Những người không ở trong thư
Cơn cuồng phong cuối mùa từ phía đông nam đập liên hồi vào mặt kính chịu lực của phòng họp lớn thuộc Hội đồng Đô thị Triều Trắng. Mưa quất rát rạt lên bề mặt silicat nhiều lớp, vỡ vụn thành những vệt nước cuộn xoáy nhằng nhịt, làm nhòe đi ánh chớp giật liên hồi ngoài khơi xa. Bên trong vòm kính, ánh sáng từ những cụm đèn sợi quang vàng nhạt rọi xuống hàng trăm mái đầu đã bạc trắng hoặc hoa râm. Gió luồn qua các khe co giãn cơ học trên trần vòm, tạo nên những chuỗi âm rít u u trầm đục — một thứ nhịp thở nặng nhọc, quen thuộc của một công trình nổi khổng lồ đang phải oằn mình ghìm giữ toàn bộ kết cấu trước sức ép của thủy triều Lam Hải.
Căn phòng chật cứng đến mức bầu không khí dường như đặc quánh lại bởi mùi muối mặn bám trên áo mưa, mùi dầu bôi trơn từ các khớp trợ lực cơ học và hơi ẩm phả ra từ hàng trăm lồng ngực. Ở các dãy ghế sau, các ủy viên Hội đồng Lá Chắn ngồi trầm mặc bên cạnh đại diện Nghiệp đoàn Giữ Sóng với những bộ đồng phục bạt dày sờn rách ở mép cổ áo. Sát lối đi phụ là nơi tập trung của các kỹ sư cầu cảng, thợ lặn tầng nước sâu, ngư dân các khối cư trú tầng thấp — những người mà làn da đã sạm đen vì nắng biển và chai sần vì hóa chất chống ăn mòn. Đối diện với họ, ở cánh trái hội trường, những gương mặt trẻ măng thuộc nhóm “Liên minh Khởi động Trước” ngồi chen chúc, hai tay siết chặt trên đầu gối, ánh mắt bồn chồn, căng thẳng đến mức từng đường gân nổi rõ nơi thái dương.
Ở hàng ghế đầu tiên đối diện trực tiếp với bục thuyết trình, An ngồi bất động giữa em gái Mai và một chiếc ghế trống bọc nhung xanh đã bạc màu.
Năm nay ông đã tròn một trăm hai mươi bảy tuổi. Quầng sáng vàng vọt ở trung tâm võng mạc — dấu vết của chứng thoái hóa hoàng điểm tuổi già — đã thu hẹp tầm nhìn của ông lại thành một vòng tròn mờ mịt, đùng đục như nhìn qua một lớp nước biển phù sa. Ông chỉ còn lờ mờ phân biệt được những bóng người đen sẫm đang tới lui trước bục và những tia sáng hắt ra từ các bảng điều khiển. Hai bàn tay ông, với các khớp ngón sần sùi, vặn vẹo như rễ đước ngâm lâu ngày trong nước lợ, đặt hờ lên một tập hồ sơ viễn thám bọc giấy dầu đã ngả màu nâu sẫm. Ba năm trước, Linh đã qua đời ở tuổi một trăm hai mươi bốn sau một cơn suy tim tuổi già êm ả vào một đêm biển lặng. Người bạn đời kỹ thuật của ông đã ra đi, để lại chiếc ghế trống kia và một khoảng trống mênh mông trong xưởng máy của Nhà Nghe Mưa. Nhưng những bản vẽ, những trang tính toán kết cấu mà cô miệt mài hoàn thiện trong suốt những năm tháng cuối đời hôm nay lại hiện diện tại đây, trở thành tấm khiên chắn sống còn cho số phận của cả thành phố.
Phiên điều trần không mở đầu bằng những lời diễn văn hay khẩu hiệu chính trị. Người điều phối chỉ khẽ gõ búa xuống mặt bàn kim loại, và một luồng sáng lạnh màu lục lam lập tức bùng lên từ máy chiếu lập thể đặt giữa sàn hội trường.
Từng đường nét, từng thông số kỹ thuật của bản vẽ kết cấu đảo nổi mang mã hiệu HL-44 dần dần định hình trong khoảng không gian ẩm ướt. Đó là công trình nghiên cứu mà cố kỹ sư Linh đã dành trọn bốn mươi năm cuối đời để hiệu chỉnh, bắt đầu từ những phép đo biến dạng móng ngầm đầu tiên cho đến các phương trình ứng suất thủy lực phức tạp nhất. Sau khi cô nằm xuống dưới lòng đất ẩm của nghĩa trang đồi Cát Trắng, Mai cùng các chuyên viên di sản của Nhà Nghe Mưa đã tỉ mỉ phục dựng lại toàn bộ từ các phiến thạch anh lưu trữ thô, không bỏ sót một ký hiệu ghi chú hay một dấu mực chỉnh sửa nào bên lề.
Người thuyết trình trẻ tuổi của nghiệp đoàn công trình đứng bên máy chiếu, bàn tay run run khi đưa que trỏ quang học chạm vào khối mô hình. Giọng anh ta nghẹn lại trong giây lát khi xướng tên tác giả bản thiết kế: “Công trình thẩm định tải trọng động lực học của cố kỹ sư trưởng Linh. Dữ liệu phục nguyên từ kho lưu trữ Nhà Nghe Mưa.”
Trên màn hình lập thể, mô phỏng động lực học hải lưu hiển thị tình huống tháo dỡ năng lượng lá chắn địa từ lập tức chuyển sang sắc đỏ báo động rực lửa. Từng chi tiết mô phỏng hiện ra rành rọt, trần trụi và khốc liệt. Để cánh cổng liên sao dưới chân móng Đài Chân Trời có thể kích nạp cưỡng bức và duy trì kết nối trong khoảng thời gian lý thuyết là bốn giờ, toàn bộ hệ thống dự trữ năng lượng của mạng lưới lá chắn nhân tạo bao quanh Lam Hải sẽ phải bị hút cạn kiệt đến giọt điện tích cuối cùng.
Mất đi từ trường ghìm giữ và điều hòa trường trọng lực cục bộ, hàng triệu mét khối nước biển của vịnh Triều Trắng sẽ lập tức rơi vào trạng thái mất cân bằng động năng thảm khốc. Bản phân tích của Linh chứng minh bằng từng phương trình tensor ứng suất: các đợt triều cường hỗn loạn, không còn chịu sự nắn dòng của trường bảo vệ, sẽ dâng lên thành những bức tường sóng cao trên bốn mươi mét chỉ sau mười hai phút kích hoạt.
Những ngọn sóng khổng lồ ấy sẽ quất thẳng vào hệ thống thềm nổi dân sinh. Các cụm cáp neo titan ngầm — vốn chỉ được thiết kế để chịu tải dao động điều hòa tự nhiên — sẽ bị xé toạc như những sợi chỉ mục. Toàn bộ các tháp cư trú bằng sợi carbon, các khu chợ nổi nhộn nhịp, và quan trọng hơn cả là các trạm ấp trứng cá giống nhân tạo đang nuôi sống nửa triệu cư dân nghèo ven biển sẽ bị nhấc bổng lên khỏi mặt nước rồi nghiền nát thành từng mảnh vụn trôi dạt.
Một tiếng thở dài tập thể rộ lên khắp phòng họp, lạnh buốt và nặng nề hơn cả tiếng mưa gió đang đập ngoài cửa kính.
Bản tính toán của Linh không chừa lại dù chỉ một kẽ hở nhỏ cho bất kỳ sự hão huyền hay lãng mạn hóa kỹ thuật nào. Cô đã tính đến từng mối nối hợp kim bị xé rách ở nhiệt độ âm của đáy biển, từng van giảm áp bị thổi bay dưới áp suất dư thừa, từng chiếc xuồng cứu sinh sẽ bị lật úp trong xoáy nước ngầm. Linh đã vắng mặt vĩnh viễn trên cõi đời này, nhưng trí tuệ sắc bén, sự cẩn trọng khắc nghiệt và lòng trắc ẩn sâu xa đối với từng mạng sống bình dị của cô vẫn đang đứng sừng sững ở đó, hiện hình qua từng con số không thể lay chuyển để bảo bọc những con người thậm chí chưa từng biết mặt cô.
Khi luồng sáng lập thể vừa hạ xuống để lại một khoảng tối trầm mặc, kỹ sư trưởng Nghi và cựu ủy viên Duy cùng chậm rãi bước lên bục nhân chứng kỹ thuật.
Nghi năm nay đã tròn một trăm bốn mươi tuổi. Thân hình bà gầy guộc, còng rập xuống như một nhành lau khô cằn trước gió chướng. Chiếc áo choàng kỹ sư màu xám tro khoác trên bờ vai khẳng khiu như muốn trượt xuống. Nơi cổ áo bà, một chiếc ống trợ khí áp lực dương bằng nhựa trong suốt khẽ phát ra tiếng rít nhịp nhàng, khô khốc theo từng nhịp hít thở nhọc nhằn. Đứng bên cạnh bà, Duy ở tuổi một trăm ba mươi tư chống một chiếc gậy hợp kim đen tuyền. Lưng ông còng gập, da mặt chằng chịt những nếp nhăn sâu hoắm như rãnh xói mòn trên vách đá biển — gương mặt của một con người từng nắm giữ quyền lực tối thượng của Hội đồng Lá Chắn suốt hơn nửa thế kỷ, từng dùng sự bưng bít và sắt đá để bảo vệ sự tồn sinh của giống nòi.
Nghi run rẩy đặt một mô-đun đọc dữ liệu tinh thể thạch anh lên mặt bục kim loại. Khi ngón tay bà chạm vào phím kích hoạt, một tiếng bíp khô vang lên qua hệ thống loa phát thanh. Giọng bà cất lên, khàn đặc, đứt quãng vì thiếu dưỡng khí nhưng từng từ từng chữ lại sắc gọn, chuẩn xác đến lạnh người:
“Cuộn cảm ứng siêu dẫn tầng đáy thứ năm, nằm ngay dưới chân móng chịu lực của Đài Chân Trời, đã suy kiệt cấu trúc ở mức 68%. Sau đúng một thế kỷ vận hành liên tục ở chế độ tự phát xung chẩn đoán với tần số 14 đến 16 Hz để duy trì định vị liên sao, mạng tinh thể của các thanh siêu bán dẫn đã xuất hiện hiện tượng giòn hóa nghiêm trọng. Nếu chúng ta tiến hành phóng điện nạp toàn phần vào cửa sổ cộng resonance lý thuyết tuổi một trăm hai mươi tám, cuộn dây này sẽ không thể chịu đựng được ứng suất điện từ cực hạn. Nó sẽ đứt gãy trong vòng một phần nghìn giây đầu tiên. Quá trình ghép nối pha sẽ sụp đổ tức khắc, và toàn bộ năng lượng tích tụ sẽ giải phóng thành một vụ nổ nhiệt hạch cục bộ ngay trong lòng buồng móng, phá hủy hoàn toàn bệ đỡ của thành phố.”
Tiếp lời Nghi, Duy bước lên nửa bước. Tiếng đầu gậy hợp kim gõ cộc xuống sàn nhà vang vọng rành rọt. Đôi mắt trũng sâu, đùng đục của cựu ủy viên nhìn thẳng vào dãy ghế của những người trẻ thuộc nhóm Liên minh Khởi động Trước:
“Suốt hơn nửa thế kỷ qua, rất nhiều người trong căn phòng này, và cả ngoài kia nữa, đã coi tôi là một kẻ độc tài tàn nhẫn, một kẻ bưng bít sự thật lịch sử của chuyến tàu Tịch Quang. Tôi chấp nhận mọi phán xét đó. Nhưng hôm nay, tôi đứng ở đây không phải để thanh minh cho quá khứ, mà để đặt trước mắt các vị một sự thật tàn nhẫn hơn bất kỳ sự giấu giếm nào: chúng ta hoàn toàn không có phương án dự phòng. Nếu lõi điều hòa từ trường bị bốc hơi do sốc nhiệt trên tám nghìn độ C như các đo kiểm thực nghiệm của viện vật lý đã khẳng định, thì với nền công nghệ suy thoái và nguồn kim loại hiếm cạn kiệt hiện nay của Lam Hải, chúng ta sẽ cần từ bảy mươi đến tám mươi năm lao dịch toàn lực chỉ để chế tạo lại một lõi thay thế.”
Duy ngừng lại, lồng ngực phập phồng sau một cơn ho khan kìm nén: “Bảy mươi năm. Trong suốt bảy mươi năm đó, bầu khí quyển của hành tinh này sẽ trơ trọi hoàn toàn trước các luồng gió mặt trời và bức xạ vũ trụ. Nước biển sẽ sôi lên ở các vùng xích đạo, các dải san hô và sinh vật phù du sẽ chết trắng chỉ sau vài chu kỳ mùa, và loài người chúng ta trên mặt biển này sẽ không thể sống sót đủ lâu để nhìn thấy chiếc lõi thứ hai ra đời. Đó không phải là một canh bạc có thể đem ra thử vận may. Đó là một bản án tự sát tập thể.”
Lời cảnh báo lạnh lùng, dứt khoát của Duy rơi vào giữa hội trường như một tảng đá ngàn cân ném xuống mặt nước đóng băng. Không một tiếng xì xào nào nổi lên. Những người trẻ tuổi từng giơ cao các khẩu hiệu đòi mở cổng ở các phiên họp trù bị giờ đây ngồi chết lặng, đầu cúi gầm, đôi mắt dán chặt vào mặt sàn kim loại lạnh ngắt. Sự im lặng bao trùm đặc quánh, chỉ còn lại tiếng mưa cuồng bạo quất vào mặt kính bên ngoài và tiếng thở phì phò từ ống trợ khí của Nghi.
Chính trong khoảnh khắc im lìm đến nghẹt thở ấy, Mai khẽ nghiêng người, đặt bàn tay ấm áp của mình lên khuỷu tay An. Cô thì thầm rất khẽ bên tai anh trai: “Đến lúc rồi, anh An.”
An gật đầu chậm rãi. Ông chống hai bàn tay xương xẩu xuống mặt bàn gỗ dạt trước mặt, dồn hết sức nặng của cơ thể già nua lên đôi cánh tay run rẩy. Hai khớp đầu gối của ông khẽ phát ra tiếng lạo xạo khô khốc như cành cây gãy khi ông rướn người đứng dậy.
Mai toan đỡ lấy nách anh, nhưng An khẽ lắc đầu, ra hiệu rằng ông muốn tự mình bước đi. Từng bước chân ngắn, ngập ngừng và nặng nhọc của người thợ già nện xuống sàn nhà. Chiếc máy trợ thính bằng polymer xám gắn bên vành tai phải của ông khẽ rít lên một chuỗi âm tần số cao chói gắt do hiện tượng phản hồi âm, trước khi mạch vi xử lý cũ kỹ tự động cân chỉnh lại độ nhạy theo không gian rộng lớn của hội trường.
Toàn bộ căn phòng nín thở dõi theo từng cử động của ông. Đây là An — người thợ cơ khí của xưởng Nhà Nghe Mưa, người đã sống trọn một thế kỷ đời mình bên những dải băng từ, những cuộn dây đồng và những tín hiệu âm thanh trôi dạt từ bên kia vũ trụ. Suốt nhiều thập kỷ, phe mở cổng đã tìm cách biến ông thành một biểu tượng tử vì tình yêu, một vị thánh sống để thúc đẩy giấc mơ xé toạc ranh giới không gian; trong khi phe bảo tồn lại từng nhìn ông bằng ánh mắt nghi kỵ, xem sự tồn tại của mối dây liên lạc kia như một mầm mống của thảm họa diệt vong.
An đưa bàn tay run lẩy bẩy chạm vào mép bục phát biểu bằng thép mạ. Dưới quầng sáng đục mờ của mắt mình, ông không thể nhìn thấy rõ từng gương mặt đang ngồi dưới kia, nhưng ông cảm nhận được sâu sắc sức nặng của hàng trăm ánh mắt đang đổ dồn về phía mình — những ánh mắt khắc khoải, đau đớn, giằng xé giữa khát vọng đoàn tụ và bản năng sinh tồn.
Ông hít một hơi thật sâu, lồng ngực già nua phập phồng sau làn áo vải thô. Khi ông cất tiếng, giọng nói không hề mang âm hưởng của một chính khách hay một nhà hùng biện. Nó trầm đục, khàn khàn, mộc mạc và mang trọn vẹn cái âm sắc mặn mòi, chậm rãi của một người cả đời chỉ biết nói chuyện với biển cả và những cỗ máy:
“Tôi năm nay một trăm hai mươi bảy tuổi. Cuộc đời tôi, kể từ ngày chiếc tàu Tịch Quang rời bến đến nay, gắn liền với những bức thư mất hai mươi sáu năm mới đi hết một chiều, và những bản ghi âm giọng nói trôi dạt đằng đẵng qua đêm đen của vũ trụ sâu thẳm. Tôi đã yêu Kha... bằng tất cả những gì tinh khôi, nguyên vẹn và sâu sắc nhất mà một trái tim con người có thể mang giữ suốt hơn một thế kỷ.”
Ông dừng lại một nhịp, khóe môi khẽ run lên khi nhắc đến cái tên ấy. Cả hội trường im phăng phắc, không một ai dám cựa mình. “Nhưng tình cảm đó thiêng liêng, chính là bởi vì nó biết đâu là ranh giới của sự sống. Tình yêu không bao giờ và không thể nào được phép xây đắp trên sự hy sinh của hàng triệu con người đang sống ngoài mặt biển kia. Tình cảm của hai kẻ già nua ở hai đầu vũ trụ sẽ không thể có được một giây phút thanh thản nào, nếu cái giá của bốn giờ gặp mặt bằng xương bằng thịt ngắn ngủi ấy là mạng sống của những người thợ lặn, là sự sụp đổ của những thềm nổi dân sinh, là tiếng khóc xé lòng của những đứa trẻ mà cuộc đời chúng không hề có tên trong bất kỳ lá thư nào chúng tôi từng gửi cho nhau suốt một đời qua.”
An nghiêng đầu, áp sát đôi môi nhăn nheo vào chiếc micro cổ ngỗng: “Người ta thường ngợi ca sự hội ngộ như một chiến thắng vĩ đại của ý chí con người trước số phận trớ trêu. Nhưng nếu sự hội ngộ ấy phải đánh đổi bằng việc thiêu rụi ngôi nhà đang chở che cho đồng loại mình, thì đó không phải là tình yêu — đó là một tội ác vị kỷ và mù quáng. Ở tuổi một trăm, cả tôi và Kha, dù cách xa nhau hai mươi sáu năm ánh sáng và hoàn toàn không thể bàn tính trước cùng nhau, đã độc lập đưa ra cùng một lựa chọn: chúng tôi chọn sự sống của hai hành tinh. Hôm nay, ở tuổi một trăm hai mươi bảy, đứng trước hội đồng này và trước toàn thể đồng bào, tôi xin nhắc lại lời khước từ ấy một lần nữa. Xin hãy giữ cho lá chắn được bình yên. Xin hãy để tình yêu ở lại nơi nó thực sự thuộc về: trong sự tôn trọng tuyệt đối dành cho sự sống của tha nhân.”
Từng lời, từng chữ của An rơi vào lòng hội trường tĩnh mịch như những giọt nước ngọt ngấm sâu vào bãi cát khô cằn. Không có bất kỳ tràng pháo tay ầm ĩ nào vang lên sau khi ông dứt lời. Chỉ có những cái cúi đầu lặng lẽ, những tiếng thở hắt ra nhẹ nhõm lẫn xót xa, và những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài trên má của những đại biểu trẻ tuổi từng hô hào mở cổng dữ dội nhất.
***
Cách Lam Hải hai mươi sáu năm ánh sáng, tại hành tinh Vọng Sa khô lạnh và cằn cỗi, một phiên điều trần mang tính chất định đoạt tương tự cũng đang diễn ra song song bên dưới lòng đất sâu của thung lũng sông cổ.
Giữa hai thế giới không hề có bất kỳ kênh truyền hình trực tiếp tức thời nào. Khoảng cách không gian vô tận không cho phép một hạt photon mang hình ảnh hay giọng nói của An vượt qua hai mươi sáu năm ánh sáng để đến được với Kha trong giây phút này. Không có một sợi dây liên lạc lượng tử nào kết nối hai hội trường. Mỗi thế giới, trong sự cô độc tột cùng của quỹ đạo mình, buộc phải tự đối diện với sự thật bằng chính lương tri, sự tỉnh táo và trách nhiệm độc lập của chính mình.
Dưới vòm đá vôi cổ xưa được chiếu sáng lờ mờ bằng những dải đèn sinh học nuôi cấy từ tảo huỳnh quang, hội trường ngầm của Vọng Sa chật ních người. Đó là các ủy viên của Ủy ban Điều hành Liên tỉnh, các thành viên kỳ cựu của tổ chức Những Người Giữ Hạt, những người thợ khai thác nước ngầm với bàn tay nứt nẻ vì sương muối, và toàn bộ ban lãnh đạo của Liên hội Mở Cửa. Không khí dưới hầm sâu khô khốc, sực nùi bụi đá mịn và mùi rêu ẩm bám trên các gờ vách.
Yên bước lên bục thuyết trình ở tuổi tám mươi.
Mái tóc bà đã hoa râm, cắt ngắn gọn gàng ngang gáy, vóc dáng đĩnh đạc mang trọn vẹn vẻ điềm tĩnh, cương nghị của một nhà khoa học địa chất đã dành trọn cả cuộc đời để thăm dò và bảo vệ từng mạch nước ngầm mong manh dưới lòng bồn địa. Đứng cạnh bà là Vân, một trăm hai mươi mốt tuổi. Đôi mắt Vân đã mờ đục vì chứng đục thủy tinh thể do bức xạ mặt đất, nhưng hai bàn tay bà vẫn bấu chặt lấy chiếc hộp hồ sơ kim loại chứa các bản khảo sát địa chất nguyên bản của Kho Lưu trữ Thuộc địa Tịch Quang.
Bằng một cử chỉ dứt khoát, Yên chạm tay vào bảng điều khiển, kích hoạt mô hình lập thể mặt cắt địa tầng của bồn địa cực nam. Một khối cấu trúc địa chất phức tạp hiện lên giữa không trung với hai màu xám tro và xanh lơ.
“Đây là hiện trạng phân bổ nguồn nước ngầm duy nhất còn lại của chúng ta,” giọng Yên vang lên rành rọt, đanh thép và khô khốc như tiếng đá va vào thép nguội. “Chân tháp phát sóng cực nam của cánh cổng cắm thẳng qua lớp đá kết, xuyên vào vòm đá vôi chứa túi nước ngầm ngập mặn cổ sinh — mạch sống duy nhất đang nuôi dưỡng toàn bộ dân cư thung lũng sông cổ và Vườn Hạt Cuối Đông. Các tính toán nhiệt động lực học chỉ ra rằng, nếu nạp năng lượng cưỡng bức để mở cổng, lượng nhiệt cảm ứng khổng lồ thoát ra từ cuộn dây sẽ làm sôi toàn bộ túi nước này trong vòng bốn mươi tám giờ. Hơi nước siêu áp suất sinh ra từ đáy vòm sẽ phá vỡ hoàn toàn cấu trúc karst tự nhiên, gây ra một đợt sụp đổ địa tầng thảm khốc trên diện tích hơn một nghìn cây số vuông.”
Yên dừng lại, ánh mắt sắc như dao hướng thẳng về phía hàng ghế đầu của Liên hội Mở Cửa: “Các vị luôn miệng trấn an dư luận bằng phương án sơ tán toàn bộ cư dân vào hệ thống hầm sâu nhân tạo. Nhưng số liệu kiểm toán độc lập của ban công trình đã chứng minh điều ngược lại: toàn bộ mạng lưới hầm ngầm của chúng ta hiện nay chỉ đủ dưỡng khí, năng lượng lọc khí và nước tuần hoàn cho đúng bảy trăm nghìn người — tức là chưa đầy một phần ba tổng dân số Vọng Sa. Hơn một triệu ba trăm nghìn đồng bào còn lại sẽ bị bỏ rơi trên mặt đất khi lá chắn từ trường sụp đổ hoàn toàn. Chưa dừng lại ở đó, theo nghiên cứu y khoa lâm sàng mà cha tôi — bác sĩ Tâm — đã để lại trước khi ông qua đời, nồng độ khí phóng xạ radon thoát ra từ các vết nứt địa tầng ở các tầng sâu sẽ đầu độc và giết chết hơn bốn vạn bệnh nhân xơ hóa phổi cùng hàng ngàn trẻ sơ sinh chỉ trong vòng vài tuần đầu tiên. Chúng ta không thể cứu vãn một giấc mơ lãng mạn bằng cách chôn vùi hai phần ba đồng bào của chính mình vào một ngôi mộ tập thể dưới lòng đất tối tăm.”
Tiếp lời Yên, Vân chậm rãi mở nắp chiếc hộp thạch anh, lấy ra một bản biểu đồ hiển thị mức độ suy thoái sinh học của các phôi hạt gốc mang theo từ tàu Tịch Quang. Giọng bà run rẩy vì tuổi tác nhưng chất chứa nỗi đau đáu khôn nguôi:
“Bức xạ bão sao khi mất đi lá chắn sẽ quét sạch toàn bộ thảm thực vật mặt đất trong vòng ba mươi ngày. Ngân hàng hạt giống của Vườn Hạt Cuối Đông được xây dựng để duy trì sự sống trong điều kiện khí hậu bình thường, không một lớp vỏ bọc nào ở đây có thể bảo vệ được phôi mầm trước các chùm tia vũ trụ năng lượng cao khi từ trường bị triệt tiêu. Kích hoạt cánh cổng đồng nghĩa với việc chúng ta tự tay ký vào bản án tuyệt chủng cho toàn bộ hệ sinh thái mà bốn thế hệ qua đã chắt chiu từng giọt nước, từng mẩu đất mùn để gầy dựng nên.”
Trước những bằng chứng khoa học đanh thép, không thể bác bỏ và sự thật tàn nhẫn được phơi bày trần trụi, Hạ — người sáng lập và là linh hồn của Liên hội Mở Cửa, nay đã ngoài một trăm ba mươi tuổi — ngồi co quắp ở hàng ghế đại biểu. Gương mặt bà xám xịt như tro tàn của một lò sưởi đã tắt từ lâu. Căn bệnh thoái hóa khớp và sự suy sụp hoàn toàn về mặt tinh thần khiến toàn thân bà run rẩy. Hạ phải bấu chặt hai tay vào thành ghế phía trước, khó nhọc nhấc từng chút thân hình tàn tạ đứng dậy.
Môi bà mấp máy một hồi lâu mới phát ra thành tiếng. Giọng Hạ vỡ vụn, run rẩy trong sự cay đắng tột cùng: “Chúng tôi... Liên hội Mở Cửa... đã sai lầm. Chúng tôi đã để nỗi ám ảnh về sự chia ly, nỗi khao khát đoàn tụ cháy bỏng suốt một thế kỷ che mờ đi ranh giới của khoa học và sự sinh tồn. Các mô hình di tản của chúng tôi... quả thực có những lỗ hổng chết người không thể cứu vãn. Chúng tôi đã quá ngây thơ khi tin rằng ý chí và tình cảm của con người có thể bẻ gãy được các định luật khắc nghiệt của vũ trụ...”
Hạ buông thõng hai tay, cả người đổ sụp xuống mặt đệm ghế như một cái xác không hồn. Phía sau bà, những thành viên thuộc thế hệ thứ ba của phong trào mở cổng cúi gầm mặt xuống ngực trong sự bàng hoàng, xấu hổ và cay đắng. Những chiếc búa tạ, những lá cờ biểu ngữ kích động mà họ mang theo đặt ngoài cửa hầm giờ đây trở nên trơ tráo, lạc lõng và vô nghĩa trước sự thật trần trụi về sự sống của giống nòi.
Từ góc tối của lối đi phụ bên cánh gà, một tiếng rít cơ học khô khốc của bánh xe lăn vang lên trên mặt sàn đá vôi ghồ ghề.
Kha đang tự mình đẩy chiếc xe lăn tiến ra khoảng sáng giữa bục trung tâm. Đôi chân ông hoàn toàn bất động, được phủ kín dưới một lớp chăn dạ màu xám thô. Chứng thoái hóa đốt sống thắt lưng và các tổn thương dây thần kinh tích tụ qua nhiều năm tháng làm việc trong môi trường trọng lực nhân tạo biến dạng khiến lưng ông còng hẳn xuống. Mỗi nhịp thở sâu đều kéo theo một cơn đau nhói buốt, khiến lồng ngực gầy guộc của ông giật lên từng hồi dưới lớp áo len dệt từ sợi gai tuyết. Thế nhưng, đôi mắt ông — ẩn sâu dưới đôi lông mày rậm rạp đã bạc trắng như sương muối — vẫn sáng lên một vẻ ấm áp, bao dung và thanh thản lạ lùng.
Kha không hề nhìn vào các tập tài liệu hay các bảng số liệu địa tầng đang lơ lửng trên không. Ánh mắt ông dừng lại trên từng gương mặt của những người dân Vọng Sa đang ngồi nghẹn ngào xung quanh. Giọng ông trầm ấm, vang lên mộc mạc và gần gũi, mang theo cả mùi ngai ngái của đất ươm ẩm và hương thơm thanh khiết của những nhành lá gai tuyết nơi vườn hạt:
“Tôi và An đã đi cùng nhau một chặng đường dài hơn một trăm năm. Suốt một thế kỷ đằng đẵng ấy, chúng tôi chỉ có thể gửi cho nhau những bản ghi âm vượt qua hai mươi sáu năm ánh sáng của đêm đen vũ trụ. Chúng tôi chia sẻ với nhau từ tiếng gió bão gầm rú trên mặt biển Triều Trắng cho đến tiếng lách tách của một hạt mầm nảy mầm trong khay gỗ mùa đông. Tình yêu đó... là sự thật đẹp đẽ nhất, thuần khiết nhất mà tôi may mắn có được trong cuộc đời trần thế này.”
Kha khẽ dừng lại, đưa bàn tay nổi đầy đồi mồi xoa nhẹ lên khớp gối đang đau nhức dưới lớp chăn: “Nhưng tôi khước từ việc bất kỳ ai, dưới bất kỳ danh nghĩa nào, dùng tình yêu của chúng tôi làm cái cớ cho một hành động liều lĩnh và điên rồ. Tình yêu đích thực không bao giờ đòi hỏi máu, nước mắt và sự diệt vong của những người vô tội làm lễ vật hiến tế. Nếu hôm nay tôi bước qua cánh cổng đó để chạm được vào bàn tay bằng xương bằng thịt của An, mà sau lưng tôi thung lũng sông cổ này bị nung sôi thành tro bụi, Vườn Hạt Cuối Đông biến thành bãi đất chết, con gái tôi và hàng triệu đồng bào vô tội phải bỏ mạng ngạt thở trong bóng tối của những căn hầm sụp đổ... thì cái nắm tay đó sẽ là vết nhơ muôn đời, là sự sỉ nhục tàn nhẫn nhất đối với tình yêu mà chúng tôi đã gìn giữ và tôn thờ suốt một đời.”
Kha mỉm cười. Nụ cười hiền hậu, bình thản làm bừng sáng cả gương mặt già nua đầy những nếp nhăn nhọc nhằn: “Tình yêu của chúng tôi chưa từng cần một cuộc hội ngộ thể xác trần tục để chứng minh rằng nó có thật. Nó đã trọn vẹn và viên mãn trong từng lời hồi đáp sau nửa thế kỷ chờ đợi, trong sự thấu hiểu sâu sắc đến tận cùng tâm can, và trong việc hai chúng tôi cùng chung một ý chí: bảo vệ sự sống trên thế giới của nhau. Xin hãy khóa cánh cổng lại mãi mãi. Xin hãy để chúng tôi được già đi, được nhắm mắt xuôi tay trong sự thanh thản tuyệt đối rằng mảnh đất này, bầu trời này vẫn tiếp tục che chở cho những thế hệ mai sau lớn lên trong hòa bình.”
***
Hai thế giới cách nhau một khoảng không gian mênh mông không thể vượt qua, nhưng trong khoảnh khắc lịch sử ấy, lương tri của hai nền văn minh đã gặp nhau tại cùng một điểm chạm thiêng liêng.
Tại phòng họp lớn của Hội đồng Đô thị Triều Trắng trên Lam Hải, Chủ tịch đoàn trịnh trọng tuyên bố mở hòm phiếu biểu quyết. Tiếng mưa gió bên ngoài dường như cũng chùng xuống, nhường chỗ cho tiếng bước chân chậm rãi của từng đại biểu. Từng ủy viên Hội đồng Lá Chắn, từng thợ lặn của Nghiệp đoàn Giữ Sóng, từng kỹ sư cầu cảng lần lượt bước lên bục cao. Họ thả những tấm thẻ biểu quyết bằng kim loại vào chiếc thùng kính trong suốt đặt trang trọng dưới ánh đèn quang học.
Khi lá phiếu cuối cùng rơi xuống đáy kính, bảng điện tử hiện lên kết quả kiểm phiếu: tỷ lệ biểu quyết giữ nguyên quyết định đình chỉ kích nạp vĩnh viễn cửa sổ cộng hưởng tuổi một trăm hai mươi tám đạt một trăm phần trăm. Tuyệt đối. Không một phiếu chống.
Cùng lúc đó, dưới vòm đá vôi sâu thẳm của thung lũng sông cổ trên Vọng Sa, các đại biểu của Ủy ban Điều hành Liên tỉnh và đại diện các tầng lớp cư dân cũng lặng lẽ tiến về phía bàn bỏ phiếu. Không có bất kỳ cánh tay nào giơ lên phản đối. Quyết định đình chỉ pháp lý cấp cao nhất đối với toàn bộ các dự án khai mở cánh cổng liên sao được thông qua trong một bầu không khí đồng thuận trang nghiêm, tĩnh lặng và thanh thản đến nghẹn ngào.
Phiên điều trần kết thúc khi đêm đã về khuya.
An ngồi lặng lẽ trên chiếc ghế bành cũ kỹ bên khung cửa sổ tròn của xưởng máy Nhà Nghe Mưa. Mưa bão ngoài vịnh Triều Trắng đã tan tự bao giờ, chỉ còn lại mặt biển đen thẫm đang dần lắng sóng dưới ánh sáng bàng bạc của vầng trăng khuyết le lói qua tầng mây rách. Chiếc máy ghi âm trên bàn khẽ quay những vòng chậm rãi, phát ra tiếng thở đều đặn và tiếng hạt mầm lách tách cựa mình mà Kha đã gửi cho ông từ nhiều năm về trước.
Cách đó hai mươi sáu năm ánh sáng, Kha cũng đang ngồi bất động trên chiếc xe lăn giữa luống hoa chuông cát đang tỏa hương thơm ngai ngái trong nhà kính của Vọng Sa. Qua mái vòm kính mờ bụi đá, ông ngước nhìn lên bầu trời đêm thăm thẳm, nơi có một đốm sáng xanh biếc lấp lánh như một giọt nước mắt treo giữa hư vô.
Khoảng cách hai mươi sáu năm ánh sáng vẫn sừng sững nằm đó, vô tận, câm lặng và lạnh lẽo đến tận cùng. Nhưng chưa bao giờ trong suốt một trăm hai mươi bảy năm cuộc đời, họ thấy lòng mình lại bình yên và gần gũi nhau đến thế.
Lá phiếu cuối cùng đã rơi vào thùng kính; cánh cổng liên sao sẽ tiếp tục chìm sâu vào giấc ngủ thiên thu.