Trạm Ánh Sáng EuropaCh.12 / 42
Chapter 12

Phiên điều trần sáu thành viên

Không khí trong phòng họp trung tâm quánh lại trong một thứ cảm giác ngột ngạt kỳ dị, thứ cảm giác chỉ xuất hiện khi sáu sinh vật sống bị giam cầm dưới lớp vỏ băng dày ba mươi kilomet, cùng hít thở bầu khí quyển nhân tạo đang mòn mỏi từng giờ. Mặc dù màn hình hiển thị phụ tải của hệ thống điều hành Mây vẫn báo con số mười lăm độ C ở góc trên bên phải, nhưng cái lạnh ở trạm Borealis không bao giờ là một con số đơn thuần. Đó là cái lạnh có khối lượng, có góc cạnh, rình rập thẩm thấu qua các mối hàn titan và từng lớp sợi aerogel cách nhiệt. Hơi thở của sáu con người ngưng tụ thành những vệt sương xám nhạt, lơ lửng rồi tan biến rất chậm vào luồng gió khô khốc của hệ thống điều hòa đang chạy ở chế độ tiết kiệm năng lượng tối đa.

Dưới dải đèn khẩn cấp dán sát trần kim loại, thứ ánh sáng trắng xanh lạnh lẽo tiêu thụ dòng điện một chiều mười hai vôn hắt xuống những vệt bóng đổ gãy khúc. Sáu khuôn mặt ngồi quanh chiếc bàn tròn hợp kim nhôm-lithium hằn rõ những vết rạn nứt sâu hoắm của sự kiệt quệ thể xác lẫn tinh thần. Đã một trăm hai mươi giờ—đúng năm ngày địa phương tính theo chu kỳ Trái Đất—kể từ khi đới đứt gãy Cổ Thạch trượt dài bên dưới thềm băng. Trận động băng bảy phẩy tám độ Richter hôm đó không chỉ là những rung chấn cơ học đơn thuần; nó là tiếng thét của hàng tỷ tấn băng bị vặn xoắn dưới lực triều khủng khiếp của Sao Mộc. Lực trượt ấy đã xé toạc các neo chống rung của trạm ngầm Borealis, tiện đứt tuyến cáp quang liên lạc nối lên cụm ăng-ten bề mặt, và giáng một đòn chí mạng vào hệ thống tuần hoàn kim loại lỏng sơ cấp của lò phản ứng hạt nhân Kifaru, đẩy nguồn tim của căn trạm vào trạng thái suýt đông kết vĩnh viễn.

Dù Ren Ishikawa và Amara Njoroge đã liều mạng kích hoạt lại được lò phản ứng ở mức công suất nền ba mươi lăm phần trăm, cái lạnh âm độ của vỏ băng Europa vẫn không ngừng gặm nhấm từng mét vách ngăn chịu lực. Mỗi tiếng *ken két* truyền qua khung giằng kim loại đều nhắc nhở họ rằng chiếc kén nhân tạo này mỏng manh đến nhường nào trước khối băng vĩnh cửu bên ngoài.

Chính giữa bàn tròn, máy chiếu toàn ký ba chiều đang duy trì một sơ đồ cắt dọc mô phỏng giếng khoan Borealis. Hình trụ ảo màu lam nhạt kéo dài từ sàn trạm đâm xuyên qua tầng băng đáy, hướng thẳng xuống vực thẳm đại dương ngầm. Nhưng ở mốc âm 2.014 mét, cấu trúc hoàn mỹ ấy bị bẻ gãy. Một nút thắt màu đỏ sẫm đang nhấp nháy theo chu kỳ hai giây một lần: vách giếng khoan bằng hợp kim titan-zirconium đã bị lực trượt ngang ép xô lệch mười tám centimet. Tuyến cáp rốn chính bọc ba lớp giáp sợi aramid và lưới thép chịu lực nối với tàu ngầm khảo sát tự hành Nereid đã bị nghiền nát thành từng búi kim loại vụn. Tệ hơn nữa, nước mặn trào ngược từ biển ngầm gặp nhiệt độ âm của vách đá băng đã lập tức đóng băng trở lại, tạo nên một nút thắt tái đông gồ ghề, bóp nghẹt lòng giếng xuống chỉ còn một khe hở méo mó rộng vỏn vên bốn mươi tám milimét.

Cách đó hơn một trăm kilomet bên dưới, trong khoảng tối nguyên thủy chưa từng có ánh mặt trời rọi tới, Nereid đang trôi dạt đơn độc. Con tàu chỉ còn có thể gửi lên những xung âm học ngắt quãng qua môi trường nước, mang theo những gói dữ liệu nén vụn vặt về một hiện tượng dị thường: các nhịp sáng ngọc lam huyền bí, dao động theo chu kỳ một phẩy hai hertz tại Cánh đồng Gương Sống.

An Khuê đứng thẳng dậy. Chuyển động đột ngột khiến khớp vai trái của cô nhói buốt—hậu quả của cú va đập với thanh giằng trần rơi xuống trong đợt dư chấn thứ tư. Cô khẽ cắn môi trong một phần nghìn giây, không để lộ bất kỳ sự biến đổi nào trên gương mặt, rồi chống hai lòng bàn tay xuống mặt bàn kim loại lạnh ngắt. Đôi mắt đen lánh của người kỹ sư sinh học găm thẳng vào nút thắt đỏ rực trên mô hình ba chiều.

"Tôi xin chính thức đệ trình đề án kỹ thuật khôi phục kênh truyền thông tin băng thông rộng với Nereid," An Khuê cất giọng. Âm sắc trong trẻo nhưng đanh thép của cô cắt ngang tiếng ù rền đơn điệu bất tận phát ra từ cụm quạt hút khí CO2 phía sau vách ngăn. "Hiện tại, cầu nối âm học không dây 9,6 kilobit/giây mà con lăn robot vừa thiết lập chỉ là giải pháp tình thế. Băng thông này không đủ để truyền tải hình ảnh quang phổ độ phân giải cao, chứ chưa nói đến dữ liệu vi cảm biến thời gian thực. Tốc độ tái đông của nước mặn quanh cổ giếng đang ở mức một phẩy bốn centimet mỗi giờ. Trong vòng chưa đầy mười bốn giờ nữa, khe hở bốn mươi tám milimét kia sẽ bị bít kín hoàn toàn. Nereid sẽ mất liên lạc vĩnh viễn. Và cùng với nó, toàn bộ cơ hội theo dõi, giải mã mạng lưới phát quang sinh học ngầm dưới thềm băng sẽ biến mất."

An Khuê vươn tay, chạm nhẹ vào giao diện điều khiển haptic trên mặt bàn, đẩy các chuỗi dữ liệu tính toán lên màn hình trung tâm.

"Đề án yêu cầu phân bổ một phẩy hai kilowatt điện từ công suất nền của lò Kifaru trong vòng mười tám giờ liên tục," cô tiếp tục, giọng điềm tĩnh trình bày từng thông số kỹ thuật đã được cân đo trong đầu suốt đêm qua. "Lượng điện này sẽ được dẫn trực tiếp xuống cụm gia nhiệt điện trở cục bộ gắn trên đầu dò khoan tại mốc âm hai nghìn mét. Mục tiêu của chúng ta không phải là làm tan chảy toàn bộ tiết diện giếng—điều đó là bất khả thi với công suất hiện tại. Chúng ta chỉ rã đông cục bộ nút thắt băng, nới rộng khe hở từ bốn mươi tám milimét lên tối thiểu bảy mươi lăm milimét. Ngay khi khẩu độ này được giải phóng, chúng ta sẽ lập tức thả ống lồng dẫn hướng bằng sợi basalt và luồn một sợi cáp quang thạch anh bọc polyme fluorua thay thế xuống Nereid. Toàn bộ quy trình sẽ cứu vãn tuyến dữ liệu quang học trước khi giếng đóng băng không thể cứu vãn."

"Tôi phản đối. Tuyệt đối phản đối."

Âm thanh sắc lạnh như một lưỡi dao mổ rạch ngang không gian ngay khi An Khuê vừa dứt câu. Ingrid Solberg thậm chí không buồn nhổm dậy khỏi ghế. Nữ bác sĩ trưởng người Na Uy ngồi tựa lưng vào tấm đệm xốp xám xịt, hai cánh tay khoanh trước ngực, đôi mắt màu tro xoáy thẳng vào An Khuê bằng một uy lực áp đảo của người nắm giữ quyền sinh sát y tế trên trạm. Ingrid đặt mạnh chiếc máy tính bảng y tế bọc cao su chống sốc xuống bàn kim loại. Tiếng *cạch* khô khốc vang lên chói tai giữa sự tĩnh lặng căng thẳng.

"Cô đang nói bằng thứ ngôn ngữ của một nhà sinh vật học mơ mộng viển vông, An Khuê, chứ không phải một kỹ sư chịu trách nhiệm về tính mạng của sáu con người trong cái vỏ kim loại này," Ingrid gằn giọng, từng âm tiết nhả ra đều đặn, chậm rãi nhưng nặng như chì. "Hãy nhìn vào dữ liệu sinh trắc học thực tế trước khi cô mở miệng đòi hỏi dù chỉ một kilowatt điện."

Ngón tay trỏ của Ingrid gạt mạnh trên màn hình máy tính bảng cá nhân. Một luồng tín hiệu mới được truyền sang máy chiếu haptic, hất tung bản đồ giếng khoan sang một bên để thay thế bằng đồ thị sức khỏe thời gian thực của cả sáu thành viên phi hành đoàn. Những đường biểu diễn đỏ rực nhấp nhô đầy bất an, các chỉ số dao động vượt xa ngưỡng sinh lý bình thường.

"Thiếu ngủ tích lũy trung bình của phi hành đoàn trong năm ngày qua đã chạm mốc ba mươi tư giờ," Ingrid nói, ngón tay cô chỉ vào đường biểu diễn của nhịp tim và hoạt tính thần kinh. "Mức cortisol trong nước bọt của tất cả chúng ta cao gấp ba lần ngưỡng cảnh báo stress cấp tính. Tốc độ phản xạ vận động suy giảm ba mươi hai phần trăm. Thời gian trễ nhận thức của mọi người trong căn phòng này hiện tương đương với một người có nồng độ cồn trong máu ở mức không phẩy không tám phần trăm. Ren đang bị co thắt vi mạch ngoại vi và sưng phù các khớp ngón tay nghiêm trọng do phơi nhiễm nhiệt độ âm sâu khi sửa van van kim loại lỏng ở khoang Kifaru. Bản thân cô, An Khuê, đang cố gồng mình che giấu những cơn co thắt cơ vai trái rách bán phần sau một liều ketorolac liều cao mà cô tự ý tiêm sáng nay."

Ánh mắt màu tro của Ingrid khẽ lướt qua Amara Njoroge. Ánh nhìn ấy dừng lại trong chưa đầy một giây trên bàn tay phải đang giấu kín dưới gấu áo khoác dã chiến của người chỉ huy, rồi quay trở lại, khóa chặt lấy An Khuê:

"Để thực hiện việc luồn sợi quang và căn chỉnh cụm gia nhiệt ở độ sâu hai nghìn mét, chúng ta không thể chỉ ngồi đây bấm nút. Ai đó sẽ phải bò vào cổ giếng kỹ thuật Borealis—nơi nhiệt độ môi trường thực tế đang là âm hai mươi lăm độ C, áp suất khí quyển trạm không ổn định và trọng lực chỉ bằng không phẩy một ba bốn lần Trái Đất. Kéo dài ca làm việc thêm mười tám giờ trong điều kiện đó là một hành vi tự sát có tính toán. Một cú trượt tay, một sai sót cơ học trong quy trình luồn ống, và chúng ta sẽ phải đối mặt với một ca chấn thương cột sống hoặc mất áp cục bộ mà cơ số thuốc cấp cứu còn lại của tôi hoàn toàn bất lực."

Ingrid hít một hơi sâu, lồng ngực phập phồng dưới lớp áo len dày cộp. Giọng cô hạ thấp xuống một tông, nhưng sức nặng của nó lại tăng lên gấp bội:

"Và đó mới chỉ là rủi ro về mặt con người. Còn quy trình Bảo vệ Hành tinh cấp năm thì sao? Để luồn một sợi cáp quang dài hai nghìn mét xuyên qua thềm băng xuống vùng nước lỏng của Europa, cô cần đảm bảo độ vô trùng tuyệt đối ở mức dưới mười bào tử trên một mét vuông diện tích bề mặt. Trong tình trạng trạm đang thiếu thốn điện năng cùng cực, chúng ta lấy đâu ra nhiệt năng để vận hành buồng hấp khử trùng áp suất cao plasma cho toàn bộ cuộn cáp mới? Nếu cô đưa vi sinh vật Trái Đất—những chủng vi khuẩn hoại sinh hay xạ khuẩn kháng lạnh bám đầy trên lớp vỏ trạm này—xuống đại dương ngầm qua khe nứt đó, cô không chỉ vi phạm trắng trợn hiệp ước quốc tế COSPAR, mà cô còn đầu độc vĩnh viễn chính hệ sinh thái nguyên thủy mà cô đang khao khát tôn thờ."

Sự im lặng bao trùm lấy căn phòng. Hơi thở của mọi người như đông cứng lại. An Khuê mím chặt môi, hai hàm răng nghiến lại đến mức quai hàm bạnh ra. Cô hít sâu, lồng ngực căng lên chuẩn bị phản bác, nhưng từ phía đối diện, một cánh tay khẳng khiu giơ lên.

Luísa Carvalho kéo ghế lại gần bàn điều khiển. Nhà địa chất học người Brazil trông như vừa bước ra từ một bãi quặng sập: khuôn mặt cô sạm đi vì mệt mỏi, những vệt xỉ than bám quanh vành tai, mái tóc xoăn dày hoang dã bị buộc túm vội vàng bằng một đoạn dây rút nhựa sau gáy. Nhưng ẩn sau cặp kính bảo hộ chống lóa bám đầy bụi mịn là đôi mắt đen thẳm, rực lên sự tỉnh táo lạnh lùng và tàn nhẫn của những con số cơ học đá.

"Về mặt cơ học băng, đề án của An Khuê không chỉ mạo hiểm, mà nó tiềm ẩn một thảm họa kết cấu mà sinh học không thể hình dung nổi," Luísa nói, giọng cô khàn đặc, khé cổ vì hít phải khói bụi silicat và hơi freon trong những đợt dư chấn vừa qua. Cô gõ nhanh mấy phím lệnh thô trên bàn phím cơ, gọi dữ liệu đo đạc thực địa từ Phòng Địa chấn Guará.

Mô hình mặt cắt địa chất lập tức thay đổi. Thay vì hình giếng khoan đơn thuần, không gian ba chiều tràn ngập cấu trúc mạng tinh thể băng đa tinh thể ở độ sâu hai nghìn mét, chằng chịt những dải màu từ tím thẫm đến đỏ cam, biểu thị trường ứng suất trượt đang tích tụ.

"Sau trận động băng bảy phẩy tám độ vừa rồi, đới đứt gãy Cổ Thạch không hề đi vào trạng thái ổn định," Luísa nói, ngón tay chỉ vào vùng chuyển tiếp giữa tầng băng giòn và tầng băng dẻo. "Lực thủy triều cộng hưởng từ Sao Mộc kết hợp với quỹ đạo lệch tâm của Ganymede vẫn đang nhào nặn khối băng đáy như một khối bột dẻo khổng lồ. Nút thắt ở mốc hai nghìn mét hiện chính là một điểm tập trung ứng suất dẻo cực kỳ mong manh. Nhiệt độ của khối băng bao quanh khu vực đó là âm ba mươi độ C. Nếu cô bơm một phẩy hai kilowatt nhiệt liên tục vào điểm nghẽn này trong mười tám giờ ròng rã, cô sẽ tạo ra một gradient nhiệt cực kỳ dốc."

Luísa phóng to khu vực tiếp giáp giữa lớp vỏ hợp kim của giếng và thành băng tự nhiên. Từng đường đẳng nhiệt hiện ra ken dày đặc như những thớ gỗ bị ép vặn.

"Hệ số giãn nở nhiệt của băng ở khoảng nhiệt độ này là khoảng năm nhân mười lũy thừa trừ năm trên Kelvin. Băng không giãn nở đồng nhất. Nhiệt lượng từ cụm điện trở sẽ làm lớp băng sát thành giếng nở bùng ra đột ngột, trong khi khối băng lạnh âm ba mươi độ phía ngoài vẫn giữ nguyên thể tích và mật độ. Ứng suất nhiệt cục bộ sinh ra sẽ lập tức vượt qua giới hạn bền kéo của băng đa tinh thể—vốn dĩ chỉ đạt khoảng hai megapascal ở điều kiện này. Kết quả của thí nghiệm đó không phải là một giếng khoan thông thoáng, An Khuê. Kết quả sẽ là hiện tượng nứt vỡ nhiệt thứ cấp."

Ngón tay Luísa vẽ một đường thẳng đứng dọc theo mô hình đứt gãy đang lan dần lên trên bề mặt.

"Các vết nứt thứ cấp đó sẽ không giải tỏa lực theo phương ngang. Do ảnh hưởng của trường ứng suất kiến tạo triều hiện tại, chúng sẽ lan truyền ngược theo phương thẳng đứng với tốc độ hàng chục mét mỗi giờ, nhắm thẳng vào cụm cọc neo móng chân đế của Phân khu Trung tâm và Tháp Điều hành Trạm Borealis. Nếu chân trạm bị mất ổn định cơ học trong lớp băng trượt, toàn bộ cấu trúc mô-đun sinh hoạt sẽ bị bẻ gãy khớp nối mềm trong lần dao động triều kế tiếp của Sao Mộc. Chúng ta không thể đem nền móng sinh tồn duy nhất của cả trạm ra đánh cược chỉ để đổi lấy một sợi dây quang học."

"Tôi hiểu các biến số địa chấn, Luísa," An Khuê cố gắng ghìm giọng mình xuống mức thấp nhất, dù lồng ngực cô đang đập thình thịch và khớp vai nhói buốt như có dằm cắm. "Nhưng nếu chúng ta sử dụng mạng cảm biến sợi quang FBG mà cô và Ren vừa vất vả lắp đặt để theo dõi vi chấn nhiệt thời gian thực thì sao? Chúng ta có thể điều tiết dòng điện theo chu kỳ xung nhiệt, giữ cho ứng suất luôn nằm dưới ngưỡng hai megapascal..."

"Mây, kích hoạt mô phỏng cân bằng phụ tải trạm," một giọng nói trầm thấp, mang âm sắc nặng và đĩnh đạc của vùng Đông Phi vang lên từ đầu bàn, cắt đứt hoàn toàn cuộc tranh cãi.

Amara Njoroge nãy giờ vẫn ngồi bất động như một bức tượng tạc từ đá bazan. Chiếc áo khoác dã chiến màu xanh rêu kéo khóa kín mít lên tận cằm, che khuất chiếc cổ gầy gò. Khuôn mặt cô sạm đen vì bức xạ thứ cấp và ánh đèn nhân tạo, hai gò má nhô cao hốc hác, nhưng đôi mắt sâu thẳm ẩn dưới hàng mày rậm rạp lại ánh lên sự sắc sảo lạnh lùng. Amara không nhìn An Khuê, cũng không nhìn Luísa hay Ingrid. Ánh mắt cô hướng thẳng vào khoảng không vô định giữa những luồng sáng ba chiều.

"Rõ, thưa Chỉ huy," giọng nói tổng hợp của Mây vang lên nhẹ nhàng, thanh thoát nhưng hoàn toàn vô cảm qua hệ thống loa âm trần. "Hệ thống đang tải ba kịch bản phân bổ tải dựa trên công suất nền ba mươi lăm phần trăm của lò phản ứng Kifaru. Lưu ý: các mô hình tính toán hiện vận hành ở chế độ dự báo giới hạn do cảm biến kết cấu SG-K-04 chưa được kiểm chứng thực địa sau địa chấn."

Ba đồ thị phân luồng năng lượng xuất hiện đồng loạt, rực rỡ và tàn nhẫn trước mắt sáu thành viên.

"Kịch bản Một: Phân bổ một phẩy hai kilowatt cho giếng Borealis theo đề xuất của kỹ sư An Khuê," Mây cất giọng đều đều, một dải ánh sáng màu cam nhấp nháy trên biểu đồ tiêu thụ điện. "Để duy trì mức tải này mà không làm quá tải vòng tuần hoàn kim loại lỏng NaK sơ cấp số một—vốn đang có nguy cơ kết tinh muối do tắc van phân nhánh—trạm buộc phải trích xuất điện từ hệ thống sưởi khoang sinh hoạt và giảm hai mươi lăm phần trăm công suất của các máy lọc CO2 thụ động LiOH. Biên độ dự phòng nhiệt độ của Khoang Trú ẩn và Khoang Sinh hoạt sẽ sụt giảm từ mười tám độ C xuống chín phẩy năm độ C trong vòng bốn mươi tám giờ. Ở mức nhiệt này, độ tin cậy vận hành của hệ thống sinh tồn giảm xuống dưới ngưỡng an toàn bảy mươi phần trăm. Nguy cơ ngưng tụ hơi ẩm trên các bảng mạch điện áp thấp gây đoản mạch tăng bốn mươi lăm phần trăm."

Mây chuyển sang dải đồ thị màu vàng sẫm:

"Kịch bản Hai: Gia nhiệt xung ngắt quãng sáu trăm watt trong ba mươi sáu giờ. Tốc độ rã đông đạt không phẩy năm centimet mỗi giờ, thấp hơn tốc độ tái đông một phẩy bốn centimet mỗi giờ của nước biển trào ngược từ đáy thềm băng. Xác suất giếng bị phong ấn hoàn toàn trước khi luồn được cáp là bảy mươi tám phần trăm. Tổng năng lượng tiêu hao vô ích: hai mươi mốt phẩy sáu kilowatt-giờ."

Cuối cùng, dải đồ thị màu xanh lam mờ nhạt hiện lên, biểu thị sự an toàn tĩnh lặng của một nấm mồ băng:

"Kịch bản Ba: Duy trì toàn bộ công suất nền cho hệ thống sưởi ấm, bảo toàn bể nấm men chuyển gene *Saccharomyces cerevisiae* và khay mầm đậu lùn E-09-Delta tại Vườn Thủy Canh Bình Minh, sạc bù khối ắc quy Tầng B với dòng nạp ba mươi ampe. Biên an toàn năng lượng trạm đạt chín mươi mốt phần trăm. Tuy nhiên, liên lạc với Nereid qua cầu nối âm học sẽ suy giảm hoàn toàn sau mười ba giờ ba mươi phút do sự hình thành nút băng dày ba mươi centimet tại mốc hai nghìn mét."

Màn hình phụ tải tắt lịm, trả lại không gian ánh sáng trắng mờ đục của căn phòng họp. Những con số "chín phẩy năm độ C" và "biên an toàn dưới bảy mươi phần trăm" như những khối băng vô hình đè nặng lên ngực từng người. Tiếng thở dốc khẽ khàng của ai đó vang lên rõ mồn một.

"Bốn mươi tám giờ ở chín độ C không đơn thuần là câu chuyện về việc chúng ta phải mặc thêm hai lớp áo chống rét," Ingrid bổ sung, giọng nói lạnh lùng điểm thêm sự căng thẳng tột bậc của một chuyên gia sinh lý học. "Ở nhiệt độ đó, chức năng thực bào của bạch cầu suy giảm mạnh, hệ miễn dịch của chúng ta sẽ sụp đổ trước những chủng vi nấm cơ hội vốn luôn hiện diện trong đường ống dẫn khí. Nó có nghĩa là những vi nấm men chuyển gene mà An Khuê vừa cấy đêm qua để cứu nguồn protein dự trữ sẽ rơi vào trạng thái ngủ đông hoặc chết hàng loạt do sốc lạnh. Cô cứu Nereid để làm gì, An Khuê? Để rồi sáu tháng nữa, cả sáu chúng ta chết đói, chết vì suy kiệt vitamin và nhiễm trùng đường hô hấp trước khi tàu tiếp tế Umoja kịp bay tới quỹ đạo Europa?"

An Khuê cảm thấy cổ họng mình khô rát như thể vừa nuốt phải bụi băng. Những lời của Ingrid, những con số của Luísa, những tính toán lạnh lùng của Mây—tất cả đều đúng. Đó là sự thật nghiệt ngã của vật lý nhiệt, của cơ học đá và của giới hạn sinh học mong manh của cơ thể con người. Không có ai trong căn phòng này mang ác ý. Trạm Borealis lúc này giống như một chiếc bè nứt toác đang trôi dạt giữa đại dương băng giá; bất kỳ một cử động bất cẩn nào nhằm vươn tay vớt lấy một cành hoa dưới nước cũng có thể lật úp toàn bộ chiếc bè, nhấn chìm tất cả xuống vực sâu vĩnh hằng.

Nhưng trong tâm trí An Khuê, hình ảnh quầng sáng màu ngọc lam lay động trong làn nước đen thẳm của Cánh đồng Gương Sống lại hiện lên, rực rỡ và nhức nhối. Đó là đoạn video mười hai giây cuối cùng mà Nereid truyền về trước khi đường cáp quang bị nghiền nát. Giữa bóng tối vĩnh cửu của đại dương sâu một trăm kilomet, nơi áp suất lên tới hơn một trăm ba mươi megapascal, những cột khoáng chất serpentinite khổng lồ không hề chết lặng. Chúng phát sáng. Một thứ ánh sáng ngọc lam lạnh buốt, nhấp nháy đồng bộ theo tần số một phẩy hai hertz, truyền lan từ cụm cột này sang cụm cột khác như những xung thần kinh của một bộ não khổng lồ nằm sâu dưới lòng hành tinh.

Đó không phải là hiện tượng phát quang ma sát của khoáng chất. Không có một phản ứng hóa học vô cơ nào có thể duy trì nhịp điệu điều hòa và sự dịch pha chuẩn xác giữa các cấu trúc cách nhau hàng trăm mét như thế. Đó là sự sống. Một dạng thức sống bản địa, kỳ vĩ và cô độc, đang thở, đang tồn tại, đang gửi đi những tín hiệu đầu tiên qua bóng tối hàng trăm triệu năm. Nếu giếng Borealis đóng băng lại hoàn toàn, cánh cửa duy nhất kết nối nền văn minh loài người với thực thể đó sẽ bị sập xuống vĩnh viễn. Nereid sẽ trở thành một khối kim loại chết chìm dần vào lớp bùn silicat đáy biển, và nhân loại sẽ lại mù lòa.

"Chúng ta không thể bỏ mặc Nereid," An Khuê nói, giọng cô khẽ run lên nhưng không hề lùi bước. Cô nhìn thẳng vào mắt từng người—từ Ingrid, Luísa cho đến Amara. "Nếu chúng ta cắt đứt liên lạc, chúng ta sẽ hoàn toàn mất đi khả năng quan sát những gì đang diễn ra dưới đáy biển. Trận động băng vừa rồi... các bạn có nhớ không? Tín hiệu quang học dưới đáy biển bùng lên đồng pha với cường độ cực đại đúng hai phút trước khi đới Cổ Thạch trượt gãy! Đại dương ngầm và vỏ băng có mối liên hệ cơ học và năng lượng mật thiết. Hiểu được mạng lưới phát quang đó có thể là chìa khóa duy nhất để chúng ta dự báo những cơn địa chấn tiếp theo của Europa trước khi chúng bẻ gãy căn trạm này. Đây không phải là sự xa xỉ của khoa học thuần túy! Đây là một phần sống còn của sự sinh tồn!"

"Nhưng cái giá của nó là sự sống còn của ngày hôm nay, An Khuê!" Luísa mất bình tĩnh, đập mạnh lòng bàn tay xuống mặt bàn kim loại. Tiếng va đập vang dội khắp căn phòng họp ngột ngạt. "Cô đang đòi hỏi chúng ta đánh cược mạng sống của sáu con người dựa trên một giả định tương quan chưa hề được kiểm chứng! Nếu vách băng nứt toác vì ứng suất nhiệt, nếu chân đế trạm bị xé rách, chúng ta thậm chí sẽ không còn một trạm nghiên cứu nào để mà ngồi đây tranh luận về sinh tồn nữa!"

Không khí trong phòng như đông đặc lại thành một khối thạch anh vô hình, ngột ngạt đến nghẹt thở. Cả sáu người đều im lặng, chỉ còn tiếng quạt hút gió rền rĩ và tiếng lách tách của kim loại co ngót vì lạnh.

Ở góc bàn đối diện An Khuê, Ren Ishikawa nãy giờ vẫn ngồi thu lu trong chiếc áo bảo hộ lao động dày cộm, hai vai rụt lại. Anh lặng lẽ dùng ngón tay cái xoa nắn những khớp ngón tay sưng đỏ, thâm tím vì lạnh của bàn tay trái. Đôi mắt thâm quầng sau gọng kính titan tròn khẽ chớp. Anh nhìn Luísa đang thở dốc vì tức giận, rồi nhìn sang An Khuê với đôi mắt rực lửa bướng bỉnh.

"Này mọi người," Ren cất tiếng, phá vỡ bầu không khí căng thẳng bằng một tông giọng bình thản, hơi khàn nhưng mang vẻ nhẹ nhõm đến lạ kỳ. Anh nhếch mép cười gượng gạo, để lộ chiếc răng khểnh quen thuộc. "Hình như chúng ta đang cãi nhau xem nên dùng một cây búa tạ mười tấn hay một quả tên lửa đẩy để đập vỡ một hạt dẻ thì phải."

Tất cả ánh mắt trong phòng đồng loạt đổ dồn về phía người kỹ sư robot Nhật Bản.

Ren vươn người tới trước, vung tay kéo lấy bảng vẽ kỹ thuật của Mây về phía mình. Những ngón tay thô ráp, chai sần vì tiếp xúc với dầu máy và kim loại lạnh lướt thoăn thoắt trên mặt kính cảm ứng. Bằng vài thao tác dứt khoát, anh quét sạch toàn bộ các khối gia nhiệt một phẩy hai kilowatt khổng lồ trong bản thiết kế của An Khuê ra khỏi màn hình.

"Luísa nói hoàn toàn đúng, chúng ta không thể nung chảy cái giếng đó. Bơm một lượng nhiệt khổng lồ vào một đới đứt gãy đang chịu nén dẻo là một ý tưởng tồi tệ nhất về mặt cơ học," Ren vừa nói vừa cầm chiếc bút cảm ứng phác thảo những đường nét mới với tốc độ đáng kinh ngạc. "Và Ingrid cũng chuẩn xác một trăm phần trăm về bài toán năng lượng. Lò Kifaru đang thở oxy, chúng ta không thể rút của nó dù chỉ nửa kilowatt nếu không muốn toàn bộ căn trạm này biến thành một cái tủ đông chứa đầy xác ướp phi hành gia."

"Vậy anh định đề xuất điều gì, Ren?" Ingrid nhíu mày chất vấn, ánh mắt tro tàn vẫn tràn ngập sự cảnh giác. "Bỏ mặc con tàu lặn à?"

"Không đời nào. Bỏ rơi một cô bé robot dễ thương như Nereid dưới đáy biển sâu một trăm cây số là một tội ác chống lại nghệ thuật chế tạo máy móc," Ren nháy mắt một cái, nhưng nụ cười của anh nhanh chóng thu lại, nhường chỗ cho một vẻ mặt nghiêm túc phi thường mà hiếm khi người ta thấy ở anh. "Chúng ta không cần nung chảy nút thắt băng. Chúng ta chỉ cần lách qua nó."

Ren phóng to hình ảnh quét cắt lớp của khe hở bốn mươi tám milimét ở độ sâu hai nghìn mét.

"Hôm qua, con lăn robot Tanuki đường kính bốn mươi lăm milimét của tôi đã chui lọt qua khe hở này để thả dây cáp âm học tạm thời. Điều đó chứng minh khoảng trống cơ học vẫn tồn tại. Vấn đề duy nhất là khe hở đang co lại với tốc độ một phẩy bốn centimet mỗi giờ do hiện tượng tái đông tự nhiên. Thay vì cố gắng chống lại quy luật tự nhiên bằng một lò nhiệt khổng lồ ngốn điện, tại sao chúng ta không chế tạo một thiết bị luồn dây siêu nhỏ?"

Chiếc bút cảm ứng trong tay Ren lướt đi thoăn thoắt, dựng nên một mô hình ba chiều tinh xảo: một thiết bị cơ khí hình con thoi thuôn dài chưa đầy ba mươi centimet, với đường kính thân chỉ vỏn vẹn ba mươi tám milimét.

"Tôi gọi nó là 'Kim Luồn Tanuki'," Ren giải thích, chỉ vào các bộ phận của con thoi ảo. "Vỏ ngoài làm bằng hợp kim titan tái chế từ các thanh khung của chiếc xe trinh sát mặt đất bị hỏng tuần trước. Phần mũi mang một đầu cắt siêu âm vi mô kết hợp với đầu gia nhiệt xung cục bộ công suất cực thấp. Nhưng mấu chốt kỹ thuật nằm ở đây: nó hoàn toàn không sử dụng dù chỉ một watt điện từ lưới điện chính của trạm!"

Ren gõ mạnh đuôi bút cảm ứng lên mặt bàn kim loại, tạo ra tiếng vang thanh mảnh:

"Trong Xưởng Tanuki, tôi vẫn còn giữ bốn khối pin lithium-ion mạ bạc thu hồi từ các drone khảo sát khí quyển tầng thấp đã bị loại biên. Chúng không thể đấu nối hòa vào mạng lưới điện chính của trạm vì điện áp đầu ra lệch chuẩn và giao thức điều khiển không tương thích. Nhưng nếu chúng ta ghép nối tiếp bốn khối pin này lại, chúng có thể cung cấp một nguồn điện độc lập khoảng ba trăm watt trong vòng bốn tiếng liên tục. Ba trăm watt là quá đủ để đầu cắt siêu âm của Kim Luồn dao động ở tần số bốn mươi kilohertz, phá vỡ lớp băng tái đông mỏng manh bám trên thành giếng và tự dẫn đường chui qua nút thắt."

An Khuê chồm người về phía trước, hai mắt mở to, chăm chú nhìn vào từng chi tiết cơ khí trên bản vẽ của Ren: "Và con thoi đó sẽ kéo theo sợi quang học?"

"Chính xác," Ren gật đầu, ánh mắt sáng lên niềm say mê kỹ thuật. "Một sợi cáp quang thạch anh đơn mode thụ động, không bọc giáp thép, không có lớp đồng dẫn điện, đường kính ngoài chỉ không phẩy chín milimét bọc lớp đệm Kevlar siêu nhẹ chống cứa rách. Toàn bộ cuộn cáp dài hai nghìn mét chỉ nặng chưa đầy một phẩy hai kilôgam. Không tải điện lực. Không điện cao thế. Không có bất kỳ dòng điện nào chạy dọc theo giếng khoan để tạo ra nguy cơ đoản mạch hay phóng điện áp điện trong khối băng. Kim Luồn sẽ mang sợi quang này trườn qua khe hẹp, thả rơi tự do xuống vùng nước lỏng ở mốc hai nghìn bốn trăm mét, nơi Nereid đang lơ lửng đợi sẵn với cổng thu quang học thụ động."

"Một kênh quang học thụ động đơn hướng," Luísa lẩm bẩm, ánh mắt cô dán chặt vào các thông số cơ học và nhiệt học mà Ren vừa thiết lập trên bảng tính. Sự căng thẳng hằn trên vầng trán cô dường như giãn ra một chút. Cô khoanh tay, trầm ngâm phân tích: "Không có xung nhiệt lớn đưa vào khối băng. Năng lượng tiêu tán từ đầu cắt siêu âm ba trăm watt chỉ lan tỏa trong phạm vi vài milimét sát mũi cắt, hoàn toàn nằm dưới ngưỡng kích hoạt nứt vỡ nhiệt thứ cấp. Cấu trúc cơ học của thềm băng sẽ không bị xáo trộn."

"Nhưng việc chế tạo và lắp ráp một thiết bị như vậy mất bao lâu?" Ingrid chất vấn, giọng nói đã bớt đi phần gay gắt nhưng vẫn đầy tính thẩm định thực tế của một người gác cổng an toàn. "Và quan trọng nhất: ai sẽ là người khử trùng nó? Quy trình vô trùng mức năm không thể làm qua loa bằng vài nhát lau cồn trong cái xưởng đầy dầu mỡ của anh được đâu, Ren."

"Tôi và An Khuê có thể hoàn tất việc gia công cơ khí và đấu nối mạch pin trong vòng sáu giờ," Ren đáp ngay lập tức, không một chút do dự. "Còn về khâu khử trùng... An Khuê có buồng chiếu xạ tia cực tím C thu nhỏ trong Khoang Sinh học Lam, thiết bị đó chạy bằng cụm pin hóa năng độc lập. Chúng tôi sẽ xử lý bề mặt sợi quang và vỏ robot bằng cồn nguyên chất kết hợp chiếu xạ UVC liên tục ngay trong quá trình cuộn dây được nhả ra khỏi ống phóng. Không một tế bào vi khuẩn Trái Đất nào có thể sống sót sau quy trình kép đó."

Căn phòng một lần nữa rơi vào tĩnh lặng. Mọi cặp mắt lại hướng về phía đầu bàn, nơi Amara Njoroge đang ngồi.

Vị chỉ huy trạm vẫn giữ nguyên tư thế bất động. Dưới lớp vải dày của chiếc áo khoác dã chiến, bàn tay phải của cô đang siết chặt lại thành nắm đấm, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay để kìm nén cơn co giật giật cục của các sợi cơ ngón tay—một triệu chứng tổn thương thần kinh vận động ngoại vi do thiếu oxy và nhiễm độc lạnh nhẹ mà cô đã giấu kín suốt ba ngày qua. Cơn đau buốt âm ỉ lan từ sau gáy lên tận đỉnh đầu khiến thái dương cô giật từng hồi. Nhưng khi Amara ngẩng đầu lên, ánh mắt cô không hề để lộ một tia dao động. Đó là ánh mắt của một người đã trải qua mười lăm năm chỉ huy các tiền đồn khắc nghiệt nhất từ lòng chảo Mặt Trăng đến các trạm khí quyển Sao Hỏa.

Cô nhìn An Khuê—người mang ngọn lửa đam mê khoa học thuần khiết nhưng vừa phải đối mặt với bài học nghiệt ngã về cái giá của sự sinh tồn. Cô nhìn Ingrid—người lính gác kiên định bảo vệ từng nhịp thở của phi hành đoàn. Cô nhìn Luísa và Ren—hai trụ cột kỹ thuật đang dùng trí tuệ thực chứng để níu giữ trạm Borealis bên bờ vực thẳm.

Amara hít một hơi thật sâu, luồng không khí mười lăm độ C làm mát lạnh thanh quản cô. Khi cô cất tiếng, giọng nói trầm vang của cô như đóng đinh từng chữ vào không gian phòng họp:

"Tôi đã lắng nghe toàn bộ các bên. Quyết định của tôi như sau."

Cô nhìn thẳng vào An Khuê, ánh mắt không chút nhân nhượng:

"Đề án kỹ thuật xin cấp một phẩy hai kilowatt điện từ lò phản ứng Kifaru chính thức bị bác bỏ. Sắc lệnh phân bổ công suất thấp Bravo-Bốn vẫn giữ nguyên hiệu lực toàn phần. Không có bất kỳ một watt điện nào từ lưới điện chính của trạm được phép trích xuất cho giếng khoan Borealis."

An Khuê khẽ rủ mi mắt xuống, hai bàn tay buông lỏng trên mặt bàn. Cô không bất ngờ. Đó là một phán quyết hợp lý, lạnh lùng nhưng cần thiết của một người chỉ huy.

"Tuy nhiên," Amara tiếp tục, ánh mắt chuyển sang Ren Ishikawa, "phương án 'Kim Luồn Tanuki' sử dụng nguồn pin tái chế độc lập do kỹ sư trưởng Ren đề xuất được phê chuẩn có điều kiện."

Ren khẽ thở phào một tiếng rất nhỏ, trong khi Luísa gật đầu đồng thuận.

Amara nâng ngón trỏ của bàn tay trái lên, thiết lập những lằn ranh đỏ không thể vượt qua:

"Điều kiện thứ nhất: Đội kỹ thuật—gồm Ren và An Khuê—có đúng hai mươi tư giờ, tính từ thời điểm cuộc họp này kết thúc, để hoàn tất việc chế tạo, khử trùng sinh học và thiết lập xong kênh quang học thụ động xuống Nereid. Sau hai mươi tư giờ, dù thành công hay thất bại, cửa van áp suất cơ học của giếng Borealis sẽ bị niêm phong vô thời hạn để bảo toàn nhiệt lượng cho tầng kỹ thuật."

"Điều kiện thứ hai: Kênh liên lạc này là hoàn toàn thụ động. Tôi nghiêm cấm mọi hành vi phát xung điện, xung nhiệt hoặc sử dụng động cơ tời để kéo giằng sợi cáp cũ của Nereid. Chúng ta không biết tình trạng kẹt của tay máy mạn phải con tàu nghiêm trọng đến mức nào. Bất kỳ một lực giằng cơ học nào tác động lên vỏ tàu hoặc vách giếng đều có thể làm đứt gãy cấu trúc mỏng manh bên dưới và chôn vùi thiết bị vĩnh viễn."

Amara quay sang, nhìn thẳng vào mắt Ingrid Solberg:

"Và điều kiện thứ ba: Quyền dừng khẩn cấp. Tôi trao toàn quyền này cho Bác sĩ Ingrid Solberg. Ingrid, cô sẽ giám sát trực tiếp quy trình khử trùng sinh học và các chỉ số sinh trắc học của Ren và An Khuê qua màn hình y xá. Nếu cô phát hiện bất kỳ dấu hiệu vi phạm quy trình cách ly sinh học ba cấp độ, hoặc nếu các chỉ số kiệt sức của hai người họ vượt qua ngưỡng nguy hiểm đe dọa khả năng nhận thức, cô có quyền bấm nút dừng khẩn cấp. Khi nút đó được kích hoạt, toàn bộ chiến dịch lập tức chấm dứt mà không cần tham vấn lại tôi. Lệnh của Ingrid là mệnh lệnh tối cao."

Ingrid nhìn sâu vào mắt Amara. Nữ bác sĩ Na Uy hiểu rõ sức nặng khủng khiếp của chiếc chìa khóa mà người chỉ huy vừa trao cho mình. Đó không chỉ là sự tin tưởng, mà còn là một tấm lá chắn đạo đức để bảo vệ phi hành đoàn khỏi sự liều lĩnh của chính họ. Ingrid gật đầu dứt khoát:

"Tôi chấp nhận nhiệm vụ. Và tôi sẽ không ngần ngại bấm nút đó nếu xuất hiện bất kỳ rủi ro nào đe dọa đến trạm."

Ingrid với tay lấy một tập hồ sơ vật lý được in trên giấy polymer chống nước từ túi tài liệu cá nhân, đẩy trượt nó qua mặt bàn kim loại về phía An Khuê. Tập tài liệu dừng lại ngay trước mũi bàn tay của người kỹ sư sinh học.

"Ký vào đây, An Khuê," giọng Ingrid đanh lại như thép nguội. "Bản cam kết cách ly sinh học ba cấp độ theo Nghị định thư Bảo vệ Hành tinh COSPAR Loại Năm. Cô phải cam kết bằng văn bản rằng mọi milimét của thiết bị con thoi và sợi quang đưa qua khóa áp suất giếng Borealis đều đã qua kiểm tra tẩm cồn nguyên chất, sấy nhiệt khô và chiếu xạ UVC đạt ngưỡng khử hoạt tính sinh học mười lũy thừa trừ sáu. Nếu có một mẫu vật hay một giọt nước biển nào bị nhiễm bẩn ngược vi sinh vật Trái Đất, trách nhiệm pháp lý và khoa học thuộc về cô."

An Khuê đón lấy tập hồ sơ. Đầu ngón tay cô chạm vào chất liệu polymer lạnh ngắt, sột soạt. Cô nhìn dòng chữ đen in đậm trên trang đầu: *NGHỊ ĐỊNH THƯ BẢO VỆ HÀNH TINH CẤP V — KHU VỰC ĐẠI DƯƠNG NGẦM EUROPA*. Từng dòng quy định hiện ra như những sợi dây xích vô hình nhưng thiêng liêng, ràng buộc danh dự của một người làm khoa học trước vũ trụ nguyên sơ.

Không một giây do dự, An Khuê rút chiếc bút bi cơ học cài trên túi áo ngực, ấn ngòi bút xuống góc dưới của bản cam kết, ký tên mình bằng một nét chữ dứt khoát: *Hồ An Khuê — Kỹ sư Sinh học Trạm Borealis*.

"Tôi cam kết tuân thủ đầy đủ mọi quy trình, Bác sĩ Ingrid," An Khuê nói, đẩy tập hồ sơ trở lại.

Amara nhìn đồng hồ đếm ngược trên vách tường trung tâm, với tay mở cuốn sổ lệnh cá nhân bọc da màu đen—vật bất ly thân mà cô luôn dùng để ghi chép các chỉ thị khẩn cấp bằng tay kể từ khi hệ thống bộ nhớ của Mây xuất hiện các sai số tích lũy chưa thể kiểm chứng sau trận động băng. Bằng tay trái, Amara giữ chặt gáy cuốn sổ trên mặt bàn, trong khi những ngón tay của bàn tay phải run rẩy cầm chiếc bút mực, chậm rãi nắn nót từng chữ: *Chiến dịch Kim Luồn: Phê chuẩn. Hạn ngạch pin: 1,2 kWh độc lập. Thời hạn: 24:00:00. Quyền phủ quyết: Y tế.*

Gấp cuốn sổ lại với một tiếng *tách* gọn gàng, Amara đứng dậy. Cả năm thành viên đồng loạt đứng lên theo phản xạ kỷ luật thép đã ăn sâu vào máu.

"Hai mươi tư giờ của các bạn bắt đầu từ bây giờ. Giải tán."

Cánh cửa trượt kim loại của phòng họp mở ra với tiếng xì êm ái của van khí nén. Luísa và Ren nhanh chóng rảo bước ra ngoài, hướng về phía hành lang dẫn tới Xưởng Robot Tanuki. Tiếng tranh luận kỹ thuật về tần số cắt của đầu siêu âm và độ nhớt của lớp băng tái đông đã bắt đầu râm ran giữa hai người họ, nhỏ dần rồi khuất sau khúc quanh. Ingrid dừng lại một nhịp ở cửa, ném về phía An Khuê một ánh nhìn vừa nghiêm khắc, vừa ẩn chứa sự lo lắng thầm lặng của một người thầy thuốc, rồi xoay người rảo bước về hướng Y xá Svalbard.

Amara vẫn đứng nán lại bên bàn điều khiển. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi khi tiếng bước chân của các thuyền viên khác đã chìm hẳn vào tiếng ồn cơ học của trạm, người chỉ huy buông lỏng hai vai. Bàn tay phải của cô khẽ co rút lại dữ dội, các ngón tay gập quắp vào lòng bàn tay một cách mất kiểm soát. Khuôn mặt cô tái đi, hàm răng cắn chặt môi dưới, cô phải dựa hẳn một bên hông vào gờ bàn kim loại để chống đỡ một cơn choáng váng đột ngột ập đến.

"Chỉ huy," An Khuê bước lại gần, giọng cô đầy vẻ âu lo. "Chị có ổn không? Huyết áp của chị..."

Amara lập tức duỗi thẳng các ngón tay bằng một nỗ lực phi thường, giấu nhanh bàn tay run rẩy vào sâu trong túi áo khoác dã chiến và ngẩng đầu lên. Ánh mắt cô sắc lạnh trở lại trong chớp mắt, quét sạch mọi dấu vết của sự yếu đuối thể xác.

"Tôi ổn, An Khuê. Tập trung vào việc của cô đi," Amara nói, giọng nói trầm tĩnh nhưng tạo ra một khoảng cách tuyệt đối của kỷ luật chỉ huy. Cô nhìn xoáy vào mắt An Khuê, nói thêm một câu cuối cùng trước khi bước chân ra cửa: "Hãy nhớ lấy điều này: nếu lần này Kim Luồn thất bại, nếu chúng ta làm kẹt thêm giếng hoặc làm tổn hại tính toàn vẹn của trạm, tôi sẽ đích thân ký lệnh cô lập vĩnh viễn phân khu Borealis. Khi đó, cô sẽ mất hoàn toàn quyền đề xuất bất kỳ hoạt động nghiên cứu hay tiếp xúc nào trong tương lai. Cơ hội duy nhất của cô nằm trong hai mươi tư giờ này."

Cánh cửa kim loại khép lại sau lưng Amara với một tiếng rít khô khốc, để lại An Khuê đứng trơ trọi một mình giữa căn phòng họp trung tâm lạnh lẽo.

Trên màn hình ba chiều vẫn đang lơ lửng giữa phòng, đồng hồ đếm ngược của Mây đã bắt đầu nhảy số giật lùi: *23:59:58... 23:59:57... 23:59:56...*

An Khuê thở ra một hơi dài, nhìn vệt sương mỏng từ miệng mình tan biến vào không khí khô khốc của trạm ngầm. Gánh nặng đang đè lên vai cô lúc này không chỉ là sự sống còn của một con tàu lặn hay một sợi cáp quang mong manh, mà là toàn bộ sự nghiệp khoa học, niềm tin của đồng đội, và quyền được cất lên tiếng nói đại diện cho nhân loại trước điều kỳ vĩ đang ẩn mình dưới đáy sâu.

An Khuê rời phòng họp với gánh nặng mới: nếu thí nghiệm này thất bại, cô sẽ mất hoàn toàn quyền đề xuất nghiên cứu trong tương lai.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories