Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.40 / 40
Chapter 40

Ngọn Đèn Sáng Khi Người Giữ Đèn Ngủ

Gió đêm trên đỉnh Đoạn Phong mang hơi lạnh se sắt đầu đông; tiếng đục gỗ lách cách của Lâm Tự dưới mái hiên hòa cùng tiếng đọc bài điều tức nhịp nhàng của đám trẻ trong chính điện.

Mùi nhựa thông khô cháy lách tách trong chiếc chậu sưởi gang ba chân đặt ở góc sân tiền đình, quyện chặt lấy mùi đá ướt sau chuỗi ngày mưa bão dai dẳng vừa dứt. Lớp rêu phong bám trên các phiến thềm tam quan đã bắt đầu khô ráo lại, co cụm thành từng mảng mỏng màu xám tro, tróc ra lạo xạo dưới những bước chân qua lại vội vã của người dân trong am. Đợt lũ quét dữ dội từng nhấn chìm toàn bộ bãi bồi Nam Khê, cuốn phăng những bờ kè mục ruỗng ghép bằng cọc tre và đất thó của quan nha hạ huyện giờ đây đã thực sự lùi xa, để lại dưới đáy thung lũng một dải phù sa đỏ sẫm đang dần se mặt, bốc lên mùi ngai ngái của đất bồi hòa lẫn xác lá mục mục rữa. Trên tầng không, bầu trời đêm không còn vẩn đục những đám mây chì nặng trĩu sấm sét; dải sương mù bảng lảng chỉ còn quẩn quanh nơi lưng chừng sườn núi vỡ, phơi bày những vết chém nham nhở của địa tầng hoa cương sau cơn chấn động đứt gãy kinh hoàng của địa mạch.

Bùi Hạ đứng tựa một bên vai vào bờ lan can đá xám phía đông đài ngắm cảnh. Khối đá này vốn là một góc của bệ phong lôi cũ, bề mặt vẫn còn hằn sâu những đường rãnh xoi bằng đục thô sơ, nơi tích tụ chút nước mưa đọng lại từ chập tối. Cánh tay phải của nàng vẫn được nẹp chặt bằng hai thanh gỗ táu mỏng chẻ thẳng thớ, áp sát từ mu bàn tay lên tận quá khuỷu. Lớp băng vải thô bọc ngoài tẩm thứ cao tiêu viêm gia truyền bốc lên mùi ngải cứu sao dấm, vỏ núc nác và lá huyết dụ giã nát, hơi the the cay nồng xộc thẳng vào cánh mũi buốt lạnh. Nàng khẽ nâng bàn tay trái còn lành lặn, chậm rãi áp lòng bàn tay vào mép đá ráp sần. Từng đường vân ghồ ghề của đá sa thạch bị nước mưa và gió ngàn mài mòn suốt hàng trăm năm qua đang truyền vào da thịt nàng một cảm giác mát rượi, chắc nịch. Cảm giác ấy mách bảo nàng rằng nền móng của ngọn núi này vẫn vững, dẫu cho một phần ba vách đá phía sườn đông đã vĩnh viễn trôi tuột xuống lòng sông Vân Hà trong đêm bão bùng định mệnh ba ngày trước.

Tiếng bước chân quen thuộc với nhịp điệu hơi nặng ở gót phải dừng lại ngay sau lưng nàng, vừa đúng khoảng cách ba bước chân—không quá gần để gây thất thố, nhưng đủ ấm áp để chắn bớt luồng gió bấc rít qua khe lan can nứt. Lâm Tự không mang theo chiếc hòm đồ nghề bằng gỗ mun nặng trịch bên hông như mọi khi. Trên tay anh chỉ có chiếc áo tơi bện bằng nhiều lớp lá cọ bánh tẻ phơi khô qua ba lượt nắng, mép lá viền chỉ gai chắc nịch. Anh bước tới nửa bước, nhẹ nhàng và cẩn trọng choàng chiếc áo qua bờ vai mảnh khảnh nhưng rắn rỏi của nàng, tránh né chuẩn xác không để mép áo chạm vào phần nẹp gỗ ở cẳng tay phải.

"Gió từ phía hẻm sụt thốc ngược lên buốt lắm," giọng anh trầm thấp, lẫn trong từng con chữ là làn khói trắng mỏng tang thở ra rồi tan biến ngay vào màn đêm. "Tay muội vừa mới rút bớt độc dịch, phong hàn đầu mùa mà ngấm ngược vào các đầu khớp thì bao nhiêu công sức châm cứu giải ứ ba ngày qua của Đỗ Nghi coi như đổ xuống sông xuống biển."

Bùi Hạ khẽ mỉm cười. Nàng không đưa tay kéo chặt vạt áo lại, nhưng cũng không hề có ý dịch người né tránh hơi ấm mộc mạc tỏa ra từ lớp lá cọ khô. Nàng nghiêng đầu, đưa mắt nhìn người thợ mộc đang đứng sóng vai bên cạnh mình. Dưới ánh sáng đỏ le lói hắt ra từ ngọn đèn bão treo lủng lẳng dưới đầu hồi chính điện, những nếp nhăn khắc khổ nơi khóe mắt Lâm Tự dường như đã giãn ra đôi chút sau chuỗi ngày thức trắng giành giật từng mạng người. Vết sẹo dài chạy chéo trên mu bàn tay phải của anh—dấu tích của cú ghì đòn bẩy gỗ nghiến giữ cọc cừ khoang số bốn Đê Hồi Long khỏi bị nước xiết bẻ gãy—nay đã bắt đầu kéo da non, sắc hồng ửng nổi bật giữa nền da ngăm đen dày cộp những vết chai sần của người cầm rìu bạt, cầm cưa tay suốt hai mươi năm ròng.

"Huynh vừa sửa xong then gài kho thóc phía tây à?" Nàng cất tiếng hỏi khẽ, ánh mắt lướt qua những vệt mùn cưa mịn như bột còn vương trên gấu tay áo chàm của anh.

"Ừ. Toàn bộ rui mè và hệ giằng hồi trưa bị ngấm hơi ẩm co ngót không đều, then gỗ nghiến bị kích nhẹ ở góc mang cá phía trong. Ta vừa tháo ra bào bớt nửa phân, dùng giấy ráp đánh nhẵn rồi tra thêm hai chén dầu vẩu ép nóng. Giờ thì trơn tru rồi, đến một đứa trẻ mười tuổi chỉ cần gạt nhẹ đầu ngón tay cũng đẩy được then êm ru, không phát ra nửa tiếng cọt kẹt." Lâm Tự chống hai cùi chỏ lên gờ đá hoa cương nham nhở, phóng tầm mắt nhìn xuống dòng sông Vân Hà đang cuộn chảy lấp loáng ánh bạc dưới chân núi xa xa. "Mấy chục năm làm thợ mộc ở cái đất Nam Khê này, quanh quẩn chỉ biết dựng khung nhà lá, đóng cỗ áo quan cho người già trong làng, ta chưa từng dám nghĩ có một ngày, từng chiếc then gài, từng khớp mộng đuôi én do tay mình đục đẽo lại giữ được tính mạng cho hơn ba chục con người qua khỏi một trận cuồng phong đại hồng thủy như thế."

"Không chỉ đơn thuần là chiếc then gỗ đâu," Bùi Hạ nhìn theo hướng mắt anh, giọng nàng chùng xuống, từng thanh âm đều mang theo sự trân trọng chân thành tự đáy lòng. "Là cả một hệ thống giằng chéo chữ X chịu tải ngược, là từng chốt nêm mang cá bắt chết vào chân tảng, là cái cách huynh tính toán để từng thớ gỗ táu dẻo dai gánh bớt lực nén thay cho những bệ đá hoa cương rạn nứt. Nếu đêm đó không có những thứ kết cấu cơ học chuẩn xác đến từng ly ấy ghìm giữ lại, bàn trận Bắc Đẩu của ta đã phát nổ tan tành ngay từ lúc mắt trận Ngọc Hành bị dòng bùn quặng kéo tuột xuống vực rồi. Ta nợ huynh mạng sống này, và cả ba mươi hai con người ở Vọng Đăng am này đều nợ đôi bàn tay của huynh một món nợ không thể tính bằng tiền bạc."

Lâm Tự khẽ lắc đầu, khóe môi hơi nhếch lên thành một nụ cười khô khốc nhưng ấm áp—nụ cười đặc trưng của người thợ chỉ tin vào đường mực và lưỡi bào: "Đừng nói chuyện nợ nần ở nơi này, Bùi Hạ. Nếu đêm đó không có muội đứng mũi chịu sào giữa bão, dám dùng một cánh tay tàn phế bẻ hướng dòng xả áp của van cơ học, dám cầm bản vẽ kỹ thuật đứng đối chất từng câu từng chữ với trát trưng phu của huyện nha và dập tắt sự uy hiếp của Tạ Duy, thì mấy khúc gỗ táu của ta rốt cuộc cũng chỉ là củi mục trôi dạt ra cửa biển mà thôi. Lâm Tự này cả nửa đời trước sống trong sợ hãi, sợ con gái mình bữa đói bữa no, sợ một ngày nào đó quan quân ập đến lùa đi đắp đê phu dịch rồi chết rục xương dưới chân kè đá như cha chú ngày xưa. Muội đã cho cha con ta một mái nhà có rui mè vững chãi, cho ta hiểu rằng bát cơm mình bưng là do mồ hôi và kỹ nghệ chân chính làm ra, chứ tuyệt nhiên không phải thứ của bố thí rủ lòng thương."

Anh ngừng lại một nhịp dài, ánh mắt từ thung lũng tăm tối bên dưới từ từ thu về, dừng lại thật lâu trên gương mặt thanh tú đã gầy rộc đi vì chuỗi ngày lao lực triền miên của Bùi Hạ. Dưới ánh sáng vàng nhạt của ngọn đèn lồng đung đưa trong gió bấc, đôi gò má nàng lộ rõ vẻ xanh xao của người bị tổn hao nguyên khí, nhưng đôi mắt đen láy thì vẫn sâu thẳm, sáng quắc như những tinh thể thạch anh không tì vết. Trong đáy mắt người thợ mộc ít lời bấy lâu nay bỗng ánh lên một thứ tình cảm mãnh liệt, thứ tình cảm đã âm thầm bén rễ nảy mầm qua biết bao đêm đông thức trắng cùng cưa xẻ gỗ bên cạnh tiếng đục đá chan chát của nàng, qua những khoảnh khắc cả hai cùng bặm môi ghì chặt sợi dây cáp đồng cứu từng đứa trẻ thoát khỏi dòng nước xiết giữa ranh giới gang tấc của sự sống và cái chết. Đó không còn là sự hàm ơn đơn thuần giữa một phàm nhân thợ thuyền và một tu sĩ trận pháp, mà là sự gắn kết sâu nặng, thấu suốt đến tận tâm can của hai tâm hồn cùng mang vết thương rỉ máu, cùng nương tựa vào nhau để nhặt nhạnh từng mảnh vụn vỡ mà dựng lại một cuộc đời mới từ đống tro tàn hoang phế.

"Bùi Hạ," Lâm Tự gọi tên nàng, thanh âm khẽ run lên một thoáng nơi cuống họng rồi lập tức trở nên trầm tĩnh, dứt khoát lạ thường. "Sau đêm nay, toàn bộ thủ tục đăng bộ tông môn cơ sở đã hoàn tất trọn vẹn. Tờ sắc chứng nhận lâm thời của Trấn Linh Ty đã được đóng dấu chu sa đỏ chót, bản trát truy bắt đinh tráng của huyện nha gởi sang cũng đã bị huyện thừa đích thân gạch tên hủy bỏ sau khi nghiệm thu đoạn kè đá. Ta từ nay không còn là kẻ đào dịch tha hương mang án chém, muội cũng không còn là phế đồ môn phái bị người đời săn đuổi khinh khi. Ta muốn... cùng muội bước tiếp những chuỗi ngày sau này. Không phải chỉ với danh nghĩa một người thợ mộc phụ trách tu bổ rui mè vách ván cho chưởng môn kỹ thuật, mà như một người bạn đồng hành thực sự. Được đứng bên cạnh che chắn cho muội, được sẻ chia những gánh nặng mà muội luôn cắn răng nuốt ngược vào trong lòng."

Bùi Hạ khựng lại. Lồng ngực nàng nhói lên một cảm giác ấm nóng nghẹn ngào, thứ cảm xúc tưởng chừng như đã vĩnh viễn hóa thành tro lạnh kể từ cái ngày lò thử tải áp suất cao nổ tung tại xưởng rèn Thanh Huyền Môn nhiều năm về trước—nơi toàn bộ hệ kinh mạch bên tay phải của nàng bị linh hỏa xé nát vụn, nơi danh phận thiên tài trận pháp bị tước đoạt trong nháy mắt, và nơi những kẻ từng xưng tụng đồng môn chỉ biết quay lưng xua đuổi một kẻ phế nhân tàn tạ. Nàng chầm chậm xoay hẳn người lại, ngẩng đầu nhìn thẳng vào đôi mắt nâu sẫm, đượm vẻ chất phác nhưng kiên định khôn cùng của người đàn ông đã không ngần ngại vác búa đứng chắn trước mặt nàng khi Tạ Duy phát động linh áp Trúc Cơ đe dọa cả ngọn núi.

Nàng khẽ đưa bàn tay trái lành lặn ra, những ngón tay thon thả nhưng đầy vết chai sạn vì mài đá nhẹ nhàng đặt lên mu bàn tay thô ráp của anh. Hơi ấm nồng đượm từ lớp da thịt rắn rỏi của anh truyền sang tức thì xua tan đi cảm giác tê buốt âm ỉ đang cắn rẽ trong xương tủy nàng.

"Lâm Tự, lòng ta đối với huynh thế nào, chắc hẳn huynh là người hiểu rõ nhất," Bùi Hạ nói, giọng nàng trong trẻo nhưng rành rọt, từng con chữ đanh lại giữa tiếng gió hun hút của đỉnh đèo. "Giữa lúc đất trời đảo điên, núi lở đất sụt, người duy nhất ta có thể yên tâm giao trọn tấm lưng phía sau mà không cần ngoái lại nhìn chính là huynh. Nhưng huynh và ta đều phải nhớ rất rõ một điều: Vọng Đăng am này không phải là một mái ấm gia đình thu nhỏ của riêng hai chúng ta, càng không phải là thứ sản nghiệp riêng tư của cá nhân Bùi Hạ này để muốn định đoạt ra sao thì định đoạt."

Lâm Tự khẽ siết nhẹ những đầu ngón tay của nàng, ánh mắt không hề né tránh mà gật đầu thật chậm: "Ta hiểu điều muội đang lo nghĩ."

"Bản Điều lệ tông môn sơ lập của chúng ta vừa mới được Trấn Linh Ty phê chuẩn vào sổ bộ lúc hoàng hôn, ba mươi hai viên sỏi trắng của ba mươi hai con người từng bỏ vào chiếc bát đồng kia chính là nền móng của bản quy chế đầu tiên," nàng tiếp tục, ánh mắt bừng lên vẻ uy nghiêm và tỉnh táo của một người gánh vác vận mệnh của cả một cộng đồng người yếu thế. "Tình cảm giữa ta và huynh là thật, sự gắn bó sinh tử này ta trân quý hơn bất cứ báu vật nào trên đời. Nhưng một khi chúng ta bước chân qua cánh cửa gỗ kia, bước vào gian chính điện trước mặt toàn thể hội đồng, trước mặt kho thóc dự trữ và nguồn nước sinh hoạt Thạch Nhãn, thì sự gắn bó cá nhân ấy tuyệt đối không bao giờ được phép đặt cao hơn một chữ trong bản điều lệ. Huynh không thể vì xót xa cánh tay ta mà giấu nhẹm đi những vết rạn nứt kết cấu hay nguy cơ quá tải của hệ ròng rọc; ta cũng tuyệt đối không thể vì nể vì tình riêng với huynh mà tự ý chia thêm nửa bát cháo hoa hay bớt xén nửa canh giờ trực gác cho bé Lâm An hay bất kỳ người thợ nào trong tổ mộc. Tông môn này được dựng lên từ máu, nước mắt và khát vọng về sự công bằng, minh bạch của những kẻ cùng đường mạt lộ. Nếu ngày hôm nay, ta và huynh tự cho mình cái quyền phá vỡ lằn ranh ấy vì chút tư tình, thì Vọng Đăng am này chẳng mấy chốc sẽ thoái hóa thành một sơn môn thu nhỏ của những kẻ chuyên quyền độc đoán, nơi ân huệ cá nhân và thói gia đình trị đè bẹp mọi quy tắc sống còn."

Lâm Tự lẳng lặng lắng nghe từng lời nàng thốt ra, khóe mắt và cơ mặt không hề lộ ra một tia hụt hẫng hay tự ái nào của kẻ bị cự tuyệt. Ngược lại, nụ cười trên gương mặt phong trần của anh càng thêm phần nhẹ nhõm, sâu sắc và tôn kính. Anh lật bàn tay lại, để những ngón tay thô ráp của mình đan chặt lấy những ngón tay gầy gò của Bùi Hạ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi đủ để truyền trọn vẹn sự tin cậy, rồi chính anh là người chủ động buông tay ra trước, lùi lại đúng nửa bước, giữ khoảng cách chuẩn mực giữa hai người đồng sáng lập.

"Nếu muội vì chút tình riêng nam nữ mà lung lay nguyên tắc, thì muội đã chẳng còn là Bùi Hạ mà Lâm Tự này trọn đời nể phục và hướng về," anh nói, giọng đanh thép như tiếng nêm gỗ táu ăn ngập vào lỗ mộng. "Ta là người làm nghề mộc. Thước tầm đo một tấc là đúng một tấc, sợi chỉ búng mực thẳng là dứt khoát phải thẳng băng, không bao giờ có chuyện vì nể mặt ông thợ cả mà cho phép lưỡi bào gọt lệch đi nửa ly. Trước mặt ba mươi mốt con người dưới mái am này, ta là người chịu trách nhiệm toàn bộ về an toàn cơ học, còn muội là chưởng môn kỹ thuật trận pháp. Sự sống còn của cả am, sự an toàn của kho thóc và mạch nước ngầm là tối thượng. Ta xin cam kết với muội điều đó bằng cả danh dự của một người thợ."

Hai người đứng đối diện nhau dưới bầu trời đêm chớm đông, không cần thêm bất kỳ lời thề thốt non hẹn biển sáo rỗng nào nữa. Giữa họ lúc này là một hiệp ước ngầm thiêng liêng—một sự thấu hiểu vượt lên trên những toan tính thường tình của thói đời, gắn kết chặt chẽ bằng cả sự tỉnh táo tột cùng của lý trí lẫn sự chân thành thuần khiết của hai trái tim cùng chung một chí hướng.

***

Tiếng húng hắng ho khô khốc vang lên từ phía đầu hành lang lát ván dẻ gai đã cắt ngang không gian tĩnh lặng của góc đài quan sát.

Đỗ Nghi sải những bước chân dứt khoát tiến lại gần, trên tay bưng chiếc khay gỗ tròn đựng một bát thuốc bắc đặc quánh màu cánh gián bốc khói nghi ngút, tỏa ra mùi vị đắng nghét của sài hồ, hoàng cầm và quy đầu. Dưới nách nàng kẹp chặt một tập giấy bổi dày cộp ghi chép chằng chịt các đồ hình kinh lạc và nhật trình chẩn mạch. Ngay sau lưng nàng, lão thợ đá Nguyễn Mộc với chòm râu bạc dài chấm ngực đang chậm rãi bước theo, tay cầm cuốn sổ bìa da ghi chép nhật trình tiêu hao vật liệu của am. Đi cuối cùng là Phạm Sương, người phụ nữ gầy gò từng quản lý sổ nợ Bến Bạch Sa, nay bên hông đã đeo lủng lẳng chùm chìa khóa kho bằng đồng thau dày dặn, bước đi phát ra những tiếng kim loại va chạm leng keng dứt khoát.

"Hai người định biến cái đài đá này thành chỗ hứng trọn những cơn gió bấc đầu mùa để thử nghiệm xem kinh mạch phàm nhân chịu lạnh được đến mức nào đấy à?" Đỗ Nghi không chút khách khí đặt mạnh chiếc khay gỗ lên mặt lan can đá hoa cương, giọng điệu sắc sảo và gay gắt như thường lệ. "Bùi Chưởng môn, mời nàng thu chân lại và ngồi ngay ngắn xuống chiếc ghế đẩu kia cho ta nhờ. Đừng để ta phải dùng đến kim bạc châm vào huyệt Thần Môn ép nàng ngồi yên."

Bùi Hạ quá hiểu tính khí cương trực đến mức bướng bỉnh của vị nữ y giả này, nàng chỉ biết cười trừ rồi ngoan ngoãn ngồi xuống chiếc ghế đẩu bốn chân bằng gỗ dẻ gai mà Lâm Tự đã nhanh tay kéo lại sát chân tường chắn gió.

Đỗ Nghi không chần chừ một khắc nào. Đôi bàn tay thoăn thoắt của nàng luồn vào tháo dải dây gai buộc ngoài, gỡ nhẹ hai thanh nẹp gỗ táu ra khỏi cẳng tay phải của Bùi Hạ. Lớp gạc vải thô tẩm thuốc cũ vừa lột ra, mùi cao núc nác và máu bầm lập tức bốc lên nồng nặc. Vết rách ngoằn ngoèo hình con rết từng nứt toác, trào máu đen dọc theo cẳng tay nàng trong đêm bão bẻ van xả áp nay đã khép miệng lại thành một vệt sẹo lồi màu nâu tím. Tuy nhiên, dọc theo đường đi của các huyệt Liệt Khuyết, Xích Trạch và Thái Uyên, da thịt vẫn còn gồ lên những đường gân xanh tím cứng đờ, căng tức như những sợi dây chão bện chặt bị ngâm lâu ngày trong bùn lầy quặng sắt.

Đỗ Nghi khẽ hít một hơi, dùng ba đầu ngón tay mảnh dẻ ấn sâu vào từng huyệt vị, ánh mắt chăm chú quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ mặt của Bùi Hạ. Khi đầu ngón tay nàng miết mạnh qua huyệt Thái Uyên ở nếp gấp cổ tay, mi mắt Bùi Hạ bất giác giật nảy lên một cái, một hạt mồ hôi lạnh rịn ra trên trán nàng, nhưng hai hàm răng nàng cắn chặt vào nhau, không để lọt ra một tiếng rên rỉ nào.

"Kinh Phế tổn thương tầng sâu kịch liệt, hàn khí ngấm vào tận cốt tủy, uế khí từ đống bùn sa khoáng đêm đó vẫn còn đọng lại từng mảng ở màng ngoài của kinh lạc," Đỗ Nghi rút tay về, lấy khăn vải sạch lau khô các đầu ngón tay rồi lật mở tập giấy bổi trên bàn đá, cất giọng sang sảng đọc to từng chữ để tất cả những người đang có mặt đều nghe thấy. "Biên bản kiểm tra thương tật cuối kỳ kết luận: Cánh tay phải này đã vượt quá ngưỡng chịu tải an toàn gấp ba lần trong suốt ba mươi ngày liên tục. Bắt đầu từ việc ráng sức dẫn khí khai thông rãnh thoát nước ngầm Đê Hồi Long, cho đến cú bẩy cơ học cứu ngọn Đăng Dẫn Lộ đêm qua, đại kinh mạch của nàng hiện tại mỏng manh không khác gì một sợi dây tơ nhện treo đá tảng. Nếu trong vòng mười lăm ngày tới, nàng còn dám vận chuyển quá nửa thành linh lực qua cánh tay này, hoặc nhấc bất kỳ vật nặng nào vượt quá năm cân, toàn bộ kinh mạch vùng cẳng tay sẽ vỡ nát hoàn toàn không thể cứu vãn. Tu vi Luyện Khí tầng ba ít ỏi còn sót lại của nàng cũng sẽ theo đó mà tiêu tán sạch bách, biến nàng thành một phế nhân hoàn toàn mất khả năng lao động."

Bùi Hạ khẽ cựa quậy cánh tay, toan mở miệng phân trần: "Đỗ Nghi, mười lăm ngày thì lâu quá. Bàn trận trung tâm trên gác chuông vừa bị rung chấn làm lệch góc nghiêng hai ly, rãnh ngầm dẫn nước suối Thạch Nhãn cũng cần phải nạo vét lớp cát khoáng trước khi sương muối kéo đến..."

"Bùi Hạ! Nàng im lặng nghe ta nói hết đã!" Đỗ Nghi đanh giọng ngắt lời, đôi mày thanh tú dựng ngược lên với tất cả sự uy nghiêm tuyệt đối của một y giả nắm quyền sinh sát về thể trạng của mọi người trong sơn môn. Nàng quay phắt sang nhìn lão Nguyễn Mộc và Phạm Sương đang đứng nghiêm nghị phía sau. "Hội đồng am đã nhóm họp bất thường từ đầu giờ Tuất dưới sự chủ trì của lão Mộc. Căn cứ theo Điều mười một của Điều lệ Vọng Đăng am về Kỷ luật y tế và An toàn vận hành kỹ thuật: Bất kỳ thành viên nào mang thương tật nặng đe dọa trực tiếp đến tính mạng hoặc khả năng lao động lâu dài đều không được phép trực tiếp tham gia các công việc tiềm ẩn rủi ro cơ học, nhằm bảo toàn lực lượng cốt lõi cho toàn thể cộng đồng. Ta, với tư cách là y sĩ duy nhất phụ trách dược phòng của am, chính thức đưa ra kiến nghị trước hội đồng: Tước quyền trực đài trận đêm nay của Bùi Chưởng môn, đồng thời đình chỉ toàn bộ mọi hoạt động kỹ thuật nặng của nàng trong vòng mười lăm ngày tới!"

Phạm Sương lập tức bước lên một bước, tiếng chùm chìa khóa bên hông nàng va vào nhau leng keng dứt khoát: "Hạ muội, lần này tỷ hoàn toàn đứng về phía Đỗ Nghi, không có nhân nhượng gì hết. Sổ sách kho lương chiều nay ta đã kiểm kê đến hạt muối cuối cùng. Món nợ cũ với thuyền buôn Tam Giang đã được chuyển đổi thành hợp đồng lao động minh bạch, sắn khô và thóc giống đủ để ba mươi hai miệng ăn dè sẻn qua hết mùa đông giá rét này. Am chúng ta bây giờ không còn là cái thuyền nan thủng đáy để nàng phải đem tính mạng ra mà trám vào từng lỗ rò nữa. Nàng giao lại ca trực đêm nay cho đám trẻ đi."

Lão thợ đá Nguyễn Mộc đưa bàn tay gầy guộc đầy sẹo đá vuốt chòm râu bạc phơ, đặt cuốn sổ nhật trình dày cộp lên mặt bàn đá bên cạnh bát thuốc bắc: "Bùi muội à, cái thân già này đã sống qua bảy mươi mùa lúa rẫy, từng chứng kiến không biết bao nhiêu sơn môn, phường thợ sụp đổ tan tành chỉ vì những kẻ đứng đầu luôn tự coi mình là trời, việc gì lớn nhỏ cũng ôm đồm vào lòng, để rồi đến khi sức tàn lực kiệt gục ngã xuống thì đám đồ đệ bên dưới ngơ ngác như gà mất mẹ rồi tan đàn xẻ nghé. Muội dạy con bé Vũ Liên vẽ trận đồ, dạy đám con trai thợ đò từng quy tắc nêm mộng, từng bài học dẫn khí an toàn suốt cả tháng trời ròng rã để làm gì? Không phải là để đến ngày hôm nay, đôi vai của chúng nó có thể đứng ra gánh vác lấy ngọn đèn này thay cho muội hay sao?"

Lâm Tự vẫn đứng khoanh tay dựa lưng vào cột gỗ hiên, anh không nói một lời nào để tránh mang tiếng bênh vực, nhưng cái gật đầu chậm rãi, dứt khoát của anh hướng về phía Đỗ Nghi chính là lá phiếu đồng thuận cuối cùng khép lại cuộc họp ngắn.

Bùi Hạ phóng tầm mắt nhìn qua từng gương mặt đang vây quanh mình. Ánh mắt Đỗ Nghi nghiêm nghị nhưng sâu thẳm bên trong là sự xót xa của một người bạn; nét mặt sắc sảo của Phạm Sương ẩn chứa sự bao bọc chở che của một người chị cả; vẻ thâm trầm từng trải của lão thợ đá Nguyễn Mộc và sự đồng thuận kiên định của Lâm Tự. Trong một khoảnh khắc tĩnh lặng, nơi đáy lòng nàng dâng lên một luồng nhiệt lưu ấm áp lạ kỳ. Nàng bỗng nhận ra rằng, Vọng Đăng am từ lúc nào đã không còn là gánh nặng đơn độc đè oằn lưng một mình nàng nữa. Nó đã thực sự trở thành một cỗ máy sống động, có tôn ti trật tự, có nguyên tắc vận hành, và quan trọng nhất, có những con người biết đoàn kết lại để bảo vệ chính người dẫn đầu của họ khỏi sự tự hủy hoại của lòng nhiệt thành mù quáng.

Bùi Hạ khẽ thở dài một hơi thật dài, bao nhiêu sự căng thẳng, gồng gánh tích tụ trong lồng ngực suốt ba mươi ngày đêm chiến đấu với lũ dữ bỗng chốc tan biến sạch sẽ.

"Được rồi," nàng nở nụ cười, nụ cười thanh thản và trọn vẹn nhất kể từ cái ngày bước chân ra khỏi sơn môn Thanh Huyền. "Ta chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của hội đồng. Ta giao lại ca trực đài trận đêm nay."

Nàng đưa tay trái bưng bát thuốc bắc lên, ngửa cổ uống cạn một hơi không hề nhíu mày, mặc cho vị đắng ngắt lan tỏa khắp đầu lưỡi.

***

Trên tầng gác cao nhất của đạo quán, luồng gió lạnh thốc qua các khe chớp bằng gỗ lim đã được Lâm Tự dùng nêm chốt chặt ở một góc nghiêng ba mươi độ chuẩn xác. Gió khi lọt qua khe gỗ chỉ còn là những luồng khí thoảng nhẹ êm đềm, không đủ sức làm chao đảo ngọn lửa của chiếc đèn dầu sở nhỏ đặt nơi góc bệ đá.

Vũ Liên đứng trang nghiêm trước bàn trận đá thanh hoa hình bát giác. Nàng mặc bộ áo chàm thô đã bạc màu ở hai bên cùi chỏ, vạt áo được bó gọn gàng quanh eo bằng một sợi dây đay bện chặt. Đứng hai bên nàng là hai thiếu niên học việc mới được tuyển chọn vào tổ vận hành: Trần Hưng, cậu con trai mười sáu tuổi của người thợ chèo đò kỳ cựu Bến Bạch Sa, và Đỗ Tín, cậu em trai mười lăm tuổi của Đỗ Nghi vừa hoàn toàn bình phục sau trận sốt rét vì ngộ độc phèn quặng. Cả ba gương mặt trẻ tuổi đều lộ rõ vẻ tập trung cao độ, sự sợ sệt tự ti của những nạn dân từng co ro đói rách dưới chân đê ngày nào nay đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là sự đĩnh đạc của những người thợ đang nắm giữ kỹ nghệ trong tay.

"Kiểm tra áp lực thủy lực của rãnh nước Thạch Nhãn trước tiên," Vũ Liên dõng dạc ra lệnh, giọng nói của nàng rành rọt và dứt khoát theo đúng trình tự thao tác mà Bùi Hạ đã bắt nàng học thuộc lòng từng chữ.

Đỗ Tín lập tức ngồi thụp xuống bên cạnh máng tre dẫn nước ngầm, tay cầm chiếc thước đồng lá có khắc vạch chia đến từng phân ly, cẩn thận cắm thẳng đứng xuống dòng nước đang rỉ rả chảy qua ba tầng bể lọc than củi và cát thạch anh. Cậu bé ghé sát mắt nhìn ngấn nước dưới ánh đèn dầu: "Mực nước dâng ba phân hai ly, lưu lượng ổn định ở mức hai mươi tư gánh mỗi ngày đêm theo đúng tính toán. Nước trong vắt, không thấy váng chì nổi lên, không có mùi lưu huỳnh."

"Tốt," Vũ Liên khẽ gật đầu, tay phải cầm chiếc muỗng nhỏ bằng sừng trâu xúc một lượng bột linh sa ngũ sắc đã được nghiền mịn như phấn hoa trong cối đá. Nàng nghiêng nhẹ cán muỗng, rải một dải bột mỏng đều tăm tắp vào rãnh dẫn linh vi mô được xoi uốn lượn trên mặt đá thanh hoa, nối thẳng từ bể tích năng lượng vào tim ngọn đèn. "Trần Hưng, kiểm tra độ an toàn của chốt nêm cơ học số hai dưới gầm bệ."

Trần Hưng nhanh nhẹn luồn người xuống khoảng không gian hẹp dưới chân bệ đá, tay cầm chiếc búa gỗ nhỏ gõ nhịp nhàng ba tiếng *cốc, cốc, cốc* vào chiếc chốt nêm bằng gỗ táu hình mang cá. Âm thanh vang lên đanh gọn, giòn giã và dứt khoát.

"Mộng gỗ ăn khít rịt, không hề có độ rơ! Khe hở giãn nở nhiệt đo đúng nửa ly theo đúng bản vẽ thiết kế của chú Tự!" Thiếu niên chui đầu ra, ngẩng mặt lên báo cáo dõng dạc.

Vũ Liên hít một hơi thật sâu lồng ngực, chỉnh lại nếp áo rồi ngồi xếp bằng ngay ngắn trên chiếc bồ đoàn bện bằng rơm nếp khô đặt ngay trước bàn trận. Nàng không hề hấp tấp vận chuyển linh lực một cách cuồng loạn như cái thuở còn lén lút luyện khẩu quyết tàn khuyết để rồi suýt thổ huyết đứt kinh mạch. Nàng nhắm nghiền hai mắt lại, bắt đầu điều hòa nhịp thở theo đúng bài tập dẫn khí cơ bản mà Bùi Hạ đã kiên trì chỉ dạy: hít vào thanh khí của trời đất, dẫn chậm rãi qua kinh Thiếu Dương, lắng đọng tại đan điền ba nhịp thở, rồi nhẹ nhàng đẩy một luồng linh lực hệ Mộc ôn hòa men theo đầu ngón tay trỏ chạm nhẹ vào mắt trận trung tâm trên phiến đá thanh hoa.

Trận phù Bắc Đẩu khắc trên mặt đá khẽ rung lên, phát ra một tiếng *ong* trầm đục, ngân vang êm ả như tiếng chuông đồng từ một ngôi chùa cổ xa xăm.

Dòng nước ngầm Thạch Nhãn chảy qua rãnh đồng lập tức bốc lên một làn khói sương mỏng mang hơi lạnh sảng khoái. Chiếc van điều áp cơ học bằng đồng đúc từ từ nhấc bổng lên một góc mười lăm độ dưới tác động nhịp nhàng của dòng chảy.

Và rồi, trên đỉnh chóp của gác chuông, ngọn Đăng Dẫn Lộ bừng sáng.

Đó không phải là luồng sáng chói lòa, hung hãn hay gầm thét như lúc đốt cưỡng bức linh thạch trong đêm bão kinh hoàng. Đó là một cột sáng màu vàng hổ phách thuần hậu, ấm áp và bền bỉ phi thường. Luồng sáng ấy xuyên qua tấm gương đồng phản quang được mài nhẵn thín, rọi thẳng một vệt dài tít tắp qua màn sương đêm mỏng manh, soi sáng rực rỡ khúc quanh hiểm trở đầy đá ngầm của dòng sông Vân Hà, đồng thời bao phủ trọn vẹn con đường mòn rải đá dăm uốn lượn dẫn từ chân đê lên tận cổng tam quan Vọng Đăng am.

Đỗ Tín và Trần Hưng đứng nép bên lan can gỗ, nhìn luồng sáng phẳng lặng như dải lụa vàng không hề có một gợn chập chờn, hai đứa trẻ không kìm được đồng thanh reo khẽ, nụ cười rạng rỡ bừng nở trên khuôn mặt ngây thơ lấm lem bụi đá.

"Thành công rồi! Địa mạch dưới lòng núi hoàn toàn phẳng lặng, linh tuyền dẫn về bể chứa sinh hoạt phía sau bếp đang chảy rất đều!" Đỗ Tín reo lên.

Vũ Liên từ từ mở mắt, ngước nhìn ngọn hải đăng bằng trận pháp đang tỏa sáng rực rỡ trên đỉnh đầu mình. Nàng khẽ đưa bàn tay vuốt ve vết sẹo nhỏ nơi mu bàn tay—dấu tích của những ngày nàng cùng Bùi Hạ khiêng từng tảng đá nặng, kéo từng khúc gỗ ướt sũng. Nàng hiểu rằng, kể từ giây phút này, thế hệ những người trẻ tuổi như nàng đã không còn là những nạn dân sống lay lắt dựa vào lòng thương hại hay vắt kiệt tàn lực của một mình chưởng môn. Họ đã chính thức trở thành những người giữ đèn, đủ sức đứng vững bằng chính đôi chân và khối óc của mình để che chở cho ngọn lửa chung.

***

Dưới sân am, Bùi Hạ đứng lặng lẽ bên khung cửa sổ hành lang nhìn lên gác chuông.

Thấy luồng sáng vàng hổ phách tỏa ra phẳng lặng, nhịp nhàng quét qua màn sương núi mà không hề phát ra một tia chớp giật hay tiếng rít quá tải của dòng linh lưu, khóe mắt nàng chợt cay cay. Một cảm giác nhẹ nhõm vô bờ bến lan tỏa khắp da thịt nàng, tựa như dòng suối mát lành gột rửa đi mọi nỗi nhọc nhằn, cay đắng mà nàng đã phải cắn răng chịu đựng suốt bao năm tháng lưu đày.

Nàng đưa bàn tay trái ra sau hông, chậm rãi tháo chiếc túi đồ nghề bằng da trâu đã sờn rách bốn góc xuống.

Chiếc túi da ấy đã theo nàng ròng rã suốt từ những ngày còn là một đệ tử chân truyền của Ty Trận Vụ tại Thanh Huyền Môn, qua những đêm đông lạnh thấu xương bị trục xuất khỏi sơn môn, lang bạt khắp các bến sông bùn lầy, qua ba mươi ngày giành giật từng tấc đất trên ngọn Đoạn Phong này. Bên trong chiếc túi ấy là chiếc compa sắt đã rỉ sét nửa cán, con dao khắc đá mẻ mất một góc nhọn, vài mẩu đá dẫn linh vụn vặt nhặt nhạnh được dọc đường, và tệp giấy bản vẽ chi chít những công thức tính toán tải trọng cơ học cùng các sơ đồ chuyển đổi năng lượng. Nó nặng trĩu—nặng như chính cái gánh nặng trách nhiệm và số phận nghiệt ngã mà nàng đã tự buộc chặt vào đời mình bấy lâu nay.

Bùi Hạ đặt chiếc túi da lên mặt chiếc bàn gỗ dài ở gian tiền sảnh. Nàng dùng những ngón tay gầy guộc vỗ nhẹ lên bề mặt da thô ráp như một lời chào tạm biệt đầy trân trọng gửi tới một người bạn đồng hành trung thành, rồi dứt khoát quay người bước về phía dãy phòng ở chái tây.

Căn phòng vách gỗ nhỏ của nàng nằm ở góc khuất yên tĩnh nhất của am, vừa mới được Lâm Tự và nhóm thợ mộc hoàn thiện những công đoạn cuối cùng vào đầu giờ chiều nay. Toàn bộ vách tường đều được ghép bằng những tấm ván gỗ dẻ gai dày dặn, tỏa ra mùi nhựa gỗ mới thơm ngai ngái, các khe hở ghép nối đều được trát kín bằng một lớp hỗn hợp đất sét dẻo trộn rơm khô và vôi bột để ngăn tuyệt đối gió bấc luồn qua.

Nàng dùng tay trái khẽ đẩy cánh cửa gỗ khép hờ bước vào, một luồng hơi ấm dịu dàng lập tức ùa tới bao bọc lấy toàn bộ cơ thể đang lạnh ngắt của nàng.

Ở góc phòng, chiếc chậu sưởi bằng đất nung nung già chứa đầy than củi hầm kỹ đang tỏa ra ánh than hồng âm ỉ, không hề có lấy một sợi khói cay hay mùi khét ngột ngạt. Trên chiếc bàn con bằng gỗ tạp đặt sát cạnh cửa sổ có chấn song, bé Lâm An đã chu đáo thắp sẵn một ngọn đèn dầu hạt sở nhỏ xíu, ngọn lửa vàng hình hạt đỗ cháy lặng lẽ, tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp diệu kỳ. Cạnh chân đèn là một chiếc bình gốm da lươn thô mộc, bên trong cắm một cành hoa dại cánh trắng li ti mà cô bé đã cẩn thận hái bên bờ suối Thạch Nhãn chiều nay, kèm theo một chiếc đĩa sành mẻ mép đựng hai củ mài nướng thơm lừng vẫn còn ấm sực trong lớp tro ủ.

Bùi Hạ bước lại gần bàn. Bên cạnh chiếc đĩa sành đựng củ mài, đặt ngay ngắn hai thứ đồ vật:

Thứ nhất là một phong thư gấp bằng giấy bổi thô ráp của ông lão đại diện cho làng chài hạ lưu sông Vân Hà gửi lên am lúc chập tối. Trong thư là những dòng chữ nguệch ngoạc nhưng tha thiết, khẩn khoản nhờ Vọng Đăng am cử người xuống hỗ trợ kỹ thuật để khảo sát, nạo vét và phục hồi lại trạm lọc nước ngầm công cộng vốn đã bị cát sa khoáng vùi lấp hoàn toàn sau đợt lũ quét.

Và nằm ngay bên dưới phong thư ấy là tấm da dê đã ngả màu vàng ố—bản «Toàn Đồ Quy Chuẩn Tuyến Dẫn Linh Vùng Thung Lũng Nam Khê» do chính tay người sư phụ cũ Trần Kính gửi lại trước khi ông cáo lão lui về ẩn cư nơi thôn dã. Trải dài trên tấm bản đồ ấy, men theo lưu vực rộng lớn của dòng sông Vân Hà, vẫn còn hàng chục điểm đứt gãy địa mạch phức tạp chưa từng có ai dám đặt chân tới khảo sát; vẫn còn hàng chục ngôi làng xơ xác sau thiên tai đang thiếu thốn từng giọt nước sạch, thiếu ánh sáng soi đường và thiếu một điểm tựa kỹ thuật an toàn để chống chọi với sự khắc nghiệt của đất trời.

Một mạng lưới kỹ thuật cứu nạn liên vùng rộng lớn, một trật tự mới dựa trên sự minh bạch và tri thức chân chính đang dần hé mở ra từ chính chân ngọn Đoạn Phong nhỏ bé này. Nhưng Bùi Hạ biết, đó là câu chuyện của tương lai, của những tháng ngày tới khi mùa đông qua đi, mùa xuân đâm chồi nảy lộc và vết thương trên cánh tay phải của nàng hoàn toàn bình phục.

Còn đêm nay, thế giới đầy giông bão bên ngoài đã tạm thời lùi lại sau cánh cửa gỗ.

Không còn tiếng gõ mõ dồn dập rách toang màn đêm báo động đất sườn đông sạt lở. Không còn tiếng còi đồng rúc lên từng hồi man dại báo tin bờ kè Đê Hồi Long vỡ trận. Và cũng không còn nỗi nơm nớp lo sợ tiếng gót giày rầm rập của toán nha sai mang theo xích sắt và trát bắt phu ập vào cửa đòi bắt đinh tráng giữa đêm thanh vắng.

Chiếc giường phản hai tầng đóng bằng gỗ nghiến vững chãi với những đường mộng thắt đuôi én khít rịt hiện ra trước mắt nàng. Bên trên mặt phản trải một tấm chiếu cói mới dệt còn thơm nồng mùi nắng hạ, cùng một chiếc chăn bông chần vải thô dày dặn, sạch sẽ.

Bùi Hạ cởi bỏ chiếc áo khoác ngoài bằng vải gai đã bạc màu sương gió, cẩn thận đặt cánh tay phải đang nẹp gỗ lên chiếc gối êm bọc vải mềm mại. Nàng chậm rãi ngả lưng nằm xuống, kéo chiếc chăn bông ấm áp phủ qua bờ vai gầy guộc. Mùi cói khô thanh khiết, mùi gỗ dẻ gai mới xẻ và hơi ấm nồng đượm từ chậu than hồng hòa quyện vào nhau, tạo nên một cảm giác an toàn và chở che tuyệt đối—thứ cảm giác bình yên dung dị mà suốt bao năm tháng lang bạt kỳ hồ giữa lằn ranh sinh tử, nàng chưa từng một lần dám mơ tưởng tới.

Bên ngoài song cửa gỗ, tiếng gió mùa đông vẫn vi vu thổi qua những rãnh đá sâu hoắm của vách núi Đoạn Phong, nhưng mái nhà bên trên đầu nàng vô cùng vững chãi, không còn dột một giọt nước mưa nào nữa.

Trên gác cao đạo quán, ngọn đèn dẫn đường vẫn tỏa luồng sáng vàng ổn định qua làn sương núi bằng sự vận hành nhịp nhàng của thế hệ kế tiếp, trong khi bên dưới, người thợ sửa trận yên giấc ngủ trọn vẹn đầu tiên sau cơn đại hồng thủy.

Dưới ánh sáng bền bỉ của ngọn đèn không tắt, người thợ sửa trận nhắm mắt chìm vào giấc ngủ yên bình đầu tiên kể từ sau ngày cơn lũ quét qua.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories