Tiệm Sửa Những Điều Chưa MuộnCh.4 / 24
Chapter 4

Những câu hỏi tưởng là thừa

Tiếng lọc cọc khô khốc phát ra từ hai chiếc xe đạp của hai vị khách khác nhau cùng dựng trước hiên tiệm vào một buổi chiều oi nồng.

Gió từ phía mé biển thổi thốc vào lòng thị trấn Hải An không đem lại chút hơi mát nào, chỉ mang theo hơi ẩm mặn chát, nồng nặc mùi bùn bãi triều rút và những hạt bụi cát li ti bám ráp trên cánh tay trần của Bảo. Nắng quái rọi xiên qua những tán bàng còi cọc ven đường, hắt từng vệt vàng xỉn lem nhem lên nền xi măng nứt nẻ trước cửa xưởng. Vết mực đen ghi dòng chữ phạt *“Lỗi do nhận hẹn chưa kiểm tra. Giao trễ một tiếng ba mươi phút. Khách hàng khiếu nại”* trong cuốn sổ học việc hôm qua dường như vẫn còn nguyên sức nóng, như một lời cảnh cáo vô hình găm vào từng cử chỉ, từng bước chân của cậu. Cậu cầm manh giẻ lau dính đầy vệt nhớt cũ, đứng nép bên cạnh chiếc trụ xi măng loang lổ vết dầu máy, chăm chú nhìn hai chiếc xe vừa nặng nề trườn qua gờ dốc trước hiên.

Một chiếc là xe sườn đầm màu xanh rêu đã tróc sơn từng mảng lớn của bà Năm bán tạp hóa rong; chiếc còn lại là chiếc xe mi-ni sườn đơn rỉ sét của bác Tám thợ lặn ngoài Xóm Cồn. Cả hai người đều có chung một vẻ mặt mỏi mệt bơ phờ vì cái nắng gắt, và cùng cất lên một câu cằn nhằn quen thuộc khi vừa buông tay khỏi ghi-đông:

“Mai ơi, xích chùng quá rồi, đạp nó cứ khục khặc tuột miết, căng lại giùm cái sên cho tao đi chợ coi!” — Bà Năm vừa nói vừa tháo chiếc nón lá méo mó, quạt phành phạch vào lồng ngực đẫm mồ hôi.

Bác Tám thợ lặn cũng đưa ống tay áo cháo lòng quẹt ngang trán, gật đầu phụ họa: “Xe tao cũng y chang. Mày coi tháo bớt một mắt xích cho nó căng khừ ra là chạy êm ngay chứ gì. Mấy bữa nay đạp nặng trĩu chân, cứ trượt sên hoài bực cả mình.”

Bảo nhìn lướt qua hai sợi xích xe. Dưới ánh nắng chói chang, cả hai sợi sên đều trĩu xuống, võng sâu chạm gần sát mép dưới của hộp chắn sên bằng sắt tây đã móp méo. Bằng phản xạ của một kẻ vừa trải qua một trận bẽ bàng vì tự ý chẩn đoán ẩu tả ngày hôm trước, Bảo không dám vội vàng mở miệng hứa hẹn điều gì. Cậu bước tới, quỳ một chân xuống nền xi măng ram ráp cát, thận trọng dùng ngón tay cái ấn thử vào sống xích của chiếc xe sườn đầm, rồi lại nhích người sang chiếc xe mi-ni. Cả hai sợi xích đều có độ chùng gần như tương đương, mắt xích bám đầy một lớp hỗn hợp đen ngòm giữa bụi đất, cát biển và dầu luyn cũ cáu cặn. Trong đầu Bảo lập tức nảy ra quy trình sửa chữa nhanh nhất mà cậu từng thấy các tiệm vỉa hè vẫn làm: nới lỏng hai con ốc tán trục sau bằng cờ-lê mười lăm, dùng búa gõ nhẹ để kéo cùi trục lùi về phía sau nhằm tăng độ căng của xích; nếu đuôi cá đã thụt hết rãnh xẻ thì chỉ việc dùng kẹp đột chốt tán bỏ bớt một mắt sên, ráp khóa xích lại là xong. Mất chừng mười lăm phút cho mỗi chiếc. Nhanh gọn, vừa lòng khách đang vội, lại giải quyết được cái vẻ ngoài chùng chình trước mắt.

Bảo ngước lên nhìn cô Mai, khẽ nói bằng giọng cẩn trọng:

“Dạ cô Mai, con thấy hai xe đều bị chùng sên quẹt khung. Để con nới ốc tăng xích...”

Cô Mai đang ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ tràm bên góc trong, tay cầm chiếc giũa thép mài dở một chiếc chốt phanh bị kẹt bu-lông. Bà không ngẩng đầu lên, chỉ liếc mắt qua gọng kính lão trễ xuống tận chóp mũi:

“Mới ngó bằng mắt ngoài mà đã đòi vác cờ-lê ra siết à? Bài học hôm qua trôi hết ra biển rồi hả Bảo?”

Câu hỏi cất lên bằng giọng khô khốc, sắc lạnh của cô Mai như một luồng gió bấc tạt ngang qua gáy khiến sống lưng Bảo lạnh toát. Cậu rụt tay lại ngay tức khắc, đứng thẳng dậy, hai má bỗng chốc nóng ran lên vì sượng sùng. Cậu đứng im như phỗng, chiếc giẻ lau trong tay bị siết chặt đến nhăn nhúm.

Cô Mai buông chiếc giũa thép xuống khay đồ nghề bằng tôn gỉ, tiếng sắt va vào nhau lách cách khô khốc. Bà đứng dậy, phủi nhẹ lớp mạt sắt bám trên tạp dề bảo hộ bằng vải bạt dày rồi bước ra mé hiên. Bà không nhìn ngay vào hai sợi xích đang chùng võng, mà đưa mắt nhìn thẳng vào hai người khách quen thuộc của xóm biển, cất giọng trầm tĩnh, hỏi từng người một:

“Bà Năm, mấy hôm nay bà thồ cái gì sau ba-ga mà sườn xe dính đầy cát trắng vậy?”

Bà Năm ngừng tay quạt nón, ngớ ra một chút rồi chép miệng phân trần: “Thì đầu tuần tới giờ xóm trong họ cất nhà nhiều, tao nhận thồ thêm mấy bao đường cát với bột mì giao cho tiệm bánh bà Bảy, tiện đường chở luôn mấy xô cát xây dựng giùm thằng rể. Cứ trèo qua con dốc cầu sắt là nó kêu rắc rắc trượt chân đạp, gồng muốn đứt hơi mà xe cứ khựng lại.”

Cô Mai khẽ gật đầu, không nói gì thêm, lại quay sang người đàn ông có nước da ngăm đen vì muối biển: “Còn bác Tám? Mấy bữa nay con nước rông, bác có dắt xe lội qua đoạn cống Ba Nhịp không?”

Bác Tám cười khà khà, đưa bàn tay sần sùi gãi gãi bờ vai áo rách: “Tài thiệt chớ, sao con Mai cái gì cũng biết hết vậy mậy! Bữa rày triều cường dâng ngập ngang nửa giò dĩa, tao tiếc tiền đi đò ngang nên ráng gồng mình đạp lội qua. Nước mặn ngập lút tới trục giữa luôn. Mấy hôm đầu còn êm ru, từ sáng nay đạp thấy nó rít chịt, nặng chình chịch mà kêu lọc cọc như có đá sỏi lạo xạo bên trong cái giò đạp vậy đó.”

Bảo đứng chôn chân bên cạnh trụ xi măng, mở to mắt lắng nghe từng lời qua lại. Lời kể của hai người khách như những mảnh ghép rời rạc bỗng chốc ráp lại thành một bức tranh cơ khí hoàn toàn khác so với những gì mắt trần của cậu vừa ghi nhận. Cậu nhìn lại hai chiếc xe, trong đầu bắt đầu vỡ lẽ một điều mà những trang sách kinh tế, những bài giảng lý thuyết khởi nghiệp hay những bản kế hoạch bàn giấy trước đây chưa từng dạy cho cậu: một cỗ máy không vận hành trong chân không, nó mang trên mình toàn bộ dấu vết sinh kế, địa hình và thói quen của người sử dụng nó.

Cô Mai quay sang Bảo, ngoắc tay dứt khoát:

“Lại đây.”

Bảo vội vàng bước tới. Cô Mai chỉ ngón tay cái chai sần vào cụm líp sau của chiếc xe sườn đầm bà Năm:

“Nhấc bánh sau lên, dùng tay quay bàn đạp một vòng coi.”

Bảo làm theo lời bà, một tay luồn dưới yên xe nâng bổng phần đuôi lên khỏi mặt đất, tay kia nắm lấy bàn đạp nhựa quay nhẹ theo chiều kim đồng hồ. Bàn đạp vừa quay được nửa vòng, sợi xích lập tức giật khựng lại một nhịp, nhảy chồm lên rồi trượt trơ khấc trên một chiếc răng của tầng líp trước khi gượng gạo bắt vào mắt xích tiếp theo. Một tiếng *cạch* khô khốc, chói tai vang lên giữa không gian oi nồng.

“Thấy chưa?” Cô Mai chỉ ngón tay dính đầy dầu luyn đen đặc vào từng chiếc răng thép của đĩa líp sau. “Răng líp không còn hình tam giác đều để ăn khớp với con lăn của mắt sên nữa, mà đã bị mòn vạt hẳn một bên thành hình lưỡi cưa nhọn hoắt. Xe này chở hàng nặng cả tạ, lại cày bừa leo dốc cát trơn trượt, tải trọng đè lên từng mắt xích quá lớn làm giãn bước sên và mòn khuyết toàn bộ mặt làm việc của răng líp. Cậu mà đem cờ-lê ra căng xích cho thẳng, sợi xích căng đét ép chặt vào những chiếc răng líp đã vẹt nhọn thì chỉ cần bà Năm đạp mạnh một nhát lấy đà qua dốc là sên trượt khỏi răng, té dập mặt xuống đường đá dăm, hoặc đứt phựt sợi xích ngay giữa dốc cầu sắt. Ca này không phải chỉnh sên, mà phải thay cả cụm líp lẫn sên mới đồng bộ bước răng thì mới chạy an toàn được.”

Từng lời cô Mai nói như giáng thẳng vào sự tự tin non nớt của Bảo. Cậu nuốt khan một ngụm nước bọt, gật đầu lia lịa, trán lấm tấm mồ hôi hột.

Cô Mai buông bánh xe sau của bà Năm xuống, bước hai bước sang chiếc xe mi-ni của bác Tám: “Còn chiếc này, cậu cúi xuống, nắm lấy đầu giò dĩa lắc thử theo chiều ngang coi.”

Bảo quỳ gối xuống nền đất, bàn tay nắm chặt lấy thanh giò dĩa bằng thép mạ kền đã rỉ vàng của chiếc mi-ni, dùng sức lắc mạnh sang hai bên thân xe. Một độ rơ lỏng rõ rệt truyền thẳng qua các khớp ngón tay cậu, kèm theo tiếng *cục cục* lỏng lẻo phát ra từ sâu bên trong chén trục giữa, nơi lắp ổ bi nối liền hai đùi đĩa.

“Xe ngâm nước triều mặn,” cô Mai giải thích, giọng chậm rãi nhưng từng chữ ghim chắc nịch vào trí óc Bảo. “Nước biển lọt qua khe hở giữa chén cổ và cốt trục, cuốn trôi sạch lớp mỡ bò bôi trơn rồi đọng lại bên trong cái ống sườn kín mít. Muối mặn ăn mòn kim loại từng giờ từng phút, làm rỉ sét gặm nham nhở các viên bi thép và cày nát rãnh chén trục. Cái tiếng lọc cọc bác Tám nghe thấy không phải do xích chùng đập vào hộp sên, mà là bi bạc đạn đã bị mòn vẹt, nứt vỡ, chạy khô không có mỡ nên các viên thép vụn cọ xát trực tiếp vào cốt trục. Cậu có căng xích mười lần thì cái trục nó vẫn kẹt cứng, cố đạp thêm vài hôm nữa là bi bể nát vụn thành mạt sắt, nhai đứt luôn cả đường ren bên trong sườn xe, lúc đó có nước vứt luôn cái khung xe mà mua xe mới.”

Bà Năm và bác Tám đứng nghe cô Mai giảng giải mà cứ chép miệng liên hồi. Bà Năm gật gù, vuốt lại vành nón lá: “Đúng là thợ lâu năm có khác, ngó qua một cái là trúng phóc bệnh của xe. Thôi Mai coi tính giá thay đồ giùm tao, làm cho chắc ăn chứ té ngoài dốc cầu sắt thì tiền thuốc men còn quá tiền sửa xe.”

“Bác Tám để xe lại đây, chiều mát ghé lấy,” cô Mai quay sang bảo người thợ lặn già. “Con dỡ toàn bộ cụm trục giữa ra ngâm dầu hôi tẩy sạch rỉ sét, cạo sạch đất cát trong sườn rồi thay bộ bi mới, vô mỡ chịu mặn cho bác. Còn xe bà Năm thì con thay cụm líp một tầng với sợi sên thường loại dày, hết sáu mươi lăm ngàn, bà ngồi chờ mười lăm phút con làm luôn cho kịp buổi chợ chiều.”

Cô Mai thoăn thoắt lấy cảo tháo líp, cờ-lê tròng và chiếc kẹp xích chuyên dụng. Dưới bàn tay điêu luyện, dạn dày của người phụ nữ làm nghề gần ba mươi năm, từng con ốc cứng đầu đều ngoan ngoãn rời ra. Chỉ đúng mười lăm phút sau, chiếc xe sườn đầm của bà Năm đã được gắn cụm sên líp mới tinh, xích chạy êm ru không một tiếng lách cách. Bà Năm trả tiền, vui vẻ dắt xe xuống dốc để kịp phiên chợ cá buổi chiều.

Trước hiên tiệm lúc này chỉ còn lại chiếc xe mi-ni trơ trọi của bác Tám, nằm nghiêng bên chiếc giá đỡ ba chân bằng sắt chữ V.

Cô Mai kéo chiếc bàn gỗ con dùng để ghi sổ sách ra mé cửa, phủi sạch lớp bụi cát bám trên mặt gỗ nứt nẻ. Bà xé roẹt một tờ giấy trắng từ cuốn sổ tập học trò kẻ ô ly, đặt chiếc thước kẻ gỗ chèn lên rồi đẩy về phía Bảo cùng một cây bút chì cùn đã mòn gần hết phần tẩy:

“Ngồi xuống đó. Lập thử cho tôi cái bản dự toán thay thế phụ tùng cho ca xe khô trục này. Ghi rõ từng món ra, giá cả bao nhiêu, tổng cộng hết mấy tiền. Làm cho đàng hoàng, rõ ràng rồi tôi coi.”

Bảo đón lấy tờ giấy và cây bút chì, cảm thấy lồng ngực mình hơi thắt lại như thể vừa bước vào một phòng thi vấn đáp căng thẳng. Cậu ngồi xuống chiếc ghế đẩu, đặt tờ giấy ngay ngắn lên mặt bàn gỗ loang lổ những vết khoanh tròn do đáy lon dầu nhớt để lại. Với thói quen của một cựu sinh viên từng làm quen với những bảng tính chi phí, những mô hình quản trị tài chính doanh nghiệp trên giảng đường, Bảo nhanh chóng lục lọi trí nhớ để hệ thống lại các bộ phận cơ khí cần thay thế.

Cậu nhớ lại từng ngăn kéo nhỏ trong chiếc tủ sắt sơn màu xám ghi mà cô Mai đã dắt cậu đi kiểm kê và hướng dẫn chiều hôm qua: một bộ vòng bi chén trục giữa loại phổ thông dùng cho xe mini có giá nhập vào mười hai ngàn đồng, tiệm bán ra mười lăm ngàn; hai vòng rế bi giữ ổ trục có giá tám ngàn đồng một cặp; nếu phần cốt trục vát hình thoi bên trong bị cát mài xước sâu rãnh bi thì phải thay luôn cốt mới, giá nhập mười sáu ngàn, bán ra hai mươi ngàn.

Bảo nắn nót đặt bút chì viết từng dòng thật ngay ngắn, thẳng hàng theo lề kẻ:

1. Vòng bi + chén trục giữa: 15.000 đ 2. Cốt trục giữa (dự phòng thay mới): 20.000 đ 3. Rế bi 2 bên: 8.000 đ Tổng cộng phụ tùng: 43.000 đ.

Bảo cẩn thận dùng đầu bút chì dò lại từng con số, thực hiện phép cộng nhẩm hai lần để chắc chắn rằng mình không cộng nhầm một con số hàng đơn vị nào. Bốn mươi ba ngàn đồng. Một con số rõ ràng, minh bạch, bám sát giá trị vật tư của tiệm. Cậu tin chắc lần này mình đã tính toán đầy đủ đến từng chi tiết nhỏ nhất, thậm chí còn chu đáo tính thêm cả phương án dự phòng cho phần cốt trục bị hỏng hóc. Cậu đứng dậy, đưa hai tay cầm mép giấy, cung kính chìa ra trước mặt cô Mai:

“Dạ thưa cô, con tính xong rồi ạ.”

Cô Mai đón lấy tờ giấy dự toán, đưa mắt quét một lượt từ dòng đầu tiên xuống hàng chữ tổng kết cuối cùng. Đôi chân mày rậm đã điểm nhiều sợi bạc của bà hơi nhíu lại, khóe miệng khẽ nhếch lên một nụ cười quen thuộc — nụ cười khô khốc, sắc lẹm thường xuất hiện mỗi khi bà bắt gặp sự ngây ngô của một tay học việc chưa nếm mùi thực tế. Bà đặt tờ giấy trở lại mặt bàn gỗ, giơ ngón tay trỏ đen nhẻm gõ *cộc cộc* xuống hàng chữ “Tổng cộng: 43.000 đ”.

“Cậu tính giá sửa xe cho khách hay tính giá bán đồ tạp hóa ngoài chợ vậy hả Bảo?”

Bảo chớp mắt mấy cái, hoàn toàn ngơ ngác trước phản ứng của bà: “Dạ... con tính đủ cả bộ chén trục, rế bi với cả cốt trục rồi mà cô? Con sợ tháo ra cốt trục bị xước nên tính luôn phần dự phòng hai mươi ngàn rồi đó ạ...”

“Vậy cậu tính lấy cái gì để tẩy sạch lớp rỉ sét với đất cát đóng cứng ngắc trong cái ống sườn xe?” Cô Mai hỏi dồn, giọng đanh lại. “Nước giếng khoan chắc? Hay dầu hôi tẩy rỉ của tiệm mình tự trên trời rơi xuống đất cho cậu múc xài? Rồi mỡ bò bôi trơn bạc đạn để chống nước mặn cho bác Tám chạy mấy tháng mùa mưa tới là loại mỡ kháng nước chịu nhiệt, cậu định bốc không khí nhét vô chén trục hả?”

Bảo sững người. Bàn tay đang buông thõng bên hông khẽ giật một cái. Cậu hoàn toàn quên khuấy đi những thứ vật tư phụ trợ tiêu hao ấy. Đối với một người chỉ quen nhìn vào sản phẩm hoàn thiện, mỡ bò, dầu hôi hay nhát giẻ lau dường như là những thứ vô hình, mặc định phải có sẵn ở đó.

“Dạ... mỡ bò với dầu hôi... chắc tốn... vài ngàn...” Bảo ấp úng, giọng nhỏ dần như hụt hơi.

“Vài ngàn không phải là tiền mồ hôi nước mắt hả?” Ánh mắt cô Mai nghiêm nghị nhìn thẳng vào mắt Bảo, không hề to tiếng nhưng từng lời gằn xuống nặng trịch. “Một ca xe cậu bỏ quên ba ngàn tiền dầu hôi với mỡ bò bôi trơn, một tháng ba mươi chiếc xe dắt qua cái ngạch cửa này là cậu vứt qua cửa sổ gần cả trăm ngàn bạc. Tiệm này lấy tiền đâu bù vô tiền mua phuy mỡ bò kháng mặn ngoài đại lý trên thị trấn? Cậu bỏ tiền túi ra đền hả?”

Bà thở dài một hơi, ngón tay dời từ dòng phụ tùng xuống khoảng giấy trắng tinh bên dưới cùng của tờ giấy:

“Còn công thợ đâu? Cậu tháo cái giò dĩa rỉ sét dính chặt vô cốt xe đạp ngâm nước mặn mất nửa tiếng đồng hồ toát mồ hôi hột. Cậu phải cạo từng lớp vảy rỉ sắt, dùng giẻ luồn qua ống sườn lau sạch từng hạt cát li ti, kiểm tra lại đường ren sườn xe coi có bị tuôn ren hay nứt mối hàn không. Cậu phải rửa sạch từng viên bi, ngồi cặm cụi canh chỉnh từng vòng ren bát phốt cho nó vừa khít, không được quá lỏng làm rơ trục mà cũng không được quá chặt làm bó kẹt bi. Rồi ráp xong cái trục, cậu còn phải quay thử bánh xe, nắn lại chiếc nan hoa bị cong, bóp thử tay thắng kiểm tra an toàn toàn diện cho người ta trước khi giao cái xe ra đường. Toàn bộ mồ hôi, sức lực với trách nhiệm bảo đảm cái mạng sống của người ta chạy ngoài lộ, cậu tính bằng con số không hả Bảo?”

Bảo cúi gằm mặt xuống. Hai tai cậu ù đi vì xấu hổ. Từng lời của cô Mai như những nhát búa giáng thẳng vào cái tư duy kinh tế nửa mùa, hời hợt mà bấy lâu nay cậu vẫn ngầm tự hào. Cậu nhận ra mình vẫn còn mang nặng cái thói nhìn đời của một kẻ đứng ngoài cuộc, một gã làm việc trên giấy tờ chỉ nhìn thấy những khối kim loại hữu hình sờ nắm được, mà coi rẻ mạt mồ hôi, thời gian và sự tích lũy kinh nghiệm của người lao động chân tay. Cậu định giá một ca sửa xe bằng giá của đống sắt vụn bán ngoài tiệm phế liệu, chứ không hề định giá nó bằng kỹ năng và sự an toàn.

“Tiền công kiểm tra toàn diện, tháo rửa rỉ sét và canh chỉnh trục giữa cho ca này là mười lăm ngàn,” cô Mai cầm lấy cây bút chì cùn, gạch một đường dứt khoát xóa đi con số bốn mươi ba ngàn của Bảo. Dưới nét gạch thô ráp, bà thoăn thoắt viết thêm vào hai dòng chữ rõ ràng:

*Dầu mỡ bảo dưỡng & tẩy rỉ: 5.000 đ.* *Công thợ phục hồi & kiểm tra an toàn: 15.000 đ.* *Tổng cộng: 63.000 đ.*

Bà đưa lại tờ giấy kẻ ô ly cho Bảo, ánh mắt dịu bớt đôi phần nhưng nét mặt vẫn giữ nguyên sự nghiêm cẩn:

“Nhớ cho kỹ vào đầu. Lao động chân tay không phải là thứ làm thí công, làm bố thí cho thiên hạ. Mình lấy đúng giá trị công sức mình bỏ ra để bảo đảm cái xe người ta chạy êm ái, an toàn, không bớt xén một giọt mỡ bò, không làm ẩu một đường ren kỹ thuật, nhưng cũng tuyệt đối không được phép tự làm nghèo mình vì cái thói tính toán cẩu thả, bạ đâu tính đó. Ghi lại cho ngay ngắn vô sổ học việc đi.”

Bảo đón lấy tờ giấy bằng cả hai tay, lòng tràn ngập cảm giác phục thiện: “Dạ, con nhớ rồi thưa cô.”

Đúng lúc Bảo đang lúi húi mở cuốn sổ tay bìa xanh kẻ ngang để chép lại bản dự toán chuẩn xác thì một tiếng rít quen thuộc vang lên ngoài đường lộ. Tiếng thắng đóm cao su mòn vẹt miết chặt vào vành nhôm kêu lên một tràng *ken két* chói tai ngay trước bậc tam cấp của tiệm.

Một chiếc xe đạp cào cào khung sườn màu bạc sáng bóng dừng lại gọn gàng. Người ngồi trên chiếc xe ấy mặc một chiếc áo sơ mi kẻ ca-rô xanh trắng phẳng phiu, tay áo xắn cao đến khuỷu, chiếc túi vải canvas màu ngà đeo chéo ngang hông. Mái tóc đen nhánh buộc cao kiểu đuôi ngựa khẽ đung đưa nhịp nhàng dưới vành chiếc nón vải rộng che mát cả khuôn mặt thanh tú.

“Cô Mai ơi! Cháu đem xấp biên lai sửa xe in đợt này qua giao cho tiệm nè cô!”

Tiếng nói trong trẻo, lanh lảnh vang lên như một chuỗi chuông gió xua tan đi cái ngột ngạt, bức bối của một buổi chiều đầy bụi bặm và mùi dầu máy. Bảo giật mình ngẩng phắt dậy khỏi bàn gỗ.

Đặng Thảo Vy.

Chính là Vy, cô bạn học cùng lớp chuyên văn thời cấp ba trường huyện, người từng ngồi chếch phía trên cậu hai bàn, người mà suốt mấy năm đại học Bảo chỉ thỉnh thoảng nhìn thấy qua những bức ảnh cập nhật cuộc sống thường nhật trên mạng xã hội. Vy đã tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật ứng dụng dưới tỉnh, trở về thị trấn làm nhân viên thiết kế đồ họa kiêm chân giao nhận tài liệu cho xưởng in tư nhân lớn nhất Hải An, nằm ngay ngã tư đường huyện lộ.

Vy gạt chiếc chân chống inox sáng loáng, hai tay ôm xấp tài liệu bọc giấy xi măng bước thoăn thoắt qua bậc thềm. Nhưng nụ cười rạng rỡ thường trực trên khóe môi cô bỗng thoáng khựng lại một nhịp khi ánh mắt cô vô tình chạm phải Bảo đang đứng lúng túng bên chiếc bàn gỗ bừa bãi cờ-lê, kìm búa.

Bảo chết trân tại chỗ. Toàn thân cậu như bị đông cứng bởi một dòng điện chạy dọc sống lưng. Theo một phản xạ tự ti và mặc cảm trỗi dậy dữ dội, Bảo vội vàng giấu biến đôi bàn tay đen nhẻm, cáu bẩn đầy dầu luyn, mỡ bò và rỉ sắt ra sau lưng quần lao động đã sờn rách hai bên đầu gối. Cậu cảm thấy mặt mình nóng ran lên, da thịt bỏng rát như vừa bị hắt cả một gáo nước sôi. Ký ức về những buổi họp lớp cũ, những lần gặp gỡ hiếm hoi trên thành phố khi cậu còn khoác chiếc áo sơ mi trắng thẳng thớm, xịt nước hoa thơm nức, hào hứng ba hoa về những bản đồ án khởi nghiệp, những thuật ngữ kinh doanh hoa mỹ bỗng ùa về bóp nghẹt lồng ngực cậu. Giờ đây, cậu đang đứng trước mặt người bạn học cũ trong hình hài một gã học việc nhem nhuốc, lôi thôi lếch thếch, quanh quẩn bên những mẩu sắt vụn và bùn đất bẩn thỉu.

“Ủa... Bảo phải không?” Vy chớp mắt ngạc nhiên, rồi đôi mắt lá liễu của cô cong cong lại thành một nụ cười rạng rỡ, tự nhiên đến thuần khiết, không hề vương một chút ái ngại, tò mò hay trịch thượng nào. “Bảo về Hải An hồi nào vậy? Mấy bữa trước họp lớp nghe tụi cái Trâm bảo cậu đi làm việc cho công ty lớn trên phố mà?”

“À... ừ... mình... mình mới về được mấy bữa thôi,” Bảo ấp úng, từng từ từng chữ nghẽn lại nơi cuống họng. Cậu cố gắng ưỡn thẳng lưng lên để giữ lấy chút thể diện mong manh, nhưng hai bàn tay sau lưng vẫn siết chặt vào mép túi quần đầy dầu mỡ, móng tay bấm sâu vào da thịt. “Mình... mình phụ cô Mai một thời gian, học thêm chút việc chân tay.”

Cô Mai từ phía trong gian bếp bước ra, nhìn thấy Vy thì gương mặt góc cạnh thường ngày bỗng giãn ra nét đon đả hiếm thấy: “Giao biên lai hả Vy? Đưa đây cô coi thử coi lần này xưởng in có ngay hàng thẳng lối không.”

Vy lễ phép bước tới, dùng cả hai tay trao xấp giấy in được bọc cẩn thận cho cô Mai: “Dạ, chú xưởng trưởng canh lại khuôn in offset kỹ lắm rồi cô. Chữ in đậm, rãnh xé răng cưa ngọt xáng luôn, xé một cái là đứt rời ba liên liền chứ không bị rách bậy bạ như đợt trước đâu ạ. Bìa ngoài con có dặn thợ cán thêm một màng nilon mỏng chống ẩm biển như cô dặn lần trước đó cô.”

Cô Mai lật mở mép giấy xi măng, rút ra một cuốn phiếu tiếp nhận xe đạp ba liên còn thơm nức mùi mực in mới, lật giở từng trang rồi hài lòng gật đầu: “Được rồi, in sắc sảo vậy là tốt. Để đó cô vào nhà lấy tiền gửi cháu.”

Khi cô Mai quay người bước vào gian trong mở tủ tiền, khoảng sân tiệm bỗng chìm vào một sự im lặng ngượng ngùng. Gió biển thổi qua làm bay bay những lọn tóc mai vương bên má Vy. Cô thong thả đảo mắt nhìn quanh một lượt xưởng sửa xe nhỏ hẹp, rồi ánh nhìn của cô dừng lại ở góc kệ phụ tùng bằng sắt, nơi có những chiếc hộp nhựa đựng bu-lông, đai ốc, long đền được dán nhãn phân loại ngay ngắn bằng những mảnh giấy trắng mà Bảo đã cặm cụi kẻ vẽ, dán keo suốt buổi chiều hôm qua.

“Cậu dán mấy cái nhãn phân loại này hả Bảo?” Vy chỉ tay về phía chiếc kệ, giọng đầy vẻ thích thú. “Chữ in hoa của cậu hồi cấp ba viết bích báo đẹp có tiếng mà, nhìn nét chữ vuông vức là mình nhận ra liền luôn á.”

Bảo ngượng ngùng đưa khuỷu tay lên gãi gãi mái tóc bù xù: “Ừ... cô Mai bảo mình vẽ chuyện, chê rườm rà đó chứ.”

“Rườm rà gì đâu, nhìn ngăn nắp vầy lúc cần tìm ốc vít vèo cái là thấy liền, đỡ mất công bới tung cái xưởng lên chứ bộ,” Vy bật cười khúc khích. Rồi ánh mắt cô rơi xuống tư thế gượng gạo của Bảo. “Ủa mà hai cái tay cậu sao cứ giấu miệt sau lưng vậy? Sợ dính dầu qua chiếc áo trắng của mình hả?”

Bị nói trúng tim đen, Bảo đỏ bừng mặt, đành phải rụt rè đưa hai bàn tay ra phía trước. Những vệt dầu luyn đen quánh bám chặt vào từng kẽ móng tay, lòng bàn tay hằn lên những vết xước rướm máu đã khô mài do nan hoa xe đạp đâm phải hôm qua, da thịt thô ráp và cáu bẩn. Cậu nở một nụ cười trừ méo mó: “Tại dơ quá... nhìn gớm ghiếc ghê.”

“Trời đất, làm nghề sửa xe, cơ khí mà tay chân không dính dầu mỡ thì dính cái gì cha nội?” Vy bĩu môi nhẹ một cái, ánh mắt cô trong veo và ấm áp, không hề có lấy một tia thương hại hay coi thường. “Cậu quên hồi xưa ba mình làm thợ sửa máy nổ ngoài cảng cá hả? Chiều nào đi làm về tay ổng cũng đen thui thùi lùi như cột nhà cháy, lấy xà bông thơm Mỹ Hảo kỳ cọ tới tróc da cũng không ra nổi, toàn phải xúc một nắm xà phòng bột trộn với mùn cưa mịn rồi chà xát thật mạnh mới sạch được một nửa đó. Bàn tay lao động làm ra tiền chứ có phải đi ăn cắp ăn trộm đâu mà phải giấu?”

Sự thấu hiểu mộc mạc và thái độ bình thản, tự nhiên của Vy như một luồng gió mát lành thổi bùng qua lồng ngực Bảo, cuốn phăng đi quá nửa nỗi mặc cảm tự ti đang đè nặng tâm trí cậu. Cậu khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, hai bờ vai đang gồng cứng dần buông lỏng xuống.

Nhìn xấp biên lai in ấn sắc sảo, mép cắt phẳng lì trên tay cô Mai vừa đặt trên bàn, một ý nghĩ bỗng lóe lên trong đầu Bảo. Cậu nhớ đến tấm bảng thông báo giá sửa chữa treo xiêu vẹo bên ngoài hàng rào dâm bụt của tiệm. Đó là một tấm bìa các-tông cũ kỹ lấy từ vỏ thùng mì tôm, đã bị mưa nắng miền biển làm cho ố vàng, mục mủn, bốn góc quăn queo, những dòng chữ viết tay bằng mực tím của cô Mai từ nhiều năm trước nay đã phai mờ gần như không còn đọc được chữ nào rõ ràng. Khách lạ ghé qua lắm khi phải hỏi đi hỏi lại từng giá dịch vụ rất mất thời gian.

Nhân lúc cô Mai vẫn còn đang cặm cụi đếm từng cọc tiền lẻ trong buồng, Bảo bước lại gần Vy hơn một bước, hạ thấp giọng nói nhỏ:

“Vy nè... bên xưởng in của cậu... có nhận làm mấy cái bảng thông báo giá nho nhỏ ép plastic không?”

“Có chứ, xưởng mình nhận in bạt quảng cáo, in decal với ép plastic các loại bảng hiệu quán ăn, tiệm cắt tóc, tạp hóa ngoài chợ hoài mà,” Vy đáp, tay chỉnh lại chiếc quai túi canvas bên hông.

Bảo ngập ngừng, đưa ngón tay trỏ dính dầu gãi gãi gò má: “Ý mình là... tiệm của cô Mai có cái bảng giá cũ rách nát hết rồi. Cậu... cậu coi có tiện lúc xưởng in người ta cắt giấy thừa hay lúc máy ép plastic đang chạy mẻ lớn, làm giúp tiệm một cái bảng thông báo giá khổ A4 ép màng nhựa bóng miễn phí được không? Kiểu như... tận dụng mấy mảnh đề-can với màng nhựa dư giùm mình một xíu, khỏi tính tiền được hông Vy?”

Nụ cười trên môi Vy bỗng nhiên thu lại hoàn toàn. Nét tươi tắn biến mất, thay vào đó là một ánh nhìn thẳng thắn, nghiêm túc và rạch ròi đến mức khiến Bảo giật mình. Cô nhìn thẳng vào mắt cậu, không còn chút bông đùa nào của một người bạn học cũ.

“Không được đâu Bảo,” Vy lắc đầu dứt khoát.

Bảo thoáng sững sờ. Một cảm giác hụt hẫng và ê chề lập tức tràn ngập khoang ngực, khiến mặt cậu lại nóng bừng lên. Cậu vội vàng xua xua tay, cười trừ chữa thẹn: “À... mình nói giỡn vậy thôi, nếu phiền phức thì thôi, không có gì đâu...”

“Không phải mình tiếc công thiết kế giúp cậu đâu,” Vy ngắt lời, giọng nói mềm mại nhưng từng câu từng chữ đều dứt khoát, vạch ra một ranh giới vô cùng minh bạch. “Nếu cậu cần thiết kế mẫu chữ, canh lề, tạo khung viền cho đẹp mắt, tối nay về nhà mình rảnh mình mở máy tính ngồi vẽ giùm cậu nửa tiếng là xong ngay, mình không lấy của cậu một xu tiền công nào hết. Nhưng giấy in decal, màng nhựa ép nhiệt với mực in là tài sản của xưởng in. Chú xưởng trưởng kiểm kê nguyên liệu phôi theo từng mét vuông giấy, máy ép đếm lượt con lăn chạy qua theo đồng hồ điện tử. Mình là nhân viên làm công ăn lương ở đó, mình không thể tự tiện lấy đồ của chủ để đem đi làm quà riêng, làm phước cho bạn bè của mình được. Cái gì ra cái đó, công việc là công việc, tài sản của cơ quan là của cơ quan, tình bạn bè là chuyện tình cảm riêng tư chứ cậu.”

Từng lời Vy nói rơi xuống như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Bảo, dập tắt ngấm cái thói quen xuê xoa, tùy tiện, cái thói “nhờ vả tình cảm” vốn dĩ đã ăn sâu vào nếp nghĩ của cậu từ những ngày còn đi học. Cậu đứng chết lặng giữa khoảng sân. Chỉ trong vòng chưa đầy một buổi chiều, cậu liên tiếp nhận được hai bài học đắt giá: một bài học từ cô Mai về sự nghiêm ngặt, sòng phẳng trong việc định giá chi phí lao động cơ khí, và một bài học từ Vy về đạo đức nghề nghiệp, về sự liêm chính tối thiểu của một người đi làm thuê. Cậu bỗng thấy xấu hổ đến tận cùng vì đã đem cái tình bạn học trò ra để mặc cả, để xúi giục người khác vi phạm nguyên tắc làm việc của họ.

“Mình xin lỗi Vy,” Bảo cúi đầu, chân thành cất tiếng, giọng chùng hẳn xuống. “Tại mình suy nghĩ nông cạn quá, cứ tưởng đồ vụn vặt thì không sao.”

Nhìn thấy vẻ mặt lúng túng và sự hối lỗi thực sự của Bảo, nét nghiêm nghị trên gương mặt Vy nhanh chóng tan biến. Đôi mắt cô lại cong lên thành một nụ cười ấm áp:

“Biết nhận ra chỗ sai là tốt rồi nè! Nếu tiệm cô Mai muốn làm một cái bảng giá đàng hoàng, cậu cứ xin cô Mai duyệt nội dung đi, mình sẽ báo chú xưởng trưởng tính giá hữu nghị nhất theo biểu phí khách quen cho tiệm. Còn bây giờ... chiều nay mấy giờ cậu tan làm?”

“Năm rưỡi,” Bảo ngước lên đáp.

“Năm rưỡi đúng hông? Tan làm nhớ ghé qua quán nước mía vỉa hè chỗ bờ kè ngã ba cầu sắt nha. Mình bao cậu một ly nước mía sầu riêng, coi như chúc mừng cậu quay về Hải An chịu khó lao động chân chính bằng chính đôi tay của mình!”

Bảo nhìn nụ cười trong trẻo, không một chút gợn của Vy dưới ánh nắng chiều đã bớt phần gay gắt, một cảm giác ấm áp lạ lùng len lỏi vào trái tim đang trĩu nặng của cậu. Cậu gật đầu thật mạnh: “Được, năm rưỡi mình ghé.”

Cô Mai từ trong nhà bước ra, trao cọc tiền lẻ phẳng phiu cho Vy cùng vài lời cảm ơn ngắn gọn. Vy nhận tiền, cẩn thận bỏ vào chiếc ví nhỏ trong túi canvas, vẫy tay chào tạm biệt hai cô cháu rồi thoăn thoắt dắt xe đạp ra lộ. Bóng chiếc áo sơ mi ca-rô xanh trắng cùng mái tóc đuôi ngựa đung đưa của cô nhanh chóng hòa vào dòng người tất bật ngược xuôi trên con đường nhựa dẫn ra chợ huyện.

Phần còn lại của buổi chiều trôi qua trong tiếng cạo rỉ sét rin rít, tiếng cờ-lê tròng siết ốc và mùi dầu hôi nồng nặc bốc lên từ chiếc chậu tôn hứng mỡ cũ. Đúng năm giờ rưỡi, sau khi dọn dẹp gọn gàng toàn bộ đồ nghề vào tủ sắt và quét sạch lớp mạt sắt dưới sàn, Bảo rửa tay bằng xà phòng bột rồi vội vã đạp chiếc xe cà tàng ra điểm hẹn.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi bên ly nước mía bờ kè diễn ra êm ả và dễ chịu hơn rất nhiều so với những gì Bảo từng lo sợ. Quán nước mía vỉa hè nằm nép mình bên con lộ rải đá dăm, ngay sát bờ kè đá chắn sóng ở ngã ba cầu sắt. Gió từ cửa biển thổi vào lồng lộng, mang theo vị mặn chát của biển khơi và tiếng sóng vỗ ì oạp vào những khối bê tông chắn sóng phủ đầy rêu xanh. Vy không hề hỏi han tò mò xem vì sao Bảo lại bỏ ngang chương trình học hay công việc gì đó trên thành phố, không truy vấn những vấp ngã của cậu, và tuyệt nhiên không đem cậu ra so sánh với bất kỳ ai trong nhóm bạn cùng khóa.

Ngồi trên chiếc ghế nhựa màu đỏ, tay cầm ly nước mía mát lạnh thoang thoảng hương sầu riêng ngọt lịm, Vy hồn nhiên kể cho Bảo nghe về những ngày đầu tiên cô bước chân vào xưởng in: những đêm thức trắng chỉnh từng thông số hệ màu CMYK cho khách, những lần lơ đễnh để máy in offset bị lệch trục khiến hàng ngàn tờ rơi bị nhòe nét, và những trận mắng té tát như tát nước vào mặt của ông chủ xưởng in khó tính.

“Hồi đó mình ức phát khóc luôn á Bảo,” Vy vừa hút một ngụm nước mía vừa cười, mắt nhìn ra mặt nước cửa sông đang lấp lánh ánh hoàng hôn đỏ ối. “Nhưng mà bị mắng riết rồi mới khôn ra. Chú xưởng trưởng nói đúng: một nét dao cắt phạm một mi-li-mét là vứt đi cả ram giấy đắt tiền, khách người ta đền cho sạt nghiệp. Làm nghề gì cũng vậy, từ vẽ vời cho tới sửa cái xe, đã đụng tới tiền bạc của thiên hạ thì không có chỗ cho sự ẩu tả hay du di tình cảm.”

Bảo ngồi lắng nghe từng lời của cô bạn, thỉnh thoảng khẽ gật đầu. Ly nước mía ngọt mát chảy qua cổ họng dường như làm dịu bớt những nhọc nhằn, cay đắng tích tụ suốt mấy ngày qua. Hai đứa ngồi nhìn ánh hoàng hôn tắt dần sau những rặng dừa nước bạt ngàn phía bên kia cồn cát, uống cạn ly nước mía rồi chia tay nhau khi trời bắt đầu nhá nhem tối, ai nấy đạp xe về lại mái nhà của mình.

Đêm hôm đó, căn nhà cấp bốn cũ kỹ nằm sâu trong con hẻm đất ở Xóm Cồn chìm vào một sự tĩnh lặng đặc quánh. Tiếng ve sầu mùa hè rả rích kêu râm ran trên những tán cây trứng cá cằn cỗi ngoài đầu ngõ. Gió biển đêm mang theo hơi ẩm nồm xộc vào qua khung cửa sổ chấn song gỗ, làm ngọn đèn dầu trên bàn thờ tổ tiên leo lét những vệt sáng run rẩy.

Bảo ngồi một mình bên chiếc bàn gỗ ọp ẹp trong góc buồng chật chội. Ngọn đèn bàn bảo vệ mắt tỏa ra một vùng ánh sáng vàng vọt, tù mù, soi rọi lên chiếc laptop nhãn hiệu cũ kỹ đã tróc sơn trắng bệch ở bốn góc viền — món tài sản giá trị nhất, cũng là kỷ vật duy nhất còn sót lại từ những năm tháng sinh viên mà cha cậu đã phải chắt bóp từng đồng tiền công vác cá thối móng chân ngoài bến tàu để gom đủ mua cho cậu vào cái ngày nhập học bốn năm về trước.

Bảo bấm ngón tay vào nút nguồn. Chiếc quạt tản nhiệt bên trong thân máy rít lên một tràng rè rè nặng nhọc trước khi màn hình bật sáng, tỏa ra một thứ ánh sáng xanh lè, lạnh lẽo bao trùm lấy khuôn mặt hốc hác của cậu.

Cậu rê chuột, nhấp đúp vào một tập tin Excel nằm ngay ngắn ở góc màn hình, có tiêu đề được đặt cẩn thận: *Theo dõi mục tiêu 2024.xlsx*.

Bảng tính hiện ra với những cột số liệu chi tiết, thẳng tắp mà Bảo đã âm thầm ghi chép, cập nhật suốt mấy tháng qua từ những mẩu tin nhắn, những dòng trạng thái khoe trên mạng xã hội của bạn bè cùng lớp đại học. Cột đầu tiên ghi tên những người bạn cùng khóa ngành Quản trị Kinh doanh trên thành phố: thằng Tuấn làm chuyên viên logistics cho một tập đoàn xuất nhập khẩu thủy sản, lương khởi điểm tám triệu rưỡi một tháng; cái Lan làm trợ lý marketing cho chuỗi bán lẻ điện máy, lương cứng mười triệu kèm hoa hồng; thằng Huy thi đỗ vào chương trình quản trị viên tập sự của một ngân hàng thương mại cổ phần lớn, mức lương khởi điểm mười hai triệu chưa tính tiền thưởng theo quý. Cạnh mỗi cái tên là những dòng ghi chú về các mục tiêu ngắn hạn: mua xe tay ga đời mới, trả góp căn hộ chung cư mini ngoại thành, đi du lịch nghỉ dưỡng nước ngoài...

Ánh mắt Bảo trượt dần từ trên xuống dưới, lướt qua những con số hàng triệu đầy kiêu hãnh, rồi dừng lại ở dòng cuối cùng nằm chơ vơ dưới đáy bảng tính:

*Trần Gia Bảo — Học việc cơ khí xe đạp tiệm cô Mai — Thu nhập: 1.200.000 đ/tháng (nhận vào cuối tháng).*

Con số một triệu hai trăm ngàn đồng nằm trơ trọi, còm cõi và thảm hại đến mức nhức nhối mắt nhìn. Nó chỉ bằng một góc tiền ăn trưa của bạn bè trên phố. Và ngay phía dưới con số ấy, Bảo đã tự tay bôi một dòng chữ in đậm bằng màu mực đỏ tươi:

*Nợ cha: 400.000 đ (hạn trả: cuối tháng làm việc thứ nhất).*

Bảo ngả lưng ra sau chiếc ghế tựa bằng gỗ tràm, tựa trán vào bờ tường gạch thô ráp chưa trát vữa của căn buồng. Lồng ngực cậu thắt lại trong một cơn nghẹn ngào khó tả. Một cảm giác bơ vơ, bất lực và tự ti lại âm ỉ cuộn lên từ tận đáy lòng, bóp nghẹt lấy từng nhịp thở của cậu. Cậu nhớ lại những ánh mắt tự tin, những nụ cười rạng rỡ của bạn bè trong bộ áo cử nhân ngày lễ tốt nghiệp mà cậu chỉ dám lén lút nhìn trộm qua màn hình điện thoại từ xa. Rồi cậu cúi xuống nhìn lại đôi bàn tay của chính mình đặt trên bàn phím: những ngón tay thô ráp, sần sùi, những vết xước rướm máu do căm xe đâm phải, và những kẽ móng tay cáu bẩn một màu đen kịt của dầu luyn mà xà phòng bột ban chiều vẫn chưa thể tẩy sạch hoàn toàn.

Khoảng cách giữa cậu và những người bạn cùng trang lứa giờ đây không chỉ đơn thuần là hàng trăm cây số đường xe khách từ thị trấn nghèo lên thành phố hoa lệ, mà nó là cả một vực thẳm mênh mông của sự nghiệp, của tiền tài và vị thế xã hội. Liệu chuỗi ngày học việc kéo dài chín tháng ròng rã bên những cọng sên rỉ sét, những chén trục vỡ nát ở tiệm của cô Mai có thể giúp cậu thực sự đứng vững trên đôi chân của mình, hay cậu sẽ mãi mãi chỉ là một kẻ thất bại thảm hại, một gã cử nhân nửa mùa tụt hậu, một gánh nặng còng lưng đè lên đôi vai già nua của gia đình?

Tiếng bước chân lẹt xẹt quen thuộc của đôi dép tổ ong cũ mòn đế vang lên ngoài nền gạch hiên nhà kéo Bảo giật phắt mình quay trở lại với thực tại trần trụi.

Cánh cửa gỗ mỏng manh khép hờ bị đẩy ra kêu lên một tiếng *cọt kẹt* khô khốc. Ông Lâm bước vào buồng.

Cha cậu vẫn mặc chiếc áo thun ba lỗ màu cháo lòng đã ố vàng bên nách, chiếc quần đùi bộ đội bạc phếch lấm tấm những vệt vảy cá khô ráp. Bờ vai gầy guộc của ông nhô lên những thớ cơ săn chắc, chai sạn của một đời phu phen bốc vác hàng ngàn tấn cá ngừ, cá nục ngoài bến tàu dưới nắng thiêu muối đốt. Mùi tanh nồng của cá biển, mùi muối hầm mằn mặn và mùi khói thuốc lá rê quen thuộc phả vào không gian chật hẹp, ngột ngạt của căn buồng nhỏ. Trên bàn tay gân guốc, đen đúa vì nắng gió của ông cầm một mảnh giấy màu vàng nhạt đã bị gấp mép nhàu nát.

“Chưa ngủ hả con?” Ông Lâm cất giọng khàn đặc, đôi mắt đùng đục vì thức đêm nhìn lướt qua chiếc máy tính xách tay đang phát ra thứ ánh sáng xanh lạnh lẽo trên bàn.

Bảo luống cuống như một kẻ vừa bị bắt quả tang đang làm điều gì mờ ám, đôi bàn tay đen nhẻm vội vã đè mạnh lên nắp chiếc laptop, gập phập màn hình máy tính lại thật nhanh. Tiếng khớp nhựa va vào nhau kêu một tiếng khô khốc giữa đêm vắng.

“Dạ... con... con mở ra coi lại mấy cái tài liệu cũ một chút thôi ba,” Bảo ấp úng, hai bàn tay luống cuống đặt đè lên lưng máy, tim đập thình thịch từng hồi sau lồng ngực.

Ông Lâm dường như không để tâm đến hành động vội vã giấu giếm ấy của con trai. Ông bước chầm chậm lại gần mép bàn, đặt tờ hóa đơn màu vàng nhạt xuống mặt gỗ ngay trước tầm mắt của Bảo:

“Tiền điện với tiền nước sinh hoạt tháng này gom lại hết ba trăm hai mươi ngàn. Mấy tháng trước mày còn ở trên thành phố, tao ở nhà một mình xài dè xẻn hết chừng trăm rưỡi là cùng. Tháng này có mày về, cái máy bơm nước chạy nhiều với cái quạt máy trong buồng mở suốt buổi trưa.”

Ông Lâm ngừng lại một nhịp, đôi mắt sâu hoắm đầy những vết chân chim nhìn thẳng vào gương mặt đang tái nhợt đi của Bảo dưới ánh đèn bàn:

“Cái bốn trăm ngàn tao cho mày mượn dằn túi bữa hổm, mày xài tiền ăn sáng với đổ xăng xe hết mấy rồi? Tháng tới tiệm sửa xe bên đó có trả cho mày đồng nào để phụ vô mấy khoản chi tiêu này không, hay tao phải gánh luôn?”

Màn hình laptop khép lại trước câu hỏi của cha, để lại con số chi tiêu tháng tới đang đè nặng lên vai Bảo.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories