, khô khốc và chính xác như một lưỡi dao mổ vừa bước ra khỏi lò hấp tiệt trùng áp suất cao.
Vị sĩ quan y tế trưởng kiêm giám sát viên an toàn sinh học của trạm không nhìn vào mô hình ba chiều rực rỡ của Nereid. Ánh mắt xanh thẳm, lạnh lùng của người phụ nữ Na Uy găm chặt vào khuôn mặt An Khuê. Dưới ánh sáng vàng nhạt của đèn trần công suất thấp, làn da của Ingrid tái đi vì thiếu ánh sáng tự nhiên kéo dài, nhưng tư thế ngồi của cô thẳng tắp, không để lộ một mi-li-mét chùng xuống nào của sự mệt mỏi.
An Khuê không hề né tránh ánh nhìn ấy. "Chúng ta không dùng ngôn ngữ của Trái Đất. Chúng ta không dùng sóng âm để tránh tạo ra sóng xung kích trong môi trường lỏng đậm đặc. Chúng ta không dùng mã Morse, không dùng tín hiệu nhị phân quy ước, và không áp đặt bất kỳ cấu trúc nhịp điệu sinh học nào bắt nguồn từ chu kỳ tim mạch hay sóng não của con người. Chúng ta sẽ phát chuỗi số nguyên tố: hai xung, nghỉ; ba xung, nghỉ; năm xung, kết thúc một chu kỳ. Khoảng cách giữa các xung đơn lẻ là đúng 0,5 giây. Thời gian nghỉ tĩnh lặng giữa các nhóm số là 3,0 giây. Bước sóng cố định ở mức 520 nanomét — dải màu xanh lục trung tính, lệch hoàn toàn khỏi dải phát quang tự nhiên 485 nanomét của các màng khuẩn lam đáy biển để triệt tiêu nguy cơ kích hoạt hiện tượng cộng hưởng sinh hóa thụ động."
Bản vẽ kỹ thuật trên màn hình hiển thị biểu đồ thời gian của chuỗi xung quang học: hai vạch sáng nhô lên sắc nhọn với biên độ được kiểm soát nghiêm ngặt, một khoảng lặng phẳng lỳ kéo dài ba giây, tiếp theo là ba vạch sáng đều đặn, lại một khoảng lặng, rồi năm vạch sáng nhấp nháy tuần tự. Mọi thứ được thiết kế tối giản, sạch sẽ, lạnh lùng và hoàn toàn mang tính toán học giải tích.
"Tại sao lại là số nguyên tố?" An Khuê tự đặt câu hỏi và tự mình trả lời trước toàn đội. "Bởi vì số nguyên tố không thể sinh ra từ bất kỳ quá trình thủy văn, ma sát cơ học, dao động áp điện của tinh thể thạch anh hay chu kỳ đối lưu nhiệt vô cơ nào trong tự nhiên. Nó là cấu trúc nền tảng của toán học vạn năng. Nếu bên dưới lớp băng dày ba cây số kia thực sự tồn tại một thực thể có tri giác, hoặc chỉ đơn giản là một mạng lưới sinh học tập hợp có tổ chức bậc cao, chuỗi số nguyên tố là bằng chứng phổ quát duy nhất chứng minh rằng nguồn phát ánh sáng này mang một chủ đích có ý thức."
Ngay khi âm tiết cuối cùng của An Khuê vừa dứt, Ingrid Solberg đã chống cả hai lòng bàn tay xuống mặt bàn kim loại, đẩy người đứng thẳng dậy.
Chiếc áo blouse dã chiến bằng sợi tổng hợp chống khuẩn của Ingrid cài kín mít đến tận cằm. Ngón trỏ tay phải của cô gõ nhịp đều đặn, khô khốc lên tập hồ sơ in nhiệt dày cộm đặt trước mặt — một thói quen cố hữu và đáng sợ mà bất kỳ ai trên trạm cũng biết: mỗi khi Ingrid bắt đầu gõ tập hồ sơ đó, nghĩa là cô đang chuẩn bị đưa ra những lý lẽ phản biện sinh tử.
"Một bài thuyết trình rất đẹp về mặt lý thuyết toán học thuần túy, An Khuê," Ingrid mở đầu. Giọng cô trầm, chậm rãi, từng âm tiết tiếng Anh được phát âm chuẩn xác với ngữ điệu Scandinavia không chút cảm xúc dao động. "Nhưng biển thẳm Europa không phải là tấm bảng đen trong một giảng đường vật lý thiên văn tại Heidelberg hay Tokyo để cô vẽ lên những phương trình duy mỹ. Nó là một bồn sinh thái nguyên thủy, một chiếc nôi hóa thạch sống đã tồn tại cô lập hoàn toàn dưới ba cây số băng vĩnh cửu trong suốt bốn tỷ năm qua. Bốn tỷ năm không một kẽ hở, không một tia bức xạ mặt trời nào chạm tới."
Ingrid đưa tay ra hiệu, AI Mây lập tức tuân lệnh, hạ mô hình Nereid xuống một góc và chiếu lên bảng hiển thị phụ chuỗi đồ thị sinh hóa tế bào phức tạp mà đội y tế đã phân tích từ mẫu nước thu hồi đợt trước.
"Cô gọi chùm photon của mình là 'vô trùng'," Ingrid tiếp tục, ánh mắt găm thẳng vào An Khuê như muốn lột trần từng giả định lý thuyết. "Nhưng cô đang cố tình phớt lờ tác động thứ cấp của năng lượng bức xạ điện từ đối với một hệ sinh thái tiến hóa trong bóng tối tuyệt đối kể từ thời kỳ Hỏa Thành. Ở áp suất hơn một trăm megapascal và nhiệt độ cận kề điểm đóng băng, các chuỗi enzyme oxy hóa khử của sinh vật biển sâu cực kỳ mỏng manh. Cấu trúc không gian của màng lipid kép ở đây không được gia cố bằng cholesterol như sinh vật bề mặt, mà dựa vào các liên kết hydro yếu ớt chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự cân bằng năng lượng vi mô của môi trường nước xung quanh."
Ingrid nghiêng người về phía trước, hai cánh tay chống vững như hai thanh chống thép:
"Cô định bắn một chùm photon nhân tạo vào khoảng không gian ấy. Cô có dám đặt cược mạng sống của chúng ta để khẳng định rằng bước sóng 520 nanomét không làm biến tính các sắc tố quang thụ cảm của quần thể sinh thái bản địa? Cô có dám chắc nó không kích hoạt các phản ứng stress oxy hóa cục bộ, phá vỡ thế cân bằng chuyển hóa mỏng manh của các màng sinh học bám quanh miệng phun, hay tệ hơn nữa, làm hoảng loạn một chuỗi thức ăn đáy biển mà chúng ta thậm chí còn chưa hiểu nổi cấu trúc bậc một của nó?"
Giọng vị bác sĩ đanh lại, từng lời rơi xuống nặng trĩu:
"Chúng ta đang sống sót ở đây nhờ vào cái gì, các bạn có nhớ không? Nhờ vào từng gram bột protein khô khốc thu hồi từ bể nấm men số một sau khi bể số hai bị nhiễm độc! Nhờ vào từng lít dưỡng khí quý giá mà bể tảo Spirulina vừa thoát chết sau sự cố sụt áp đang còng lưng tạo ra mỗi giờ! Toàn bộ tiền đồn này là một quả trứng mỏng manh đặt giữa hàm răng của một con thú dữ. Nếu hành động phát sáng của cô kích động một phản ứng dây chuyền sinh học tiêu cực dưới đáy giếng — một đợt bùng phát độc tố sinh học ngấm ngược lên cột nước, hoặc một sự thay đổi đột ngột trong cấu trúc lắng đọng khoáng chất làm nghẽn vĩnh viễn đường cáp — ai sẽ chịu trách nhiệm cho cái chết ngạt của năm con người ở tầng băng này?"
Không gian phòng điều hành chìm trong sự ngột ngạt. An Khuê có thể cảm nhận được ánh mắt của Ren và Luísa đang khẽ liếc qua mình. Ký ức về vụ tai nạn ở bể nấm men số hai vẫn còn là một vết sẹo tươi nguyên trong tâm trí cô — ngày mà chỉ vì một sai số nhỏ trong việc hiệu chuẩn màng lọc áp suất âm, nửa tấn sinh khối dinh dưỡng đã biến thành một khối bầy nhầy sủi bọt nhiễm khuẩn, đẩy cả trạm vào chế độ ăn thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt suốt bốn mươi ngày qua.
"Tôi hoàn toàn thấu hiểu mối lo ngại sâu sắc của bác sĩ Ingrid," An Khuê đáp, giọng cô hạ thấp nhưng giữ nguyên sự vững vàng của một nhà nghiên cứu đã tính toán đến tận cùng các biến số. "Đó chính là lý do tôi không chọn bước sóng 485 nanomét — đỉnh hấp thụ quang học của các phức hợp luciferin-luciferase đáy biển. Bước sóng 520 nanomét nằm trong vùng 'cửa sổ trơ' của phổ hấp thụ tế bào mà Nereid đã quét được qua phép đo quang phổ phản xạ khuếch tán. Mật độ quang thông tại điểm phát — tính từ bề mặt thạch anh của đèn — chỉ đạt mức 12 lumen trên một mét vuông, hoàn toàn tương đương với cường độ phát quang sinh học cực đại của chính các vạt khuẩn lam trong những đợt bùng phát nhiệt dịch mạnh nhất vào mùa triều cường sao Mộc. Chúng ta không hề bơm thêm năng lượng vào đại dương; chúng ta chỉ đang tái phân phối một lượng photon tương đương với mức nền tự nhiên mà đáy biển vẫn tiếp nhận từ các đợt giải phóng năng lượng địa nhiệt định kỳ."
"Nhưng lượng năng lượng đó tập trung vào một điểm hình học nhân tạo, mang tính định hướng cưỡng bức, chứ không phân tán đẳng hướng như tự nhiên!" Ingrid cắt ngang không thương tiếc. "Và hãy nói về điều thực tế nhất lúc này đi: ngân sách điện năng! Tám mươi watt-giờ thặng dư trên đồ thị kia là một món quà may mắn từ nhiệt dư của Kifaru, nhưng hãy nhìn lại xem nhánh ống làm mát sơ cấp của chúng ta đang ở tình trạng nào? Nó đang chạy bằng một đoạn ống dẫn phụ được gia cố chắp vá bằng sợi nanocellulose và nêm băng tạm bợ sau đợt rung chấn tuần trước!"
Ingrid xoay người, hướng thẳng sự chú ý sang Amara Njoroge, người vẫn đang ngồi bất động ở đầu bàn:
"Nếu lõi lò Kifaru dao động nhiệt dù chỉ nửa phần trăm; nếu máy nén thứ cấp bị kẹt van do cặn muối kim loại kiềm; nếu chúng ta cần chuyển đổi tải khẩn cấp trong đêm nay để sưởi ấm miệng giếng Borealis ngăn hiện tượng tái đóng băng bóp nát sợi cáp điều khiển — thì tám mươi watt-giờ đó chính là lằn ranh đỏ giữa việc giữ được sợi dây liên lạc với đáy biển hay mất trắng thiết bị Nereid vĩnh viễn! Tôi không thể ngồi đây nhìn ngân sách sống còn của trạm bị thiêu rụi cho một thử nghiệm triết học viển vông."
Ingrid hít một hơi sâu, hạ thấp hai bàn tay xuống mặt bàn, giọng cô chuyển từ chất vấn sang tuyên bố pháp lý dứt khoát:
"Với tư cách là Sĩ quan An toàn Sinh học và Y tế của Phái bộ Europa-3, tôi yêu cầu bổ sung hai điều khoản có tính chất bắt buộc vào văn bản đề án Borealis-Echo-01 nếu đề án này muốn được đưa ra biểu quyết. Thứ nhất: tổng công suất tiêu thụ tối đa của toàn bộ chu kỳ thí nghiệm phát sáng — bao gồm công suất của cụm đi-ốt LED, tổn hao nhiệt trên đường truyền cáp quang và năng lượng nuôi mạch dao động xung — tuyệt đối không được vượt quá 50 watt-giờ. Ba mươi watt-giờ thặng dư còn lại phải được khóa cứng và bơm thẳng vào khối pin đệm Tầng B như một biên độ an toàn bất khả xâm phạm cho hệ thống hỗ trợ sự sống. Thứ hai: thiết lập một cơ chế ngắt mạch cứng tức thời ở cấp độ phần cứng. Nếu các cảm biến nhiệt điện trở bạch kim tại đầu dò của Nereid ghi nhận nhiệt độ nước xung quanh vòm kính tăng vượt quá 0,05 Kelvin, hoặc nếu cảm biến nhấp nháy bức xạ phát hiện bất kỳ đột biến ion hóa bất thường nào trong bán kính hai mét, hệ thống phát quang phải tự động ngắt nguồn trong vòng mười mili-giây mà không cần thông qua sự phê duyệt của con người hay trí tuệ nhân tạo."
Ánh mắt Ingrid khóa chặt lấy An Khuê, sắc bén và không khoan nhượng.
An Khuê nhìn lại vị bác sĩ. Trong đôi mắt xanh mệt mỏi ấy, cô không nhìn thấy ác ý, không thấy sự bảo thủ cá nhân, mà chỉ thấy một bức tường thành bảo vệ sự sống được dựng lên bằng kỷ luật thép và sự cẩn trọng đến đau đớn. Ingrid là người đã từng thức trắng bốn mươi tám giờ liền bên lồng ấp sinh học, dùng chính máu của mình để nuôi cấy thử nghiệm huyết thanh chống sốc phản vệ cho Ren khi anh bị ngộ độc khí hydrazine. Sự nghiệt ngã của người phụ nữ Na Uy này chính là cái neo duy nhất giữ cho con tàu đắm mang tên Trạm Ánh Sáng không trượt dài vào vực sâu hỗn loạn.
"Tôi chấp nhận toàn bộ hai điều kiện của bác sĩ Ingrid," An Khuê nói, không một giây ngập ngừng. Cô hướng mắt lên trần khoang: "Mây, cập nhật ngay lập tức các thông số kỹ thuật vào tài liệu: giới hạn trần công suất toàn phần là 50 watt-giờ. Thiết lập ngưỡng ngắt mạch nhiệt độ delta-T ở mức 0,05 Kelvin, thời gian đáp ứng ngắt mạch cấp phần cứng tối đa mười mili-giây."
"Đã ghi nhận và tái cấu trúc các điều khoản cưỡng chế vào tài liệu đề án Borealis-Echo-01/Rev-2," giọng nói êm dịu, không mang âm sắc cảm xúc của AI Mây vang lên đều đặn từ dải loa ẩn dọc đường viền vách khoang.
"Chưa hết đâu, các cô gái," một giọng nói khác đột ngột cất lên, mang theo ngữ điệu Bồ Đào Nha nặng trĩu, dứt khoát và khô khốc.
Luísa Carvalho ngả lưng ra sau ghế, hai cánh tay rắn chắc khoanh chặt trước ngực. Ánh mắt của nhà địa chất học kỳ cựu người Brazil dán chặt vào mô hình địa tầng ba chiều của đới đứt gãy Cổ Thạch đang nhấp nháy những vệt màu đỏ thẫm trên góc màn hình riêng của cô. Luísa không hề liếc nhìn các biểu đồ quang học lộng lẫy của An Khuê; mối bận tâm duy nhất của cô trong suốt sáu tháng qua là khối băng khổng lồ đang oằn mình trên đầu họ.
"Nếu các cô chỉ mải mê tranh cãi về sinh học phân tử và vài watt điện rẻ mạt, các cô đang hoàn toàn quên mất khối băng ba cây số đang đè nghiến lên hộp sọ của chúng ta mỗi giây," Luísa nói, ngón tay trỏ gõ cồm cộp lên mặt bàn hợp kim titan. "Vết nứt trượt ngang ở độ sâu 2.014 mét bên trong giếng Borealis chỉ vừa mới tạm thời ổn định nhờ một nút thắt băng tái đông mỏng manh và sự cân bằng áp suất thủy tĩnh tạm thời giữa cột nước mặn và áp suất mao dẫn của khối băng tầng trung. Hiện tại, toàn bộ vỏ giếng Borealis không khác gì một ống dẫn sóng cơ học khổng lồ và cực kỳ nhạy cảm. Bất kỳ một biến động áp suất vi mô hoặc xung nhiệt đột ngột nào dưới đáy biển sâu đều có thể truyền ngược lên theo cột nước lỏng như một cú búa thủy lực."
Luísa chồm người về phía trước, hai mắt nheo lại đầy cảnh giác:
"Tôi không chống lại việc phát tín hiệu ánh sáng. Nhưng tôi có những điều kiện kỹ thuật mang tính sống còn của riêng ngành địa vật lý. Trong suốt toàn bộ thời gian Nereid kích hoạt chuỗi xung 2, 3, 5, hệ thống cảm biến đo xa của tàu lặn phải kích hoạt đồng thời hai kênh giám sát độc lập ở tần số quét cao nhất: kênh áp suất thủy tĩnh cục bộ với độ phân giải vi sai đạt mức microbar, và kênh đo dòng đối lưu nhiệt dịch vi mô xung quanh vòm kính quang học. Chúng ta phải bảo đảm một trăm phần trăm rằng năng lượng quang học phát ra — dù chỉ vài chục watt — không tạo ra bất kỳ hiệu ứng giãn nở nhiệt vi mô nào đủ sức kích thích các mạng vi nứt nẻ trong lớp băng đáy biển, hoặc nguy hiểm hơn gấp vạn lần: che lấp tín hiệu địa chấn cảnh báo sớm của đới đứt gãy Cổ Thạch."
Luísa hạ thấp giọng xuống một tông, mắt liếc nhanh qua biểu đồ dao động phổ nền của mạng địa chấn đáy biển:
"Dữ liệu đo xa truyền về cách đây mười phút từ trạm quan trắc phụ đáy giếng cho thấy có một dòng đối lưu nước ấm vi mô đang âm thầm hình thành gần chân cột khoáng số bốn. Nó rất yếu, biến thiên vận tốc dòng chảy chỉ khoảng vài milimét trên một giây, nhưng nó đang hiện diện ở đó. Nếu chuỗi xung ánh sáng của cô gây ra hiện tượng tán xạ nhiệt hoặc nhiễu loạn đối lưu, nó sẽ làm mù các cảm biến âm học của tôi. Tôi sẽ không thể phân biệt được đâu là biến động thủy triều tự nhiên do lực hấp dẫn của sao Mộc kéo giãn Europa, đâu là dấu hiệu của một đợt đứt gãy kiến tạo mới sắp xé toạc miệng giếng khoan. Mạng cảnh báo cáp sợi quang FBG kết hợp cảm biến áp điện PZT của tôi cần một môi trường âm học và nhiệt động hoàn toàn 'sạch' để tiếp tục giữ cho trạm này không bị bẻ đôi."
"Về mặt kỹ thuật thuần túy, Luísa hoàn toàn có thể yên tâm. Chuyện đó nằm gọn trong tầm tay của xưởng Tanuki," Ren Ishikawa lên tiếng.
Chàng kỹ sư trưởng người Nhật Bản phá tan bầu không khí căng thẳng nghẹt thở bằng một nụ cười khẽ, dù hai quầng thâm thẫm màu dưới mắt anh tố cáo chuỗi ngày dài mất ngủ vì phải liên tục rà soát từng mối hàn trong ống dẫn natri lỏng. Ren xoay chiếc bút cảm ứng bằng titan giữa các ngón tay gầy guộc, các khớp ngón vẫn còn hơi sưng đỏ và thô ráp do tiếp xúc với khí lạnh cực độ trong các đợt bảo trì khoang ngoài.
Ren bấm một tổ hợp phím tắt trên thiết bị cầm tay của mình. Lập tức, một sơ đồ mạch điện chi tiết ở cấp độ linh kiện bán dẫn được đẩy thẳng lên màn hình hiển thị trung tâm, đè lên các biểu đồ địa chấn của Luísa.
"Khi tôi nhận lệnh đại tu cụm mạch điều khiển quang học của Nereid để chuẩn bị cho phương án kết nối qua sợi cáp quang siêu bền của hệ thống Kim Luồn Tanuki, tôi đã lường trước việc chúng ta sẽ phải đối mặt với bài toán thắt lưng buộc bụng đến từng mili-watt này," Ren giải thích, đầu bút cảm ứng của anh vẽ một đường viền màu đỏ rực quanh cụm biến trở công suất và tầng tiền khuếch đại. "Mạch cấp nguồn cho dàn LED đa sắc không hề lấy điện trực tiếp từ thanh cái phân phối chính của tàu lặn. Tôi đã tự tay hàn chết một cặp đi-ốt Zener ổn áp công nghệ quân sự và hai điện trở hạn dòng bằng gốm kim loại chịu nhiệt cao vào ngay trước tầng khuếch đại công suất."
Ren ngẩng lên, nhìn thẳng vào Ingrid rồi quay sang Luísa với vẻ tự tin tuyệt đối của một bậc thầy cơ điện tử:
"Điều này có ý nghĩa gì trên thực tế? Nó có nghĩa là về mặt vật lý thuần túy, kể cả khi phần mềm lõi của Mây bị lỗi xung nhịp hệ thống, hay bộ vi xử lý trung tâm của Nereid bị một chùm tia vũ trụ năng lượng cao bắn xuyên qua gây chập mạch toàn phần, dòng điện thực tế chạy vào các đi-ốt phát quang cũng không bao giờ, trong bất kỳ kịch bản tận thế nào, có thể vượt qua ngưỡng 48,5 watt-giờ."
Anh mỉm cười, chỉ tay vào cụm linh kiện màu xanh lục trên sơ đồ:
"Đây là giới hạn cứng được bảo đảm bằng định luật Ohm và cấu trúc nguyên tử của vật liệu bán dẫn, thưa bác sĩ Ingrid. Không một dòng lệnh độc hại nào, không một lỗi phần mềm nào có thể ghi đè lên nó, trừ phi chính tay tôi lặn xuống đáy biển sâu ba cây số băng với một cái mỏ hàn nung đỏ để gỡ bỏ cặp đi-ốt Zener đó ra. Về mặt tiêu thụ năng lượng, Nereid sẽ ngoan ngoãn và tiết kiệm như một chú mèo con đang ăn kiêng. Thêm vào đó, để giải tỏa nỗi lo hoàn toàn chính đáng của Luísa về sóng xung kích âm học: tôi đã tích hợp một bộ đệm tụ điện phóng điện chậm. Thay vì bật tắt vuông thành sắc cạnh với sườn xung thẳng đứng kiểu tín hiệu số thô bạo — thứ có thể gây ra hiện tượng dãn nở nhiệt tức thời sinh ra sóng áp suất âm học trong môi trường nước đặc — các xung sáng 520 nanomét sẽ được điều chế với sườn dốc tăng và giảm mượt mà kéo dài đúng 15 mili-giây. Dạng sóng hình sin làm mềm này triệt tiêu hoàn toàn hiệu ứng quang - âm. Luísa, các cảm biến áp điện PZT siêu nhạy của cô sẽ êm ả đến mức thậm chí còn không nhận ra là cái đèn LED vừa nháy mắt ở cách đó mười mét."
Luísa chăm chú nhìn vào sơ đồ mạch của Ren, đôi lông mày rậm của cô khẽ giãn ra. Cô gật đầu một cái thật chậm: "Được rồi. Thiết kế phần cứng của anh rất sạch. Nhưng tôi vẫn sẽ giữ một ngón tay đặt sẵn trên nút ngắt kênh dữ liệu địa chấn. Nếu biểu đồ phổ dao động của mạng Guará nhảy vọt quá ba độ lệch chuẩn so với mức nền vi địa chấn, tôi sẽ tự tay giật cầu dao ngắt đường truyền quang mà không cần hỏi ý kiến ai."
"Một thỏa thuận hoàn toàn sòng phẳng," Ren cười khẽ, giơ ngón tay cái lên làm dấu hiệu đồng thuận.
Căn phòng điều hành lại rơi vào một khoảng lặng ngắn ngủi nhưng sâu thẳm.
Những cuộc tranh luận kỹ thuật nảy lửa đã lắng xuống, nhường chỗ cho một sự chờ đợi trang nghiêm. Bốn cặp mắt của các nhà khoa học — mang theo những trăn trở về sinh học, địa chất, cơ học và sinh tồn — đồng loạt chuyển hướng về phía đầu bàn tròn.
Nơi đó, Chỉ huy Amara Njoroge vẫn ngồi trầm ngâm suốt từ đầu buổi thảo luận.
Người phụ nữ Kenya không hề thay đổi tư thế. Cô ngồi thẳng, hai bàn tay đan vào nhau đặt trên mặt bàn, lưng tựa vững chãi vào thành ghế chỉ huy. Dưới ánh sáng màn hình hắt lên, gương mặt góc cạnh màu đồng hun của Amara hằn sâu những nếp nhăn mệt mỏi — dấu ấn của hàng trăm quyết định sinh tử mà cô đã phải gánh vác kể từ ngày thảm họa cắt đứt tuyến liên lạc trực tiếp với Trái Đất. Bàn tay phải của cô khẽ siết lại, kìm nén một cơn co giật nhẹ nơi cổ tay — di chứng của việc nhiễm độc kim loại nhẹ trong đợt sửa chữa van cứu hỏa lò phản ứng tuần trước.
Nhưng trong đôi mắt màu hạt dẻ sâu thẳm của Amara, người ta không tìm thấy bất kỳ dấu hiệu nào của sự hoang mang. Đó là ánh mắt của một hoa tiêu đã từng lèo lái những con tàu viễn dương vượt qua những cơn bão dữ dội nhất ở Mũi Hảo Vọng, một người hiểu rõ rằng sự do dự của người đứng đầu còn nguy hiểm hơn cả một vụ nổ áp suất.
"Mây," giọng Amara vang lên. Trầm, ấm, vang vọng và chứa đựng một uy quyền tự nhiên không cần lên gân. "Kích hoạt mô phỏng kịch bản rủi ro tích hợp toàn trạm."
"Rõ, thưa Chỉ huy," AI Mây phản hồi ngay tức khắc.
Hệ thống chiếu sáng của phòng điều hành tự động giảm độ rọi xuống ba mươi phần trăm để tối ưu hóa độ tương phản hình ảnh. Giữa không gian trung tâm, một khối hình cầu mô phỏng không gian ba chiều khổng lồ bùng nổ trong sắc màu hổ phách. Đó là mô hình toán học tích hợp biểu diễn toàn bộ trạng thái vật lý và sinh thái của Trạm Ánh Sáng Europa: từ lõi lò phản ứng Kifaru, mạng lưới ống dẫn natri-kali, khối pin đệm Tầng B, hệ thống tái sinh dưỡng khí ECLSS, cho đến giếng khoan Borealis xuyên qua ba cây số băng và vùng nước lỏng mênh mông bên dưới.
"Mô phỏng Monte Carlo với 100.000 kịch bản ngẫu nhiên đã hoàn tất trong 4,2 giây," Mây bắt đầu thuyết minh, đồ thị xác suất hội tụ lại thành một dải băng hẹp màu xanh lam đậm. "Dựa trên các tham số cưỡng chế kỹ thuật vừa được bổ sung vào Rev-2: công suất trần 50 watt-giờ, thời gian phát xung liên tục không vượt quá 45 phút cho mỗi phiên thử nghiệm, cơ chế ngắt mạch phần cứng ở ngưỡng delta-T 0,05 Kelvin, và mạng cảm biến địa chấn Guará khóa ở chế độ giám sát vi sai thời gian thực. Kết quả cho thấy: xác suất thử nghiệm quang học Borealis-Echo-01 kích hoạt hiện tượng giãn nở nhiệt gây nứt vỡ thứ cấp hoặc làm suy giảm độ bền cơ học của nút thắt băng tại giếng Borealis là 0,0004%."
Một cửa sổ phụ hiển thị biểu đồ thanh năng lượng nhảy múa bên cạnh mô hình lõi trạm.
"Về mặt năng lượng sinh tồn: việc trích xuất 50 watt-giờ từ nhiệt dư của Kifaru trong suốt chu kỳ phát xung không gây ra bất kỳ sự sụt giảm nào đối với tốc độ nạp định mức của khối pin dự trữ khẩn cấp Tầng B. Mức dự phòng năng lượng khẩn cấp của trạm vẫn được bảo toàn nguyên vẹn ở mức 100% theo đúng tiêu chuẩn an toàn của Sắc lệnh Bravo-Bốn. Các vòng tuần hoàn hấp phụ CO2 bằng tháp LiOH, hệ thống sưởi ấm khoang sinh hoạt ở 18,2 độ C và chu trình sục khí dinh dưỡng cho bể tảo Spirulina hoàn toàn nằm ngoài vùng ảnh hưởng của tải xung phát quang. Độ tin cậy tổng thể của mô hình đạt mức 99,92%."
Khối hình chiếu ba chiều thu nhỏ lại thành một đốm sáng lơ lửng, nhưng Mây không tắt giao diện mà mở thêm một cửa sổ tiến trình độc lập ở góc dưới bên trái — một chuỗi ma trận toán học đang tự động cuộn chảy với tốc độ chóng mặt.
"Để loại trừ hoàn toàn các sai số nhận thức chủ quan, hiện tượng ảo giác thị giác do căng thẳng thần kinh kéo dài hoặc xu hướng gán ghép quy luật ngẫu nhiên của não bộ con người," Mây tiếp tục bổ sung bằng chất giọng phẳng lặng hoàn hảo, "tôi đã thiết lập một mạng nơ-ron tích chập đa tầng chạy cô lập hoàn toàn trên phân vùng bộ nhớ lượng tử số ba. Thuật toán này sẽ tiếp nhận dữ liệu quang học phản hồi từ camera của Nereid theo thời gian thực, bóc tách tín hiệu bằng biến đổi Fourier nhanh và tính toán độ bất định thông tin theo entropy Shannon. Mọi phản hồi tiềm năng sẽ được đối chiếu song song với ngân hàng dữ liệu quang học tự nhiên của biển sâu. Mạng nơ-ron sẽ chỉ xác nhận có phản hồi có chủ đích nếu độ suy giảm entropy thông tin vượt qua ngưỡng tin cậy năm sigma."
An Khuê khẽ mím môi, một nụ cười thoáng qua trong đáy mắt. Lời nhắc nhở tinh tế nhưng lạnh lùng của Mây về những ảo giác quang học trong quá khứ không làm cô tự ái; ngược lại, nó mang đến cho cô một sự thanh thản kỳ lạ. Một giao thức khoa học chân chính không được phép xây dựng trên niềm tin cảm tính hay sự khát khao tuyệt vọng. Nó phải được thử thách qua những bộ lọc hoài nghi tàn nhẫn nhất của toán học và máy móc.
Amara đưa mắt nhìn qua từng hàng số liệu đang trôi trên màn hình. Cô im lặng trong một khoảng thời gian dài đến mức người ta chỉ còn nghe thấy tiếng quạt thông gió rì rào phía sau lưng ghế. Cuối cùng, cô đặt cả hai lòng bàn tay phẳng phiu lên mặt bàn kính.
"Chúng ta đã lắng nghe đầy đủ mọi khía cạnh của vấn đề," Amara cất tiếng, ánh mắt cô dừng lại trên từng thành viên trong đội ngũ của mình. "Chúng ta đã nghe về khát vọng khoa học và sự kiên định của An Khuê. Chúng ta đã nghe những lời cảnh báo sắc bén về an toàn sinh học và đạo đức tiếp xúc nguyên thủy từ Ingrid. Chúng ta đã có những giới hạn địa vật lý không thể nhân nhượng từ Luísa, giải pháp an toàn phần cứng mẫu mực của Ren, và những con số mô phỏng chính xác đến từng phần triệu của Mây."
Cô hơi nghiêng người về phía trước, giọng nói truyền đi một luồng uy lực tĩnh lặng nhưng lay động tâm can:
"Chúng ta không còn ở trên Trái Đất nữa. Chúng ta đang ở cách quê hương hàng trăm triệu cây số không gian trống rỗng, bị giam cầm dưới ba cây số băng vĩnh cửu, và con tàu cứu hộ Umoja — nếu mọi việc diễn ra hoàn hảo nhất — vẫn còn hơn bốn trăm ngày hành trình nữa mới có thể tiếp cận quỹ đạo Europa. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt này, sự sống còn của năm người chúng ta là mệnh lệnh tối thượng, là điều kiện tiên quyết cho mọi hành động."
Amara dừng lại, ánh mắt cô trở nên rực sáng lạ thường:
"Nhưng sinh tồn để làm gì? Nếu chúng ta chỉ biết co cụm trong những khoang hợp kim ẩm ướt này, nhai từng thanh protein khô khốc, đếm từng giọt nước tái chế và chờ đợi được giải cứu trong sự sợ hãi tột cùng; nếu chúng ta hoàn toàn từ bỏ lý do duy nhất khiến chúng ta dám bước lên tàu vũ trụ để bay đến tận rìa của hệ mặt trời — từ bỏ khát vọng nguyên thủy của loài người là tìm hiểu xem chúng ta có thực sự đơn độc trong đêm đen vô tận này hay không — thì sự sống sót đó, thú thực, cũng đã đánh mất đi một nửa ý nghĩa thiêng liêng nhất của nó."
Amara thu tay lại, nét mặt trở về vẻ trang nghiêm sắt đá:
"Tuy nhiên, chúng ta là những nhà khoa học dấn thân chứ không phải những kẻ liều mạng vô kỷ luật. Chúng ta sẽ không bao giờ đánh đổi mạng sống của đồng đội chỉ để thỏa mãn một sự tò mò bốc đồng. Căn cứ theo Quy chế Hoạt động Không gian Sâu của Liên minh Khoa học Quốc tế và nguyên tắc điều hành trạm trong tình trạng cô lập khẩn cấp Cấp ba, tôi quyết định đưa Đề án Borealis-Echo-01 ra biểu quyết kín. Mọi thành viên sẽ nhập quyết định của mình trực tiếp vào bảng cảm ứng cá nhân. Toàn bộ kết quả, cùng với nhật ký tham số kỹ thuật kèm theo, sẽ được mã hóa và lưu trữ vĩnh viễn vào hộp đen của nhiệm vụ."
Không khí trong phòng điều hành lập tức đông đặc lại như một khối băng vừa qua tôi luyện.
Không một ai mở miệng nói thêm một lời nào. Những ánh mắt rời khỏi nhau, hướng xuống mặt bàn cảm ứng trước mặt mình. Tiếng lách tách rất khẽ của các ngón tay chạm vào bề mặt kính thạch anh vang lên rời rạc, khô khốc giữa tiếng rù rì không đổi của tua-bin Kifaru.
An Khuê cúi nhìn màn hình cá nhân của mình. Một khung cửa sổ viền trắng sắc nét hiện lên giữa màn hình đen tuyền, hiển thị hai ô lựa chọn duy nhất:
`[CHẤP THUẬN]` hoặc `[BÁC BỎ]`.
Cô nhìn chăm chú vào ngón tay trỏ của bàn tay trái. Ngón tay ấy đã từng run rẩy không kiểm soát khi cô phải vặn van xả bỏ toàn bộ tro nấm men bị nhiễm khuẩn vào bồn hủy rác áp suất cao; nó đã từng rướm máu và chai sạn khi cô cùng Ren gồng mình siết từng chiếc bu-lông hợp kim dưới đáy giếng khoan lạnh âm sáu mươi độ; và nó cũng chính là ngón tay đã từng vô thức gõ nhịp bài đồng dao thời thơ ấu lên mặt bàn thí nghiệm trong những đêm sốt mê man vì kiệt sức.
Nhưng lúc này, ngón tay ấy hoàn toàn tĩnh lặng. Không có một dao động vi mô nào. Cô không ấn nút vì sự kiêu ngạo muốn ghi tên mình vào lịch sử, cũng không phải để chứng minh những suy đoán của mình là vượt trội hơn sự cẩn trọng của Ingrid. Cô ấn nút vì một niềm tin sâu xa rằng vũ trụ ngoài kia — dẫu tàn nhẫn, dẫu lạnh lùng và tối tăm đến đâu — vẫn xứng đáng nhận được một lời chào hỏi đàng hoàng, có trách nhiệm và đầy khiêm nhường từ một giống loài có tri giác.
Ngón tay An Khuê hạ xuống, chạm dứt khoát vào ô `[CHẤP THUẬN]`.
Mặt kính dưới ngón tay cô lập tức lóe lên một quầng sáng xanh lục nhạt, báo hiệu lựa chọn đã được ký điện tử và chuyển thẳng vào phân vùng lưu trữ bất biến của Mây.
Lần lượt xung quanh bàn, các màn hình của Ren, Luísa, Ingrid và Amara cũng lần lượt đổi màu rồi tối dần đi khi từng lá phiếu được nén lại trong khối dữ liệu biểu quyết.
"Đã thu nhận và xác thực đầy đủ năm chữ ký số của hội đồng chỉ huy," âm thanh thông báo của Mây vang lên, xé toang sự im lặng nghẹt thở bao trùm căn phòng.
Trên màn hình trung tâm, khối cầu mô phỏng rút lui sang một bên, nhường chỗ cho bảng kết quả kiểm phiếu chính thức hiện ra từng dòng một với độ trễ cố ý để bảo đảm tính minh bạch tuyệt đối:
``` ==================================================================== KẾT QUẢ BIỂU QUYẾT HỘI ĐỒNG PHÁI BỘ: ĐỀ ÁN BOREALIS-ECHO-01 (REV-2) ==================================================================== TỔNG SỐ PHIẾU HỢP LỆ: 5 / 5
- PHIẾU THUẬN (CHẤP THUẬN ĐIỀU KIỆN TIÊU CHUẨN): 3 [TS. Hồ An Khuê — Chuyên viên Sinh học Ngoại vi] [Kỹ sư Ren Ishikawa — Kỹ sư trưởng Hệ thống] [TS. Luísa Carvalho — Chuyên viên Địa chất Vật lý]
- PHIẾU THẬN TRỌNG (CHẤP THUẬN KÈM ĐIỀU KHOẢN RÀNG BUỘC CẤP CAO): 2 [Chỉ huy Amara Njoroge — Trưởng đoàn Phái bộ] [BS. Ingrid Solberg — Sĩ quan Y tế & An toàn Sinh học]
- PHIẾU BÁC BỎ TUYỆT ĐỐI: 0
-------------------------------------------------------------------- KẾT LUẬN: ĐỀ ÁN CHÍNH THỨC ĐƯỢC THÔNG QUA DƯỚI CƠ CHẾ GIÁM SÁT KÉP. ==================================================================== ```
Một tiếng thở phào rất dài, rất khẽ thoát ra từ lồng ngực An Khuê, làm rung nhẹ lớp vải áo bảo hộ. Bên cạnh cô, Ren khẽ siết chặt nắm tay giấu dưới gầm bàn, khóe môi anh giật nhẹ một cái như muốn reo lên nhưng lập tức kiềm chế lại. Luísa chỉ gật đầu một cái thật ngắn gọn, khuôn mặt không lộ chút cảm xúc nào, rồi lập tức kéo cửa sổ giám sát địa chấn Guará chiếm trọn ba phần tư màn hình của mình, sẵn sàng cho công việc.
Nhưng ngay khi bầu không khí vừa có dấu hiệu chùng xuống, Amara đã giơ bàn tay phải lên. Cử chỉ dứt khoát của cô như một nhát cắt đóng băng toàn bộ sự phân tâm trong phòng.
"Đề án đã được thông qua theo đúng quy chế dân chủ của phái bộ," giọng vị Chỉ huy đanh lại như một thanh thép nguội vừa vớt ra khỏi bể tôi. "Nhưng tôi muốn nhắc lại cho tất cả các bạn nhớ: sự chấp thuận có điều kiện của tôi và bác sĩ Ingrid đi kèm với một điều khoản pháp lý tối cao không thể thương lượng. Quyền dừng khẩn cấp cấp một — Master Kill-Switch — sẽ được phân quyền độc lập cho hai người duy nhất: tôi và Ingrid."
Amara nhìn thẳng vào An Khuê, ánh mắt nghiêm khắc đến rợn người:
"Quyền ngắt mạch này không cần thông qua biểu quyết lại. Không cần hội ý. Không cần giải trình trước khi hành động. Bất kỳ lúc nào, nếu bảng theo dõi sinh trắc học của Ingrid báo động nhịp tim của bất kỳ ai trong trạm vượt ngưỡng an toàn do căng thẳng thần kinh; nếu áp suất thủy tĩnh tại giếng Borealis có biến động vượt quá biên độ vi địa chấn cho phép; hoặc nếu cảm biến nhiệt của Nereid chạm tới ngưỡng 0,05 Kelvin — một nút bấm vật lý duy nhất từ bảng điều khiển của tôi hoặc của Ingrid sẽ lập tức cắt đứt hoàn toàn nguồn cấp điện cho khối phát quang của Nereid trong vòng mười mili-giây. Đường truyền quang sẽ tắt ngấm, và thí nghiệm này sẽ bị hủy bỏ vĩnh viễn mà không có cơ hội tái đệ trình lần thứ hai. Cô đã nắm rõ giới hạn của mình chưa, An Khuê?"
"Tôi đã nắm hoàn toàn rõ ràng và tuyệt đối tuân thủ điều khoản đó, thưa Chỉ huy," An Khuê đứng thẳng người dậy, hai tay khép sát thân mình, đáp lại bằng một giọng điệu dứt khoát không chút do dự.
"Tốt," Amara đứng bật dậy khỏi ghế chỉ huy.
Sự dứt khoát của người đứng đầu lập tức truyền một luồng điện kỷ luật vào toàn bộ không gian chật hẹp của căn phòng. Sự mệt mỏi dường như biến mất trong chớp mắt, nhường chỗ cho tác phong tác chiến chuẩn xác của một phi hành đoàn đã cùng nhau vượt qua bờ vực của cái chết.
"Ren, di chuyển ngay sang vị trí kiểm soát phần cứng và vi sai công suất của Nereid. Luísa, khóa mạng địa chấn Guará ở chế độ phân giải thời gian thực cực đại, liên tục rà soát phổ sóng P và sóng S dọc thân giếng. Ingrid, theo dõi toàn bộ các chỉ số sinh trắc học của phi hành đoàn và nồng độ khí quyển trạm từ bảng điều khiển y tế. An Khuê, cô có toàn quyền điều khiển chuỗi xung quang học Borealis-Echo-01 từ bàn điều khiển sinh học. Toàn trạm bước vào trạng thái sẵn sàng cấp một. Bắt đầu quy trình nạp năng lượng cho khối phát quang."
"Rõ!"
Tiếng đáp đồng thanh vang lên dõng dạc, đanh gọn và đồng bộ như một phát súng hiệu.
Cả phòng điều hành lập tức chuyển động với sự chuẩn xác lạnh lùng của một cỗ đồng hồ cơ học tinh vi. Những cuộc tranh luận lý thuyết, những hoài nghi triết học hay nỗi lo sợ mơ hồ lập tức bị gạt phắt sang một bên để nhường chỗ cho các thao tác kỹ thuật thuần thục.
Ren thoăn thoắt lướt mười ngón tay trên bàn phím cơ quang học, mở các van điện tử và gửi chuỗi lệnh kích hoạt đến bộ đệm tụ điện thể rắn của Nereid thông qua sợi cáp quang siêu mảnh đang nằm im lìm dưới lòng đất sâu ba cây số. Luísa trùm chiếc tai nghe chuyên dụng màu đen qua đầu, ánh mắt dán chặt vào các đường cong ứng suất kiến tạo đang chạy đều đặn như những dải sóng não trên ba màn hình địa chấn trước mặt. Ingrid lùi lại nửa bước, đứng tựa lưng vào bảng điều khiển y tế trung tâm; trên cổ tay áo của cô, màn hình hiển thị nhịp tim, huyết áp tâm thu và nồng độ oxy hòa tan trong máu của cả năm thành viên hiện lên bằng những con số màu xanh lục sắc nét, nhấp nháy đều đặn theo từng nhịp đập sinh học.
An Khuê bước nhanh về phía bàn điều khiển chuyên dụng của Khoang Sinh học Lam.
Mặt kính cảm ứng trước mặt cô lập tức bừng sáng, chuyển sang giao diện điều hành màu đỏ thẫm với dòng chữ cảnh báo nhấp nháy:
`[CHẾ ĐỘ SẴN SÀNG PHÁT TÍN HIỆU — BƯỚC SÓNG ĐẶT: 520 NM — CHUỖI XUNG: 2, 3, 5]` `[NGUỒN CẤP: NHIỆT DƯ KIFARU — CÔNG SUẤT KHÓA CỨNG: 48,5 WATT-GIỜ]` `[TRẠNG THÁI HỆ THỐNG DẬP TẮT NHIỆT DELTA-T: HOẠT ĐỘNG (NGƯỠNG: 0,05 K)]`
Một đồng hồ đếm ngược tự động hiện lên giữa màn hình, những con số màu vàng hổ phách bắt đầu trôi đi một cách lạnh lùng:
*T-00:02:00...* *T-00:01:59...* *T-00:01:58...*
Cách Trạm Ánh Sáng ba cây số băng đặc và một trăm lẻ tám cây số nước biển mặn chát, buốt giá đến tận cùng, dưới đáy sâu thẳm nhất của Cánh đồng Gương Sống, con tàu lặn Nereid vẫn đang lơ lửng bất động trong bóng tối nguyên thủy của đại dương Europa. Thân tàu bằng hợp kim titan xám xịt phủ một lớp màng khoáng mỏng như tuyết, nằm lặng lẽ bên cạnh những tháp trầm tích thủy nhiệt khổng lồ đang âm thầm thở ra những làn khói đen giàu kim loại vào làn nước đen đặc quánh.
Không gian bên trong phòng điều hành Mây chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối, trang nghiêm như một thánh đường nằm sâu dưới lòng đất. Không còn ai nói một lời nào. Chỉ còn lại tiếng thở đều đặn, sâu và chậm của năm con người hòa lẫn vào tiếng đập dồn dập, mạnh mẽ của trái tim An Khuê đang vang vọng bên trong lồng ngực.
Qua một khung kính quan sát nhỏ dày năm lớp ở vách khoang phía đông, An Khuê có thể nhìn thấy miệng giếng khoan Borealis — một đường ống kim loại khổng lồ bọc kín trong lớp sương giá nhân tạo trắng xóa, đâm thẳng xuống sàn băng dày vô tận.
Đã đến lúc. Sau bao nhiêu đắng cay, sau những mất mát, sau những giờ phút đứng bên bờ vực của sự tuyệt vọng và cái chết ngạt, loài người tại tiền đồn xa xôi này chuẩn bị cất lên tiếng nói đầu tiên của mình vào đêm đen vô tận của vũ trụ. Không phải bằng một vụ nổ hủy diệt, không phải bằng sự chiếm đoạt hay kiêu ngạo của một giống loài thống trị, mà bằng sự run rẩy, cẩn trọng và khiêm nhường vô hạn của một chùm ánh sáng thuần khiết mang hình hài của những con số toán học sơ khai.
Đồng hồ đếm ngược chạm mốc ba mươi giây cuối cùng.
Ngón tay An Khuê đặt nhẹ lên phím truyền lệnh cuối cùng trên mặt bàn cảm ứng; sâu bên dưới ba cây số băng dày, các tụ điện thể rắn của cụm đèn LED trên vòm kính thạch anh của tàu Nereid bắt đầu tích điện, sẵn sàng rẽ toạc màn đêm vĩnh cửu của đại dương ngoài Trái Đất.