Cuộc họp gia đình và bảng phân công lao động
Ngọn đèn dầu hạt lạc tù mù tỏa ánh sáng vàng vọt lên gian nhà chính, nơi cả nhà họ Diệp tề tựu quanh chiếc phản gỗ cũ sau khi Tiểu Mãn vừa tỉnh lại húp cạn bát cháo loãng.
Mùi thuốc bắc ngai ngái nồng đượm phong vị thục địa và ngải cứu sao muối vẫn còn lẩn khuất dưới mái rạ ẩm ướt sau trận mưa dông ban chiều. Bát sành mẻ mép vừa được đặt xuống mặt chõng tre kêu lên một tiếng “cạch” khẽ khàng, Diệp Tiểu Mãn đưa mu bàn tay áo chùi vệt nước cháo còn vương nơi khóe môi, trán vẫn dán chặt một miếng cao dán màu nâu đen bốc mùi thảo mộc cay nồng do thầy lang Triệu đích thân bốc. Lưng nàng vẫn nhức nhối buốt tận chân lông, mỗi lần khẽ cử động khớp xương cùng là một cơn co rút lại truyền dọc cột sống, nhắc nàng nhớ về cú ngã sấp mặt giữa sân phơi chỉ vài canh giờ trước.
Gian nhà đất ba gian tối nay im ắng đến lạ thường. Gió đêm từ rặng tre ven bờ rào thỉnh thoảng luồn qua khe cửa liếp, thổi ngọn lửa đèn dầu chao nghiêng, hắt bóng những người ngồi quanh bàn lên vách đất thành những vệt sẫm màu to lớn, lặng phắc. Từng đợt gió mang theo hơi nước ngai ngái của rơm rạ mục và mùi bùn non từ chân rào bốc lên sau trận dông lốc, luồn lách qua từng kẽ nứa hở, khiến tim người ta chùng xuống một nỗi bất an nặng nề.
Bên chiếc bàn con đóng bằng gỗ sồi tạp, Diệp Thành ngồi bất động như một pho tượng đá. Đôi bàn chân gầy guộc tì chặt xuống nền đất nện, nơi chiếc ống quần bên chân gãy hãy còn xắn cao để lộ khớp gối chằng chịt vết sẹo mổ kéo da non, đỏ ửng và sần sùi dưới làn da bọc xương. Chiếc gậy gỗ nghiến nhẵn bóng do chính tay ông đẽo gọt tỳ đứng giữa hai đùi, hai bàn tay thô ráp, gân guốc siết chặt lấy đầu tay cầm đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, từng đường gân xanh nổi cộm như rễ cây bám chặt vào vách đá.
Không khí ngột ngạt đến mức chỉ còn nghe thấy tiếng ngọn bấc cháy lách tách ăn dầu và tiếng thở dài nén lại trong lồng ngực của Lâm Tú Nương bên mép chõng. Đôi mắt người mẹ hoe đỏ, khóe mi còn đọng lại những giọt nước mắt khô khốc chưa kịp lau sạch, đôi bàn tay gầy gò đan chéo vào nhau trên vạt áo vá nhiều mảnh.
“Cộp! Cộp!”
Đột ngột, Diệp Thành gõ mạnh chiếc cán gậy gỗ nghiến xuống nền đất nện hai tiếng đanh gọn, dứt khoát. Tiếng gỗ nện vào nền đất chặt phát ra âm vang trầm đục, như nhát búa gõ tan bầu không khí nén chặt trong gian nhà. Mặt đất dường như rung lên nhè nhẹ dưới sức nặng của cơn thịnh nộ kìm nén bấy lâu nay trong lòng người đàn ông trụ cột.
Tiểu Đậu ngồi nép bên góc phản giật thót người, khẽ co rúm hai vai lại, sợ hãi nép sát vào người anh trai. Còn Nhị Hòa và Tam Nha cũng bất giác thẳng lưng, mắt nhìn chằm chằm xuống đầu mũi chân mình, hai bàn tay nắm chặt mép quần, không một ai dám thở mạnh hay cựa quậy nửa phân.
Diệp Thành ngước mắt lên. Đôi mắt người cha vốn dĩ luôn hiền từ, nhẫn nhịn và thoáng nét u uất vì bệnh tật cùng mặc cảm phế nhân bấy lâu, lúc này lại quắc lên tia nhìn sắc lạnh, nghiêm nghị chưa từng thấy. Ngọn lửa giận dữ xen lẫn nỗi xót xa như thiêu đốt đáy mắt ông. Ông nhìn thẳng vào khuôn mặt gầy rộc, tái nhợt của con gái lớn, cất giọng khàn đặc nhưng rành rọt từng chữ:
“Tiểu Mãn, con có biết hôm nay con sai ở chỗ nào không?”
Tiểu Mãn giật mình, đôi mắt tròn hơi mở to nhìn cha. Nàng ngỡ ngàng trước vẻ nghiêm khắc hiếm hoi ấy. Nàng mím chặt cánh môi khô nẻ, hai bàn tay chắp lại trên đầu gối siết chặt manh áo vá thô ráp, khẽ cúi đầu lí nhí đáp:
“Cha… con biết hôm nay con sơ suất, thấy trời dông nổi gió sợ hỏng mất mẻ men hoa cau nên cuống cuồng bê nong lớn… Con không để ý chân trơn nên mới trượt ngã. Lần sau con sẽ cẩn thận hơn, không để…”
“Ta không hỏi chuyện cái nong đậu!” Diệp Thành ngắt lời con gái bằng một giọng đanh thép, chiếc cán gậy lại khẽ dộng xuống đất một nhịp dứt khoát. Âm thanh nặng nề dội vào lòng khiến lồng ngực Tiểu Mãn thắt lại. “Cái nong đậu dẫu có ướt, mẻ men này có hỏng, cùng lắm là mất mấy trăm đồng tiền kẽm mua hạt của ông Hứa, mất ba ngày công của nhóm đổi công! Nhà này dẫu có nghèo rớt mồng tơi, dẫu còn nợ Lương gia bảy lượng bạc trắng đến rằm tháng mười, thì Diệp Thành này cũng chưa đến mức phải đem cái mạng của con gái ra thế chấp!”
Ngực người cha phập phồng sau làn áo nâu sờn vai đã bạc thếch theo năm tháng. Đôi môi ông run run, một tia đau đớn tột cùng xẹt qua đáy mắt, biến thành những nếp nhăn hằn sâu nơi khóe trán:
“Cái sai của con, là từ ngày nhận bản Tộc Ước Sinh Kế Khế Thư ở từ đường, con đã quên mất cái đạo lý cả nhà đồng lòng! Con nghĩ cái nhà này chỉ có một mình con biết lo, chỉ có hai bàn tay con mới làm ra hạt tương, cọng dưa sạch hay sao? Con nhìn lại xem, cha con chưa chết rấp, mẹ con chưa mù lòa, hai thằng em với con Tam Nha cũng không phải lũ bại liệt chỉ biết há mồm chờ đút cơm! Con biến mình thành con trâu kéo cày một mình, thức từ canh tư đến nửa đêm, việc nặng việc nhẹ gom hết vào người, đến đứa em muốn gánh giùm thùng nước rửa chân chum con cũng quát nạt đuổi đi. Có phải con nghĩ… người cha què quặt này chỉ là khúc củi mục vô tích sự đặt ở góc nhà, nhìn con gái vắt kiệt tủy sống kiếm tiền thuốc cho mình mà trơ mắt ngó lơ?”
“Cha! Con không hề nghĩ như vậy!” Cổ họng Tiểu Mãn nghẹn ứ, từng lời mắng mỏ của cha như xé toạc lớp vỏ bọc kiên cường nàng cố gồng gánh bấy lâu nay. Nước mắt rốt cuộc không kìm được nữa trào ra, nóng hổi lăn dài trên đôi má xanh xao hốc hác. “Con chỉ sợ… Đơn hàng của Tôn chưởng quầy ngặt nghèo quá, một tháng trăm sáu mươi thăng tương, hai trăm cân dưa nén. Khâu nào làm sai một ly là hỏng cả mẻ, người ta trả hàng, hủy khế ước, rồi tiếng xấu đồn xa thì gò Cồn Gió biết lấy gì chuộc lại… Con sợ cả nhà lại rơi vào cảnh khốn cùng như độ trước…”
“Sợ thì cả nhà cùng gánh, cùng chia!” Diệp Thành quát nhẹ, nhưng trong tiếng quát ấy chứa chan nỗi xót xa vô bờ của một người cha tàn phế thấy con mình ngã quỵ giữa sân bùn. Từng thớ cơ trên gương mặt sương gió của ông giật giật vì xúc động. “Một cây đũa thì bẻ gãy cái rắc, nhưng một bó đũa thì đá tảng đè lên cũng không cong. Muốn làm nên cái Thanh Khê Điền Trang gì đó như con với cậu Tạ hay tính toán, mà ngay cái sân phơi ba gian nhà đất này con còn không biết dùng người trong nhà, thì mở xưởng lớn cho ai xem?”
Người đàn ông tàn tật chống gậy, chậm rãi đứng thẳng người dậy. Đôi chân ông dẫu vẫn còn khập khiễng, bước đi nặng nhọc run rẩy, nhưng tấm lưng gầy gò đã vươn lên thẳng tắp, tỏa ra cái uy phong đĩnh đạc của người trụ cột trong gia đình đã dằn lòng qua giông bão, không chịu cúi đầu trước nghịch cảnh. Ông chỉ chiếc gậy gỗ nghiến ra phía khoảng sân tối mịt ngoài hiên, nơi màn mưa vừa tạnh chỉ còn sót lại tiếng ếch nhái râm ran, dõng dạc tuyên bố:
“Bắt đầu từ ngày mai, việc nặng phần ngoài sân bãi, kho cụ, Diệp Thành này nhận trọn! Chân ta què, không chạy chợ, không đẩy xe kéo ba mươi dặm lên huyện được, nhưng hai bàn tay này chưa gãy, mắt này chưa mờ. Toàn bộ phên nứa chắn gió bấc hướng bắc cho vườn rau, giàn phơi cất nâng nong tre chống nước mưa rỏ giọt gianh, và việc cạo rêu cọ rửa bảo trì đám chum sành ngấn nước của Đào Tam Nương, ta lo hết! Đứa nào để chị Hai chúng mày mó tay vào mấy việc đục đẽo, khiêng vác giàn giáo thô nặng đó nữa, đừng trách cây gậy của ta không có mắt!”
Diệp Nhị Hòa ngồi bên cạnh cúi gằm mặt, hai tai đỏ ửng vì hối hận và xúc động. Cậu thiếu niên mười bốn tuổi siết chặt nắm đấm, nước mắt rơm rớm, vội vã dạ ran một tiếng thật to:
“Dạ! Con nghe rõ rồi thưa cha! Từ mai con sẽ cản chị Hai, việc nặng ngoài sân con phụ cha làm hết!”
Chờ cho Diệp Thành ngồi lại xuống ghế gỗ, hơi thở dần đều trở lại, Lâm Tú Nương mới khẽ lau nước mắt nơi khóe mi. Bà với tay lấy chiếc khăn dấp nước ấm trong chậu đồng nhỏ, nhẹ nhàng đặt lên vầng trán nóng hổi của con gái. Bàn tay người mẹ ấm áp và mềm mại, mang theo hơi thở thân thương quen thuộc. Ánh mắt bà dịu dàng nhìn Tiểu Mãn, nhưng nét kiên quyết hiếm thấy đã hiện rõ trên gương mặt đoan trang, nhẫn nại vốn đã chịu nhiều phong trần.
Bà quay sang nhìn Tiểu Mãn, giọng nói mềm mại mà dứt khoát như đinh đóng cột:
“Cha con nói không sai một lời nào đâu Mãn nhi. Mẹ biết con thương cả nhà, thương mẹ yếu phổi, sợ mẹ lại ngất xỉu như đận bác cả sang đòi nợ thuốc. Nhưng từ ngày con mở lại khung cửi gỗ sến dệt vải, mẹ đã ăn được cơm, đêm ngủ được giấc tròn, khí huyết cũng đã hồi phục bảy tám phần rồi. Con không thể cứ coi mẹ như người bệnh liệt giường mà giấu giếm mọi việc được nữa. Từ nay về sau, mẹ nhận toàn bộ việc kiểm soát khu phơi mốc đậu nành hoa cau ngoài chái sau.”
Bà vuốt lại lọn tóc mai lòa xòa bết dính mồ hôi của con gái, tiếp tục phân giải mạch lạc từng khâu với vẻ tường tận của người từng nắm giữ bí truyền:
“Việc ủ mốc hoa cau, nhìn màu sáp đậu, ngửi mùi men thoang thoảng hương nếp chín hay phát hiện váng xám đầu gió, mẹ đã theo bà ngoại con làm từ thuở mười ba mười bốn tuổi, không phải đến hôm nay mới biết. Hạt đậu nành đồ chín tới, bấm móng tay thấy mềm đều không sượng, rải lên nia phủ lớp rơm nếp sạch, trở mặt ra sao cho sợi men mọc đều như lông tơ tằm, mẹ nắm trong lòng bàn tay. Mẹ sẽ phụ trách giặt giũ phơi phóng toàn bộ khăn phủ vải mộc bằng nước lá sả, lá ổi khô cho tiệt trùng tuyệt đối; rồi may toàn bộ túi vải thô mộc để đóng gói hàng khô, lót miệng chum sành ngấn nước theo đúng quy cách tửu lầu yêu cầu. Con chỉ việc truyền đạt tiêu chuẩn lúc đầu, sau đó đứng từ xa mà quan sát, kiểm tra thành phẩm. Con mà còn tự tiện lao vào khuấy nong, bốc vác hay thức trắng canh ba đãi đậu, mẹ sẽ lập tức dẹp bỏ khung cửi, không cho con làm tiếp nữa đâu!”
Nhìn ánh mắt rực sáng sự quả quyết cùng đôi gò má phảng phất sắc hồng khỏe khoắn của mẹ, Tiểu Mãn nghẹn ngào, chỉ biết gật đầu thật khẽ trong dòng nước mắt. Bao lâu nay nàng luôn mang tâm lý của một kẻ gánh vác, luôn xem mẹ là người yếu đuối cần che chở tuyệt đối, sợ mẹ lao lực mà tái phát chứng ho ra máu từng suýt cướp đi sinh mạng bà; nhưng nàng đã quên mất rằng, trước khi trở thành người vợ ốm đau trong cảnh bần hàn, Lâm Tú Nương từng là người con gái khéo léo nhất nhì vùng bãi Hạ, từng tận tay học hết thảy những ngón nghề tỉ mỉ, cẩn mật của cố sư phụ Lâm Thu Bà lừng danh một thuở.
Thấy mẹ và cha đã phân công rành rọt, Tạ Cảnh—người nãy giờ vẫn ngồi im lặng ở góc phản bên dưới ánh đèn, cẩn thận mài mực trên phiến nghiên đá xám—mới khẽ cất lời, phá tan sự xúc động đang dâng lên nghẹn ngào trong lòng thiếu nữ:
“Bác Diệp và bác gái đã định đoạt việc lớn trong nhà, Tiểu Mãn, cô cũng nên để các em chia sẻ phần việc của chúng. Điền trang muốn hưng thịnh thì rễ cọc phải sâu, con trẻ trong nhà nếu chỉ biết ăn học chữ suông trên giấy mà không hiểu mồ hôi hạt gạo, giá trị đồng tiền thì chữ nghĩa ấy cũng hóa thành sương khói.”
Chàng thư sinh ngẩng đầu lên, ánh mắt trong trẻo mà sâu sắc nhìn quanh một lượt. Chàng cúi xuống chiếc tráp gỗ thông con đặt cạnh nghiên mực, lấy ra một tập giấy thô dày dặn đã được chàng tự tay dùng chỉ gai chắc chắn đóng thành cuốn sổ khổ hẹp ngay ngắn. Bìa sổ bằng giấy xẩm màu dai mịn, bốn góc mép được dán lót bằng những mảnh vải vụn chắc nịch để chống sờn góc khi lật giở ngoài sương gió.
Tạ Cảnh hai tay trang trọng trao tập giấy thô đóng chỉ cho Diệp Nhị Hòa đang ngồi bồn chồn, mắt lấp lánh sự chờ mong bên cạnh. Chàng nhìn thẳng vào cậu thiếu niên mười bốn tuổi, trầm giọng dặn dò:
“Nhị Hòa, đây là sổ kho nguyên liệu xuất nhập đầu tiên của gia đình. Chữ Hán chuyên ngành quản lý kho bãi: Cân, Lạng, Thạch, Đấu, Thăng, cùng các chữ chỉ trạng thái như Thấp, Táo, Nhập, Xuất, Tồn, mấy tuần qua ta đã dạy cho đệ nắm rõ cả rồi. Chiếc xe kéo hai bánh nan kép chữ X đệ đóng rất khéo, các mộng gỗ khít khao, đã chứng minh đệ có sức vóc và sự tỉ mỉ hơn người. Nhưng sức lực cơ bắp chỉ giải quyết được việc kéo xe trên đường bằng, muốn giữ cho xưởng dưa tương Cồn Gió vận hành không thất thoát, đệ phải làm người giữ cổng thành.”
Diệp Nhị Hòa run run đưa hai tay ra đón lấy tập giấy thô đóng chỉ. Hai bàn tay thô kệch chai sần vì cầm búa, cầm rìu đẽo gỗ của cậu nâng niu mép giấy mỏng manh như nâng một báu vật linh thiêng của trời đất. Cậu ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt bừng sáng ngọn lửa tự hào xen lẫn trách nhiệm nặng nề đang đè lên đôi vai trẻ tuổi:
“Cậu Tạ… anh Tạ Cảnh! Đệ… đệ thật sự được giữ cuốn sổ này sao? Chị Hai không phải tự ghi nữa ư? Đệ có thể gánh vác việc ghi chép thật sao?”
Tiểu Mãn nhìn em trai, thấy được nét bỡ ngỡ cùng khát khao khẳng định bản thân của cậu thiếu niên đang tuổi lớn, nàng mỉm cười gật đầu, đáy mắt rưng rưng:
“Đúng vậy, Nhị Hòa. Từ nay đệ chịu trách nhiệm kiểm đếm từng thúng đậu nành mua của ông Hứa, từng bao muối biển chở từ thuyền buôn bến sông lên, từng mớ cải bẹ thím Quế Hoa giao sang bờ giếng. Cân thiếu nửa lạng, bao rách rò rỉ, hạt bị ẩm mốc, đệ phải ghi rành rọt vào cột Hao Tổn. Mỗi khi xuất mười thăng tương vào vò cho khách, xuất hai mươi cân dưa cho xe kéo chuyển lên trấn, đệ phải viết ngày tháng, ký tên điểm chỉ đàng hoàng. Làm sai một con số, ghi nhầm một cân thóc hạt, trừ một ngày công nhật!”
“Chị Hai cứ trừ mười ngày công của em cũng được!” Nhị Hòa ôm chặt tập giấy thô vào lồng ngực, giọng nói vỡ òa vì sung sướng và tự hào khôn xiết. Đôi mắt cậu long lanh phản chiếu ánh đèn dầu. “Em hứa với cha mẹ, với chị Hai và anh Tạ Cảnh, em sẽ đếm từng hạt đậu, cân từng lạng muối, con kiến cũng không bò lọt khỏi cửa kho của nhà họ Diệp!”
Trong ánh sáng bập bùng của ngọn đèn dầu, hình ảnh cậu thiếu niên ôm chặt cuốn sổ ghi chép mở ra một tương lai dài rộng cho cơ nghiệp gia đình. Không nén nổi sự háo hức, Nhị Hòa liền mở ngay trang giấy đầu tiên còn thơm mùi vỏ cây và hồ nếp. Cậu rút thỏi than liễu chuốt nhọn đầu được giắt cẩn thận bên vành tai, ngồi sụp xuống mép phản, nắn nót ghi lại những con số kiểm kê đầu tiên vào cuốn vở đóng bằng giấy thô: ba thúng đậu nành tồn chái bếp, mười chum sành ngấn nước của lò Nam Bãi, và hai bao muối hạt biển bến sông. Từng nét chữ vụng về, gồ ghề nhưng ngay ngắn và chắc nịch hằn sâu lên mặt giấy mộc mạc.
Lúc này, Diệp Tam Nha ngồi bên cạnh khẽ giật giật gấu áo của mẹ, đôi mắt lá dong long lanh lộ vẻ nôn nóng không chịu được:
“Mẹ… Thế còn con? Con mười tuổi rồi, con cũng nhặt được rau, con đâu có nhỏ bằng Tiểu Đậu! Con muốn giúp chị Hai mà!”
Tiểu Đậu nghe nhắc đến tên mình thì vội vàng ngước cái đầu cạo trọc để chỏm lên, chu môi phụng phịu:
“Em cũng biết đếm chum sành mà! Em biết đếm từ một đến mười rồi đấy!”
Lâm Tú Nương bật cười hiền hậu, khẽ xoa đầu hai đứa con nhỏ, rồi đưa mắt nhìn sang Diệp Thành như chờ đợi sự đồng thuận của người cha. Diệp Thành gật đầu một cái thật dứt khoát, ánh mắt giãn ra vẻ ấm áp.
Tiểu Mãn khẽ vẫy Tam Nha lại gần chõng, nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn thoang thoảng mùi lá cải tươi và bùn đất của em gái:
“Tam Nha, lưỡi và mũi của em thính nhất nhà này. Lần trước hũ dưa nứt miệng bốc váng trắng đục ở chợ phiên, chính em là người ngửi thấy mùi úng trước cả chị, cứu cho nhà mình một phen bẽ mặt. Việc của em rất quan trọng: mỗi sáng, sau khi các vò dưa nén qua ngày thứ ba, em sẽ dùng đũa tre sạch gắp nếm thử độ chua của từng chum dưa sen, kiểm tra xem vị giòn của cuống rau đã tới độ ‘chín thanh’ hay chưa, có mùi hăng của cỏ dại hay không. Sau đó, em phụ trách việc tỉa phân loại cuống rau cải bẹ: cuống dày để riêng muối dưa nén hảo hạng giao cho Vọng Giang Lâu, lá mỏng mềm để riêng cho món dưa ăn xổi bán lẻ ở chợ Thanh Khê.”
Tam Nha nghe xong, sung sướng híp mắt cười toe toét, hai má lúm đồng tiền hiện rõ trên gương mặt lấm lem:
“Dạ! Em làm được, em nếm dưa thì không ai qua mặt được em đâu! Em sẽ ngửi từng chum, nếm từng cọng dưa cho chị!”
“Nhưng mà!” Tiếng Diệp Thành bất ngờ vang lên, chặn đứng sự hí hửng của cô bé. Người cha hắng giọng một tiếng thật vang, nét mặt nghiêm trang trở lại. Ánh mắt nghiêm khắc của ông quét qua Tam Nha rồi dừng lại trên cả Nhị Hòa và Tiểu Đậu:
“Cha mẹ và chị Hai giao hẹn trước: Việc nhà là việc sinh kế, nhưng việc học chữ, học đạo làm người là cái gốc của đời sau! Đừng tưởng có mấy đồng tiền công mà bỏ bê sách vở. Mỗi ngày, giờ Thìn bắt đầu, cả ba đứa bay phải ngồi nghiêm chỉnh bên án thư chép đủ hai trang chữ, đọc thuộc lòng các bài tính mà cậu Tạ truyền dạy. Đứa nào chưa xong giờ học chữ, chưa được cậu Tạ gật đầu phê chữ ‘Đạt’ vào thẻ bài, thì tuyệt đối không được bước chân xuống bếp, không được sờ vào cọng rau hũ tương! Đứa nào lén trốn học làm việc, cha sẽ đánh đòn gấp đôi, nghe rõ chưa?”
Nhị Hòa và Tam Nha rụt cổ lại nhưng ánh mắt vẫn tràn trề quyết tâm, đồng thanh dạ ran một tiếng vang dội cả gian nhà. Tiểu Đậu cũng gật đầu lia lịa, hai tay ôm khư khư cuốn sách vỡ lòng in mộc bản mà Tạ Cảnh vừa đóng tặng tháng trước vào sát bụng.
Đúng lúc ấy, ngoài ngõ tre vang lên tiếng bước chân vội vã giẫm trên nền đất ướt sũng, tiếng nước bì bõm bắn lên bờ cỏ. Tiếng then cài cổng khẽ lay động, kèm theo giọng nói lanh lảnh, giòn tan quen thuộc của Trần A Lan xé tan màn đêm yên tĩnh:
“Tiểu Mãn ơi! Bác Thành, bác gái ơi! Mọi người đã ngủ chưa?”
Nhị Hòa nhanh nhảu đặt cuốn sổ xuống phản, chạy ùa ra mở cổng tre. Trần A Lan đội chiếc nón lá rách chóp, chân còn đi đôi guốc mộc dính đầy bùn non, hai ống quần xắn cao tới tận đầu gối. Tay nàng xách theo một bọc lá chuối bốc khói nghi ngút, đựng mớ củ dong riềng luộc nóng hổi thơm phức vừa bước vội vào nhà. Vừa thấy Tiểu Mãn ngồi tựa lưng trên chõng, sắc mặt dẫu còn mệt mỏi nhưng đã bớt nhợt nhạt, cô gái bãi Hạ đã thở phào một hơi nhẹ nhõm, quẳng chiếc nón lá ướt sũng lên bệ cửa:
“Tạ ơn trời đất! Chiều nay nghe tin mày ngất xỉu giữa sân phơi vì bê nong men, tao đang phụ mẹ dỡ mớ cá bến sông mà hồn xiêu phách lạc. Thím Năm với chị Dâu bác Tư cũng nhấp nhổm không yên, cứ đòi kéo sang thăm, tao phải bảo để cho mày nghỉ ngơi kẻo động gió độc. Tao luộc vội mấy củ dong riềng thơm ngọt lắm đây, mang sang cho mày lót dạ lấy lại hơi sức này.”
Lâm Tú Nương mỉm cười đôn hậu, đón lấy bọc củ dong ấm sực, kéo A Lan ngồi xuống bên mép phản:
“Cháu chu đáo quá A Lan. Con Mãn nó uống thuốc của thầy lang Triệu rồi húp bát cháo hoa, giờ đã tỉnh táo hẳn rồi. May có Tạ Cảnh với mấy đứa nhỏ gom men vào chái bếp kịp thời, không thì công sức mấy ngày qua đổ sông đổ biển hết.”
Tiểu Mãn nhìn bạn thân, ánh mắt tràn đầy sự tin cậy và ấm áp:
“A Lan, mày sang thật đúng lúc. Tao với Tạ Cảnh đang chuẩn bị bàn lại chuyện nhóm đổi công của bốn người trong xóm. Mày ngồi xuống đây đi, cùng bàn tính cho kỹ càng.”
Tạ Cảnh khẽ gật đầu mỉm cười, vươn tay dịch ngọn đèn dầu hạt lạc ra giữa bàn để ánh sáng rọi rõ hơn khắp mặt phản gỗ. Chàng lôi từ trong tay áo rộng ra một xấp thẻ tre dài chừng một gang tay, đã được chàng tỉ mỉ chẻ nhẵn bóng, các cạnh vát tròn cẩn thận bằng dao bài để người cầm không bị dằm nứa đâm vào tay.
Chàng nhìn Tiểu Mãn, giọng nói ôn hòa nhưng mạch lạc từng ý tứ:
“Tiểu Mãn, chiều nay ta đã nói với cô rồi: Muốn làm ăn lớn với các tửu lầu huyện thành, không thể dựa vào sự tận tụy mù quáng hay lòng tốt cảm tính của xóm giềng. Bốn người trong nhóm đổi công gồm thím Năm xóm Cầu Đá, chị Dâu bác Tư bến sông, cô Ba Thược xóm Miễu và dì Bảy Đậu xóm Trong đều là người chăm chỉ, thật thà, nhưng nếu không có quy chế rành mạch, lâu ngày sẽ nảy sinh cảnh người làm nhiều bì tị người làm ít, cẩu thả khâu này đổ lỗi cho khâu kia, cuối cùng người chịu thiệt và mất uy tín vẫn là nhà họ Diệp.”
Tiểu Mãn gật đầu tán thành sâu sắc. Bài học từ việc nàng tự ôm đồm vì sợ người khác làm sai, lo lắng mẻ tương hỏng đã suýt chút nữa đánh đổi bằng cả sức khỏe và làm lỡ dở hợp đồng quan trọng. Nàng nói với Tạ Cảnh và A Lan:
“Đúng vậy. Bảng thẻ tre năm cột trước đây của chúng ta chỉ ghi vắn tắt: Nhật kỳ, Họ tên, Khâu việc, Ngày công, Thù lao. Nó đủ để ghi nhận ai đi làm ngày nào, nhưng lại thiếu hẳn sự phân định trách nhiệm cụ thể và mức thưởng phạt minh bạch. Khi dưa bị chua gắt hay men bị xỉn màu, chẳng ai nhận lỗi về mình, chỉ bảo tại trời tại đất.”
Tạ Cảnh cầm chiếc bút lông thỏ, chấm nhẹ vào nghiên mực khói thông đen nhánh, trải dài tấm phên thẻ tre được kết nối bằng dây gai bền chắc lên mặt bàn. Chàng cất giọng trầm ấm, khúc chiết:
“Vậy đêm nay, ta cùng cô và A Lan sẽ kẻ lại toàn bộ bảng thẻ tre ghi công nhật này. Ta đề xuất bổ sung thêm ba cột then chốt: Cột thứ nhất là ‘Trách nhiệm cụ thể theo khâu’, cột thứ hai là ‘Nghiệm thu chất lượng’, và cột thứ ba là ‘Thưởng phạt phân minh’. Có như vậy, công việc mới minh bạch như nước giếng trong.”
A Lan tò mò ghé sát đầu vào nhìn, ngón tay thô ráp chỉ vào từng đường kẻ thẳng tắp bằng mực đen còn ướt:
“Cậu Tạ chia cụ thể thế nào? Để tao về tao phổ biến cho mấy thím mấy dì, chứ họ toàn người chân lấm tay bùn, cả đời quen việc đồng áng tự do, nói chữ nghĩa nhiều quá họ lại sợ rối trí.”
Tiểu Mãn khẽ dịch người, chống tay lên phản, mỉm cười giải thích cặn kẽ:
“Không dùng chữ nghĩa cao xa đâu A Lan. Rất đơn giản và trực quan: Chúng ta chia quy trình ra làm ba khâu độc lập có người chịu trách nhiệm riêng biệt:
Khâu thứ nhất là ‘Rửa và sơ chế rau cải’. Người phụ trách khâu này (như thím Năm và dì Bảy Đậu) phải bảo đảm rửa sạch bùn cát qua ba lần nước giếng khơi, không làm dập nát bẹ cải non, vảy ráo kiệt nước trước khi tãi ra nia. Nếu mẻ rau nào rửa sạch bóng không còn một hạt cát hạt sạn, dưa muối lên nước trong veo, cuối tháng sẽ được thưởng thêm năm đồng tiền kẽm mỗi người. Ngược lại, nếu kiểm tra thấy còn dính cát sạn làm bẩn nước dưa, phải tự tay rửa lại bằng nước sạch của mình và trừ hai đồng tiền công nhật của ngày đó!
Khâu thứ hai là ‘Phơi héo và đảo trở’. Rau cải và mốc đậu nành phải phơi dưới nắng vừa, đảo trở đều tay ba lần trong một buổi sáng để héo đều mặt sáp, không để lá bị táp cháy hay đọng sương ẩm. Khâu này cô Ba Thược chịu trách nhiệm chính, mẹ tao sẽ là người nghiệm thu cuối cùng. Nếu lá bị táp nắng vàng úa hoặc mốc lên không đều vì thiếu trở nia, trừ nửa ngày công. Nếu làm tốt, dưa muối vàng giòn đều màu, thưởng thêm dưa mẫu ăn thử cho cả nhà.
Khâu thứ ba là ‘Bốc vác, khuấy vại và nén đá’. Đây là phần việc nặng, chị Dâu bác Tư khỏe tay cùng cha tao và Nhị Hòa phụ trách. Từng chiếc vỉ tre gài nén phải chèn đá cuội tròn nhẵn đã luộc nước sôi, nước muối ngập mặt rau đúng hai đốt ngón tay, không để trồi cuống ra ngoài gây thối màng. Ai làm đúng quy cách, chum dưa không bị váng mốc, được thưởng một hũ dưa sen nén đem về biếu gia đình. Ngược lại, để hở không khí làm hỏng vại dưa, trừ trọn một ngày công!”
Tạ Cảnh vừa chăm chú lắng nghe Tiểu Mãn nói vừa thoăn thoắt đưa ngọn bút lông trên từng phiến tre. Nét chữ khải triều thanh thoát, chuẩn xác và sắc sảo của chàng hiện lên rõ ràng từng điều khoản:
*Khâu Sơ Chế: Rửa sạch cát – Thưởng 5 đồng/tháng – Phạt 2 đồng nếu sót cặn.* *Khâu Phơi Đảo: Đều mặt sáp – Thưởng dưa mẫu – Làm cháy héo chịu trừ nửa công.* *Khâu Nén Vò: Ngập nước kín vỉ – Thưởng 1 hũ thành phẩm – Rò khí nổi váng trừ trọn công nhật.*
A Lan vỗ đùi đánh “đét” một tiếng, mắt sáng rực lên đầy thán phục:
“Hay lắm! Rõ ràng như ban ngày thế này thì đố ai tị nạnh ai được! Thím Năm vốn tính sạch sẽ kỹ lưỡng cho thím ấy quản khâu rửa nước giếng là chuẩn nhất. Chị Dâu bác Tư thì tay khỏe như đàn ông, khiêng vại vác đá không ai bằng. Có thưởng phạt công khai ghi trên thẻ tre treo ngay cửa chái bếp thế này, tao bảo đảm ngày mai mấy thím ấy làm việc răm rắp, chẳng ai dám làm ẩu làm bừa nữa!”
Tạ Cảnh đặt ngọn bút lông xuống gác bút bằng sứ thô, ngước nhìn Tiểu Mãn, trong ánh mắt chàng ánh lên sự khâm phục kín đáo:
“Một khi quy chuẩn đã định, trách nhiệm đã gắn với quyền lợi từng người, thì người chủ như cô không cần phải tự mình cắm cúi làm từng việc vặt. Cô chỉ cần đứng ở vị trí nghiệm thu, giữ vững cái cân công lý và nắm chắc chất lượng đầu ra. Điền trang tương lai, chính là bắt đầu từ những phiến thẻ tre này.”
Tiểu Mãn nhìn chàng thư sinh nghèo đối diện. Dưới ánh đèn dầu chao nghiêng, gương mặt khôi ngô, cương nghị với đôi mày thanh tú của Tạ Cảnh mang lại cho nàng một cảm giác tin cậy, vững chãi đến lạ lùng. Không có những lời đường mật hoa mỹ, nhưng từng đường nét mực, từng con tính chiết khấu hao tổn mà chàng tỉ mỉ thức đêm soạn thảo cho nàng, chính là điểm tựa vững bền nhất giữa muôn vàn sóng gió sinh kế. Nàng khẽ gật đầu, trong lòng dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc khó tả bằng lời.
Cuộc họp gia đình kéo dài cho đến khi tiếng mõ cầm canh của điếm canh xóm ngoài điểm ba tiếng báo hiệu canh tư vẳng lại trong sương đêm. A Lan cầm bản quy chế thẻ tre mới thơm mùi mực, hớn hở chào cả nhà ra về để sớm mai tập hợp nhóm đổi công phổ biến cặn kẽ. Diệp Thành chống gậy gỗ nghiến, chậm rãi đi một vòng kiểm tra lại then cài cửa chái bếp, nơi mười chiếc chum sành ngấn nước của Đào Tam Nương nằm im lìm trong bóng tối, nắp đậy khum tròn được che chắn cẩn thận bằng lớp bạt gai dầu chống thấm.
Lâm Tú Nương giục các con đi ngủ. Nhị Hòa ôm khư khư tập giấy thô đóng chỉ vào lòng như ôm một báu vật gia truyền, chui vào chiếc ổ rơm ấm áp bên góc buồng ngoài cùng Tiểu Đậu, miệng vẫn còn lẩm bẩm học thuộc cách viết chữ “Thạch” và chữ “Đấu” bằng ngón tay vạch trên nền đất.
Gian nhà chính trở lại vẻ tĩnh lặng êm đềm vốn có của làng quê lúc nửa đêm.
Được giải phóng hoàn toàn khỏi các công việc lao lực chân tay sự vụ, Diệp Tiểu Mãn nằm tựa lưng vào chiếc gối mềm nhồi rơm nếp mới thơm mùi nắng trên chiếc chõng tre quen thuộc. Thắt lưng nàng dẫu vẫn còn nhâm nhẩm đau nhức mỗi khi trở mình, miếng cao dán vẫn âm ỉ tỏa nhiệt cay nồng, nhưng tảng đá vô hình nặng ngàn cân đè nặng lên lồng ngực nàng suốt mấy ngày qua dường như đã tan biến tự lúc nào.
Nàng khẽ nghiêng đầu nhìn qua khe cửa liếp hé mở.
Trời đêm sau cơn dông đã quang đãng trở lại. Mây đen tan biến, để lộ vòm trời sâu thẳm lấp lánh ánh sao. Vầng trăng hạ huyền mỏng như lưỡi liềm treo lơ lửng trên rặng tre ngà đầu ngõ, tỏa ánh sáng bàng bạc, dịu mát xuống khoảng sân đất nện phẳng phiu.
Bên ngoài hiên, dưới ánh trăng thanh và ngọn đèn lồng bọc vải dầu le lói, Diệp Thành đang cặm cụi ngồi trên chiếc đòn gỗ thấp. Bàn chân tàn tật duỗi thẳng sang một bên, hai bàn tay thô ráp của người cha thoăn thoắt chuốt từng thanh nứa già, tiếng dao gọt “soạt, soạt” đều đặn, nhịp nhàng phá tan màn đêm tịch mịch. Ông đang sửa lại những mắt cáo của chiếc giàn phơi nâng cao hai thước, chuẩn bị cho nắng sớm ngày mai. Dáng lưng còng gầy guộc của người cha lúc này trông vững chãi như một ngọn núi che chắn giông gió cho cả mái nhà.
Phía chái bếp sau, tiếng nước chảy róc rách nhè nhẹ từ gàu giếng khơi. Lâm Tú Nương đang cẩn thận dùng tro bếp mịn và xơ mướp cọ sạch từng chiếc nong tre lớn, rồi phơi nghiêng trên bờ giậu để đón gió khô ráo trước khi tãi đợt mốc mới. Từng động tác của bà cẩn trọng, tỉ mỉ như đang nâng niu từng hạt ngọc của đất trời.
Trong góc buồng, tiếng ngáy khe khẽ, bình yên của Tiểu Đậu hòa lẫn tiếng thở đều của Nhị Hòa—cậu thiếu niên tối nay đã chính thức bước chân vào hàng ngũ những người gánh vác việc lớn của gia đình.
Lần đầu tiên kể từ ngày cha bị thương gãy chân, kể từ ngày Lương Quảng Tài dẫn người đến đòi siết hai mẫu ruộng Cồn Gió, Diệp Tiểu Mãn mới cảm nhận được một cảm giác bình yên, vững chãi sâu sắc đến nhường này. Đó không phải là sự đơn độc gồng mình của một cô gái mười bảy tuổi cố sức chống chọi với số phận nghiệt ngã, mà là sức mạnh kết đoàn của một tập thể sản xuất nề nếp, có trật tự, có trên dưới, nơi mỗi người thân yêu đều tìm thấy vị trí và giá trị thực sự của mình.
Nàng nhắm nghiền đôi mắt lại, hít một hơi thật sâu mùi hương quen thuộc của rạ mục, của bùn đất phù sa và mùi men tương hoa cau nồng ấm đang âm thầm ủ chín trong đêm thâu. Giấc ngủ êm đềm kéo đến, cuốn đi bao mệt mỏi, nhọc nhằn tích tụ bấy lâu.
***
Sáng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên của buổi sớm mai vừa xua tan màn sương mù bảng lảng trên rặng núi Thanh Lĩnh, sân nhà họ Diệp đã rộn rã thanh âm lao động trong một trật tự nhịp nhàng hiếm thấy. Ánh nắng ban mai rọi xuống mặt đất ẩm, bốc lên làn khói mỏng manh thơm mùi cỏ dại và đất mới.
Mùi lá sả thơm lừng bốc lên nghi ngút từ nồi nước sôi bốc khói cạnh giếng khơi, nơi Lâm Tú Nương đang tỉ mỉ luộc tiệt trùng từng chiếc khăn vải mộc. Khói sả cay nồng quyện với hương lá ổi khô lan tỏa khắp góc vườn, xua đi ẩm mốc của đêm mưa. Diệp Thành đã dựng xong chiếc giàn phơi nứa mắt cáo cao ráo, thẳng tắp ở góc sân đón gió đông nam. Từng thanh nứa được néo chặt bằng dây mây, chắc chắn đến mức dù có gió to cũng không hề lay chuyển.
Nhị Hòa mặc chiếc áo cộc tay thắt đai gọn gàng, một tay cầm thỏi than liễu, một tay lật giở từng trang của tập giấy thô đóng chỉ, đĩnh đạc đứng cạnh chiếc cân đòn treo trên xà ngang chái bếp. Khuôn mặt cậu thiếu niên sáng rỡ, đôi mắt tập trung cao độ vào từng quả cân bằng đồng.
Nhóm đổi công bốn người của thím Năm, chị Dâu bác Tư, cô Ba Thược và dì Bảy Đậu vừa bước qua cổng ngõ, ai nấy đều nhìn bảng thẻ tre mới kẻ treo trang trọng ở cột hiên mà trầm trồ khen ngợi. Nhìn từng dòng chữ rành rọt phân minh ghi rõ mức thưởng phạt, họ lập tức chia nhau vào từng vị trí sơ chế đã định sẵn, không một tiếng ồn ào tranh cãi. Người múc nước giếng khơi, người nhặt cuống rau héo, người rửa bẹ cải, tiếng cười nói giòn tan xen lẫn tiếng nước xối róc rách rộn rã cả một góc trời quê.
Tiểu Mãn mặc bộ váy vải chàm sạch sẽ, tóc búi gọn sau gáy cài chiếc trâm tre nhẵn bóng, ngồi trên chiếc ghế tựa đặt dưới bóng râm cây bưởi đầu sân. Nàng ung dung nhấp một ngụm nước vối ấm, ánh mắt bao quát toàn bộ quy trình vận hành trơn tru trước mắt. Lưng nàng vẫn còn chút nhức mỏi, nhưng tinh thần sảng khoái lạ thường. Mọi việc diễn ra răm rắp như những bánh răng cỗ xe kéo ăn khớp vào nhau, nhanh gọn và thanh sạch vượt xa sự mong đợi của nàng. Từng bẹ rau cải được rửa qua ba chậu nước trong vắt, từng nong đậu hoa cau được mẹ kiểm tra mặt men mượt như nhung, tất cả đều toát lên vẻ quy củ của một xưởng nghề thực thụ.
Tuy nhiên, sự thanh thản, yên ổn ấy chẳng kéo dài được bao lâu.
Đúng vào lúc giờ Thìn ba khắc, khi mẻ nước muối ấm pha gừng già đầu tiên vừa được Diệp Thành bắc xuống khỏi bếp lò chuẩn bị cho công đoạn nén dưa, thì ngoài cổng tre bỗng vang lên tiếng bước chân dồn dập kèm theo những tiếng cãi cọ, phân bua the the phá tan bầu không khí làm việc quy củ.
“Bác Ngô Quế Hoa! Bác làm ăn thế này là không giữ đúng giao kèo với cái Mãn đâu đấy nhé!” Giọng nói đanh thép, tức tối của Trần A Lan vang lên từ đầu ngõ rẽ bãi bồi, theo sau là tiếng chân bước vội vã.
“Mày bảo ai không giữ giao kèo hả con ranh kia?” Tiếng Ngô Quế Hoa the thé đáp trả, tiếng quang gánh kẽo kẹt nện uỳnh uỵch xuống nền đường đất nghe chói tai. “Tao thức từ canh tư cắt đúng giờ Dần, hai sọt rau cải sen nặng trịch sáu mươi cân tươi roi rói thế này, mày bới bèo ra bọ chê ỏng chê eo cái gì? Năm mươi đồng tiền kẽm bao tiêu của tao hôm nay, nhà họ Diệp đừng hòng bớt một cắc!”
Tiếp đó là tiếng xôn xao của vài phụ nữ xóm Ngoài cũng đang gánh rau củ tiến về phía cổng nhà họ Diệp. Tiếng đòn gánh tre kẽo kẹt, tiếng bàn tán lao xao của người làng làm xáo động cả con ngõ nhỏ yên ả.
Tiểu Mãn khẽ nhíu mày, đặt bát nước vối xuống bàn con. Nàng cùng Tạ Cảnh đưa mắt nhìn nhau, nhận ra một nan đề mới: Khi gánh nặng việc sự vụ trong nhà vừa vơi bớt, thì vấn đề chất lượng nguyên liệu thu mua từ các nông hộ liên kết trong làng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn gay gắt về phẩm cấp.