Tiểu Thôn Nương Làm GiàuCh.21 / 45
Chapter 21

Cuộc chạm trán thương lái Phùng Kế Sinh

Tiếng quạt xếp gõ nhẹ vào lòng bàn tay vang lên khô khốc khi gã lái buôn áo lụa bóng dừng chân ngay trước góc sạp vừa thu dọn của Tiểu Mãn bên bờ kênh Trấn Liễu Kiều.

Nắng trưa muộn rọi qua những tán liễu rủ ven sông, hắt lên vạt áo the màu cánh gián dệt hoa chìm của gã những đốm sáng lấp lánh như vảy cá. Gã trạc ngoài bốn mươi, vóc người đẫy đà tròn trịa, cái bụng phệ hơi nhô ra kéo căng dải thắt lưng lụa thêu chỉ bạc lấm tấm bụi đường. Chòm râu dê tỉa tót cẩn thận cong vút theo từng cái nhếch mép nửa cười nửa không, hai bên thái dương bóng nhẫy mồ hôi dầu dẫu cho tay vẫn cầm chiếc quạt giấy Tuyên Thành không ngừng phe phẩy. Đôi mắt ti hí híp lại thành một đường chỉ mảnh, đảo nhanh như chớp qua những mảnh ván gỗ mít sạch bóng không còn vương một giọt nước dưa, rồi dừng lại trên chiếc đòn gánh gỗ mít cong cong cùng mấy sọt tre lót rơm đang để gọn gàng một góc dưới bóng râm của mái hiên đình chợ.

Phùng Kế Sinh khẽ giũ quạt xòe ra một nửa, che bớt luồng gió sông lồng lộng mang theo hơi nước ngai ngái cùng mùi bùn non bốc lên từ mép bờ kênh khi con nước bắt đầu rút xuống lộ ra những cọc gỗ đóng đáy đen ngòm. Gã cất giọng sang sảng, âm vang mang theo cái vẻ kẻ cả quen thuộc của kẻ có bạc lưng vốn, đã quen đứng trên mạn thuyền buôn lớn mà sai phái đám phu phen dọc các bến sông:

"Khá khen cho tiểu nương tử! Mới non trưa mà ba mươi hũ dưa sen cùng hai mươi hũ tương sành tráng men da lươn đã bán sạch không còn lấy một giọt. Lại còn được cả lão bếp trưởng khó tính của Vọng Giang Lâu đích thân ra chiếu cố, mở hàng một lúc chín phần dưa tương. Thảo nào dọc bến sông Liễu Kiều sớm nay ai nấy đều tấm tắc khen ngợi dưa giòn thanh, tương ngọt bùi."

Tiểu Mãn dừng tay vuốt lại nếp áo chàm thô đã thấm chút mồ hôi bên thái dương. Vạt áo vải tự dệt thô ráp cọ vào làn da trắng nõn hơi ửng hồng vì đứng bên mép sạp đón gió suốt nửa ngày trời. Nàng cẩn thận gài lại chiếc trâm gỗ cài tóc giản dị, ngẩng đầu lên, ánh mắt trong trẻo bình thản nhìn thẳng vào khuôn mặt bóng nhẫy của người đối diện. Suốt cả buổi sáng đứng bán hàng ở sạp Ất Thập Bát, giữa tiếng ồn ào mặc cả của khách mua lẻ, tiếng chèo khua nước lách cách ngoài bến và tiếng rao lảnh lót của mấy gánh bánh bao nóng, nàng đã thấy bóng dáng gã thương lái này lượn lờ qua lại không dưới ba lần. Lúc thì gã chắp tay sau lưng, đứng khoanh tay dưới gốc bàng già nhìn khách ăn thử dưa bằng chiếc tăm tre rồi gật gù móc tiền kẽm; lúc lại ghé sát tai mấy chủ thuyền chở trấu hỏi han gốc gác của mấy đứa trẻ đứng quầy; rồi có lúc gã lại lân la sang sạp bán đồ mây tre bên cạnh, làm như ngắm nghía chiếc thúng giần thúng sàng nhưng ánh mắt thì dán chặt vào từng dòng tiền kẽm leng keng rơi vào hộc gỗ của nàng.

Một người buôn bán sành sỏi lăn lộn chốn thương trường không bao giờ phí hoài nửa buổi sáng đứng hít bụi đường chỉ để nhìn người khác bán buôn, trừ phi chiếc mũi thính của gã đã ngửi thấy mùi tiền bạc béo bở.

Nàng khẽ nghiêng mình làm lễ, giữ tròn phép tắc của một cô thôn nương buôn bán nhỏ nơi góc chợ huyện, không kiêu căng cũng chẳng tỏ vẻ e dè luồn cúi:

"Khách quan quá khen. Nhà nông quê mùa dưới chân núi, trong nhà chỉ có chút dưa rau tự tay cày cấy, làm theo mùa màng tích cóp, may nhờ bà con lối xóm thương tình ghé mua ủng hộ và bác Lưu quản chợ trông nom sắp xếp chỗ ngồi nên mới bán hết sớm trước khi đứng bóng. Chẳng hay khách quan ghé quầy lúc chợ vãn thế này có điều chi chỉ giáo?"

Gã đàn ông thu quạt lại đánh "cộp" một tiếng vào lòng bàn tay mập mạp, nơi ngón tay cái đang đeo một chiếc nhẫn ngọc cẩm thạch màu xanh nhạt bóng lộn. Nụ cười trên khuôn mặt tròn xoe nở rộng hơn, thịt hai bên má dồn lại khiến đôi mắt ti hí càng thêm hẹp, nhưng đáy mắt lại nheo lại đầy vẻ toan tính sắc lạnh của phường buôn chuyến:

"Tại hạ họ Phùng, tên Kế Sinh. Người trên bến sông này từ lái buôn gạo xứ thượng nguồn xuôi bè gỗ xuống, đến chủ ghe muối miệt dưới ngược dòng lên, ai mà không biết thuyền buôn họ Phùng ta chuyên thu gom nông sản ngon, hàng hương vị độc đáo xuôi ngược chở thẳng lên huyện thành Vân Thủy. Mấy tửu điếm lớn, hoa viên cự phú ngoài huyện thành xa hoa kia đều lấy hàng qua tay ta cả. Sáng nay đứng nhìn tiểu nương tử đon đả bán từng bát dưa, múc từng muỗng tương lấy vài đồng tiền kẽm còm cõi, vừa hứng nắng vừa chịu bụi bặm của đám phu xe, ta thấy tiếc cho công sức và nhan sắc của nàng quá."

Phùng Kế Sinh bước lên nửa bước, khoảng cách thu hẹp lại khiến mùi hương trầm nồng nặc tẩm trên tơ lụa của gã bốc lên hăng hắc, át cả mùi nước sông phù sa ngai ngái và mùi vôi vữa của dãy phố buôn ven kênh. Gã hạ giọng, ngữ điệu mang theo vẻ huyền bí thâm sâu, bàn tay mập mạp khẽ xòe ra như thể sắp ban phát một mối làm ăn từ trên trời rơi xuống cho kẻ cùng khốn:

"Ta nói thực lòng, dưa muối và tương đậu nành của họ Diệp các người hương vị thanh thuần khác hẳn thứ hàng chợ làm xối xả bằng nước giếng khơi ô tạp. Hạt tương thơm dẻo, nước tương sánh như mật mía, ngậm vào đầu lưỡi giữ được cái hậu ngọt rất sâu, dưa sen thì giòn sần sật mà không hề có mùi ủng, đúng là tay nghề gia truyền hiếm gặp ở cái vùng quê hẻo lánh này. Nhưng cô nương thử nghĩ sâu xa mà xem: từ cái thôn Thanh Khê hẻo lánh dưới chân núi Thanh Lĩnh ra đến chợ trấn Liễu Kiều này trọn ba mươi dặm đường đất gập ghềnh. Đi từ canh tư lúc sương mù còn giăng kín ngọn cỏ, trèo đèo lội qua mấy khúc suối cạn, gánh gồng nặng trĩu gãy cả sống lưng, đến nơi lại phải nộp thuế sạp mười lăm đồng tiền tươi, lại nơm nớp lo trời đổ mưa rào làm dưa nhớt, nắng gắt làm tương bốc men chua. Bán lẻ từng bát từng cân, đong đếm từng đồng kẽm rỉ sét thì đến bao giờ mới nên cơ đồ? Đến bao giờ mới trả hết nợ nần cho gia đình?"

Nhị Hòa đứng phía sau đang cúi lom khom cuộn mấy sợi dây gai dính bùn vào góc sọt, vừa nghe nhắc đến con đường ba mươi dặm trèo đèo lội suối từ canh tư và cái lưng mỏi nhừ sau chuyến đi sớm, cậu liền giật mình ngẩng phắt đầu lên nghe ngóng. Đôi vai gầy guộc của cậu thiếu niên mười lăm tuổi vẫn còn hằn đỏ hai vệt thâm tím do chiếc đòn gánh tre cọ xát suốt mấy canh giờ đêm qua.

Tạ Cảnh vẫn đứng cạnh cột đình số ba, nơi bóng râm mát rượi của mái ngói rêu phong che khuất nửa thân người chàng. Tay chàng cầm cuốn sổ thẻ tre kẹp chặt trong thanh nẹp gỗ đào, nghiên mực đá xám đặt trên một mỏm đá kê chân cột vẫn còn lóng lánh lớp mực đen nhánh chưa khô hẳn. Nghe từng lời gã lái buôn thốt ra, ánh mắt chàng thư sinh trẻ tuổi trầm tĩnh như nước giếng sâu khẽ lướt qua cử chỉ tay vỗ quạt của Phùng Kế Sinh. Đôi lông mày thanh tú hơi chau lại một thoáng rất nhanh rồi lập tức giãn ra, trở về vẻ thản nhiên lạnh nhạt, ngón tay thon dài khẽ miết nhẹ lên mép thẻ tre mỏng.

Tiểu Mãn vẫn mỉm cười nhã nhặn, thần sắc không hề có lấy nửa phần xao động. Nàng đưa tay sửa lại một chiếc nan sọt tre hơi xô lệch, giọng nói phát ra êm dịu, mềm mại như dòng suối nhỏ nhưng từng âm tiết lại vô cùng vững vàng:

"Phùng lão bản nói phải, việc nhà nông buôn bán nhỏ lẻ quả thật chẳng dễ dàng gì. Thức khuya dậy sớm, dầm sương dãi nắng, hai bàn chân đạp trên đá sỏi nhọn hoắt thì làm sao so được với các bậc thương gia ngồi thuyền lớn lướt sóng xuôi dòng. Song người cày ruộng thì quen với đất, gom từng đồng tiền kẽm mồ hôi nước mắt chắt chiu từ hạt đậu nhánh trĩu bông cũng là đạo lý sinh tồn xưa nay của người thôn dã chúng tôi. Chẳng hay ý của Phùng lão bản là thế nào? Lão bản đường xa ghé lại sạp nghèo, ắt không phải chỉ để chia sẻ nỗi vất vả đường trường với đám con trẻ chúng tôi chứ?"

Phùng Kế Sinh nghe vậy liền vuốt chòm râu dê tỉa cong vút, cười lớn một tràng đầy vẻ tự đắc, tiếng cười làm mấy con chim sẻ đang sà xuống nhặt thóc rơi trên nền chợ giật mình vỗ cánh bay vụt lên mái đình:

"Ha ha! Tiểu nương tử quả là người thông minh đĩnh ngộ! Người thông minh thì không cần vòng vo tam quốc làm gì cho mệt xác! Ta muốn bao tiêu trọn gói toàn bộ! Từ nay về sau, nhà họ Diệp các người làm ra được bao nhiêu vò tương đậu nành hảo hạng, muối được bao nhiêu khạp dưa cải vàng ươm, thuyền hàng của Phùng Kế Sinh ta sẽ cho người đánh xe bò, xe ngựa tới tận đầu thôn Thanh Khê chở đi hết sạch, không để sót lại một vò nào! Nàng không cần phải gánh bộ ba mươi dặm đường đất đầy gai góc nữa, chẳng cần thức dậy từ lúc gà chưa gáy le te, chẳng cần chen lấn giành giật từng tấc đất cắm cọc ở cái chợ phiên xô bồ này, lại càng không phải nhìn sắc mặt đám tuần đinh hống hách hay nơm nớp chịu cảnh gió máy sương sa. Cứ việc ngồi mát ở nhà ủ tương muối dưa, ta gom một mẻ lớn, trả bạc trắng tinh một mẻ! Thế nào? Một mối hời lớn như vậy, cả cái trấn Liễu Kiều này có mấy ai với tới được? Có mấy kẻ buôn chuyến mở lòng từ tâm mà chìa tay ra nâng đỡ người nghèo như Phùng mỗ ta?"

Tiếng quạt xếp lại mở xoạch một cái giòn giã, gã phe phẩy nhè nhẹ trước ngực, dáng vẻ khoan thai như một vị cứu tinh hảo tâm vừa ban phát ân huệ ngập tràn xuống chốn trần gian. Ánh mắt gã lướt qua manh áo vải thô màu chàm vá vai chi chít của Nhị Hòa, nhìn lướt qua đôi hài cỏ mòn vẹt gót của Tạ Cảnh, rồi dừng lại trên chiếc hộp tre mộc mạc đựng tiền kẽm mà Tiểu Mãn đang ôm ngang hông. Trong bụng gã đinh ninh chắc nịch rằng, một lũ trẻ con nhà quê nghèo rớt mồng tơi, quanh năm chỉ thấy củ khoai củ sắn và vài đồng tiền kẽm rỉ xanh, nay nghe đến hai chữ "bạc trắng" và bốn chữ "bao tiêu trọn gói" thì hẳn linh hồn đã bay lên chín tầng mây, ắt sẽ mừng rỡ đến cuống cuồng mà gật đầu tạ ơn rối rít, vội vã dâng trọn sản nghiệp vào tay gã.

Thế nhưng, nụ cười trên khóe môi Diệp Tiểu Mãn không hề đổi khác dù chỉ một mảy may.

Nàng không hề vồ vập tiến lên, cũng chẳng để lộ bất kỳ sự ngỡ ngàng hay thảng thốt nào. Đôi mắt nàng khẽ lay động, lắng nghe tiếng gió sông thổi xào xạc qua rặng liễu và tiếng cọc chèo khua nước "oàm oạp" bên bến tàu cách đó mười trượng. Nàng nhớ lại những ngày đen tối khi Lương Quảng Tài dẫn đám côn đồ cầm gậy gộc xông vào đòi siết nợ, nhớ lại ánh mắt thèm thuồng từng đồng bạc lẻ của vợ chồng người bác cả Diệp Đại Phúc khi dòm ngó mảnh vườn nhỏ của cha mẹ nàng. Trải qua bao phen đối mặt với nanh vuốt hiểm ác chốn làng quê nghèo khó, nàng hiểu quá rõ một chân lý sắt đá: trên đời này không bao giờ có miếng bánh thơm ngon nào tự rơi xuống từ trên trời; miếng mồi càng béo bở bày ra ngay trước mắt mà không kèm theo móc câu sắc nhọn ẩn giấu bên trong, thì vĩnh viễn chỉ là trò lừa bịp của lũ sói già đội lốt người hiền.

"Phùng lão bản rộng lòng nâng đỡ kẻ hàn vi, tiểu nữ thật lòng cảm kích khôn xiết," Tiểu Mãn chậm rãi cất lời, thanh âm trong trẻo rành rọt át cả tiếng ồn ào của buổi chợ vãn đang lục tục dọn hàng phía sau lưng gã. "Nhưng các cụ ta xưa có câu: 'Buôn có bạn, bán có phường', việc mua bán sỉ số lượng lớn cả thuyền cả xe tất phải có giá cả phân minh, định mức rõ ràng. Chẳng hay lão bản định định giá thu gom tương đậu nành và dưa chua của Diệp gia chúng ta thế nào? Và phương thức giao dịch cụ thể quy định ra sao?"

Phùng Kế Sinh thầm nghĩ trong bụng: Con bé nhà quê này trông nhỏ nhắn mà miệng lưỡi cũng sắc sảo gớm, biết hỏi ngay vào chỗ mấu chốt của việc buôn bán. Song nét mặt gã vẫn không đổi vẻ trịch thượng của kẻ nắm đằng chuôi, gã khẽ giơ ngón tay trỏ ngắn cũn, đốt ngón tay thô bè bè đeo nhẫn ngọc ra lắc lắc trước mặt nàng:

"Ta là thương nhân làm ăn lớn dọc tuyến sông Vân Thủy này, xưa nay nói một là một, hai là hai, không bao giờ nói lời quanh co lừa lọc ai bao giờ! Sáng nay đứng xem, ta nhìn rõ mồn một rồi: tương đậu nành nàng bán lẻ hai mươi đồng một thăng, dưa cải róc nước bán mười hai đồng một cân. Nhưng đó là giá bán lẻ mọn từng bát con, từng cân mớ cho đám thợ thuyền ăn vặt, cho mấy mụ đàn bà mua về nấu bữa cơm đạm bạc! Nay ta mua đứt một lần cả thuyền hàng, chở đi một chuyến hàng trăm hàng ngàn vò sành, một mình Phùng Kế Sinh ta phải gánh chịu mọi rủi ro đường xa sóng gió, thuyền chìm đò đắm, thuế quan dọc các trạm tuần giang. Cho nên mức giá mua gom tại gốc không thể nào tính như giá nàng đứng bán nhặt từng đồng ngoài sạp chợ phiên này được."

Gã ngừng lại một nhịp lấy hơi, đưa mắt liếc xéo nhìn Tạ Cảnh như muốn thị uy với kẻ có học duy nhất ở đây, rồi buông thõng từng lời với giọng điệu ban phát ơn mưa móc:

"Tương đậu nành nguyên chất, ta trả nàng chín đồng một thăng! Dưa cải muối róc nước, ta trả sáu đồng một cân! Đúng bằng một nửa giá bán lẻ ngoài sạp, nhưng gom trọn gói sạch trơn không chừa lại một cọng dưa hỏng hay một gáo tương cặn, tiền trao tận tay một lượt bằng bạc vụn hoặc bạc nén sáng loáng! Nàng thử vắt tay lên trán mà nghĩ xem, một lần xe kéo đến tận cổng chở đi, thu về ba bốn lượng bạc trắng nằm gọn trong túi áo, không hơn gấp vạn lần việc ngày nào cũng phải gánh gồng ba mươi dặm, đứng đây hứng bụi đường, cúi đầu chắt bóp từng đồng kẽm rỉ sét hay sao?"

Nhị Hòa đứng bên cạnh nghe đến đó thì hai mắt trừng trừng, tròng mắt như muốn nứt ra vì phẫn nộ.

Cậu thiếu niên tuy chưa từng ra ngoài buôn bán lớn, chưa hiểu hết mưu ma chước quỷ của giới thương hồ đường sông, nhưng những ngày qua cùng cha lặn lội vào rừng đốn từng súc gỗ mít về đẽo đòn gánh, phụ mẹ bưng từng chiếc nong nia đậu nành nặng trĩu đem phơi dưới cái nắng trưa hầm hập, thức trắng đêm cùng tỷ tỷ canh lửa chõ đồ đậu cho hạt chín nục mà không nát vỏ, cậu biết rõ như lòng bàn tay rằng làm ra được một thăng tương thơm phức, một hũ dưa giòn ngấu phải đổ xuống bao nhiêu giọt mồ hôi và nước mắt!

Chín đồng một thăng tương? Sáu đồng một cân dưa?

Ở cái chợ phiên cầu đá Thanh Khê nghèo nàn xơ xác, đám lái buôn thu mua rau cỏ bãi Hạ ghé qua cũng đã trả giá sỉ mười ba đồng một thăng tương, bán lẻ cho người làng mười lăm đồng! Vậy mà gã lái buôn áo lụa bóng bẩy này mở miệng ra là nói chuyện bạc trắng tiền vạn, miệng xưng nâng đỡ kẻ nghèo, mà lại nhẫn tâm đè mức giá xuống thấp hơn cả cái giá bán cho đám cùng đinh nơi thôn cùng xóm vắng! Cậu uất ức siết chặt nắm đấm, gân xanh nổi cộm trên cánh tay khẳng khiu, toan bước xộc lên cãi lại một trận cho ra nhẽ thì Tiểu Mãn đã khẽ đưa bàn tay ra sau lưng, ngón tay khẽ gõ nhẹ ba nhịp vào mép áo chàm của cậu.

Đó là ám hiệu quen thuộc giữa hai chị em từ những ngày cùng nhau đối phó với bọn đòi nợ ở quê: nhẫn nhịn, chớ manh động, mọi việc đã có tỷ lo liệu.

Phùng Kế Sinh hoàn toàn không nhận ra cử chỉ kín đáo giấu sau vạt áo ấy. Thấy hai đứa trẻ đứng im phăng phắc, gã đinh ninh trong bụng rằng mức giá và con số bạc trắng mà mình vừa tung ra đã giáng một đòn sấm sét vào tâm trí lũ dân quê ít học, khiến chúng sợ hãi và choáng ngợp đến mức không thốt nên lời. Thừa thắng xông lên, gã bồi thêm một đòn cân não quyết định, chiếc quạt trong tay đập mạnh vào lòng bàn tay tạo nên tiếng "chát" giòn tan:

"Đương nhiên, đã gọi là Phùng gia ta ra tay bao tiêu trọn gói, đứng ra che mưa chắn gió mở đường sống cho nhà họ Diệp các người, thì cũng phải có quy củ làm ăn đàng hoàng của giới thương gia chúng ta. Ta có một điều kiện tiên quyết không thể thương lượng: nàng phải ký vào tờ văn tự cam kết độc quyền! Tuyệt đối không được bán lẻ dù chỉ một bát dưa con, không được giao một hũ tương nào cho bất kỳ ai khác, kể cả các sạp hàng ở cái chợ trấn Liễu Kiều này, các quán ăn dọc đường hay khách vãng lai ghé nhà. Toàn bộ dưa tương làm ra từ tay họ Diệp chỉ được phép bán độc quyền cho đoàn thuyền buôn của ta, thời hạn giao kết là trong vòng ba năm ròng rã! Sau ba năm, nếu đôi bên làm ăn hòa thuận, dưa tương của nàng giữ được phẩm chất tốt, Phùng Kế Sinh ta sẽ chiếu cố gia hạn thêm ba năm nữa."

Gã phe phẩy chiếc quạt xếp, lồng ngực ưỡn căng ra dưới lớp áo lụa hoa chìm, giọng điệu đanh thép mang theo áp lực ngàn cân:

"Ba năm ròng không phải lo đầu ra, ba năm có bạc nén bỏ túi đều đặn mỗi tháng. Ở cái trấn Liễu Kiều này, muốn tìm được một người có vốn liếng vững như bàn thạch như Phùng Kế Sinh ta để dựa dẫm đâu phải chuyện dễ dàng? Cô nương tuổi đời còn quá trẻ, chớ có thiển cận nhìn cái lợi nhỏ mọn trước mắt mà bỏ qua mối làm ăn lớn của cả một đời người!"

Gió sông lại thổi thốc qua góc chợ vãn, cuốn theo vài chiếc lá liễu khô bay là đà trên mặt đất. Tiếng quạt giấy của gã cứ phành phạch quạt gió vào mặt người đối diện, mang theo tất cả sự ngạo nghễ, khinh khỉnh của một kẻ quen dùng đồng tiền và quyền thế thị thành để bóp nghẹt sự sống của những người nông dân chân lấm tay bùn. Gã tin chắc như đinh đóng cột rằng, một đứa con gái mười bảy tuổi cả đời quanh quẩn sau lũy tre làng, trên vai đang cõng món nợ khổng lồ từ người cha tàn tật và gia cảnh khốn khó, nghe thấy món tiền sỉ gom gọn trong ba năm thì sẽ mừng đến phát khóc, lập tức quỳ mọp xuống mà ấn dấu tay vào tờ văn tự.

Thế nhưng, đáp lại vẻ trịch thượng đầy toan tính ấy chỉ là một nụ cười điềm đạm, tĩnh lặng và sâu thẳm như làn nước hồ mùa thu của Diệp Tiểu Mãn.

Nàng không hề biến sắc. Không có lấy nửa phần tức giận, cũng chẳng có nửa phần bối rối hay sợ sệt. Nàng khẽ quay đầu sang bên cạnh, ánh mắt trong veo chạm vào ánh mắt của Tạ Cảnh đang đứng dưới bóng râm cột đình chợ.

Chỉ cần một cái nhìn lướt qua, chàng thư sinh trẻ tuổi đã hiểu rõ từng tâm ý của nàng. Tạ Cảnh tiến lên một bước dài, ung dung bước ra khỏi bóng râm cột đình, sóng vai đứng bên cạnh Tiểu Mãn. Dù trên người chàng chỉ khoác một manh áo vải thô màu chàm đã bạc phếch ở hai bên khuỷu tay, đôi hài vải đã sờn chỉ ở mũi chân, nhưng dáng đứng thẳng tắp như cây tùng trên vách đá, phong thái đĩnh đạc, thanh tao lạ thường khiến người đối diện bất giác phải nhìn chàng bằng con mắt khác.

Chàng khẽ nhấc tấm bảng gỗ mỏng kẹp thẻ tre năm cột đặt ngay ngắn lên mặt ván gỗ mít phẳng lì của sạp hàng, chiếc bút lông thỏ nhúng nhẹ vào nghiên đá, giọt mực đen nhánh đọng lại nơi đầu ngọn bút nhọn hoắt như mũi giáo.

"Phùng lão bản," Tiểu Mãn cất giọng, từng lời từng chữ phát ra vô cùng rành mạch, thanh thoát và điềm tĩnh đến độ làm cho nụ cười trên môi Phùng Kế Sinh hơi cứng lại, "ngài là bậc đại thương nhân từng trải dọc các bến sông lớn, đi khắp bốn phương thông hiểu sự đời, hẳn ngài hiểu rõ hơn ai hết câu tục ngữ: 'Buôn có sách, mách có chứng'. Ngài vừa hào sảng nói rằng mức giá sỉ chín đồng một thăng tương và sáu đồng một cân dưa là mức giá bao tiêu nâng đỡ người nghèo, vậy xin mời ngài mở rộng tầm mắt, cùng đối chiếu bảng tính giá vốn thực tế của Diệp gia chúng ta xem con số chín đồng và sáu đồng của ngài rốt cuộc là từ đâu mà ra."

Phùng Kế Sinh hơi giật mình lùi lại nửa bước, đôi mắt ti hí chớp liên hồi nhìn xuống tấm bảng gỗ kẹp thẻ tre vừa được Tạ Cảnh mở ra trước mặt.

Trên tấm thẻ tre nhẵn bóng, từng hàng từng cột được kẻ chỉ đỏ thẳng tắp, những nét chữ khải chân phương, mực đen nhánh sắc sảo hiện lên rõ mồn một như khắc vào gỗ:

| Nhật kỳ | Danh mục nguyên liệu | Nhập | Xuất | Tồn | | :--- | :--- | :--- | :--- | :--- | | Trừ nhật | Đậu nành loại một (gò Cồn Gió & bến Hạ) | — | 100 đồng | 2 thạch | | Trừ nhật | Muối biển hạt tinh khiết (thuyền buôn) | — | 170 đồng | 100 cân | | Định nhật | Mía nướng lùi tro & than củi đun | — | 45 đồng | 1 lò | | Chấp nhật | Hũ sành da lươn & nút bấc, lá chuối khô | — | 60 đồng | 50 chiếc | | Nguy nhật | Công đổi bốn lao động (tiền nhật & dưa tương) | — | 198 đồng | 1 mẻ |

Tiểu Mãn đưa ngón tay thon thả chỉ thẳng vào dòng chữ đầu tiên trên thẻ tre, cất giọng phân tích rành rọt, không một chút ngập ngừng hay vấp váp:

"Để làm ra được một chum tương đậu nành hảo hạng đạt chuẩn thơm dẻo ngấu vị, nguyên liệu đầu tiên và quan trọng nhất là hạt đậu nành. Đậu nành gò Cồn Gió nhà chúng tôi đất đồi sỏi đá khô cằn, hạt tuy nhỏ nhưng đậm vị bùi ngậy, vỏ mỏng ruột vàng; cộng thêm lượng đậu loại một hạt mẩy tròn đều thu gom từ các thuyền buôn quen bến sông bãi Hạ, tính giá vốn gốc rẻ nhất thời điểm này cũng đã là năm mươi đồng một đấu. Hai thạch đậu nành mua về đâu phải cứ thế đổ vào chum? Đậu phải trải qua ba lượt sàng sẩy nhặt sạch từng hạt lép, hạt sâu mọt, hạt mốc xanh mốc đỏ; đem ngâm nước suối trong rồi đồ chín tới ròng rã suốt hai canh giờ rưỡi bằng chõ gỗ mít lót lá chuối hơ lửa cho dẻo quánh, sau đó tãi ra từng nong tre sạch cấy mầm men mốc hoa cau truyền thống. Tính riêng lượng hao hụt sau khi đãi lọc, nhặt bỏ hạt sâu và quá trình ủ men mốc đã chiếm đứt mất một phần mười lượng đậu ban đầu."

Nàng ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt đang dần cứng đờ của Phùng Kế Sinh, nụ cười trên môi vẫn giữ nguyên vẻ mực thước, chuẩn mực của người làm kinh doanh chân chính:

"Thứ hai là muối. Thứ tương đậu nành trứ danh của Diệp gia chúng tôi tuyệt đối không dùng thứ muối mỏ pha tạp đất cát mặn chát khé cổ trôi nổi ngoài các góc chợ gạt, mà phải dùng muối hạt biển tinh khiết mua tận ghe thuyền chuyên chở từ miệt biển lên bến sông, với giá tròn một trăm bảy mươi đồng một bao một trăm cân. Muối ấy mua về không thể đem dùng ngay, mà phải đổ vào chảo gang lớn rang trên lửa củi cho nổ hết hạt tanh tách, bốc hết vị chát đắng nồng nặc của nước biển, rồi mới đem hòa cùng nước mưa hứng chum sành đun sôi để nguội lóng trong. Cứ mỗi một thăng tương thành phẩm múc ra từ chum, tiền đậu nành hảo hạng và tiền muối biển rang sạch đã ngốn đứt mất sáu đồng tiền kẽm của chúng tôi."

Tạ Cảnh tiếp lời nàng một cách nhịp nhàng, ngọn bút lông thỏ chấm nhẹ vào dòng thứ ba trên bảng thẻ tre, giọng chàng trầm ấm, đĩnh đạc vang vọng khắp góc đình chợ:

"Đó mới chỉ là giá của hạt đậu sống và hạt muối thô trên mặt giấy! Còn chi phí than củi đun nấu chõ xôi đậu hai canh giờ rưỡi? Chi phí mía nướng lùi tro đỏ - bí quyết gia truyền đưa vào từng chum tương để hãm độ chua, khử mùi ngái, chống lại cái nồm ẩm gió bấc độc địa của xứ Thanh Khê? Tiền mua hũ sành da lươn tráng men lòng sạch bóng không rò rỉ, tiền nút bấc bọc lá chuối khô đã ngốn thêm hai đồng rưỡi cho mỗi thăng tương thành phẩm. Lại còn chưa tính đến công nhật mười hai đồng một ngày cho nhóm bốn phụ nữ trong thôn đổi công phụ giúp nhặt hạt, rửa chum, đảo tương đúng lúc đứng bóng trưa suốt ba mươi sáu vòng tròn quanh miệng chum ròng rã suốt bốn mươi chín ngày dầm mưa dãi nắng! Tính chi li sòng phẳng từng đồng tiền kẽm một, mỗi một thăng tương thành phẩm vừa múc ra khỏi chum, giá vốn gốc nằm im trong sân nhà họ Diệp chúng tôi đã là chín đồng ba phân!"

Tiểu Mãn nhìn thẳng vào gã thương lái đang đứng chôn chân tại chỗ, ánh mắt sắc như dao cau tỉa lá:

"Phùng lão bản mở miệng đưa ra mức giá mua sỉ chín đồng một thăng tương, tức là mỗi một thăng tương Diệp gia bán cho ngài, chúng tôi chẳng những không thu lại được lấy nửa đồng tiền công mồ hôi nước mắt, mà còn phải rút tiền túi ra bù lỗ ba phân tiền vốn mua đậu, mua muối sạch cho thuyền buôn của ngài! Chẳng lẽ trong mắt Phùng lão bản, dưa rau tương đỗ của người nông dân chúng tôi là cỏ rác mọc hoang ngoài bờ bụi, không tốn công cày cuốc, bón tưới, ủ men phơi nắng mà tự nhiên từ trên trời rơi xuống đất hay sao?"

Không để cho Phùng Kế Sinh kịp mở miệng phản bác, nàng chuyển ngón tay thon thả sang bảng tính dưa cải muối chua:

"Còn về phần dưa cải sen: một cân dưa cải tươi non tơ cắt tại ruộng vào sáng sớm giá rẻ nhất đã là bốn đồng một cân. Muốn dưa muối lên có màu vàng ươm như màu tơ tằm, giòn sần sật trong miệng mà không nát, dưa phải phơi se mặt lá qua một buổi trưa nắng hanh, ngâm rửa từng bẹ lá trong nước muối ấm pha gừng già và đường phèn giã vụn, nén vỉ tre cài chặt bằng đá cuội suối suốt ba ngày ba đêm ròng rã. Khi dưa ngấu chua, róc cạn hết nước váng để đóng vào hũ, độ hao hụt rau ngót đi mất gần bốn phần mười! Một cân dưa muối chua róc nước thành phẩm đạt chuẩn mang ra chợ, giá vốn gốc đã ngót nghét sáu đồng năm phân tiền kẽm. Ngài hào sảng trả sáu đồng một cân, Diệp gia chúng tôi lại tiếp tục cắn răng bỏ tiền túi ra bù lỗ cho ngài thêm năm phân nữa cho mỗi cân dưa!"

Tạ Cảnh khẽ mỉm cười, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào gã thương lái đang toát mồ hôi hột, giọng nói chàng thư sinh mang theo khí khái điềm nhiên, thanh cao của bậc nho sinh hiểu thấu mọi ngóc ngách của luật pháp và lẽ đời:

"Phùng lão bản muốn Diệp gia ký khế ước độc quyền ba năm, cấm đoán không cho bán lẻ, không cho xuất hàng cho bất kỳ bạn hàng nào khác. Tức là ngài muốn dùng một tờ giấy trắng mực đen để trói buộc toàn bộ sức lao động, vườn tược ruộng đất và tay nghề gia truyền của một gia đình nông dân vào một mức giá lỗ vốn ròng rã suốt một ngàn không trăm chín mươi lăm ngày! Nếu như vậy, tiểu sinh xin mạn phép hỏi thẳng lão bản một câu: đó là lòng hảo tâm 'nâng đỡ bao tiêu' mở đường sống cho dân nghèo, hay là một tờ văn tự bán mình ép người ta vào bước đường cùng không lối thoát?"

Từng lời đanh thép, từng phép tính khúc chiết, rành mạch và chuẩn xác đến từng phân, từng ly vang lên sang sảng giữa góc chợ ven kênh Liễu Kiều khiến không khí oi nồng của buổi trưa muộn bỗng chốc như ngưng đọng lại thành băng tuyết.

Mấy người khách đi chợ muộn xách giỏ tre đứng lại nghe ngóng, rồi cả đám phu bến tàu lưng trần vác bao tải gạo gần đó cũng tò mò bu quanh mép sạp nghé mắt nhìn vào tấm bảng thẻ tre kẻ vẽ tinh tươm, mực tàu đen nhánh. Ai nấy ở cái bến sông này đều biết rõ Tạ Cảnh là chàng thư sinh trọ học nhà bác Lưu quản chợ, tính tình cương trực, sổ sách kế toán minh bạch khét tiếng một vùng; nay lại nhìn thấy cô gái thôn quê mới mười bảy tuổi đầu, vạt áo chàm mộc mạc mà ăn nói đĩnh đạc, đâu ra đấy, phân tích chi phí giá thành chi li hơn cả chưởng quầy của các hiệu buôn lớn ngoài huyện, trong lòng đám đông không khỏi dâng lên sự thán phục khôn cùng.

Một gã phu bến tàu da đen nhẻm, tay cầm chiếc móc sắt quấn dây thừng, cất tiếng cười khà khà nói vọng vào giữa đám đông:

"Bác Phùng ơi là bác Phùng! Xưa nay bác quen thói ép giá mấy bà già bán mớ rau mớ tép ngoài bãi bồi ven sông rồi, người ta ít học không biết tính toán nên cứ nghe thấy tiền cục là mừng rỡ bán tống bán tháo! Nay bác lại đem cái bài ấy ra dọa đám con cháu nhà họ Diệp, gặp ngay phải Tạ tiên sinh thông kinh bác sử, lại đụng trúng cô nương biết chữ rành rọt sổ sách thế này, cái bẫy con buôn của bác lộ sạch chân tướng ra giữa bàn dân thiên hạ rồi nhé!"

Mặt Phùng Kế Sinh thoắt cái đỏ bừng như gấc chín, rồi lại chuyển sang trắng bệch như thoa phấn. Vạt áo the cánh gián trên người gã như cứng đờ lại theo từng nhịp thở dồn dập. Đôi mắt ti hí vốn giảo hoạt, sắc sảo giờ đây mở to hết cỡ, nhìn trừng trừng vào Diệp Tiểu Mãn rồi lại chuyển sang nhìn Tạ Cảnh với ánh mắt nửa kinh ngạc nửa kiêng dè. Gã làm ăn buôn chuyến dọc triền sông này đã ngót nghét hai mươi năm, từng nuốt chửng không biết bao nhiêu nông hộ khờ khạo, từng ép biết bao chủ lò gốm, lò mật phải bán rẻ sản vật để gã gom hàng chở đi kiếm lời gấp ba gấp bốn. Gã không thể nào ngờ được rằng, ở cái xó chợ quê hẻo lánh này, một đứa con gái nông thôn nghèo xơ xác lại có thể nắm chắc từng đồng chi phí, từng tỉ lệ hao hụt của hạt đậu ngọn rau đến mức thấu đáo như một kế toán lão luyện của tiệm cầm đồ lớn! Lại còn có cả một gã thư sinh kẹp bảng tính sổ sách kè kè bên cạnh, ngòi bút lông sắc như lưỡi kiếm, chặn đứng mọi ngả đường bóp giá của gã.

Cái trò "dùng số lượng lớn ép giá độc quyền" mà gã vẫn thường đắc chí áp dụng bấy lâu nay, phút chốc đã hoàn toàn vỡ vụn như đồ gốm nung non rơi xuống nền đá.

Gã nuốt khan một ngụm nước bọt lớn, cổ họng nghẹn ứ. Chiếc quạt xếp Tuyên Thành trên tay vội vã mở toang ra, phẩy lấy phẩy để vào khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi dầu nhằm xua đi nỗi ngượng ngùng đang bốc lên hừng hực trên gò má thô ráp. Tuy nhiên, Phùng Kế Sinh là tay buôn cáo già đã từng nếm trải đủ mọi sóng gió thương trường, da mặt dày dạn khôn cùng. Thấy mưu mô ép giá và trói buộc độc quyền không thành, gã lập tức thu lại vẻ trịch thượng, đổi ngay sang một giọng cười xòa gượng gạo, tiếng cười khanh khách vang lên nhằm xua tan bầu không khí căng thẳng:

"Ấy chết! Tiểu nương tử cùng Tạ tiên sinh chớ có nóng nảy! Chớ có giận hờn làm gì cho tổn hại hòa khí! Vừa rồi chẳng qua là Phùng mỗ ta nói mức giá mua xô cào bằng của các mối hàng dưa cà thông thường ngoài các bãi bồi ven sông, chưa kịp tính đến công phu ủ men mốc hoa cau bí truyền và công đảo tương phơi nắng cầu kỳ của quý gia đình đấy thôi! Người làm ăn buôn bán lớn trên sông nước, khi gặp mặt nhau đưa đẩy vài ba câu thăm dò qua lại, trả giá thử lòng nhau là lẽ thường tình ở đời, cớ sao hai vị lại coi như chuyện sinh tử thế?"

Gã khẽ hắng giọng một tiếng thật to, lén đưa tay áo lên lau mồ hôi trán, rồi tiến lại gần mép sạp mít thêm nửa bước. Đôi mắt ti hí đảo quanh một vòng xem chừng đám đông xung quanh, rồi gã hạ giọng thật thấp, nghiêng người ghé sát mép ván gỗ, buột miệng nói nhỏ để lộ ra điều then chốt mà gã vốn muốn chôn chặt dưới đáy lòng:

"Nói thực lòng một câu ruột gan với hai vị, đồ muối chua và tương đỗ ngoài các chợ vùng ven này thì nhiều vô kể, nhưng mười nhà làm thì hết chín nhà dưa có mùi úng ủng nhớt nát, tương thì mặn chát đến khé cả cổ họng, hạt đậu sượng trơ không nuốt nổi. Mấy đại tửu lầu trên huyện thành Vân Thủy dạo này khách thương hồ xuôi ngược đông đúc lạ thường, các phú thương và quan khách sành ăn từ kinh kỳ về đòi hỏi khẩu vị ghê gớm lắm! Họ ngán thịt cá béo ngậy, chỉ chuộng các món dân dã mang đậm hương vị truyền thống tinh khiết: dưa sen dưa cải phải giòn tan thơm mùi gừng ấm tỳ vị, tương đậu phải sánh vàng ngọt bùi đậm đà, chấm miếng thịt luộc hay chan bát cơm gạo mới phải thơm lừng cả gian phòng mà tuyệt đối không được pha tạp nước lã! Nhu cầu đồ chua sạch trên huyện thành đang lớn vô cùng, mỗi chuyến thuyền chở lên bao nhiêu cũng tiêu thụ sạch bấy nhiêu trong vài ba ngày. Phùng mỗ đi khắp các bến sông từ hạ lưu lên thượng nguồn dạo này mới tìm thấy mẻ dưa tương của Diệp cô nương là đạt chuẩn ưng ý nhất trần đời!"

Tiểu Mãn nghe thấy bốn chữ "huyện thành Vân Thủy" và cụm từ "mấy đại tửu lầu", trong lòng khẽ lay động một thoáng.

Quả nhiên hoàn toàn trùng khớp với những suy đoán sâu xa mà nàng và Tạ Cảnh đã cùng nhau bàn bạc dưới ánh đèn dầu bên hiên quán trọ họ Lưu đêm qua. Thị trường ngoài trấn Liễu Kiều này dù có tấp nập hơn chợ phiên cầu đá Thanh Khê, nhưng sức mua của người dân lao động nghèo vẫn có hạn; muốn dưa tương Diệp gia thực sự vươn lên thành một sản nghiệp vững chắc, muốn tích lũy đủ bạc trắng để trả dứt món nợ ba mươi lượng cho Lương Quảng Tài và Chu Kim Quế, thì đích đến cuối cùng bắt buộc phải là các đại tửu lầu, các tửu điếm xa hoa trên huyện thành Vân Thủy!

Những lời buột miệng của Phùng Kế Sinh trong lúc bối rối vô tình đã trở thành một tấm bản đồ quý giá, xác nhận chắc nịch rằng dưa tương của nàng không chỉ có giá trị ở một góc sạp nhỏ bên bờ kênh này, mà đang nắm giữ một ưu thế độc nhất vô nhị trên thương trường rộng lớn hơn.

Nhìn thấy thái độ nhượng bộ rõ rệt và sự thèm khát nguồn hàng hiện rõ trong đáy mắt của gã lái buôn, Tiểu Mãn không hề thừa thắng xông lên để dồn ép đối phương vào chân tường. Nàng hiểu sâu sắc đạo lý thương trường: ép người quá đáng ắt sinh thù oán, một người làm ăn thông minh là người biết nắm bắt thời cơ để đạt được mục đích của mình, đồng thời vẫn chừa cho đối phương một con đường lùi êm đẹp để hai bên cùng có lợi.

Nàng khẽ nghiêng đầu, giọng nói mềm mại trở lại nhưng từng lời nói ra đều mang theo sức nặng của người nắm thế chủ động:

"Phùng lão bản quả là bậc thương gia tinh đời, đi lại rộng khắp bốn phương, dĩ nhiên hiểu rõ một mẻ dưa tương làm bằng cái tâm và sự tỉ mỉ đáng giá bao nhiêu đồng bạc. Nhà nông chúng tôi bước chân ra chốn thị thành buôn bán luôn lấy chữ tín và chất lượng làm đầu, không ham ăn xổi ở thì, không bao giờ lấy thứ hàng ôi thiu ra lừa gạt khách quan; nhưng đổi lại, chúng tôi cũng không thể làm việc không công gánh nợ thay cho người khác. Nếu Phùng lão bản thực lòng muốn đưa sản vật của Diệp gia chúng tôi lên huyện thành Vân Thủy để mở rộng đường làm ăn, chúng ta hoàn toàn có thể tính một phương thức hợp tác sòng phẳng, đôi bên cùng có lợi."

Phùng Kế Sinh như trút được một gánh nặng ngàn cân trong lồng ngực. Gã thở phào một cái thật dài, thầm khen ngợi cô thôn nương này tuy tuổi còn nhỏ nhưng tâm tính vững như bàn thạch, biết cứng biết mềm, hiểu rõ phép tắc tiến thoái trong làm ăn buôn bán. Gã lập tức chớp lấy cơ hội vàng này, ngón tay mập mạp gõ nhẹ lên mép quạt:

"Tiểu nương tử nói những lời ấy quả là chạm đúng vào lòng dạ Phùng mỗ! Vậy thế này đi: bỏ phắt cái điều khoản cam kết ba năm độc quyền qua một bên! Ta cũng không ép Diệp gia các người phải giao sạch toàn bộ hàng hóa trong nhà cho thuyền buôn của ta. Ta biết mẻ tương mới này nàng vừa mở chum ở nhà, chất lượng tuyệt hảo thế này thì số lượng còn lại trong kho nhà nàng chắc chắn không dưới một trăm thăng. Ta muốn mua sỉ ngay một phần ba số hàng tồn đó để đóng thuyền chở thử một chuyến lên huyện thành Vân Thủy chào hàng cho các mối quen ở các đại tửu lầu. Nếu giá bán buôn hợp lý, ta lấy tiền tươi thóc thật thanh toán ngay tại bến sông này, tuyệt đối không thiếu một cắc! Thế nào?"

"Vậy giá cả cụ thể lão bản tính thế nào cho chuyến hàng thử nghiệm này?" Tiểu Mãn hỏi thẳng thừng, không để cho gã có cơ hội đưa đẩy vòng vo thêm nữa.

Phùng Kế Sinh đưa mấy ngón tay mập mạp lên bấm đốt tính toán. Khuôn mặt tròn xoe của gã nhăn nhó lại trong giây lát, đôi mắt ti hí đảo qua đảo lại giữa Tiểu Mãn và Tạ Cảnh, đắn đo suy tính thiệt hơn từng li từng tí. Sau một hồi cân nhắc kỹ càng giữa cái lợi trước mắt và biên lợi nhuận béo bở khi chở hàng lên bán lẻ cho các bếp trưởng khó tính trên huyện thành, gã cắn răng đưa ra mức giá mới:

"Tương đậu nành nguyên chất, ta trả nàng mười bốn đồng một thăng! Dưa cải róc nước, ta trả tám đồng một cân! Mức giá này đã cao hơn giá vốn của nàng rất nhiều, bảo đảm cho Diệp gia nàng có một khoản lãi ròng sòng phẳng, chắc chắn trong tay mà không phải tốn công gánh gồng ba mươi dặm ra chợ trấn ngồi cả ngày bán lẻ từng bát một. Phần ta chở lên huyện thành xa xôi, ta phải tự chịu mọi cước thuyền, cước phu bốc vác và lệ phí bến bãi, chở lên đó bán được giá cao hay giá thấp, lời lỗ thế nào ta tự gánh chịu hết. Như vậy đã đủ làm vừa lòng tiểu nương tử và Tạ tiên sinh chưa?"

Tiểu Mãn không vội trả lời ngay. Nàng khẽ đưa mắt nhìn sang Tạ Cảnh.

Chàng thư sinh trẻ tuổi không cần dùng đến bảng tính, những con số phức tạp đã nhảy múa nhanh như chớp trong đầu chàng: Tương bán lẻ ở sạp trấn giá hai mươi đồng một thăng, nhưng mỗi phiên chợ phải nộp mười lăm đồng tiền thuế sạp, cước xe kéo mất sáu mươi đồng một chuyến chở bốn mươi hũ, lại phải chịu rủi ro hao hụt nứt vỡ gần một phần mười do đường đất xóc nảy gập ghềnh. Nay bán sỉ cho Phùng Kế Sinh với giá mười bốn đồng một thăng ngay tại bến sông Liễu Kiều, trừ đi giá vốn gốc chín đồng ba phân, nhà họ Diệp đút túi tiền lời ròng gần năm đồng cho mỗi thăng tương mà không tốn lấy một xu tiền cước xe kéo hay chi phí vận chuyển đường dài lên huyện thành; lại thu hồi tiền mặt cực nhanh để kịp gom trả khoản nợ rằm tháng tư của mụ Chu Kim Quế và tái đầu tư mua đậu, mua muối cho mẻ tương kế tiếp.

Còn về phần dưa cải: giá sỉ tám đồng một cân, trừ đi giá vốn gốc sáu đồng năm phân, Diệp gia thu lời ròng một đồng rưỡi cho mỗi cân dưa thành phẩm mà không phải chịu rủi ro ế ẩm, dưa bị úng nước hay bốc men chua khi lưu kho quá lâu.

Nhìn thấy cái gật đầu nhẹ nhàng đầy thấu đáo của Tạ Cảnh, Tiểu Mãn quay sang nhìn Phùng Kế Sinh, nụ cười trên môi rạng rỡ và tự tin:

"Được! Một phần ba số lượng hàng tồn hiện tại ở nhà chúng tôi gồm tròn ba mươi thăng tương đậu nành hảo hạng và bốn mươi cân dưa cải muối róc nước. Chúng tôi đồng ý xuất sỉ số hàng này cho Phùng lão bản với mức giá mười bốn đồng một thăng tương và tám đồng một cân dưa, tuyệt đối không kèm theo bất kỳ điều khoản độc quyền nào!"

"Hảo! Tiểu nương tử quả là người quyết đoán sảng khoái!" Phùng Kế Sinh vỗ đùi một cái đét giòn tan, vẻ mặt hớn hở, thịt hai bên má rung rinh. Dù không ép được mức giá rẻ mạt như dự tính ban đầu, nhưng gom được trọn vẹn số hàng chất lượng thượng hạng này đưa lên phục vụ các phú thương trên huyện thành Vân Thủy, gã vẫn nắm chắc phần thắng với khoản tiền chênh lệch kếch xù trong tay.

"Tuy nhiên," Tạ Cảnh bỗng cất tiếng, giọng chàng trầm tĩnh, rành rọt cắt ngang sự phấn khích của gã lái buôn, "đã là việc giao dịch số lượng lớn, giấy trắng mực đen phải phân minh rõ ràng để tránh những tranh chấp phiền toái về sau. Tiểu sinh sẽ lập ngay một tờ Giấy Giao Dịch Tạm Thời tại đây, hai bên ký tên điểm chỉ làm bằng chứng."

"Ấy, cần gì phải câu nệ rườm rà thế Tạ tiên sinh?" Phùng Kế Sinh xua tay cười lả lơi, chiếc quạt giấy lại phe phẩy. "Ta với Lưu lão bản quán trọ chỗ các người ở là chỗ bạn hàng quen biết từ thuở hàn vi, chẳng lẽ một thương nhân có thuyền to bến lớn như Phùng Kế Sinh ta lại đi quỵt mấy trăm đồng tiền kẽm của lũ trẻ các người?"

"Kính thưa Phùng lão bản, thân tình là thân tình, khế ước là khế ước," Tạ Cảnh điềm đạm đáp lại, ngón tay đã thoăn thoắt trải phẳng một tờ giấy dó dày dặn màu vàng ngà lên mặt ván gỗ mít sạch bóng. "Người xưa có câu: 'Bạch chỉ hắc tự, vạn niên bất dịch'. Mọi sự cứ rõ ràng, minh bạch ngay từ thuở ban đầu thì tình bằng hữu mới bền lâu, việc làm ăn buôn bán đôi bên mới suôn sẻ thuận buồm xuôi gió."

Chàng thư sinh nhúng đẫm ngọn bút lông thỏ vào nghiên đá xám, cổ tay chàng đưa nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, từng nét chữ khải chân phương, sắc cạnh như chạm trổ hiện dần lên mặt giấy dó. Tạ Cảnh vừa viết thoăn thoắt vừa đọc to từng điều khoản cho Tiểu Mãn, Phùng Kế Sinh và đám đông đang đứng vây quanh cùng lắng nghe:

"Điều thứ nhất: Quy chuẩn cân đo định lượng. Toàn bộ ba mươi thăng tương đậu nành và bốn mươi cân dưa cải muối sẽ được đo lường chính xác bằng đấu gỗ chuẩn và cân định lượng bằng đồng có dấu niêm phong của Thị Ty Quản Lý chợ Trấn Liễu Kiều, tuyệt đối không sử dụng cân riêng hay đấu riêng của bên mua cũng như bên bán để tránh mọi sai lệch tấc gang."

Khóe mắt Phùng Kế Sinh khẽ giật giật một cái. Trong khoang thuyền của gã vốn cất giấu sẵn một chiếc cân đồng đã qua bàn tay thợ bạc mài mỏng bớt quả cân non nửa lạng, chuyên dùng để ăn gian khi thu mua nông sản của đám dân quê; nay Tạ Cảnh ghi rõ ràng điều khoản "cân chuẩn có niêm phong của Thị Ty", gã đành phải nuốt ngược mưu mẹo gian lận ấy vào bụng.

"Điều thứ hai: Phương thức giao nhận và thanh toán. Đúng giờ Thìn ngày phiên chợ mùng mười tới đây, bên bán chịu trách nhiệm đưa hàng nguyên vẹn đóng kín trong vò sành có nẹp rơm chắc chắn đến Bến Liễu Kiều, bàn giao ngay mép mạn thuyền buôn họ Phùng. Bên mua có trách nhiệm kiểm tra kỹ lưỡng phẩm chất hàng hóa tại chỗ và thanh toán dứt điểm toàn bộ số tiền hàng bằng tiền kẽm hoặc bạc trắng quy đổi tương đương ngay khi nhận đủ số lượng, tuyệt đối không khất nợ, không lưu chiểu, không trừ gối đầu vào các phiên sau."

Tạ Cảnh ngừng lại một nhịp thở, ngước mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt tròn xoe của gã thương nhân, giọng chàng đanh lại, nhấn mạnh vào điều khoản then chốt cuối cùng:

"Điều thứ ba: Trách nhiệm đối với hao hụt và rủi ro. Kể từ thời điểm hàng hóa được hai bên cân đo đủ số lượng, kiểm tra phẩm chất và bốc xếp qua khỏi mép mạn thuyền buôn họ Phùng, mọi rủi ro về va đập, nứt vỡ vò sành, rò rỉ nước tương, dưa hỏng do thời tiết hay thất thoát trong quá trình thuyền buôn xuôi ngược vận chuyển đường sông lên huyện thành Vân Thủy hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của bên mua - Phùng lão bản. Bên bán không chịu bất kỳ khoản bồi thường hay bị trừ tiền nào sau khi hàng đã rời khỏi mép bến."

Viết xong nét chữ cuối cùng, Tạ Cảnh nhẹ nhàng đặt ngọn bút lông thỏ lên giá gác bằng đá, cúi xuống thổi nhẹ cho lớp mực đen mau khô trên nền giấy dó. Bản giao kèo ngắn gọn, súc tích chỉ vỏn vẹn ba điều khoản nhưng kín kẽ như một bức tường thành kiên cố, khóa chặt mọi kẽ hở ma mãnh mà phường thương lái đường sông thường lợi dụng để ép giá, trừ tiền hao hụt vỡ nứt hay đổ lỗi hàng hư hỏng dọc đường cho người nông dân nghèo.

Phùng Kế Sinh đón lấy tờ giấy dó hai tay, chăm chú đọc từng hàng chữ sắc sảo, trong lòng vừa cay đắng vừa không khỏi thầm bái phục tài năng của chàng thư sinh nghèo. Gã vốn tính toán rằng khi chở hàng lên huyện thành, nếu rủi ro gặp phải sóng to gió lớn làm nứt vỡ dăm ba vò sành, hoặc thuyền đi chậm làm dưa bị chua quá mức, gã sẽ quay về bắt Diệp gia đền bù hoặc trừ thẳng vào tiền mua hàng của chuyến sau; nay tờ khế ước này ghi rõ rành mạch như ban ngày, gã hoàn toàn hết đường thoái thác hay lật lọng.

"Hảo! Chữ nghĩa phân minh, công bằng sòng phẳng, rất hợp ý ta!" Phùng Kế Sinh gật gù liên hồi, móc từ trong túi gấm thêu đeo bên hông ra chiếc ấn đồng khắc tên hiệu buôn của mình, chấm đẫm vào hộp chu sa đỏ tươi rồi ấn mạnh xuống góc dưới tờ giấy giao dịch.

Tiểu Mãn cũng cầm lấy con dấu gỗ mít nhỏ nhắn khắc hai chữ "Diệp Gia" - kỷ vật mà Tạ Cảnh đã tỉ mỉ dùng dao gọt tặng nàng đêm hôm trước bên ngọn đèn dầu, cẩn thận đóng dấu ngay ngắn bên cạnh dấu ấn đồng của Phùng Kế Sinh, đồng thời nàng nhúng ngón tay cái vào nghiên mực đỏ, ấn một dấu điểm chỉ đỏ tươi rói bên dưới chữ ký của mình.

Tờ giấy giao kèo sau đó được xé làm hai bản theo đường gấp nếp thẳng tắp, mỗi bên giữ một bản làm bằng chứng giao dịch. Phùng Kế Sinh cẩn thận gấp vuông vức tờ giấy nhét sâu vào ngực áo the cánh gián, giũ quạt xòe ra phe phẩy mấy cái rồi chắp tay cười vang:

"Hẹn tiểu nương tử và Tạ tiên sinh đúng giờ Thìn sáng ngày phiên chợ mùng mười tới đây tại chân bến sông này! Nhớ chuẩn bị dưa tương cho thật chuẩn vị, Phùng mỗ sẽ mang tiền mặt đón đợi tại mạn thuyền!"

Nói đoạn, gã thương lái xoay người, bước những bước chân dài khoan thai xuôi theo bờ kênh Liễu Kiều về phía dãy phố buôn sầm uất, vạt áo the cánh gián phấp phới bay theo từng cơn gió sông.

Nhìn bóng lưng tròn trịa của gã khuất hẳn sau rặng liễu rủ cành xanh biếc, Nhị Hòa không thể nào kìm nén được nỗi sung sướng bấy lâu nay trong lồng ngực nữa. Cậu thiếu niên nhảy cẫng lên khỏi mặt đất, hai tay vung lên trời, reo khẽ với giọng nghẹn ngào vì xúc động:

"Tỷ ơi! Tỷ giỏi quá! Tỷ tính toán giỏi hơn cả chưởng quầy hiệu buôn ngoài trấn nữa! Ba mươi thăng tương giá mười bốn đồng là bốn trăm hai mươi đồng tiền kẽm! Bốn mươi cân dưa cải giá tám đồng là ba trăm hai mươi đồng nữa! Tổng cộng một chuyến này mình thu gọn bảy trăm bốn mươi đồng tiền kẽm tươi rói! Bảy trăm bốn mươi đồng đấy tỷ ơi! Bằng cả mấy phiên chợ gánh gồng mướt mồ hôi nước mắt, bằng cả mấy tháng trời cha mẹ cày cuốc ngoài đồng ruộng!"

Tạ Cảnh đứng bên cạnh khẽ mỉm cười, ánh mắt chàng nhìn Tiểu Mãn chan chứa niềm tự hào và sự thấu hiểu sâu sắc:

"Muội đã làm rất tốt. Việc kiên quyết từ chối điều khoản độc quyền ba năm của Phùng Kế Sinh chính là giữ lại đường sống và quyền tự chủ cho gia đình và sản phẩm của mình. Nếu hôm nay muội vì cái lợi vài lượng bạc trước mắt mà mềm lòng ký vào bản văn tự độc quyền ấy, thì sau này dẫu cho dưa tương của Diệp gia có nức tiếng khắp phủ Vân Thủy, người hưởng trọn vẹn hoa lợi béo bở cũng chỉ có một mình Phùng Kế Sinh, còn muội và gia đình sẽ mãi mãi chỉ là những kẻ làm thuê còng lưng với mức giá rẻ mạt không ngóc đầu lên nổi."

Tiểu Mãn nhẹ nhàng gật đầu, đưa mắt nhìn theo dòng nước kênh Liễu Kiều đang lững lờ cuộn sóng phù sa trôi ra bến sông lớn. Làn gió chiều mát rượi thổi tung vài sợi tóc mai mềm mại vương trên trán nàng, mang theo hơi thở khoáng đạt của đất trời bao la.

"Muội hiểu chứ, huynh," nàng khẽ nói, giọng nói lắng đọng bao nỗi suy tư của một người con gái đã sớm phải nếm trải đắng cay cuộc đời. "Bà ngoại khi còn sống từng dặn muội: bí quyết nghề nghiệp và danh tiếng do mồ hôi nước mắt làm ra chính là cái gốc rễ của người làm ăn. Đánh mất cái gốc rễ tự chủ ấy để đổi lấy vài đồng bạc bố thí nhất thời của kẻ khác, thì chẳng khác nào tự mình cầm dao chặt đi đôi chân của chính mình."

Thế nhưng, khi niềm vui hân hoan của đơn hàng bán sỉ đầu tiên vừa lắng xuống sau những nụ cười, một nỗi lo toan mới, một bài toán nan giải thực tế lại lập tức ùa về, đè nặng lên tâm trí của cô thôn nương nhạy bén.

Tiểu Mãn quay sang nhìn chiếc sọt tre rỗng không đang nằm chơ vơ bên cạnh chiếc đòn gánh gỗ mít dưới bóng râm mái đình chợ. Ba mươi hũ dưa và hai mươi hũ tương bán sạch nhẵn từ sáng nay đã lấy đi toàn bộ số hũ sành da lươn mà cả nhà nàng gom góp, lau chùi sạch sẽ mang từ thôn Thanh Khê ra trấn.

Sắp tới, để giao trọn vẹn ba mươi thăng tương và bốn mươi cân dưa cải muối cho thuyền buôn của Phùng Kế Sinh vào sáng mùng mười, cộng thêm lượng dưa tương cần thiết để duy trì phiên sạp Ất Thập Bát tại chợ trấn này, và số dưa tương giao định kỳ mà lão bếp trưởng khó tính của Vọng Giang Lâu đã đặt cọc hẹn trước...

Số lượng vò sành, hũ sành cũ kỹ, chắp vá sứt miệng mà bà ngoại để lại trong chái bếp và mua gom quanh thôn Thanh Khê bấy lâu nay đã hoàn toàn cạn kiệt. Mẻ tương lớn đang ủ ngấu trong sân và mẻ dưa mới cần gối vụ gấp sắp tới sẽ lấy gì để chứa đựng?

Lượng hàng xuất đi ngày càng nhiều, các hũ sành cũ ở nhà đã cạn kiệt, không đủ đồ chứa cho mẻ ủ mới.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories