Tông Môn Sau Cơn Lũ — Phần 1: Ngọn Đèn Trên Núi VỡCh.14 / 40
Chapter 14

Thương Lượng Với Quan Nha

Sân huyện nha An Lưu sớm hôm ấy ngập trong một thứ chướng khí đặc quánh, bốc lên từ vũng bùn non đỏ quạch bị hàng trăm gót chân giẫm nát và mùi mực nho ẩm mốc lưu cữu trong các xấp hồ sơ hộ tịch. Nước lũ từ nhánh sông lớn ngoài kia tuy đã chững lại, không còn cuồn cuộn tràn qua mặt đê đất như hai hôm trước, nhưng sự rút lui chậm chạp của nó chỉ để lại một lớp phù sa nhơn nhớt, tanh tưởi bám chặt vào chân tường gạch và các bậc đá xanh. Mưa phùn vẫn giăng mắc như một tấm lưới xám xịt phủ trùm lên những mái ngói rêu phong của tiền sảnh, tí tách rơi xuống từ những đầu đao chạm rồng đã sứt mẻ hàn gắn bằng vôi trắng. Cứ cách vài khắc, tiếng thước gõ bằng gỗ nghiến của đám lại dịch trong các gian phòng phụ lại chát chúa vang lên, đập tan tiếng rầm rì van vác của đám đông dân phu đang co ro chờ chực ngoài hành lang đông.

Mùi ẩm lạnh quyện chặt lấy mùi áo tơi tước từ vỏ cọ mục rỗng, mùi mồ hôi chua loét của những thân thể nhiều ngày không được tắm rửa sạch sẽ, và thứ hương trà ôi khét lẹt tỏa ra từ những chiếc ấm đất sứt vòi của đám nha sai coi việc đinh dịch. Người từ các làng trũng bãi bồi dạt về đây nườm nượp. Có kẻ hai tay run lẩy bẩy nâng niu mảnh giấy báo người nhà mất tích đã nhòe nhoẹt bùn sông, có kẻ quỳ phục dưới chân cột đá, dập đầu xin hoãn một suất phu phen để về chôn cất cha mẹ già vừa chết vì cảm lạnh. Đáp lại họ phần lớn chỉ là những cái phẩy tay xoi mói, những cái trợn mắt hách dịch và tiếng ngòi bút lông cứng quẹt rột rẹt vào mép sổ bộ bìa da trâu. Những nét mực son đỏ lòm thỉnh thoảng lại vạch một đường dứt khoát ngang qua một cái tên, đồng nghĩa với việc kẻ đó nếu không trình diện ở chân công trường trước buổi chiều thì cả gia đình ngụ cư sẽ bị lột sạch manh chiếu rách rưới cuối cùng.

Bùi Hạ đứng nép mình dưới bóng mái hiên gian sảnh tiền môn, nơi những giọt gianh buốt giá thỉnh thoảng lại theo gió tạt nghiêng vào vạt áo. Nàng khẽ co các ngón tay trái, cẩn trọng kéo mép tay áo vải thô màu chàm xuống thấp thêm một đốt ngón tay để che kín đoạn nẹp tre mỏng đang giữ chặt cổ tay phải. Cơn buốt nhức chạy dọc từ kinh Phế lên đến bả vai đã bớt phần dữ dội nhờ lớp cao dán thảo dược nồng mùi rễ bạch chỉ mà Đỗ Nghi cẩn thận đắp cho nàng từ tối qua; thế nhưng mỗi khi nàng vô thức xoay nhẹ khớp xương, cảm giác căng tức nghẽn ứ của nhánh kinh lạc bị tổn thương sâu kín vẫn lập tức nhắc nhở rằng linh khí trong đan điền lúc này tựa như một dòng suối cạn bị đá tảng chặn dòng, tuyệt đối không thể tùy tiện vận hành để bức bách phong bế.

Đứng sát bên cạnh nàng, Đỗ Nghi ôm chặt bọc vải dầu dày cộp trước ngực. Đôi môi nàng tái nhợt vì phải thức trắng đêm dưới ngọn đèn dầu hạt cải và lặn lội trong sương sớm, hai bọng mắt thâm quầng lộ rõ vẻ mệt mỏi cùng cực của một y sinh vừa phải giành giật từng mạng sống nơi lều bệnh vừa phải chạy đua với thời gian. Thế nhưng, đằng sau nét tiều tụy ấy, ánh mắt Đỗ Nghi lại sắc sảo và lạnh lùng lạ thường, sắc lạnh tựa như mũi dao đồng mỏng dính mà nàng vẫn dùng để trích máu giải độc cho những bệnh nhân sốt rét ác tính.

Lâm Tự không cùng hai người bước vào mảnh sân nha môn ngột ngạt này. Đó là sự sắp đặt cẩn trọng từng đường đi nước bước mà Nguyễn Mộc đã vạch ra từ canh ba đêm trước, bên cạnh chiếc bàn thợ mộc ngổn ngang phoi bào trên đỉnh Đoạn Phong. Lão thợ đá già dặn hiểu quá rõ cái thói lộng quyền của chốn nha môn thời loạn: một gã thợ mộc ngụ cư đang mang trên lưng trát đòi đinh dịch khẩn cấp của quan phòng hộ đê, nếu dại dột đặt chân qua ngạch cửa công đường khi trên tay chưa cầm được tờ công văn miễn hoãn chính thức, thì lũ sai nha đói tiền thưởng sẽ chẳng thèm nghe nửa lời phân trần. Chúng chỉ cần vung xích sắt tròng vào cổ, lôi tuột ra bờ sông tống vào lán phu phen là xem như gạo đã nấu thành cơm. Lúc ấy, dẫu có lý lẽ ngút trời cũng chỉ là tiếng kêu vô vọng giữa sóng nước gầm gào. Hiện giờ, người thợ mộc góa vợ ấy đang ngồi chết lặng trong một quán trà che bạt rách đối diện cổng huyện nha, đôi bàn tay chai sạn nắm chặt lấy vạt áo cũ của mình, xung quanh là ba người bạn chèo đò thâm niên của Bến Bạch Sa do Nguyễn Mộc đích thân cử đi kèm cặp, sẵn sàng tản ra che chắn nếu có biến cố bất ngờ.

"Đi thôi, Bùi tỷ," Đỗ Nghi ghé sát tai Bùi Hạ, thanh âm nhỏ như tiếng muỗi kêu nhưng từng âm tiết đều rắn rỏi. Hơi thở nàng phả ra một làn khói mỏng manh rồi tan biến ngay vào không khí ẩm buốt. "Giờ Thìn ba khắc rồi. Trống điểm canh ba của nha môn đã dứt, phòng Huyện thừa bắt đầu thụ lý công văn đê điều và xét duyệt nhân lực phụ dịch."

Hai người đồng loạt cất bước, đế giày rơm bện chặt giẫm qua bậc ngạch cửa bằng đá xanh dày dặn, sứt sẹo dấu vết của hàng trăm năm xe ngựa và đòn khiêng va quẹt, tiến thẳng vào gian sảnh đường rộng lớn của Công tào.

Không gian bên trong tối tăm và bức bối hơn ngoài sân gấp bội. Dưới ánh sáng lờ nhờ hắt qua những ô cửa sổ chấn song gỗ bám đầy mạng nhện và bụi nước, bốn dãy bàn dài kê sát chân tường chất la liệt những chồng sổ sách ố vàng vì ngấm ẩm, mép giấy quăn queo như tai nấm mục. Trên vách tường vôi lở loét treo lủng lẳng mấy tấm bản đồ phân ranh lưu vực sông Vân Hà vẽ vội bằng mực đen trên giấy bản cẩu thả, nhiều chỗ bị nước dột làm nhòe thành những vệt xám ngoét vô định. Mùi khói đèn dầu lạc khét lẹt xông thẳng vào mũi, hòa lẫn với thứ mùi chua nồng của cơm nắm nguội ngắt bỏ dở trong những chiếc giỏ tre để dưới gầm bàn.

Ngồi sừng sững sau chiếc bàn trà lớn bằng gỗ thị đen trũi ở vị trí trung tâm sảnh đường là Huyện thừa Hoàng Cẩn. Vị quan phụ trách hộ tịch, đinh dịch và vật tư công trình của huyện An Lưu trông già hơn tuổi thật đến cả chục tuổi; đôi mắt ông ta hằn lên những tia máu đỏ sọc vì liên tiếp nhiều đêm thức trắng điều phối đinh phu và đối phó với những đợt công văn thúc bách từ thượng phủ gửi xuống. Thế nhưng, sự mệt mỏi thể xác ấy không hề làm giảm bớt vẻ hách dịch cố hữu trên khuôn mặt vuông vức đầy nếp nhăn. Cặp lông mày rậm rạp của ông ta nhíu chặt lại thành một đường rãnh sâu hoắm giữa trán, tạo nên một vẻ mặt cay nghiệt của kẻ quen nắm quyền sinh sát dân sự trong tay, coi mạng sống của đám tiện dân ngụ cư chỉ là những con số khô khốc trên mặt giấy.

Đứng sừng sững hai bên bàn là hai tên nha sai lực lưỡng, mình vận giáp da cũ kỹ, tay lăm lăm gậy đầu vồ bằng gỗ nghiến bịt đồng ở hai đầu. Đôi mắt chúng đảo qua đảo lại như rang lạc, soi mói từng bước chân, từng cử chỉ của những kẻ bước vào phòng như loài chim ưng rình rập con mồi.

Bùi Hạ dừng bước cách mép bàn gỗ thị chừng năm bước chân. Nàng khẽ hít một hơi thật sâu, nén lại sự co thắt âm ỉ nơi lồng ngực, rồi đưa tay trái đặt lên trước ngực, hơi cúi đầu hành lễ theo đúng phép tắc thông thường của một tu sĩ hành nghề tự do trước mặt mệnh quan triều đình. Động tác của nàng thong thả, chuẩn mực, không hề có nét luồn cúi run rẩy nhưng cũng không để lộ ra nửa phần ngạo mạn. Nàng vươn tay, rút từ trong bọc giấy dầu ra một tập hồ sơ được xếp nếp vuông vức, sạch sẽ, không hề dính lấy một hạt bụi nước:

"Bẩm Huyện thừa đại nhân. Đạo quán Vọng Đăng trên núi Đoạn Phong chúng tôi kính cẩn đệ trình hồ sơ xin giải tỏa và miễn hoãn đinh dịch theo hạn định khẩn cấp cho thợ mộc Lâm Tự, người vừa nhận trát triệu tập đắp Đê Hồi Long vào giờ Thân chiều hôm qua."

Hoàng Cẩn đang cúi đầu xem xét một tờ trát điều động đá hộc, thậm chí không buồn ngước mắt lên nhìn lấy một cái. Đầu ngón tay trỏ khẳng khiu, móng tay cáu bẩn vì mực đen của ông ta gõ nhịp côm cốp xuống mặt bàn gỗ thị, từng tiếng gõ vang lên đanh gọn và lạnh lùng giữa không gian ngột ngạt:

"Vọng Đăng? Lại là cái miếu hoang rách nát trên ngọn núi vỡ đó à? Bản quan đã công bố rõ ràng trước cửa nha môn từ hai hôm trước, huyện An Lưu này lúc này đang dốc toàn lực cho Đê Hồi Long, nước sôi lửa bỏng, không có chỗ cho sự chần chừ. Bất kể là dân bản thổ, dân ngụ cư hay kẻ tị nạn không gốc gác, phàm là đàn ông trai tráng từ mười sáu đến năm mươi tuổi, nếu không có đạo tịch chính thức do tam đại tông môn thừa nhận cấp phát, thì đều phải lập tức ra chân đê vác đất, đóng cọc! Lâm Tự là thợ cả có tiếng ở Bến Bạch Sa, tay nghề đóng mộng cọc mộc tinh xảo, tên tuổi và lý lịch đã ghi rõ trong sổ bộ điều động đặc biệt của Công tào. Giữa lúc nguy cấp này lại đòi miễn hoãn? Miễn hoãn cái nỗi gì?"

"Thưa đại nhân, chúng tôi đến đây nộp hồ sơ này hoàn toàn chiếu theo pháp điển của vương triều, không dám vượt quá nửa bước quy củ," Đỗ Nghi bước lên nửa bước, đứng sóng vai cùng Bùi Hạ.

Thanh âm của nàng trong trẻo, rành rọt, vang lên đanh thép giữa sảnh đường, hoàn toàn không có sự run rẩy, quỵ lụy thường thấy của đám thường dân khi đối diện với uy quyền quan phủ. Đôi bàn tay nàng thoăn thoắt mở bọc vải dầu, đặt từng tờ công văn lên mép bàn làm việc:

"Căn cứ theo Điển lệ Hộ tịch và Lao dịch lưu vực Vân Hà, thiên thứ tư, điều mười bảy: người cha góa bụa đang một mình nuôi con nhỏ dưới mười hai tuổi, trong gia cảnh đơn chiếc không người thân thích nương tựa, thuộc diện được chính quyền địa phương xét miễn hoãn đinh dịch khẩn cấp trong mùa thiên tai lũ lụt để bảo toàn nhân đinh. Đây là bản khai dân tịch của cháu Lâm An, mười một tuổi, có dấu triện chứng thực của hương lý cũ tại Bến Bạch Sa từ ba năm trước. Kèm theo đó là lời khai làm chứng có điểm chỉ máu của lão thợ đá Nguyễn Mộc cùng bốn bạn đò ngụ cư lâu năm trên bến sông."

Từng tờ giấy bản dày dặn được Đỗ Nghi trải phẳng phiu trên mặt bàn gỗ thị. Nét chữ viết bằng mực tàu đen nhánh của Nguyễn Mộc hiện lên chân phương, ngay ngắn từng nét mác nét phẩy, kể rõ gia cảnh góa bụa của Lâm Tự từ khi vợ mất trong trận dịch tả bốn năm trước. Phía dưới góc phải tờ đơn, bốn dấu vân tay đỏ chót in bằng máu tươi của Lê Trọng, Trần Đại và đám thợ đò Bến Bạch Sa vẫn còn hằn rõ từng đường vân xoắn ốc. Tờ giấy khai sinh cũ kỹ của bé Lâm An cũng được lau sạch bụi đất ven bờ, dấu mộc son tròn trĩnh từ mười năm trước hiện lên đỏ thắm dưới ánh sáng mờ đục của gian phòng.

Hoàng Cẩn liếc mắt qua đống giấy tờ, khóe môi khẽ giật giật hai cái. Trong đôi mắt thâm quầng của ông ta lóe lên một tia bực bội tột cùng. Là một viên chức đã lăn lộn hàng chục năm nơi huyện lỵ, ông ta làm sao không nhận ra hồ sơ này được chuẩn bị quá sức bài bản, từ trích dẫn điển lệ cho đến nhân chứng vật chứng đều không chê vào đâu được, chặt chẽ đến mức khiến một kẻ quen bới lông tìm vết cũng khó lòng bẻ gãy ngay lập tức.

Thế nhưng, gánh nặng của chỉ tiêu đinh dịch từ cấp trên ép xuống và thói cửa quyền ngạo mạn lập tức dập tắt chút ngập ngừng vừa lóe lên. Bàn tay gầy guộc đầy gân xanh của Hoàng Cẩn bỗng nhiên đập rầm một tiếng thật mạnh xuống mặt bàn gỗ thị!

Tiếng đập bàn chát chúa như tiếng sấm nổ giữa gian phòng kín. Chén trà sứ viền lam nhảy dựng lên, nước trà vàng khè sóng sánh tràn ra ngoài miệng chén, chảy lênh láng qua mép nghiên mực đá rồi thấm loang lổ vào một góc tờ trích lục điển lệ.

"Càn rỡ!" Hoàng Cẩn đứng bật dậy, mặt đỏ gay vì giận dữ, ngón tay run rẩy chỉ thẳng vào mặt hai người phụ nữ. "Các ngươi dám đem mấy dòng điển lệ mục nát từ đời nảo đời nào ra để trói tay trói chân quan phủ giữa lúc nước lũ ngập đến tận cổ họng thế này ư? Các ngươi có biết ngoài sông Vân Hà kia, mực nước đang dâng cao thêm mỗi giờ một tấc không? Thân Đê Hồi Long đã sạt lở hơn ba mươi trượng, cọc cừ gỗ tạp đóng xuống bao nhiêu là bị sóng ngầm đánh bật, trôi phăng phắc bấy nhiêu! Cả công trường ngoài đó đang thiếu hụt trầm trọng những người thợ mộc có tay nghề để ghìm chân cọc lim, đóng khung giằng chống lún!"

Ông ta bước vòng qua mép bàn, tiếng đế giày da nện cồm cộp trên nền gạch tàu, giọng nói the thé rít lên từng hồi:

"Mấy ngàn mẫu ruộng lúa phía hạ lưu, sinh mạng của mười vạn dân huyện An Lưu này đang treo trên đầu sợi tóc, mà các ngươi lại dám mặt dày mày dạn lên đây giấu giếm một người thợ mộc lành nghề trên núi chỉ vì một đứa con gái ranh mười một tuổi? Đứa trẻ đó không có cha chăm sóc thì đã có cháo thí nơi trại tị nạn nuôi sống nó! Còn con đê kia mà vỡ ra thì cả cái huyện này biến thành đáy sông, đứa con gái đó sống nổi không?"

Hai tên nha sai lập tức bước dấn lên một bước lớn, đầu gậy vồ bịt đồng nện xuống nền gạch tàu tạo thành hai tiếng cộp cộp khô khốc, ánh mắt hung tợn và đầy tính đe dọa chĩa thẳng vào thân hình mảnh khảnh của Bùi Hạ và Đỗ Nghi.

Hoàng Cẩn gạt phắt xấp giấy tờ của Vọng Đăng sang một góc, giọng nói trở nên gắt gỏng và cay nghiệt vô cùng:

"Quan huyện đã có lệnh ban ra từ tối qua: Trong thời điểm thiên tai hồng thủy, công vụ hộ đê là quân lệnh, đặt lên trên hết thảy mọi điển lệ thông thường! Mọi đơn từ xin miễn hoãn cá nhân đều tạm gác lại sau khi lũ rút. Hạn cho Lâm Tự nội trong giờ Ngọ hôm nay phải có mặt tại điếm canh số ba Đê Hồi Long để nhận búa đinh nhận cọc. Bằng không, bản quan sẽ lập tức phát trát truy nã tội đào ngũ thời chiến sự, cho lính trích xích lên núi Đoạn Phong dỡ bỏ sạch sẽ cái đạo quán không phép của các ngươi, tống giam toàn bộ những kẻ chứa chấp vào ngục tối!"

Tiếng quát tháo mang theo uy thế quan trường của Hoàng Cẩn làm kinh động cả những kẻ đang đứng chen chúc ngoài sân. Qua khung cửa sổ, vài người dân ngụ cư ngoái nhìn vào, trong mắt lộ rõ vẻ sợ hãi xen lẫn ái ngại cho số phận của hai người phụ nữ dám cả gan đứng cãi lý với vị Huyện thừa nổi tiếng khắc nghiệt và độc đoán nhất vùng.

Thế nhưng, trước cơn thịnh nộ lôi đình ấy, Bùi Hạ lại không hề lùi bước lấy nửa phân.

Nàng đứng yên như một thân tùng bách cắm rễ sâu vào kẽ đá. Nàng không hề biến sắc trước cái đập bàn thị uy, cũng chẳng chớp mắt trước cặp gậy đầu vồ đang lăm lăm chực bổ xuống. Trải qua bao phen đối mặt với lằn ranh sinh tử nơi sơn môn sụp đổ, những trò dọa dẫm nơi công đường huyện lỵ này đối với nàng chẳng khác nào gió thoảng qua cành cây. Nàng chậm rãi hít một hơi, điều hòa nhịp thở để kinh Phế không bị xáo động, rồi dùng bàn tay trái lành lặn thò vào trong bọc vải thô, rút ra một cuộn giấy dầu khổ lớn được cuộn tròn cẩn thận bằng dây gai.

Không một lời thừa thãi, Bùi Hạ tiến lên một bước, thản nhiên trải rộng cuộn giấy ra ngay trên mặt bàn trước mặt Hoàng Cẩn, đè phẳng phiu lên cả vũng nước trà vàng khè đang loang lổ.

"Đại nhân nói rất đúng," Bùi Hạ cất lời, giọng nàng không hề cao giọng nhưng âm vang trầm tĩnh, rõ ràng và mạch lạc đến mức át hẳn tiếng mưa rơi xao xác ngoài hiên. "Nước sông quả thực đang dâng cao, và cọc cừ đóng xuống liên tục bị đánh bật. Nhưng nếu Huyện thừa đại nhân nghĩ rằng chỉ cần bắt thêm một người thợ mộc như Lâm Tự xuống đó hì hục vung búa đóng cọc theo cách cũ là có thể giữ được thân đê, thì e rằng quan phủ đang tự lừa dối chính mình và lừa dối mười vạn dân huyện An Lưu."

Hoàng Cẩn đang định cất tiếng xua đuổi thì ánh mắt bất giác rơi xuống mặt giấy. Miệng ông ta khẽ há hốc, lời nói chực thốt ra bỗng nghẹn ứ nơi cổ họng.

Đó hoàn toàn không phải là một lá đơn xin xỏ hay một tờ sớ trình bày thảm cảnh. Đó là một bản vẽ mặt cắt kỹ thuật chi tiết và chuẩn xác đến từng phân tấc.

Những đường mực đen sắc cạnh miêu tả rành mạch toàn bộ kết cấu địa tầng chân Đê Hồi Long: từ lớp bùn nhão bề mặt dày ba thước, tầng cát xốp pha sét ở giữa, cho đến tầng đá bàn cứng cáp nằm sâu dưới đáy sông. Các tỷ lệ chia cung bậc, độ dốc thoải của taluy đê và vị trí các lớp cọc cừ gỗ lim đều được đánh dấu bằng các ký hiệu hình học vô cùng tinh vi. Đặc biệt nhất, ở vị trí khoang số ba và số bốn, một vệt mực chu sa đỏ chót được vẽ uốn lượn hình lưỡi liềm, cắt ngang qua thân đê đất — nơi các mạch nước ngầm từ chân đồi thượng nguồn đang hội tụ dữ dội.

"Ngươi... đây là cái quỷ gì?" Hoàng Cẩn nheo cặp mắt thâm quầng lại, giọng nói bất giác chùng xuống một nhịp.

"Đây là bản vẽ phân tích áp lực thủy triệt và cơ học nền móng của đoạn Đê Hồi Long vừa bị sạt lở ba mươi trượng," Bùi Hạ đặt đầu ngón tay trỏ lên điểm giao nhau giữa vệt mực đen và vệt mực chu sa đỏ chót. "Đoạn đê này liên tục bị vỡ không phải vì thiếu nhân lực đóng cọc mộc, cũng không phải vì sóng lớn mặt ngoài, mà vì dòng chảy ngầm từ sườn đồi phía sau đổ dồn về không có lối thoát, bị thân đê đất bồi nén chặt lại, tạo thành một 'bọng nước ngậm bùn' khổng lồ ngay dưới đáy kè đá. Các người càng ra sức điều động phu phen đóng thêm cọc cừ chặn đứng mặt trước, áp lực thủy tĩnh tích tụ bên trong cái bọng nước đó càng lúc càng tăng cao."

Nàng ngước mắt lên, ánh nhìn bình thản nhưng sắc bén như xuyên thấu tâm can vị Huyện thừa:

"Nó giống như một chiếc nêm thủy lực vô hình đang nén chặt lại. Đến khi áp lực vượt quá sức chịu tải của tầng đất sét, toàn bộ khối bọng nước đó sẽ nổ toạc từ bên trong, đẩy bung toàn bộ hàng cọc cừ gỗ lim và lớp đá kè mặt ngoài xuống lòng sông sâu. Đến lúc đó, chẳng những thân đê sụp đổ hoàn toàn mà toàn bộ đội phu phen đang đứng dưới chân đê cũng sẽ bị dòng bùn cuốn phăng đi không còn một mảnh xác."

Hoàng Cẩn run nhẹ mi mắt, bàn tay đang chống trên mặt bàn khẽ siết lại. Là quan phụ trách công trình của huyện, dù không xuất thân từ thợ thuyền, nhưng những ngày qua trực tiếp ra hiện trường nhìn thấy cảnh cọc cừ đóng xuống cứ tự nhiên nứt toác rồi trồi ngược lên mặt nước, ông ta lờ mờ nhận ra lời người phụ nữ này nói trúng phóc vào căn bệnh trầm kha mà đám đốc công huyện nha đang hoàn toàn bế tắc.

Bùi Hạ không để cho ông ta kịp định thần, nàng lật mép bản vẽ sang một bên, để lộ ra sơ đồ thi công thứ hai được vẽ chi tiết không kém:

"Luật Vân Hà, thiên Công vụ, điều ba mươi mốt quy định rất rành mạch: Các tổ chức tu hành, phường hội hoặc đạo quán tại chỗ có quyền thương lượng phương án 'đổi công' — tức là dùng việc trực tiếp đảm nhận tu bổ, thi công một hạng mục công trình công cộng cụ thể để cấn trừ trực tiếp nghĩa vụ sưu dịch hợp pháp cho các thành viên trực thuộc. Đạo quán Vọng Đăng chúng tôi hôm nay đến đây không phải để trốn tránh trách nhiệm với mảnh đất này, mà là để cứu con đê theo cách đúng đắn nhất."

Nàng gõ nhẹ ngón tay lên phương án thứ hai:

"Chúng tôi đề xuất một thỏa thuận đổi công chính thức: Vọng Đăng sẽ cử một đội thợ kỹ thuật gồm thợ mộc, thợ nề và người am hiểu địa mạch trực tiếp xuống hiện trường Đê Hồi Long. Chúng tôi sẽ tự túc dụng cụ lao động, thi công đào một tuyến rãnh ngầm xả lũ dài mười hai trượng nằm sâu dưới chân đê phía sau, dẫn thẳng túi nước ngầm đó thoát ra lạch phụ an toàn. Đồng thời, Lâm Tự và đội thợ sẽ dùng kỹ thuật mộng giằng cơ học liên hoàn kết hợp chốt giữ để gia cố lại nhánh trận phụ trấn thủy tại chân kè đá. Công trình này hoàn thành sẽ trực tiếp triệt tiêu áp lực bọng nước, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho toàn bộ cọc cừ mà huyện nha đang tiếp tục đóng."

Hoàng Cẩn nhìn chằm chằm vào bản vẽ, rồi lại ngước lên nhìn Bùi Hạ. Sự kinh ngạc trong lòng ông ta dâng lên cuồn cuộn như sóng cồn. Những nét vẽ mực tàu dứt khoát, các thông số tính toán độ dốc thoát nước, khoảng cách giữa các cọc mộng chịu lực... tất cả đều mang đậm phong cách của một đại sư trận đạo và công trình có trình độ thượng thừa, vượt xa đám thợ vườn hay mấy tên đốc công nửa mùa của huyện phủ. Một đạo quán tị nạn rách nát trên ngọn núi vỡ Đoạn Phong, tập hợp toàn những kẻ không chốn nương thân, làm sao lại có được một bản đồ địa tầng và giải pháp công trình tinh vi, thấu đáo đến mức này?

Thế nhưng, bản tính hoài nghi và thói hống hách lâu năm của một kẻ nắm quyền không cho phép ông ta dễ dàng nhượng bộ một kẻ thảo dân:

"Đổi công? Hừ, miệng lưỡi tu sĩ các ngươi lúc nào cũng vẽ hươu vẽ vượn! Đào một cái rãnh ngầm, đẽo vài cái mộng gỗ mà đòi cấn trừ đinh dịch cho một người thợ mộc tay nghề thượng thặng như Lâm Tự? Ai biết được các ngươi xuống đó làm ăn tắc trách, đào bới lung tung làm thân đê sạt lở thêm rồi phủi tay bỏ chạy? Chưa kể, việc đào rãnh ngầm đòi hỏi đá dăm lót đáy, vôi sống tôi kỹ để chống thấm và gỗ ván chèn thành rãnh. Huyện nha lấy đâu ra ngân lượng và vật tư dư thừa để cấp phát cho các trò thí nghiệm viển vông này của các ngươi?"

"Vọng Đăng chúng tôi tự gánh toàn bộ phần nhân công lao động và giải pháp kỹ thuật, tuyệt đối không đòi hỏi huyện nha một đồng công nhật," Bùi Hạ đáp lại đanh thép, từng lời khóa chặt mọi kẽ hở. "Về phần vật tư, chúng tôi chỉ yêu cầu trích xuất đúng định mức đá dăm và vôi sống tiêu chuẩn đang nằm sẵn trong kho dự phòng của công trường — thứ vật tư mà các người đang đổ bừa bãi xuống lòng sông một cách vô ích. Một tuyến rãnh thoát nước ngầm hoạt động hiệu quả sẽ cứu sống cả đoạn đê ba mươi trượng, giá trị của nó lớn gấp mười lần công sức của một người thợ mộc đóng cọc thủ công. Khối lượng công việc, mốc thời gian hoàn thành trong ba ngày và tiêu chuẩn nghiệm thu sẽ được ghi rõ ràng bằng văn bản giao kết giữa hai bên. Nếu chúng tôi không hoàn thành đúng hạn hoặc để xảy ra sai sót kỹ thuật, huyện nha có toàn quyền xử lý theo quân luật thời chiến sự."

Hoàng Cẩn nghẹn họng. Lời đề nghị quá sức chặt chẽ, đánh trúng vào điểm yếu chí tử mà ông ta đang lo sốt vó từng canh giờ. Nếu cái bọng nước chết tiệt đó được giải tỏa, đoạn đê được giữ vững mà huyện phủ không phải chi thêm một đồng ngân lượng cho tiền công, đây rõ ràng là một món công trạng béo bở rơi trúng đầu ông ta trong sổ sách báo cáo lên quan Phủ doãn.

Tuy vậy, sự cay cú vì bị một người phụ nữ dồn vào thế bí khiến Hoàng Cẩn vẫn cố bám víu lấy chút uy quyền cuối cùng:

"Dù vậy, chuyện này liên quan đến đại cục an nguy của toàn huyện, bản quan không thể chỉ nghe vài lời ba hoa mà vội vàng quyết định. Cần phải trình quan Tri huyện xem xét, rồi hội ý với đám đốc công. Còn tên Lâm Tự, trước mắt cứ phải áp giải ra công trường điếm canh số ba để dự phòng nhân lực..."

Chưa để Hoàng Cẩn dứt câu xua đuổi, Đỗ Nghi đã tiến phắt lên phía trước. Lần này, nàng không rút ra bản vẽ hay công văn hành chính nào nữa, mà rút từ trong bọc áo ra một tờ giấy bản mỏng manh có đóng dấu mộc đỏ nhạt của một y xá tư nhân, cùng một mảnh giấy niêm phong gấp tư có góc cạnh sờn rách.

"Đại nhân định suy xét đến bao giờ nữa?" Giọng Đỗ Nghi đột ngột đanh lại, sự nhẫn nhịn nãy giờ hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một sự sắc bén lạnh lẽo như băng tuyết. "Có phải đại nhân muốn suy xét cho đến khi em trai tôi — phu dịch Đỗ Tín — kiệt sức mà chết rấp dưới chân bùn Đê Hồi Long không?"

Sắc mặt Hoàng Cẩn thoáng chốc biến đổi dữ dội: "Ngươi... ngươi nói càn cái gì giữa chốn công đường đó?"

"Tôi không hề nói càn!" Đỗ Nghi đập mạnh tờ giấy xác nhận sức khỏe xuống mặt bàn, ngay sát cạnh nghiên mực đá, tiếng đập dứt khoát không kém gì cái đập bàn thị uy của Hoàng Cẩn lúc nãy. "Đây là giấy chứng nhận thể trạng của phu dịch Đỗ Tín do y xá huyện cấp khi nhập ngũ đinh dịch mười ngày trước: cơ thể suy nhược nghiêm trọng sau đợt sốt rét vùng lũ, theo điển chế lao dịch của triều đình, nó chỉ được phân công làm việc tạp dịch ca ngày, mỗi ca không được quá bốn canh giờ và tuyệt đối không được ngâm mình dưới nước sâu! Nhưng thực tế ngoài công trường thì sao? Đội thầu tư nhân do huyện nha chỉ định tại khoang số bốn đã giam giữ nó suốt năm ngày năm đêm không cho rời khỏi lán phu phen!"

Đỗ Nghi tiến sát mép bàn, đôi mắt mở to bừng bừng lửa giận nhìn thẳng vào khuôn mặt đang co rúm lại của vị Huyện thừa:

"Bọn cai thầu ép nó và hàng chục đinh phu khác phải làm ca ba thâu đêm giữa bùn buốt, ngâm nước lạnh đến tận ngang ngực dưới ánh đuốc bập bùng để khiêng đá hộc! Khẩu phần lương thực cấp phát bị bòn rút thảm hại, chỉ có cám mốc trộn lẫn vỏ trấu, nhưng bọn chúng lại ép phu dịch phải điểm chỉ ký giấy nợ khống lương thực với giá cắt cổ — ba lượng bạc trắng cho một đấu kê mục! Thậm chí, đêm hôm kia, khi đá kè chân đê bị nứt vỡ phát nổ dưới áp lực nước làm chết hai đinh phu tại chỗ, bọn cai thầu đã bí mật vùi xác họ xuống bùn non, bịt miệng phu phen, không cho báo cáo sự việc lên huyện nha!"

"Ngươi... câm miệng! Ngươi câm ngay miệng lại cho ta!" Hoàng Cẩn tái mét mặt mày, mồ hôi hột túa ra lấm tấm trên trán. Ông ta hốt hoảng đảo mắt nhìn ra ngoài sân, nơi đám lại dịch và dân phu ngoài hành lang đang dỏng tai nghe ngóng từng lời.

Chuyện bóc lột phu phen, ép ký giấy nợ khống và che giấu tai nạn chết người ở công trường Đê Hồi Long vốn là thứ luật ngầm bẩn thỉu mà các quan nha huyện đều nhắm mắt làm ngơ để các nhà thầu tư nhân chịu bỏ tiền túi ứng trước vật tư thi công. Nhưng việc bị một người đàn bà lôi toạc thứ luật ngầm đó ra ánh sáng, vỗ thẳng vào mặt quan Huyện thừa ngay giữa thanh thiên bạch nhật, trước sự chứng kiến của bao nhiêu con mắt, thì chẳng khác nào một đòn giáng chí mạng vào thanh danh và chiếc ghế quan trường của ông ta!

"Đại nhân bảo tôi vu khống ư?" Đỗ Nghi cười khẩy một tiếng đầy khinh bỉ. Ngón tay nàng miết nhẹ lên vạt áo trước ngực, nơi giấu bản sao biên bản tiếp nhận vật chứng mà Nguyễn Mộc đã cẩn thận lập đêm qua với đầy đủ chữ ký của ba người thợ đá độc lập. "Tôi là thầy thuốc, tôi chữa bệnh cứu người, tôi biết rõ một cơ thể người ngâm nước buốt năm đêm liên tiếp sẽ bị chứng huyết ứ, hàn tà nhập cốt, nội tạng hoại thư nhanh đến mức nào! Nếu đại nhân bảo tôi vu khống, tôi sẵn sàng cầm tờ giấy chứng nhận này cùng đơn tố giác lao dịch sai quy chuẩn ca kíp sang thẳng sảnh đường Phủ doãn, hoặc trực tiếp ra đón kiệu của quan khâm sai thanh tra lao dịch đạo lộ đang trên đường về huyện mà gõ trống kêu oan!"

Nàng hạ thấp giọng xuống, từng chữ rít qua kẽ răng nhưng nặng nề tựa ngàn cân đá tảng:

"Nhà thầu tư nhân đang nắm quyền cung ứng đá dăm và cai quản toàn bộ phu phen khoang số bốn... hình như mang danh nghĩa người nhà của một vị chấp sự họ Hoàng ở huyện lỵ này thì phải? Đại nhân có muốn chúng ta cùng đối chất trước công đường cấp trên xem ai là người đã ký lệnh cho phép họ kéo dài ca làm của phu dịch trái với điển chế không?"

Hoàng Cẩn rùng mình một cái thật mạnh, sống lưng ớn lạnh như vừa bị dội một gáo nước đá giữa mùa đông. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm cả lớp áo lót bên trong tà áo lụa mỏng.

Ông ta hoàn toàn bị dồn vào chân tường, không còn một lối thoái thác. Hoàng Cẩn không sợ Bùi Hạ dùng lý lẽ kỹ thuật, bởi lý lẽ kỹ thuật dù có tinh vi đến đâu thì một cái phẩy tay của quan quyền cũng có thể bẻ gãy hoặc dìm vào quên lãng. Nhưng ông ta sợ Đỗ Nghi — một người phụ nữ phàm nhân liều mạng vì sự sống còn của đứa em trai duy nhất, trong tay lại nắm giữ những chứng cứ xác thực về sai phạm nhân mạng và bóng ma của một cuộc thanh tra lao dịch từ cấp trên. Giữa thời điểm nước sôi lửa bỏng này, nếu quan trên hay Trấn Linh Ty đánh hơi được mùi bòn rút vật tư và làm chết người hàng loạt dẫn đến bạo loạn phu phen, chiếc mũ quan thất phẩm của ông ta sẽ bị lột sạch trước khi con đê kịp hàn gắn xong xuôi.

Không khí trong phòng Công tào bỗng chốc đông cứng lại thành một khối ngột ngạt đến nghẹt thở. Hai tên nha sai cầm gậy đầu vồ ngơ ngác nhìn nhau, tay run run hạ đầu gậy xuống đất, hoàn toàn không dám manh động khi thấy sắc mặt chủ tử đã chuyển từ đỏ gay sang xám ngoét như tro tàn.

Hoàng Cẩn nuốt khan một ngụm nước bọt cay đắng, bờ môi run rẩy không thốt nên lời. Vị quan huyện hống hách, thét ra lửa lúc nãy giờ đây hoàn toàn hạ giọng, ánh mắt lấm lét đảo quanh gian phòng như kẻ có tật giật mình:

"Ngươi... cô nương chớ có nóng nảy, nói năng hồ đồ làm tổn hại hòa khí chốn công môn. Chuyện phu dịch ngoài công trường... âu cũng là do cấp dưới quản lý lỏng lẻo, đám cai thầu ngoài bến sông tự ý làm càn, bản quan ngày đêm bận trăm công nghìn việc nơi huyện lỵ làm sao bao quát hết được từng ngóc ngách. Chuyện của Đỗ Tín... bản quan sẽ cho người rà soát lại ngay lập tức, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng làm việc quá ca kíp sai với quy định triều đình."

Ông ta gượng gạo đưa tay vuốt chòm râu ngắn lởm chởm, cố gắng vớt vát lại chút thể diện đã rơi rụng tả tơi:

"Còn về phương án đổi công của Vọng Đăng... việc này... việc này tuy có tiền lệ trong điển lệ vương triều, nhưng khối lượng công việc đào rãnh ngầm xả lũ và gia cố nhánh trận phụ là vấn đề trọng đại liên quan đến mạch đê. Huyện nha không thể tùy tiện giao phó cho một nhóm người tị nạn chưa rõ danh phận chính thức..."

"Ai bảo Đạo quán Vọng Đăng là nhóm người chưa rõ danh phận?"

Một giọng nói thanh lãnh, khô khốc nhưng ẩn chứa uy áp sắc bén của một tu sĩ Luyện Khí trung kỳ đột ngột vang lên từ ngưỡng cửa sảnh đường, cắt ngang lời phân bua gượng gạo của Hoàng Cẩn.

Tiếng giày da nện cộp cộp dứt khoát trên nền đá xanh phá tan bầu không khí ngột ngạt trong phòng.

Mọi ánh mắt lập tức đổ dồn ra cửa.

Đinh Tuệ sải bước bước vào.

Nàng vẫn vận bộ đạo bào màu tro viền lam đặc trưng của Trấn Linh Ty, vạt áo thẳng thớm không dính một hạt bùn dẫu vừa đi qua mảnh sân lầy lội. Mái tóc đen nhánh của nàng được búi cao gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ đào đơn sơ. Trên tay nàng cầm một ống tài liệu bằng đồng thau sáng loáng, ánh mắt sắc như dao lướt qua hai tên nha sai đang lúng túng nép sang hai bên, rồi dừng lại trên chiếc bàn làm việc ngổn ngang giấy tờ của Hoàng Cẩn.

Hoàng Cẩn giật thót mình như bị ong chích, vội vàng đứng bật dậy khỏi ghế, hai tay chắp lại khúm núm cúi chào:

"A... Đinh kiểm định! Ngọn gió nào đưa ngài từ phân sở Trấn Linh Ty sang bên Công tào chúng tôi sớm thế này? Công vụ đê điều bận rộn, nếu có điều chi cần chỉ thị, ngài cứ cho người truyền một tiếng là được..."

Đinh Tuệ không đáp lễ quá mức, chỉ khẽ gật đầu theo đúng quy chuẩn công vụ, rồi bước thẳng đến bên cạnh bàn. Nàng đảo mắt nhìn bản vẽ kỹ thuật của Bùi Hạ đang trải rộng dưới vũng nước trà. Khóe mắt Đinh Tuệ khẽ giật nhẹ một cái khi nhận ra những nét vẽ chuẩn xác đến từng ly và sơ đồ thủy mạch ngầm được phác thảo vô cùng tinh tế, nhưng nét mặt nàng vẫn giữ nguyên vẻ vô cảm, lạnh lùng cố hữu của một viên chức kiểm định.

"Hoàng Huyện thừa, ta sang đây là để đối chiếu sổ bộ biến động linh mạch và nhân khẩu tị nạn theo định kỳ giữa Trấn Linh Ty và huyện nha," Đinh Tuệ cất giọng bình thản, nhưng từng lời nói ra lại như những nhát búa nện chặt vào không gian. "Nhưng vừa hay lại nghe thấy đại nhân đang băn khoăn về danh phận của Đạo quán Vọng Đăng."

Nàng quay sang nhìn thẳng vào khuôn mặt đang tái mét của Hoàng Cẩn, giọng nói mang theo áp lực hành chính và pháp lý không thể chối từ:

"Ta cần nhắc nhở Huyện thừa đại nhân một điều quan trọng: Đạo quán Vọng Đăng trên núi Đoạn Phong đã chính thức nộp hồ sơ đăng bộ Tông Môn Sơ Lập tại Trấn Linh Ty huyện An Lưu vào ngày hôm kia. Hồ sơ của họ đáp ứng đầy đủ năm điều kiện căn bản theo Điều mười hai Luật Vân Hà, và ta — với tư cách là giám định viên thụ lý — đã đích thân ký cấp 'Biên Nhận Bảo Hộ Tạm Thời' có thời hạn ba mươi ngày cho chín thành viên đứng đầu danh sách của họ."

Đinh Tuệ gõ nhẹ đầu ống đồng xuống mặt bàn gỗ thị, tiếng va chạm kim loại vang lên giòn giã:

"Theo luật pháp vương triều và quy chế Trấn Linh Ty, trong thời gian ba mươi ngày bảo hộ tạm thời này, toàn bộ những người có tên trong sổ bộ Vọng Đăng được hưởng quyền miễn trừ đối với mọi lệnh trưng phu và điều động đinh dịch mới từ chính quyền địa phương. Huyện phủ không có thẩm quyền đơn phương cưỡng chế, bắt bớ hay đe dọa dỡ bỏ nơi cư trú của một tông môn đang trong diện thẩm tra sơ lập mà không thông qua sự đồng thuận bằng văn bản của Trấn Linh Ty."

Mặt Hoàng Cẩn hết đỏ lại chuyển sang tím tái. Ông ta cười gượng gạo đến méo mó, hai bàn tay xoa xoa vào nhau liên tục:

"Đinh kiểm định hiểu lầm rồi! Bản quan nào có ý cưỡng chế bừa bãi hay làm khó dễ đạo quán. Chỉ là... chỉ là tình hình Đê Hồi Long quá cấp bách, mà tên thợ mộc Lâm Tự này lại có lệnh triệu tập từ trước khi nộp hồ sơ, nên bản quan mới..."

"Lệnh triệu tập cũ thì giải quyết theo cách giải quyết cũ," Đinh Tuệ lạnh lùng ngắt lời, không để cho đối phương có cơ hội vòng vo. Ánh mắt nàng liếc qua Bùi Hạ rồi dừng lại ở bản vẽ thi công rãnh thoát nước. "Phương án đổi công mà chưởng môn Bùi Hạ vừa đề xuất là hoàn toàn hợp pháp và phù hợp với thực tế hiện trường. Trấn Linh Ty chúng ta sáng nay cũng vừa nhận được báo cáo khẩn từ các trạm quan trắc địa mạch ven sông: túi nước ngầm tích tụ dưới thân Đê Hồi Long đang gây nhiễu loạn nghiêm trọng đến dòng chảy linh khí của đại trận trấn thủy. Nếu không lập tức xả bọng nước đó ra, trận pháp chính sẽ bị mất cân bằng và có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn trong đợt triều cường tới."

Đinh Tuệ nhìn thẳng vào mắt Hoàng Cẩn, đưa ra phán quyết mang tính quyết định chung cuộc:

"Trấn Linh Ty chính thức tán thành phương án đổi công này. Vọng Đăng sẽ cử đội thợ kỹ thuật xuống thi công tuyến rãnh thoát nước ngầm và củng cố nhánh trận phụ tại Hồi Long. Toàn bộ khối lượng lao động kỹ thuật này sẽ được dùng để cấn trừ dứt điểm nghĩa vụ đinh dịch của thợ mộc Lâm Tự. Đồng thời, để đảm bảo nhân lực thực hiện công trình theo đúng quy chuẩn, Trấn Linh Ty yêu cầu huyện nha điều chỉnh ca kíp, cho phép phu dịch Đỗ Tín được chuyển sang đội thi công kỹ thuật của Vọng Đăng nhằm phục hồi thể trạng và hỗ trợ hậu cần tại chỗ."

Nàng nhấn mạnh từng chữ, rành rọt như khắc vào bia đá:

"Tuy nhiên, để bảo đảm tính minh bạch và tránh việc lạm quyền hay bòn rút vật tư công ích, thỏa thuận đổi công này không thể chỉ nói miệng. Huyện nha An Lưu và Đạo quán Vọng Đăng bắt buộc phải lập một 'Hợp đồng nghiệm thu công trình công ích' bằng văn bản giao kết ba bên. Trong đó phải quy định rõ ràng: khối lượng đất đá đào đắp, số lượng cọc mộng gia cố, tiêu chuẩn dẫn dòng của nhánh trận phụ, và định mức vật tư đá dăm, vôi sống do kho huyện cấp phát. Trấn Linh Ty sẽ cử giám sát viên độc lập cùng tham gia nghiệm thu hiện trường sau ba ngày. Nếu công trình đạt chuẩn, huyện nha phải lập tức đóng dấu xóa tên Lâm Tự khỏi sổ truy dịch và thanh lý dứt điểm hợp đồng phu phen cho Đỗ Tín."

Từng lời nói của Đinh Tuệ như những chiếc then cài bằng thép vững chắc, khóa chặt mọi đường thoái thác hay lật lọng của Hoàng Cẩn. Trước mặt ông ta lúc này là bản vẽ kỹ thuật không thể chối cãi của Bùi Hạ, bên cạnh là bằng chứng tố giác sai phạm chết người của Đỗ Nghi, và trên đầu là quyền lực giám sát tối cao của Trấn Linh Ty — cơ quan mà một chức Huyện thừa thất phẩm như ông ta tuyệt đối không thể đắc tội.

Hoàng Cẩn thở hắt ra một hơi dài, hai bờ vai sụp xuống như một kẻ vừa trút bỏ được gánh nặng nhưng cũng đầy vẻ cay đắng, nhục nhã của kẻ thất thế trên chính sân nhà của mình. Ông ta biết mình đã thua trắng trong ván cờ này, và lựa chọn duy nhất để giữ lấy chiếc ghế quan huyện là phải cắn răng chấp thuận toàn bộ các điều kiện đưa ra.

"Được... được rồi," Hoàng Cẩn run rẩy với tay lấy cây bút lông, chấm ngập vào nghiên mực đỏ. "Chiếu theo ý của Đinh kiểm định và quy định của pháp điển vương triều, bản quan... chuẩn tấu phương án đổi công này. Lại dịch! Lập tức soạn thảo ba bản văn bản giao ước thi công rãnh thoát nước Đê Hồi Long cho Đạo quán Vọng Đăng! Đồng thời đình chỉ ngay lệnh cưỡng chế đối với thợ mộc Lâm Tự, và phát lệnh điều chuyển phu dịch Đỗ Tín sang diện lao động hiệp trợ kỹ thuật cho Vọng Đăng ngay trong buổi sáng nay!"

Tiếng ngòi bút rột rẹt trên giấy bản dày vang lên đều đặn giữa gian sảnh đường im phăng phắc.

Mùi mực mới ngai ngái bốc lên hòa lẫn với hơi sương lạnh. Khi con dấu triện son hình vuông to bản của Huyện thừa An Lưu đóng cộp một tiếng đanh gọn lên mặt hai bản hợp đồng đổi công, Đỗ Nghi khẽ thở phào một hơi dài, bờ vai nàng khẽ run lên bần bật vì xúc động. Đôi bàn tay ôm chặt bọc hồ sơ của nàng run rẩy, những giọt nước mắt kìm nén suốt bao ngày qua chực trào ra nhưng nàng đã kịp cắn chặt môi kìm lại. Con đường cứu đứa em trai duy nhất thoát khỏi vũng bùn chết chóc nơi chân đê đã chính thức mở ra một lối thoát hợp pháp và vững chắc.

Bùi Hạ cúi đầu, dùng bàn tay trái nhận lấy bản hợp đồng còn ướt đẫm mực đỏ son. Nàng ngước mắt nhìn Đinh Tuệ, khẽ gật đầu một cái để tỏ lòng cảm tạ chân thành. Nữ kiểm định viên của Trấn Linh Ty không hề mỉm cười, nàng chỉ đáp lại bằng một ánh nhìn thâm trầm, sâu kín và đầy ẩn ý, như muốn nhắc nhở Bùi Hạ rằng việc bước chân vào công trường Đê Hồi Long mới chỉ là sự khởi đầu của một ván cờ đầy rẫy hiểm nguy và cạm bẫy phía trước.

Thu xếp giấy tờ cẩn thận vào bọc vải dầu dày, Bùi Hạ và Đỗ Nghi cùng nhau quay người bước ra khỏi phòng Công tào.

Tiết trời bên ngoài sân nha môn vẫn mù mịt hơi mưa. Nước mưa từ những mái ngói rêu phong rơi tí tách xuống nền sân đá gập ghềnh, cuốn trôi bớt những vệt bùn non đỏ quạch dưới chân dòng người tị nạn vẫn đang kiên nhẫn chờ đợi. Không khí lạnh buốt ngoài trời phả thẳng vào mặt khiến lồng ngực Bùi Hạ cảm thấy nhẹ nhõm hơn đôi chút sau trận đối chất căng thẳng đến nghẹt thở nơi công đường ngột ngạt.

Thế nhưng, cảm giác nhẹ nhõm ấy chưa kịp lan tỏa thì đã vụt tắt.

Ngay khi hai người vừa bước chân qua cánh cổng gỗ lim nặng nề của huyện nha để bước ra con đường lát đá xanh dẫn về phía phố chợ, một hồi chuông đồng thanh mảnh, trong trẻo bỗng vang lên từ phía khúc quanh đầu phố.

Âm thanh tiếng chuông không lớn nhưng mang theo một luồng linh lực dao động nhẹ nhàng, gợn sóng qua màn mưa phùn, khiến đám đông dân phu và người tị nạn bên lề đường bất giác rùng mình, vội vã dạt sang hai bên mép cống, cúi rạp đầu xuống đất né tránh trong nỗi sợ hãi bản năng.

Từ trong màn mưa xám xịt phía đầu phố, một cỗ linh xa hai bánh lộng lẫy chầm chậm lăn bánh tiến lại. Toàn thân cỗ linh xa được chế tác từ gỗ đàn hương tím bóng loáng, không hề dính lấy một hạt bụi nước; bốn góc thùng xe đều nạm bạc sáng choang, che chắn kín kẽ bởi những tấm rèm lụa màu lam thêu hình sóng nước cuộn trào tuyệt mỹ. Phía trên mui xe cong vút, một lá cờ đuôi nheo bằng lụa trắng phần phật bay trong gió lạnh, thêu nổi hình một đóa hoa sen ba cánh tinh xảo bằng chỉ bạc — ấn ký quen thuộc, cao quý của Ty Vật Tư thuộc Thanh Huyền Môn.

Linh xa dừng lại êm ru ngay trước bậc tam cấp dẫn vào cổng huyện nha An Lưu.

Hai tên đệ tử ngoại môn mặc đạo bào màu lam chỉnh tề, kiếm đeo ngang hông vội vã tiến lên. Một kẻ nhanh nhẹn bung chiếc dù lớn bằng lụa dầu che mưa, kẻ kia kính cẩn quỳ một chân, hạ chiếc bậc thang bằng gỗ mun khảm xà cừ xuống mặt đường đá lầy lội.

Từ trong khoang xe ấm áp thoang thoảng mùi trầm hương thượng hạng, một bóng người cao gầy, phong nhã chậm rãi bước xuống. Hắn khoác trên mình bộ đạo bào màu xanh thẫm viền chỉ vàng óng ánh, dải thắt lưng bằng lụa ngọc bích rủ xuống một miếng ngọc bội màu lam trong vắt, mái tóc đen mượt được vấn gọn gàng dưới chiếc mũ đạo bằng ngọc trắng tinh khôi. Gương mặt hắn trắng trẻo, các đường nét thanh tú nhưng sắc sảo, toát lên vẻ ngạo nghễ, kiêu hãnh của một kẻ nắm giữ tài nguyên và quyền sinh sát vật tư trong một sơn môn lớn.

Quản sự trận vụ của Ty Vật Tư Thanh Huyền Môn — Tạ Duy.

Bùi Hạ dừng sững lại giữa làn mưa lạnh buốt.

Bàn tay trái của nàng vô thức siết chặt lấy mép bọc hồ sơ trước ngực, chặt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. Nẹp tre nơi cổ tay phải bỗng nhói buốt lên từng cơn dữ dội, một cơn đau tê dại chạy dọc từ vết sẹo cũ lên tận đỉnh đầu, như thể tàn tích của vụ nổ bàn trận hai năm trước đang bùng cháy và rỉ máu trở lại dưới cái lạnh thấu xương của dòng ký ức tàn nhẫn.

Tạ Duy bước xuống bậc thang gỗ, gấu tà áo bào lộng lẫy của hắn lướt qua mặt đất mà không hề vấy bẩn một giọt bùn nước. Hắn khẽ phẩy nhẹ ngón tay thon dài ra hiệu cho tên đệ tử cầm dù lui lại nửa bước, rồi từ từ ngước mắt lên nhìn về phía cổng huyện nha.

Ánh mắt hắn chạm thẳng vào ánh mắt của Bùi Hạ đang đứng trơ trọi giữa làn mưa phùn xám ngắt.

Nụ cười nhàn nhạt, quý phái thường trực trên môi Tạ Duy vụt tắt ngấm trong tích tắc.

Thay vào đó, một vẻ lạnh lẽo, khinh miệt và dò xét sâu cay hiện rõ mồn một trong đáy mắt hắn. Hắn đứng đó, nhìn người thợ sửa trận áo vải thô rách rưới đang đứng nép mình bên vệ đường không khác gì nhìn một con sâu bọ thấp hèn may mắn trốn thoát khỏi chiếc lồng giam, một kẻ đào tẩu ti tiện dám ngoan cố tìm đường sống sót sau khi đã bị tông môn vứt bỏ không thương tiếc vào dòng nước lũ ngút ngàn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories