Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.23 / 45
Chapter 23

Lời đồn ác ý và buổi rửa chum công khai

Bến giếng làng Khe Thanh buổi sớm đặc quánh những ánh mắt dò xét khi Chu Kim Quế đứng giữa đám đông giặt giũ, khoa chân múa tay nói xấu việc làm ăn của gia đình em chồng.

Nắng sớm vừa rọi qua ngọn tre nghiêng bóng xuống mặt đá xanh bên bờ giếng, làn sương mỏng manh còn chưa kịp tan hết trên ngọn cỏ. Quanh thành giếng tròn ghép bằng những phiến đá cuội rêu phong đã mòn nhẵn qua mấy đời người, tiếng đập áo bằng chày gỗ chan chát bỗng chốc ngưng bặt. Hơi nước lạnh từ lòng giếng sâu hun hút bốc lên phả vào da thịt từng luồng buốt giá, nhưng dường như chẳng ai buồn để ý đến cái lạnh ấy nữa. Mọi sự chú ý đều dồn cả vào người đàn bà có đôi gò má cao nhọn hoắt và cái miệng mỏng tanh như lá lúa đang sùi bọt mép thao thao bất tuyệt.

Vài ba người đàn bà xóm Miễu, xóm Cầu Đá dừng tay vắt nước, tròn mắt lắng nghe từng lời cay nghiệt phát ra từ cái miệng mỏng quẹt của vợ Diệp Đại Phúc. Những chiếc chày gỗ lim đen bóng đặt hờ hững trên mặt phiến đá giặt trơn tuột, nước từ mớ vải thô nhỏ ròng ròng xuống rãnh thoát nước lát đá cuội.

Kề bên bà ta, Ngô Quế Hoa ngồi chồm hổm bên chiếc chậu gỗ sứt mép, chiếc khăn chàm quấn đầu xô lệch để lộ vài lọn tóc xơ xác dính bết bên thái dương. Trên gương mặt rỗ hoa của mụ vừa lộ vẻ hể hả vừa ngấm ngầm kích động, đôi mắt ti hí đảo qua đảo lại như muốn thâu tóm từng biểu cảm hoang mang của những người xung quanh. Quế Hoa nhấp nhổm, hai bàn tay thô ráp nhúng trong làn bọt bồ hòn đục ngầu chốc chốc lại vung lên bồi thêm một câu như châm dầu vào lửa:

“Các bà các chị thử ngẫm mà xem, hạt đậu gò Cồn Gió cằn cỗi như thế, đất thì pha cát sỏi, cỏ may còn mọc không nổi huống chi là thứ hoa màu béo tốt. Nhà con Tiểu Mãn thì vừa mới gãy chân ông bố, nằm bẹp một chỗ rên hừ hừ, mẹ thì ốm dặt dẹo ho hen quanh năm suốt tháng, đào đâu ra hoa tay tài thánh mà ủ được mẻ tương sánh vàng, thơm lừng khắp cả chợ huyện lẫn bến sông? Đậu người ta ủ cả ba bốn tháng mới se mặt men, đợi nắng đỏ mắt mới dám ngả vò, đằng này nó làm vèo một cái đã có hàng gánh đi bán. Lại còn đem ra dọa người, bán những mười mấy đồng một thăng! Tiền chứ có phải vỏ hến nhặt ngoài bãi sông đâu!”

Chu Kim Quế nghe thế thì như được gãi đúng chỗ ngứa. Mụ ném mạnh chiếc áo cũ rách vai xuống mặt phiến đá giặt đánh “bộp” một tiếng chát chúa, bọt bồ hòn văng tung tóe lên cả vạt váy vá chằng vá đụp của mấy bà chung quanh. Mụ chống một tay vào bên hông đẫy đà, tay kia xỉa xói vào khoảng không, giọng the thé vót nhọn xuyên qua cả tiếng gió rít trên ngọn tre:

“Chứ còn gì nữa! Tôi là bác dâu ruột thịt của nó, cùng một nhánh tổ tông nhà họ Diệp mà tôi còn chẳng ngửi nổi cái trò thất đức ấy! Xưa nay người nhà họ Diệp ăn ở hiền lành, tích đức cho con cho cháu, ai ngờ đến đời đứa cháu gái này lại sinh ra cái thói táng tận lương tâm đến thế! Hôm trước tôi có việc bước chân sang bên ấy, thấy nó giấu giấu giếm giếm quanh mấy gốc chuối tiêu sau hè, mùi thối khẳn bốc lên nồng nặc đến lộn cả mề. Tôi mới sinh nghi, lén hỏi dò một người sành sỏi chuyên nghề làm mắm dưới mạn bến sông Dâu thì mới vỡ lẽ ra một chuyện rùng rợn đến dựng tóc gáy!”

Mụ ngừng lại một nhịp, đưa mắt liếc một vòng quanh những gương mặt đang nín thở chờ đợi, vẻ mặt làm bộ thần bí và kinh hãi đến tột cùng:

“Muốn tương đậu nhanh nhừ, lại có cái vị ngậy béo đến lừa người, phường gian thương nó toàn đi lượm xác mèo chết trôi, xác chuột cống sình thối, hoặc nhau thai trúc súc vật đem về chôn sâu dưới đáy chum! Đổ đậu rang, muối hột đè lên trên, men mục rữa từ thịt thối rữa nó xông lên ngấu nát hạt đậu chỉ trong gang tấc! Đậu chẳng cần ủ đúng ngày đúng tháng, cứ ngậm lấy cái chất thối rữa tanh tao ấy mà bở tơi ra, nước cốt thì sánh đặc như mật mía! Trời đất quỷ thần ơi, người trần mắt thịt ăn phải thứ tương ấy vào bụng, chẳng chóng thì chầy cũng lở loét ruột gan, giòi bọ đục từ trong đục ra, rước họa vào thân mà chết không nhắm mắt!”

Lời vừa thốt ra, mấy người đàn bà yếu bóng vía đang múc nước giếng lập tức buông rơi gàu mây. Chiếc gàu đập vào thành đá vang lên tiếng “bõm” khô khốc, bọt nước bắn tung tóe lên bờ cỏ. Mặt mày ai nấy thoắt cái tái xanh tái xám, những bàn tay đang vò áo run rẩy buông thõng xuống chậu.

“Trời phật ơi, thật thế sao thím Đại Phúc? Nhà tôi hôm chợ phiên vừa rồi cũng cắn răng đổi mất hai vò nhỏ về chấm rau muống luộc, cả nhà ăn khen nức nở... Chẳng lẽ lại nuốt phải thứ ô uế độc địa ấy?” Một bà lão xóm Trong run rẩy ôm ngực, hai mắt trợn trừng, cổ họng ứ nghẹn lại như có ai nhét giẻ rách vào, nôn nao như muốn ọe ngay tại chỗ.

Ngô Quế Hoa đập đùi đánh đét một cái, mặt vênh lên phụ họa ngay tắp lự:

“Tôi bán rau ở chợ Thanh Khê bao năm nay, lạ gì thói ma mãnh của con ranh ấy! Trước nó làm dưa cải xanh rì giữa đợt sương muối tôi đã ngờ rồi, nay lại đến tương mục đáy chum! Bằng không thì cớ sao nó lại giấu như mèo giấu cứt, chẳng dám để ai trông thấy lúc vào vò? Lại còn dám đòi giá trên trời ở bến Trấn Liễu Kiều! Miếng ăn đưa vào mồm mà bẩn thỉu nhơ nhớp thế thì phúc đức nào gánh cho nổi? Các bà các cô chớ dại mà rước cái thứ nước xác chết ấy vào mồm, có ngày mạng chẳng còn mà ôm ấm ức! Cứ nghe tôi, lát nữa ai trót mua thì mang trả ráo, đòi lại từng đồng tiền mồ hôi nước mắt, không thì đem đổ phắt ra gốc chuối cho xong!”

Lời rỉ tai ác độc tựa như gió độc luồn qua bờ rào, chỉ trong nửa buổi chợ đã lan khắp ngõ trên xóm dưới của thôn Khe Thanh. Kẻ bán tín bán nghi, người vốn ghen ăn tức ở với cảnh nhà Diệp Thành bỗng chốc vươn lên thì hùa theo chép miệng, chê bai dè bỉu. Những ánh mắt nghi ngại bắt đầu lén nhìn về phía con đường mòn dẫn vào xóm Trũng, nơi khói bếp nhà họ Diệp vẫn đang lững lờ bốc lên trong nắng sớm ban mai.

***

Trong gian bếp nhà họ Diệp, khói trấu hun đượm mùi hơi ấm quen thuộc của rơm rạ và củi khô.

Tiểu Mãn đang ngồi bên chiếc bàn con kê sát mép cửa sổ, tỉ mỉ dùng que tre vót nhọn kiểm tra từng hạt đậu nành trên mấy nong tre lớn. Những hạt đậu nành gò Cồn Gió sau khi đồ chín tới, hong ráo rồi ủ kỹ, nay đã phủ đều một lớp men mốc hoa cau màu vàng tươi như phấn hoa ngày xuân. Gió sớm đưa vào một mùi thơm ngai ngái, ngọt lành của mầm men đang ngậm no sương gió, hứa hẹn một mẻ tương ngấu đậm đà khi ngả vào nước muối hột tinh khiết.

Bỗng rầm một tiếng thật lớn, cánh cổng tre khép hờ bị xô bật tung ra, va vào bờ rào dâm bụt kêu răng rắc.

Trần A Lan thở không ra hơi, mặt mũi đỏ bừng vì giận dữ, hai tay nắm chặt đôi đòn gánh ngắn, bùn đất bám lem nhem trên đôi ống quần xắn cao quá gối. Chân vừa bước xộc qua bậc cửa đất nện, nàng đã gào toáng lên, giọng nghẹn lại vì uất ức:

“Tiểu Mãn! Nguy to rồi! Mày còn ngồi đấy mà lựa đậu à? Bác dâu cả nhà mày với mụ Quế Hoa đang bù lu bù loa khắp đầu làng ngõ xóm kia kìa!”

Nhị Hòa đang ngồi dưới hiên chuốt lại then gỗ cho chiếc xe kéo hai bánh, nghe thấy thế vội buông dao quắm xuống đất, ngẩng đầu lên hỏi dồn, trên trán còn lấm tấm mồ hôi:

“Chị A Lan, có chuyện gì thế? Bác cả lại sang đòi sách vở công thức nữa à? Hay lại đòi chia thêm phần đất bãi?”

“Còn hơn thế nghìn lần!” A Lan tức đến giậm chân thình thịch xuống nền đất nện, chiếc yếm nâu đẫm mồ hôi dán chặt vào ngực, lồng ngực phập phồng kịch liệt. “Hai cái mụ miệng hùm dạ sói ấy đi rêu rao với cả làng rằng chum tương nhà mày thơm ngon là nhờ... nhờ chôn xác súc vật thối rữa, xác chuột cống chết sình dưới đáy chum để tạo men mục! Mụ Quế Hoa còn thề sống thề chết bảo ai ăn tương nhà họ Diệp sẽ lở loét dạ dày, trúng độc mà chết! Mấy bà xóm Miễu nghe xong đang nháo nhào đòi mang hũ trả lại, ngoài giếng làng người ta nhổ nước bọt rầm rầm kìa! Đi, Tiểu Mãn! Mày mang cái đòn gánh này sang ngay nhà bác cả với tao! Tao phải vạch mặt cái mụ Chu Kim Quế kia ra trước bàn dân thiên hạ, xem cái lưỡi không xương của mụ dài được đến đâu!”

Nhị Hòa nghe đến hai chữ “xác chuột”, mặt thoắt cái trắng bệch rồi đỏ bừng vì uất ức tột cùng. Đôi mắt cậu vằn lên những tia máu đỏ. Cậu bật dậy nhanh như một mũi tên, tay vớ lấy chiếc gậy tre dùng để nẹp càng xe, nghiến răng ken két:

“Bác dâu quá quắt đến mức này ư? Đợt trước sang vòi vĩnh chiếc xe đẩy không được, đòi bí quyết làm dưa muối không xong, nay lại dám bịa đặt chuyện bẩn thỉu ghê tởm như thế để dìm chết nhà ta! Đồ ăn thức uống đưa vào miệng người ta mà dám rủa là xác chết thối rữa! Chị Hai, đi! Em sang đối chất với bác ấy! Bác cháu gì cái ngữ lòng dạ độc địa như rắn rết ấy!”

“Nhị Hòa, đứng lại!”

Tiếng Tiểu Mãn vang lên, không hề cao giọng nhưng lại đanh gọn, dứt khoát như tiếng búa nện xuống đe đồng, găm thẳng vào không gian đang sôi sục.

Nàng đặt chiếc que tre xuống mẹt đậu, chậm rãi đứng dậy, đưa tay phủi nhẹ những hạt bụi cám bám trên vạt áo vải thô nhuộm củ nâu. Đôi mắt nàng phẳng lặng như mặt hồ nước mùa thu không một gợn sóng, chỉ có khóe môi khẽ mím lại thành một đường thẳng thắp, toát lên vẻ trầm tĩnh lạ kỳ.

A Lan sốt ruột chạy lại kéo tay bạn, nước mắt vì giận dỗi chực trào ra:

“Tiểu Mãn, mày còn đứng trơ ra đấy làm gì? Lời đồn nó như chân rết, có cánh mà bay! Để đến trưa là bay khắp cả tổng, từ làng Khe Thanh sang tận bến đò Liễu Kiều! Rồi mai mốt ai dám mua dưa tương của mày nữa? Thậm chí người ta còn tẩy chay, kéo đến ném đá vào sân, đuổi mày khỏi chợ bến Liễu Kiều cho mà xem! Mày nhịn được chứ tao không nhịn được!”

Tiểu Mãn vỗ nhẹ lên mu bàn tay đang run lên vì phẫn nộ của A Lan, ánh mắt ấm áp nhưng kiên định lạ thường. Nàng kéo A Lan ngồi xuống chiếc ghế đẩu, rót cho bạn một bát nước vối ấm rồi mới cất giọng điềm tĩnh:

“A Lan, Nhị Hòa, hai người bình tĩnh lại nghe ta nói đã. Bác dâu và bà Quế Hoa dám tung lời đồn này ra, chính là mong chúng ta tức tối, mất hết bình tĩnh mà chạy sang nhà họ làm ầm ĩ lên.”

“Tại sao lại thế?” Nhị Hòa nghiến răng, ngực vẫn phập phồng giận dữ. “Họ đặt điều ngậm máu phun người, bôi cứt vào mặt nhà mình! Mình có lý thì mình phải cãi chứ! Lẽ nào để người ta chửi rủa cha mẹ mình mà câm như hến?”

“Đôi co miệng lưỡi trước sân nhà người ta thì được cái gì?” Tiểu Mãn lắc đầu, phân tích rành rọt từng chữ: “Bác cả sẽ đóng chặt cổng, bảo đàn bà con gái không biết phép tắc họ hàng, vô giáo dục, sang nhà bác mà chửi bới vô lối. Bác ấy sẽ lu loa lên rằng nhà chú Ba cậy có tí tiền bán dưa mà cậy thế khinh bác, kéo người sang đánh bác dâu. Lời đồn đã ra ngoài miệng, người trong làng vốn tính hiếu kỳ, một đồn mười, mười đồn một trăm. Càng đôi co, người ta lại càng bảo ‘không có lửa làm sao có khói’, tưởng rằng nhà mình chột dạ nên mới xù lông nhím lên thanh minh. Miệng lưỡi thế gian không bẻ gãy được bằng việc cãi cọ, mà phải bằng thứ họ nhìn thấy tận mắt, sờ thấy tận tay!”

A Lan ngẩn người ra, bàn tay đang nắm chặt chiếc đòn gánh từ từ buông lỏng:

“Thế... thế mày tính để yên cho họ bôi gio trát trấu vào mặt à? Cứ ngồi trong nhà chịu trận sao?”

“Để yên ư? Chưa bao giờ Diệp Tiểu Mãn này chịu để yên cho kẻ khác chà đạp lên công sức mồ hôi của cả nhà!” Tiểu Mãn xoay người nhìn ra năm chiếc chum sành da lươn mới toanh đang xếp ngay ngắn dưới bóng mát rặng xoan góc sân, ánh mắt lóe lên tia sáng sắc bén như mũi dao cạo. “Họ bảo ta giấu giếm, bảo ta chôn đồ bẩn dưới đáy chum chứ gì? Họ bảo tương ngon là nhờ xác thối mục rữa chứ gì? Vậy thì ta sẽ đem toàn bộ số chum vại mới tinh này ra giữa thanh thiên bạch nhật, phơi bày từng ngóc ngách, từng quy trình cho cả làng trên xóm dưới cùng xem!”

Nàng lập tức phân công việc gãy gọn, đâu ra đấy, không một chút lúng túng:

“Nhị Hòa, đệ cất ngay chiếc gậy tre đi. Chạy ngay sang nhà thím Năm và chị Dâu bác Tư, nhờ hai người sang đây gấp. Bảo các thím mang theo chổi xơ dừa sạch chưa từng dính dầu mỡ và xô múc nước bằng gỗ tốt. Sau đó đệ bắc chiếc nồi đồng lớn nhất sau bếp lên, hái cho chị ba rổ lá ổi bánh tẻ thật tươi quanh bờ ao, rửa sạch rồi đun sôi sùng sục hai nồi nước lớn!”

Nhị Hòa sáng mắt ra, lồng ngực đang nghẹn ứ bỗng chốc thông suốt, cậu lập tức hiểu được ý định sâu xa của chị gái:

“Chị định cọ chum công khai ở giếng làng?”

“Đúng thế!” Tiểu Mãn gật đầu quả quyết. “Người ta đang tụ tập đông nhất ở giếng làng Khe Thanh để nghe bà Chu Kim Quế kể chuyện ma quỷ. Ta sẽ chọn đúng nơi đó, mở một buổi cọ rửa và tráng chum đàng hoàng. Họ muốn xem mờ ám, ta cho họ thấy sự sạch sẽ đến từng hạt bụi! A Lan, mày giúp tao ra đầu thôn, mời Trưởng thôn Phạm Đức Thuận và cụ Bảy đến giếng làng phân xử một chuyện công, chỉ bảo cháu gái nhà Diệp Thành xin các cụ chứng giám một việc liên quan đến quy củ làm ăn và phong hóa của thôn trang.”

“Được! Việc này tao làm được ngay! Chân tao chạy thì gió đuổi không kịp!” A Lan reo lên, quăng phắt đòn gánh xuống đất, nét mặt hân hoan rạng rỡ hẳn lên, nhanh thoăn thoắt như con sóc lao vút ra cổng tre, tiếng bước chân huỳnh huỵch rộn rã trên đường làng.

***

Chỉ trong vòng hai tuần trà, không khí tại bến giếng Khe Thanh bỗng chốc đảo lộn hoàn toàn.

Đám đông đàn bà con gái vẫn còn đang xì xào to nhỏ quanh mâm giặt của Chu Kim Quế và Ngô Quế Hoa, câu chuyện về những xác chuột sình và chum tương thối rữa vẫn đang được thêu dệt thêm mắm dặm muối, thì từ con đường đất đỏ dẫn ra bến nước bỗng vang lên tiếng bánh xe cút kít gỗ mít lách cách đều đặn.

“Két... két... cọc cạch...”

Tiếng bánh xe nghiến trên sỏi đá khô giòn phá tan bầu không khí ảm đạm. Mọi người đồng loạt ngoái cổ nhìn lại.

Nhị Hòa đi đầu, mình trần để lộ bờ vai vạm vỡ bóng nhẫy mồ hôi, hai bắp tay gân guốc ghì chặt đôi tay cầm của chiếc xe cút kít bằng gỗ mít chắc nịch. Trên xe chở ba chiếc chum gốm da lươn màu nâu hạt dẻ sáng bóng, xung quanh được chèn nẹp rơm nếp vàng óng cẩn thận để tránh va đập sứt mẻ. Phía sau, thím Năm và chị Dâu bác Tư — hai người phụ nữ nề nếp, nổi tiếng là sạch sẽ và ngay thẳng nhất xóm Cầu Đá trong nhóm đổi công của nhà họ Diệp — mỗi người quẩy một chiếc chum còn lại bằng đôi quang sọt tre bện dày dặn. Bước chân họ nhịp nhàng, vẻ mặt nghiêm trang đĩnh đạc.

Đi cuối cùng là Diệp Tiểu Mãn. Trên vai nàng là đôi đòn gánh tre dẻo dai gánh hai thùng gỗ lớn bốc khói nghi ngút. Hơi nước sôi sùng sục mang theo mùi lá ổi tươi thơm the the, nồng ấm và chan chát, lập tức lấn át hoàn toàn mùi tanh tưởi của bùn rêu và bọt bồ hòn đọng bên bến nước.

“Ủa, nhà con Tiểu Mãn khiêng chum vại ra giếng làm cái trò trống gì thế kia?”

“Kìa, chum mới toanh ở đâu mà đẹp mắt thế? Men bóng loáng như mắt chim cu, tròn lẳn không một vết rạn!”

“Gánh nước gì mà bốc khói thơm nức mũi thế kia? Có phải nước lá tắm không?”

Dân làng xúm đông xúm đỏ lại, dạt sang hai bên nhường một lối đi rộng rãi dẫn thẳng xuống khoảng sân gạch cạnh miệng giếng. Chu Kim Quế đang thao thao bất tuyệt bỗng khựng lại, chiếc áo đang vò dở tuột khỏi tay rơi tõm xuống vũng nước bẩn. Mặt mụ biến sắc từ đỏ gay sang xám ngoét, đôi mắt lồi đảo lia lịa nhìn chiếc xe cút kít rồi lại nhìn sang Tiểu Mãn. Ngô Quế Hoa cũng giật thót mình, chột dạ co rúm người lại, hai bàn tay thô kệch vô thức túm chặt lấy gấu váy ướt sũng.

Tiểu Mãn bước đến khoảng sân gạch rộng rãi cạnh miệng giếng khơi — nơi cao ráo, sạch sẽ và đón trọn ánh nắng rực rỡ nhất của buổi ban mai. Nàng nhẹ nhàng hạ đôi thùng gỗ bốc khói xuống đất, quay sang dõng dạc nói với em trai:

“Nhị Hòa, kê bốn chiếc giá gỗ mít ra đây!”

“Dạ, có ngay chị Hai!”

Bốn chiếc giá gỗ chữ X vững chãi được xếp thành hàng ngang ngay ngắn trên mặt sân gạch đã quét dọn sạch rác. Nhị Hòa cùng thím Năm cẩn thận nhấc từng chiếc chum sành da lươn ngấn nước đặt lên giá, miệng chum hướng thẳng lên trời xanh, đón trọn ánh nắng ban mai rọi xuống sáng lấp lánh như men ngọc.

Đúng lúc ấy, tiếng húng hắng ho quen thuộc từ phía con đường râm mát bóng tre vang lên. Trưởng thôn Phạm Đức Thuận tay chống cây gậy tre ngà chậm rãi đi tới. Đi song hàng với ông là cụ Bảy họ Diệp — vị bô lão uy vọng nhất dòng họ, râu tóc bạc phơ như cước, mặc chiếc áo the dài màu nâu sẫm — cùng hai vị cao niên xóm Trán vẻ mặt nghiêm nghị. Trần A Lan lăng xăng chạy theo sau, nét mặt hớn hở chỉ tay về phía bến giếng.

“Có chuyện gì mà ồn ào cả bến nước thế này?” Trưởng thôn dừng bước, quét mắt nhìn một lượt đám đông đang vây kín, rồi dừng lại trên năm chiếc chum gốm bóng loáng và những thùng nước bốc khói ngùn ngụt của Tiểu Mãn. “Tiểu Mãn, con bé A Lan nó chạy xộc vào tận sân nhà ta, bảo cháu có việc hệ trọng cần các bô lão và ta ra đây làm chứng. Rốt cuộc là có chuyện chi?”

Tiểu Mãn bước lên phía trước nửa bước, khép nép cúi đầu thi lễ đúng mực với Trưởng thôn, cụ Bảy và các bậc trưởng bối trong làng. Khi nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt nàng sáng trong và cương trực, giọng nói trong trẻo vang rền lan tỏa khắp bến giếng tĩnh lặng:

“Thưa Trưởng thôn, thưa cụ Bảy và các bậc cao niên cùng toàn thể bà con cô bác trong thôn Khe Thanh! Sớm nay, khi đang ở nhà chuẩn bị đồ nghề, cháu bàng hoàng nghe được một lời đồn vô cùng quái ác xuất phát ngay từ bến giếng này. Rằng dưa tương nhà họ Diệp chúng cháu làm ra thơm ngon, bán đắt hàng là nhờ chôn xác động vật chết sình, rác rưởi ô uế, chuột cống thối rữa dưới đáy chum để thúc ép hạt đậu mau nát rữa! Lời đồn ác độc ấy không chỉ nhằm hủy hoại bát cơm manh áo, thanh danh của gia đình cháu, mà độc địa hơn, nó gieo rắc nỗi sợ hãi ghê gớm cho bà con láng giềng đã tin tưởng dùng tương dưa của Diệp gia suốt thời gian qua!”

Đám đông lập tức rộ lên tiếng thì thầm bàn tán xôn xao. Từng ánh mắt sắc lẻm đồng loạt đổ dồn về phía gốc cây sung cổ thụ, nơi Chu Kim Quế và Ngô Quế Hoa đang đứng nép mình sau đám chậu giặt.

Chu Kim Quế giãy nảy lên như đỉa phải vôi, hai tay vung vẩy, gào toáng lên át cả tiếng gió:

“Mày... mày nhìn ai đấy hả con ranh? Ai thèm đặt điều đồn đại mày? Mày đừng có ngậm máu phun người! Chẳng qua người ta thấy nhà mày làm ăn mờ ám, ngày ngày giấu giấu giếm giếm quanh mấy gốc chuối sau hè nên người ta có mắt người ta thấy, nhắc nhở nhau phòng ngừa bệnh tật thôi! Đồ con cháu bất hiếu, dám bóng gió người bề trên!”

Tiểu Mãn không hề nổi giận. Nàng nở một nụ cười điềm đạm, ánh mắt phẳng lặng nhìn thẳng vào gương mặt đang méo xệch của bác dâu:

“Bác dâu cả xin đừng vội nóng giận. Hôm nay cháu ra đây không phải để bắt bẻ xem cái lời đồn bẩn thỉu kia bắt nguồn từ cái miệng của ai nói ra trước nhất. Miệng lưỡi thế gian ở ngoài ngõ, cháu sức mọn không bịt lại được, nhưng lương tâm của người làm nghề ăn uống thì phải sáng rõ như trăng rằm giữa trời! Người ta nghi ngờ nhà cháu làm ẩu, làm bẩn, giấu giếm gian xảo dưới đáy chum. Vậy hôm nay, trước mặt Trưởng thôn, trước mặt cụ Bảy đại diện cho tôn tộc họ Diệp, cùng toàn thể bà con lối xóm, cháu xin công khai toàn bộ đồ nghề và quy trình vệ sinh làm sạch chum vại trước khi vào mẻ tương mới của gia đình cháu!”

Dứt lời, Tiểu Mãn dứt khoát xắn cao hai ống tay áo vải thô lên tận bắp tay, để lộ đôi cánh tay trắng trẻo nhưng săn chắc, nổi rõ những đường cơ khỏe khoắn của một người cần cù lao động. Nàng cầm lấy chiếc gáo dừa dài cán, múc từng gáo nước giếng khơi trong vắt dội mạnh vào lòng chiếc chum thứ nhất đang đặt trên giá gỗ.

“Coong... coong... coong!”

Tiếng nước giếng dội mạnh va vào thành gốm dày dặn, phát ra âm thanh đanh gọn, vang ngân như tiếng chuông đồng rền rĩ giữa không gian buổi sớm.

“Tiếng gốm Nam Bãi!” Cụ Bảy khẽ vuốt chòm râu bạc, hai mắt sáng lên, cất giọng trầm trồ: “Chỉ có đất sét tầng ba lọc sạch pha bột đá son của lò gốm Nam Bãi, nung đủ mười ngày mười đêm bằng củi gỗ nghiến mới phát ra được tiếng chuông trong trẻo đến dường ấy!”

Tiểu Mãn mỉm cười cảm tạ lời cụ Bảy, rồi nhanh nhẹn cầm lấy chiếc chổi xơ dừa mới tinh, sợi dừa vàng óng được bện chặt chẽ bằng lạt giang. Nàng nhúng ngập chiếc chổi vào thùng nước lá ổi đang sôi sùng sục. Khói nước bốc lên nghi ngút, mang theo hương vị chát the nồng nàn của chất tanin tự nhiên trong lá ổi — thứ thảo mộc quý giá mà ngàn đời nay ông cha ta dùng để sát trùng vết thương, rửa sạch vết lở loét và khử sạch mọi mùi tanh hôi uế tạp.

Nàng nghiêng mình, đưa cây chổi đẫm nước sôi luồn sâu vào tận đáy chiếc chum sành da lươn. Đôi bàn tay thoăn thoắt dùng lực chà xát thành từng vòng tròn miết chặt theo chiều kim đồng hồ. Tiếng xơ dừa miết trên bề mặt men gốm nhẵn thín phát ra những âm thanh “ken két... kin kít” giòn giã và rít ráo đến rợn ngợp. Từng ngóc ngách, từ gờ ngấn nước sâu quanh miệng chum, phần phình ra ở thân chum cho đến chỗ thắt eo dưới đáy bên trong đều được chà rửa tỉ mỉ ba lượt không sót một phân tấc nào. Hơi nước sôi bốc lên mịt mù cuốn theo mùi đất nung mới tinh thơm nức.

“Thím Năm, múc nước giếng tráng!” Tiểu Mãn cất tiếng thanh thoát.

Thím Năm đã chuẩn bị sẵn chiếc xô gỗ múc đầy nước giếng đá trong vắt, bước tới dội ào một cái dứt khoát từ trên miệng chum tràn xuống.

Dòng nước cuồn cuộn cuốn trôi toàn bộ bụi đất và nước lá ổi sẫm màu ra ngoài qua miệng chum đang dốc nghiêng trên giá gỗ chữ X, róc rách chảy tràn xuống rãnh thoát nước lát đá cuội. Lòng chum hiện ra dưới ánh nắng ban mai rực rỡ, nhẵn thín, bóng loáng như một tấm gương soi, không hề có lấy một hạt cát nhỏ hay một vệt ố mờ nào.

Chưa dừng lại ở đó, Tiểu Mãn rút từ chiếc giỏ mây ra một tấm khăn vải mộc trắng tinh — thứ vải sợi bông thô do chính tay mẹ nàng, bà Lâm Tú Nương, thức khuya cặm cụi dệt từng sợi trên khung cửi gỗ sến. Nàng nhúng tấm khăn qua thùng nước lá ổi sôi, vắt ráo rồi luồn tay vào lòng chum, cẩn thận lau khô từng giọt nước còn sót lại từ trong ra ngoài, từ đáy chum lên đến tận vành miệng.

Lau xong chiếc thứ nhất, Tiểu Mãn không hề nghỉ tay mà tiếp tục làm trọn vẹn từng bước như thế với cả bốn chiếc chum còn lại. Động tác của nàng thuần thục, dứt khoát, uyển chuyển và nhịp nhàng như nước chảy mây trôi. Mùi lá ổi đun sôi nồng ấm hòa lẫn với hương đất nung chín lửa lan tỏa ngào ngạt khắp bờ giếng, xua tan hoàn toàn cái không khí tanh nồng, ẩm ướt của bến giếng buổi sớm.

Hàng chục con người đứng vây quanh xem từ đầu đến cuối, cả một khoảng đất rộng lớn im phăng phắc, không một ai thốt lên nổi một lời chê bai hay xoi mói nào. Từng đôi mắt mở to, chăm chú dõi theo từng cử chỉ, từng đường miết chổi của cô thôn nương mười bảy tuổi. Sự sạch sẽ đến mức khắt khe, tỉ mỉ đến từng đường gân thớ gốm ấy không phải là thứ có thể giả vờ hay làm màu trong chốc lát; đó là thói quen lao động thuần thục đã ăn sâu vào máu thịt, là sự kính trọng thiêng liêng đối với nghề nghiệp và đối với từng miếng ăn của người đời.

Tráng xong chiếc chum thứ năm, trán Tiểu Mãn lấm tấm những giọt mồ hôi li ti như những hạt ngọc. Đôi má nàng ửng hồng lên vì hơi nóng của nước sôi. Nàng đứng thẳng người dậy, hít một hơi thật sâu để điều hòa lại nhịp thở, rồi cung kính chắp tay quay sang phía các bô lão:

“Kính thưa cụ Bảy, thưa Trưởng thôn và toàn thể bà con cô bác! Đây là năm chiếc chum mới do chính tay cháu gom góp tiền bạc, đích thân xuống tận lò gốm Nam Bãi đặt nghệ nhân chế tác bằng đất sét tầng ba lọc sạch, men da lươn chịu lửa bền chắc. Quy trình cọ rửa này là lời dạy nghiêm cẩn của bà ngoại họ Lâm truyền lại cho mẹ con cháu: Muốn làm ra được giọt tương thơm ngon đậm đà, trước hết cái chum cái vại phải thanh sạch tinh tươm như chiếc bát ăn cơm của chính mình! Phải dùng nước lá ổi sôi sùng sục để diệt trừ mầm men tạp ôi thiu, giữ cho lòng chum thơm tho mùi đất mẹ và vị thuốc thảo mộc. Bây giờ, chum đã được cọ rửa sạch bóng dưới ánh thanh thiên bạch nhật, cháu xin kính mời cụ Bảy tôn kính và Trưởng thôn bước lên, ngửi thử lòng chum xem có tì vết dơ bẩn, có mùi hôi thối hay chứa chấp thứ gì ô uế như lời kẻ xấu đặt điều hay không!”

Cụ Bảy khẽ gật đầu, chòm râu bạc rung rinh vẻ hài lòng. Cụ chống cây gậy trúc chậm rãi bước tới bên chiếc giá gỗ thứ nhất. Cụ ghé sát mũi vào miệng chiếc chum sành da lươn vừa được lau khô ráo, hít một hơi thật sâu. Không gian quanh bến giếng lúc này như ngừng đọng, chỉ còn nghe tiếng gió xuân xào xạc luồn qua những tán lá tre rì rào.

Một lúc sau, cụ Bảy ngẩng đầu lên, gương mặt già nua giãn ra trong một nụ cười rạng rỡ, giọng cụ vang lên sang sảng, đĩnh đạc:

“Thơm! Rất thơm! Lòng chum khô ráo, sạch bong kin kít, chỉ có mùi đất nung chín thấu lửa quyện với hương lá ổi ấm nồng thanh mát! Cả đời lão già này ăn tương từ thuở tóc còn để chỏm, chưa từng thấy đứa trẻ nào cẩn trọng, sạch sẽ đến từng cái gờ chum, mép nắp như con bé Tiểu Mãn nhà Diệp Thành này!”

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận cũng bước lên phía trước, vẻ mặt đầy nghiêm túc. Ông xắn tay áo, đích thân thò bàn tay to bản thô ráp vào sâu tận đáy chum miết mạnh một đường dài. Ngón tay ông khô ráo rút ra, tiếng ma sát giữa da thịt và lớp men bóng kêu lên “rít... rít...” từng hồi đanh thép và giòn giã.

Trưởng thôn quay lại nhìn dân làng, ánh mắt quét qua một lượt đầy uy nghiêm, cất giọng đanh thép:

“Bà con Khe Thanh đã nhìn tận mắt, nghe tận tai chưa? Đồ đạc nhà con Tiểu Mãn làm ra đàng hoàng, sạch sẽ từ gốc đến ngọn thế này, nước sôi lá ổi thanh trùng cẩn thận đến mức con kiến bò vào cũng trượt chân ngã, lấy đâu ra cái chuyện táng tận lương tâm như lời đồn bậy bạ? Kẻ nào dám bảo đáy chum này chôn xác súc vật? Kẻ nào rêu rao ăn tương nhà này lở loét dạ dày? Bước ra đây, trèo hẳn vào trong mà ngửi, mà nhìn cho thủng con mắt ra!”

Đám đông sau một thoáng sững sờ bỗng chốc ồ lên như vỡ tổ, những tiếng xì xào trầm trồ thi nhau vang lên không ngớt:

“Đúng là sạch sẽ thật! Tận mắt thấy thế này thì còn ai nghi ngờ gì nữa!”

“Rửa bằng nước lá ổi sôi sùng sục thì đến hạt bụi cũng chẳng sống nổi huống chi là vi trùng men bậy!”

“Con bé chu đáo quá, cái chum nặng mấy chục cân thế kia mà cọ rửa sáng bóng như bát ngọc!”

“Thế mà sáng nay có kẻ độc mồm độc miệng đi rêu rao bậy bạ, suýt nữa làm tôi vứt toi mất hai vò tương ngon mua ngoài chợ! May mà chưa đổ đi!”

“Còn ai vào đây nữa, mụ Quế Hoa với thím Đại Phúc chứ ai! Vừa ngồi ở bờ giếng này khoa chân múa tay như đúng rồi kia kìa!”

Hàng trăm ánh mắt khinh bỉ lập tức đồng loạt quay phắt lại, đổ dồn về phía góc cây sung cổ thụ.

Chu Kim Quế lúc này mặt cắt không còn một giọt máu, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Ngón tay mụ run rẩy bấu chặt vào quai chiếc chậu gỗ sứt móp, môi mấp máy run run nhưng không thốt nên nổi nửa lời. Mụ chưa từng ngờ tới một con cháu gái mồ côi họ hàng, một đứa con gái mới mười bảy tuổi đầu lại có bản lĩnh và đòn đáp trả cao tay, đàng hoàng và đường hoàng đến mức này! Con bé không hề sang nhà mụ cãi vã, không nói một lời thô tục xúc phạm họ tộc, nó dùng chính ánh sáng thanh thiên bạch nhật, dùng chính cái sạch sẽ không tì vết để giáng một cái tát trời giáng thẳng vào cái miệng điêu ngoa cay độc của mụ!

“Bác dâu cả!”

Tiểu Mãn bỗng cất tiếng gọi lớn. Ánh mắt nàng trong veo nhưng sắc sảo như gương soi, nhìn thẳng vào người Chu Kim Quế đang đứng chết trân:

“Bác là người nhà họ Diệp, là bậc bề trên trong dòng tộc của cháu. Cháu luôn kính trọng bác là bậc trưởng bối, nên hôm nay cháu trân trọng mời bác bước lên đây, đích thân ngửi thử và kiểm tra năm chiếc chum này đầu tiên! Nếu bác tìm thấy nửa hạt bụi, nửa vết nhơ hay một chút mùi tanh tưởi nào trong chum, Diệp Tiểu Mãn cháu xin lập tức đập vỡ cả năm chiếc chum quý giá này ngay tại bến giếng trước mặt bà con, và vĩnh viễn không bao giờ bước chân ra chợ buôn bán dưa tương nữa!”

Từng lời của Tiểu Mãn thốt ra sang sảng, đanh gọn như chuông đồng gióng giữa trời, tựa như những tảng đá nghìn cân đè nặng lên vai Chu Kim Quế.

Đám đông lập tức phụ họa, tiếng cười cợt, chỉ trích rộ lên như ong vỡ tổ:

“Kìa bà Đại Phúc! Cháu gái nó mời bà lên ngửi đấy! Lên xem có xác chuột cống nào không kìa!”

“Lên đi chứ! Sao vừa nãy mồm to thế mà giờ thụt cổ lại như rùa rụt đầu thế kia?”

“Gớm ghiếc, ghen ăn tức ở với con cháu ruột thịt trong nhà đến thế là cùng! May mà có khế ước từ đường đợt trước, không thì bà ta nuốt trọn cả gia tài, dìm chết nhà chú Ba rồi!”

Chu Kim Quế xấu hổ đến mức hai tai nóng bừng bừng như có than nung, mặt mày đỏ gay rồi thoắt cái tím tái như củ chuối tiêu chín dập. Mụ không dám ngẩng mặt nhìn ai, luống cuống cúi gằm mặt xuống đất, xách vội chiếc chậu gỗ sứt mép chứa mấy cái áo rách, cắm đầu cắm cổ rẽ đám đông lầm lũi lẩn mất hút sau bụi tre đầu làng như một con chuột lột giữa ban ngày. Cả bến giếng rộ lên một tràng cười chế giễu rầm trời, biến âm mưu bôi nhọ hèn hạ thành trò hề lố lăng nhất đầu xuân.

Trong góc đám đông, Ngô Quế Hoa đứng chôn chân tại chỗ, toàn thân run rẩy như cầy sấy. Thấy ánh mắt sắc như dao cau của Trưởng thôn Phạm Đức Thuận quét qua người mình kèm theo cái nhíu mày đầy nghiêm khắc và khinh bỉ, Quế Hoa giật thót tim, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm sống lưng. Nhớ lại đợt chợ phiên trước mụ đã từng bị cảnh cáo, suýt bị phạt năm mươi đồng kẽm và cấm chợ ba tháng vì tội đặt điều chèn ép người khác, Quế Hoa sợ đến mức mật xanh mật vàng trào lên cổ họng. Mụ vội vã lùi lũi nép người sau bóng mấy người đàn bà gánh nước, lấm lét cúi gằm đầu tìm con đường mòn sau rặng ổi tháo lui trong im lặng, không dám thở mạnh lấy một tiếng.

Trưởng thôn Phạm Đức Thuận bước lại gần Tiểu Mãn, vỗ nhẹ lên vai nàng một cái thật ấm áp, giọng trầm vang đầy vẻ tán thưởng:

“Tiểu Mãn, cháu làm rất tốt! Rất có khẩu khí của con nhà họ Diệp! Người làm ăn chân chính lấy chữ tín làm đầu, lấy sự trong sạch làm gốc thì chẳng sợ bất cứ thứ bùn nhơ nào vấy bẩn được. Ta thay mặt cho các bô lão và chính quyền thôn Khe Thanh chứng nhận: đồ nghề làm tương dưa của nhà Diệp Thành hoàn toàn thanh sạch, đạt chuẩn phép tắc và vệ sinh của làng quê. Từ nay về sau, trong thôn ngoài xóm kẻ nào còn dám đặt điều bôi nhọ, gieo rắc tin đồn nhảm nhí phá hoại việc làm ăn của người khác, cứ việc báo thẳng lên lý điếm, ta sẽ chiếu theo hương ước nghiêm trị, phạt đánh trượng và đuổi khỏi chợ làng!”

“Cháu đội ơn Trưởng thôn, đội ơn cụ Bảy và bà con láng giềng đã phân minh sáng suốt, làm chủ cho công đạo của gia đình cháu!” Tiểu Mãn cúi đầu thật sâu, trong lòng nhẹ bẫng như vừa trút được một tảng đá ngàn cân đè nặng suốt mấy ngày qua.

A Lan đứng bên cạnh mừng rỡ nhảy cẫng lên, lao tới ôm chầm lấy Tiểu Mãn, cười toe toét:

“Mày cừ lắm Tiểu Mãn ơi! Mày thấy cái mặt mụ Chu Kim Quế lúc nãy không? Tím ngắt như quả mồng tơi chín dập! Đáng đời cái thói ăn không nói có, điêu ngoa rắp tâm hại người!”

Thím Năm và chị Dâu bác Tư cũng tươi cười rạng rỡ, xắn tay áo vào phụ giúp:

“Nào, chum khô ráo cả rồi, nắng lên đẹp quá! Mấy chị em mình khiêng lên xe cút kít chở về thôi! Hôm nay cọ rửa kỹ càng bằng nước lá ổi thế này, mẻ tương tới đây chắc chắn sẽ thơm nức bến Liễu Kiều, khách buôn tranh nhau mua cho mà xem!”

Tiếng cười nói rộn rã, tiếng đùa vui chan hòa xua tan đi toàn bộ sự u ám, ngột ngạt của buổi sớm. Nắng xuân bừng lên rực rỡ, rải những sợi vàng óng ả trên những nắp chum sành da lươn lấp lánh ngấn nước, như báo hiệu một mùa vụ hanh thông, vững chãi và tràn đầy hy vọng sắp bắt đầu.

***

Đêm ấy, vầng trăng thượng tuần treo lơ lửng trên ngọn tre ngà, tỏa ánh sáng bàng bạc dịu mát xuống khoảng sân đất nện nhà họ Diệp.

Gian nhà ba gian vách đất chìm vào không gian yên ả sau một ngày dài trải qua bao sóng gió. Diệp Thành sau một ngày ngồi ngoài hiên cặm cụi vót nan đan sọt đã thấm mệt, ngủ say sưa trên chiếc chõng tre, bàn chân gãy được kê êm ái trên chiếc đệm rơm thơm thoang thoảng. Trong buồng trong, ngọn đèn dầu le lói chiếu bóng Lâm Tú Nương đang cặm cụi, tỉ mẩn khâu nốt những đường chỉ thêu nhành hoa cải nhỏ xinh trên chiếc túi vải gai đựng hạt giống. Ngoài chái bếp, Nhị Hòa sau một ngày dốc sức đẩy xe, múc nước cũng đã ngủ say như chết cùng hai đứa nhỏ Tam Nha và Tiểu Đậu, tiếng thở đều đặn và bình yên sau bữa cơm ngô trộn ấm bụng.

Tiểu Mãn vẫn ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ mít dưới bóng hiên nhà.

Gió đêm từ bờ khe thổi vào xào xạc mang theo hơi sương lành lạnh. Nàng khẽ kéo lại vạt áo cánh, với tay khêu ngọn bấc đèn dầu cho ánh lửa bừng sáng hơn đôi chút.

Trên mặt bàn, cuốn sổ tay thẻ tre của bà ngoại Lâm Thu Bà đang mở rộng. Từng thanh tre mỏng, nhẵn thín màu nâu sẫm được xâu kết bằng những sợi dây gai chắc chắn. Tiểu Mãn cẩn thận dùng đầu bút lông chấm vào nghiên mực nhỏ, tỉ mỉ ghi chép lại tỷ lệ hai mươi thăng đậu nành gò Cồn Gió đã ngậm no men mốc hoa cau, lượng muối hột đã rang khô khử tạp chất, chuẩn bị cho vào năm chiếc chum sành mới vào buổi sớm ngày mai khi sương vừa tan.

Lật sang một trang thẻ tre còn thơm mùi tre già phơi nắng, Tiểu Mãn dừng bút lại một thoáng. Đôi mắt nàng trầm ngâm nhìn ánh trăng đang soi bóng lung linh trong chiếc vại nước mưa góc sân. Nàng nắn nót đưa nét bút, viết xuống một chữ thật đậm, thật ngay ngắn: “Thanh”.

Thanh trong thanh sạch, thanh trong quang minh chính đại. Đó là bài học lớn nhất, là kim chỉ nam sâu sắc mà nàng vừa khắc sâu vào con đường sinh kế của chính mình. Miệng đời có thể độc địa, lòng người có thể hiểm sâu, nhưng chỉ cần tâm mình trong sạch, nghề mình làm đàng hoàng thì dông bão nào rồi cũng phải nhường lối cho ánh ban mai.

Gió đêm lại thổi qua, hàng rào dâm bụt khẽ rung rinh lá.

Bỗng nhiên, từ ngoài con ngõ nhỏ dẫn vào rào dâm bụt, có tiếng bước chân ngập ngừng, dẫm lên lá tre khô lạo xạo. Tiếng bước chân vừa vội vã lại vừa lấm lét, dường như người đi đang cố nín thở để không gây ra tiếng động.

“Cạch.”

Buổi tối, cánh cổng tre nhà họ Diệp khẽ rung lên; Ngô Quế Hoa lén lút đứng bên ngoài với vẻ mặt đầy âu lo.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories