Tiệm Sửa Những Điều Chưa MuộnCh.1 / 24
Chapter 1

Người về trước giờ cơm

Chuyến xe khách liên tỉnh tuyến đường dài thả Bảo xuống ngã ba thị trấn Hải An vào một buổi trưa cuối mùa khô, khi mặt trời đứng bóng đang trút cái nóng như nung qua lớp kính chắn gió bám đầy xác phù du khô khốc. Cánh cửa xe bằng nhôm ọp ẹp rít lên một tràng ken két rồi mở toang, phả ra luồng không khí hầm hập nồng nặc mùi mồ hôi ứ đọng, mùi dầu máy khét lẹt và mùi nôn mửa lâu ngày ám vào lớp nệm mút rách tươm. Bảo lảo đảo bước xuống bậc thềm gỉ sét, hai bàn chân vừa chạm mặt đường nhựa liền có cảm giác như đặt lên một chiếc chảo gang đang bắc trên than hồng. Gió từ phía vụng biển thổi thốc vào đất liền, không mang theo chút mát mẻ nào của nước mà chỉ cuộn theo vị mặn chát, nồng nặc mùi cá ươn thối rữa và từng vốc bụi cát li ti quất rát rạt vào hai bên gò má.

Tiếng còi hơi chát chúa của một chiếc xe tải chở cá đông lạnh dội đập vào vách núi đá vôi xám xịt phía xa xa, tạo nên những hồi âm đục ngầu, va đập liên hồi rồi chìm nghỉm vào tiếng xào xạc khô khát của rặng phi lao còi cọc mọc dọc bờ mương thoát nước. Bảo đứng chôn chân bên mép đường, mắt nheo lại dưới ánh quang chói gắt đến lóa trắng cả tầm nhìn. Cậu đứng im lìm như một thân cây khô, đợi chiếc xe đò già nua phun phụt một luồng khói đen kịt, hôi hám vào không gian rồi nặng nề chuyển bánh, gầm rú bò tiếp về phía nam. Khi bức màn bụi cát và khói dầu bắt đầu tản mác ra hai bên vệ cỏ dại cháy sém, cậu mới chậm rãi đưa bàn tay gầy gò, run rẩy vì say xe lên kéo lại quai chiếc ba lô du lịch bằng vải dù to sụ đang trĩu nặng trên vai phải. Vai áo phông của cậu đã ướt đẫm mồ hôi tự bao giờ, lớp vải mỏng dính chặt vào da thịt, lạnh ngắt mỗi khi có một đợt gió chướng quất qua. Bảo nuốt một ngụm nước bọt khô khốc, nghe rõ tiếng lục cục phát ra từ cổ họng mình, rồi nén một tiếng thở dài thườn thượt.

Thị trấn Hải An vẫn y nguyên như ngày cậu rời đi ba năm trước, chẳng có lấy một nét đổi thay nào đáng kể. Vẫn là cái mùi cá cơm hấp chín từ các lò hấp ven bãi bốc lên ngai ngái, mùi nước mắm nhỉ phơi trong những chum sành da lươn ngoài bến bốc lên nồng đượm, quyện chặt lấy từng làn gió nồm ẩm ướt thổi qua ngõ ngách. Cái mùi hương đặc quánh ấy thân thuộc đến độ chỉ cần hít một hơi thật sâu, từng tế bào trong cơ thể Bảo đều có thể nhận diện được từng ngọn nguồn của nó; nhưng cũng chính thứ mùi ấy lúc này lại khiến lồng ngực cậu nhói buốt, dấy lên một cảm giác ngột ngạt, bẽ bàng và cay đắng khôn cùng.

Bảo thọc bàn tay râm ran mồ hôi nhờn nhát vào túi chiếc quần bò đã sờn rách ở gấu. Ngón tay cậu chạm vào xấp tiền giấy cuộn tròn một cách vụng về trong góc túi. Cậu rút nhẹ ra một góc, đủ để mắt nhìn thấy tờ năm mươi ngàn màu đỏ thẫm nằm ngoài cùng bọc lấy vài tờ mười ngàn, hai mươi ngàn nhàu nhĩ. Đó là tất cả những gì cậu còn lại sau khi thanh toán sạch sẽ tiền trọ tháng cuối, trả lại chiếc chìa khóa phòng cho bà chủ nhà khó tính ở khu xóm lao động ngoại thành, và mua tấm vé xe đò chuyến sớm nhất trở về quê nhà. Vừa vặn hơn tám trăm ngàn đồng tiền mặt. Toàn bộ gia tài của một gã trai hai mươi hai tuổi sau ba năm bươn chải nơi đô hội chỉ thu gọn trong bấy nhiêu tờ giấy bạc nhăn nhúm ấy.

Thế nhưng, thứ khiến đôi vai cậu trĩu nặng gấp ngàn lần không phải là sức nặng của mấy bộ quần áo cũ hay sự trống rỗng trong túi tiền, mà chính là vật nằm sâu dưới đáy chiếc ba lô vải dù. Nằm kẹp cẩn thận giữa cuốn giáo trình *Kinh tế vi mô* bìa vàng ố và tập lịch học đại học đã sờn rách mép, là một tờ giấy khổ A4 phẳng phiu mang màu trắng lạnh lùng. Ở góc dưới bên phải tờ giấy ấy, con dấu tròn màu đỏ tươi của Ban Giám hiệu trường đại học in đè lên chữ ký dứt khoát của vị phó hiệu trưởng: *Quyết định về việc cho thôi học theo nguyện vọng cá nhân đối với sinh viên Trần Gia Bảo, chuyên ngành Quản trị Kinh doanh*. Tờ giấy mỏng manh ấy như một vết cắt sâu hoắm, chấm dứt toàn bộ giấc mộng đổi đời mà gia đình đã đặt lên vai cậu suốt những năm tháng qua.

Mỗi bước chân Bảo nện trên con đường rải đá dăm dẫn vào con ngõ nhỏ của xóm Cồn dường như nặng thêm vài cân. Đôi giày thể thao cũ mòn vẹt đế phát ra những tiếng lạo xạo khô khốc mỗi khi giẫm lên sỏi nhọn. Cậu đi chầm chậm, đầu cúi gằm xuống, vành chiếc mũ lưỡi trai kéo sụp xuống tận sống mũi để trốn tránh mọi ánh nhìn có thể bắt gặp từ hai bên đường. Giờ này, những người đàn bà trong xóm đang ngồi nhặt sạn cho cá khô dưới bóng râm của những hiên nhà lợp ngói fibro-xi măng, tiếng dao nạo vảy cá tanh tách va vào thau nhôm vang lên rải rác. Cậu sợ một cái ngoái đầu tình cờ, sợ một giọng nói the thé cất lên: "Ủa, thằng Bảo con anh Lâm đấy hả? Chưa tới kỳ nghỉ hè mà đã về rồi sao con? Bữa nay học tới năm thứ mấy rồi, sắp làm ông nọ bà kia trên phố chưa?"

Những câu hỏi thăm bình thường, thậm chí là chất phác và đầy thiện ý ấy, vào lúc này chẳng khác nào những mũi kim thép nung đỏ chọc thẳng vào màng nhĩ, xuyên thấu vào tận cùng nỗi nhục nhã đang cắn rẽ tâm can cậu. Bảo chỉ biết siết chặt quai ba lô đến mức những khớp ngón tay trắng bệch ra, cắm cúi rảo bước thật mau qua từng khúc quanh ngoằn ngoèo, ngột ngạt mùi rác biển phân hủy. Cậu đi như một kẻ trốn chạy, cho đến khi mái tôn fibro xám xịt phủ đầy bụi cát của căn nhà cấp bốn nép mình ở cuối con hẻm cụt hiện ra sau hàng rào dâm bụt cằn cỗi, lá bám đầy một lớp muối mặn bàng bạc.

Cánh cổng sắt quét sơn xanh đã gỉ sét loang lổ khép hờ, để lộ một khoảng sân nhỏ tráng xi măng nứt nẻ chân chim. Trên chiếc giá phơi làm bằng hai cây tre đực buộc dây thép gai, hai chiếc áo bảo hộ lao động màu xanh công nhân bạc phếch đang đung đưa lười biếng theo gió. Vải áo cứng đờ, loang lổ những vệt muối trắng kết tinh thành từng mảng lớn quanh nách và lưng áo, xen lẫn những vệt nhớt đen của máy móc vựa cá đã khô cứng lại tự bao giờ. Mùi cá nục kho măng chua ngai ngái, đậm đà vị ớt bột và nước mắm truyền thống, bốc ra từ gian bếp nhỏ qua khung cửa sổ chớp lá sách bằng gỗ đã mục gãy vài thanh.

Bảo đứng sững trước cổng, lồng ngực thắt nghẹn lại. Cậu nuốt khan một ngụm nước bọt để làm dịu cơn cồn cào trong cuống họng, rồi run rẩy đưa tay đẩy nhẹ cánh cổng sắt. Tiếng bản lề khô dầu rít lên một vệt dài chói tai, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch của buổi trưa oi ả.

Bên trong gian nhà khách tối nhờ nhờ, bóng lưng gầy gò nhưng đậm chắc của một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi đang cúi lom khom bên chiếc bếp ga du lịch đặt tạm trên bệ gạch. Nghe tiếng động lạ, ông Lâm giật mình quay phắt lại, chiếc muôi canh bằng nhôm móp méo vẫn cầm hờ hững trên tay phải. Ông mặc một chiếc áo may ô dệt kim rách một lỗ nhỏ sau bả vai, để lộ đôi cánh tay gân guốc, cháy sém vì nắng gió biển khơi và chằng chịt những vết sẹo do vây cá, mép thùng xốp cào phải. Đôi mắt trũng sâu của ông hằn rõ những vết chân chim xô lệch—dấu tích của hơn ba mươi năm làm nghề phu vác cá, đóng thùng xốp đông lạnh từ tờ mờ sáng tới tận đêm khuya ngoài bến bãi. Trưa nay có lẽ ghe ngoài khơi neo lại tránh gió chướng không thể cập bến đúng giờ, chủ vựa cho thợ nghỉ sớm, ông mới có mặt ở nhà vào cái giờ này để tự nấu cho mình một bữa cơm qua bữa.

"Bảo?" Ông Lâm chớp chớp mắt mấy cái, đôi đồng tử giãn ra đầy vẻ ngơ ngác khi nhìn thấy bóng dáng cao lêu nghêu của đứa con trai đang đứng chết trân ở bậu cửa. Ánh mắt ông trượt thật chậm từ gương mặt hốc hác, nhợt nhạt vì đói và mệt của cậu xuống chiếc ba lô vải dù to tướng căng phồng như chiếc bọng cá trên vai, rồi dừng lại ở chiếc túi xách du lịch bằng vải bạt đặt dưới chân. "Ủa... sao tự nhiên lại về giờ này? Xe cộ gì giữa tuần thế con? Có chuyện gì gấp trên trường hả?"

"Dạ... con mới xuống xe ở ngã ba thị trấn, đi bộ vô," Bảo lí nhí đáp, thanh âm run rẩy như sắp vỡ vụn. Cậu cúi xuống đặt chiếc túi xách lên thềm gạch bông mát lạnh rồi cởi đôi giày thể thao cáu bẩn. Đôi tất cũ màu cháo lòng bị thủng một lỗ to bằng ngón tay cái ở gót chân khiến cậu ngượng ngùng, vô thức co giấu ngón chân lại dưới gấu quần. "Bữa nay... ba tan ca sớm hả ba?"

"Ừ, ngoài khơi có dải áp thấp, ghe câu mực với tàu giã cào neo lại bên mé hòn Ó hết rồi, vựa dặn chiều muộn mới có hàng về để đóng thùng gửi đi tỉnh," ông Lâm nói, vẻ mặt vẫn còn vương lại chút bàng hoàng nhưng nét mừng rỡ mộc mạc đã kịp dãn nở trên khóe môi nứt nẻ. Ông vội vàng quơ lấy chiếc giẻ lau vắt trên thành bếp, chùi mạnh hai bàn tay nồng nặc mùi cá vào hông quần đùi rồi bước vội ra cửa. "Tổ sư bố anh, về mà chẳng điện trước một tiếng để ba mượn chiếc xe máy của chú Bảy ra ngã ba đón, vác nặng thế kia cuốc bộ cả hai cây số nắng nôi thế này có chết dở không! Mau vào rửa mặt mũi cho mát đi con. May quá chừng, ba vừa kho xong nồi cá nục măng chua với nấu tô canh lá giang giải nhiệt, cơm trong nồi cũng vừa bật nút nãy giờ. Đói lắm rồi đúng không? Mà... sao đồ đạc mang về chi mà lùm đùm lùm đùm như dọn nhà vậy con?"

Từng câu hỏi han dồn dập, từng cử chỉ quan tâm vụng về của cha như những nhát dao cứa thẳng vào cuống họng Bảo. Cổ họng cậu ứ nghẹn một khối đắng ngắt, nước mắt chực trào ra nơi khóe mi. Cậu vội quay mặt đi, vờ như đang loay hoay tháo quai ba lô để giấu đi sự bối rối tột cùng: "Dạ... sắp hết năm học, con dọn bớt mấy đồ áo lạnh với sách vở tài liệu cũ về trước cho đỡ chật phòng trọ trên đó... Phòng nhỏ quá, để nhiều đồ ngột ngạt lắm ba..."

"Ờ, phải rồi, cái gì không dùng tới thì tha về đây, nhà rộng thênh thang để đâu chẳng được, tốn chi tiền thuê phòng rộng trên đất thị thành cho đắt đỏ," ông Lâm cười xòa, vỗ bồm bộp vào lưng con trai một cái đầy vẻ âu yếm, không mảy may nghi ngờ lời nói dối vụng về ấy. "Đi rửa tay đi rồi ra ăn cơm với ba, cá đang nóng ăn mới ngon, để nguội nó tanh dữ lắm."

Mâm cơm trưa đạm bạc được dọn ra trên chiếc bàn tròn bằng gỗ tạp phủ tấm khăn trải nhựa hoa đã sờn rách bốn góc. Gian nhà khách kiêm phòng ăn chỉ rộng chừng mười lăm mét vuông, vách tường quét vôi xanh đã bong tróc từng mảng lớn để lộ lớp gạch đỏ ám khói. Chiếc quạt trần cũ kỹ ba cánh sắt treo lủng lẳng giữa trần nhà quay vè vè từng vòng nặng nhọc, phát ra tiếng rít ken két rệu rã nhưng dường như chẳng thể xua nổi luồng không khí hầm hập như lò thiêu đang phả xuống từ mái tôn fibro-xi măng. Bữa cơm chỉ vỏn vẹn có chiếc đĩa nhôm đựng mấy con cá nục kho sẫm màu nước hàng, tô canh chua măng le nổi vài váng mỡ mỏng và đĩa rau muống luộc chấm nước mắm tỏi ớt dầm nát.

Ông Lâm xới cho Bảo một bát cơm trắng đầy có ngọn, cẩn thận dùng đũa gắp khúc cá nục nạc nhất, béo nhất bỏ vào bát con trai. Đôi bàn tay của người cha run rẩy nhẹ vì chứng run gân sau bao năm ngâm nước đá lạnh buốt xương; những đầu ngón tay của ông đóng chai thành từng cục dày cộm, vàng ố vì nhựa cá và khói thuốc lá rê, còn móng tay thì luôn có một đường viền đen sẫm không bao giờ cọ sạch được.

"Ăn nhiều vào con, dạo này nhìn mặt mày hốc hác, gầy nhom thế kia," ông Lâm giục giã, ánh mắt chan chứa sự trìu mến không giấu giếm, nhưng rồi nét mặt ông nhanh chóng chùng xuống, pha lẫn chút băn khoăn kín đáo. Ông và một miếng cơm đầy vào miệng, nhai chậm rãi như đang ngẫm nghĩ điều gì rồi ngước lên nhìn thẳng vào mặt Bảo. "Mà này Bảo, trường trên phố đợt này đã thi học kỳ hai xong xuôi chưa con? Bữa trước đi ăn đám giỗ bên xóm Cồn, bác Năm mày cứ khoe ầm lên chuyện thằng Tuấn học bách khoa được nhận học bổng gì của người ta tới mấy triệu bạc, ba nghe mà mát cả ruột gan. Ba cũng tính điện thoại hỏi thăm con xem điểm chác đợt này thế nào, mà lại sợ con đang bận làm đề án với ôn thi nên thôi, không dám quấy rầy. À... thế học phí kỳ tới nhà trường có thông báo hạn nộp chưa để ba tính đường gom góp dần? Mấy bữa nay vựa cá cơm của ông Tám trúng mánh, người ta trả công bốc vác cũng khá khẩm hơn trước, ba tính ráng nhận thêm mấy ca đêm gánh cá từ ghe lên bờ, chịu khó vài tuần là đủ khoản tiền ba triệu rưỡi bốn triệu nộp cho con kỳ mới thôi, không phải lo đâu nghe."

Từng lời, từng chữ của cha rót vào tai Bảo chẳng khác nào những bọc chì nặng nề trút thẳng xuống lồng ngực. Cậu nhìn những hạt cơm trắng ngần trong bát, nhìn khúc cá nục béo ngậy được gắp cho, mà nghe thấy vị đắng chát trào dâng nơi cuống lưỡi. Cậu cố gắng lùa một miếng cơm vào miệng, nhưng miếng cơm khô khốc ấy cứ nghẹn ứ lại ở yết hầu, không tài nào nuốt nổi. Cậu nghe thấy tiếng quạt trần quay lạch cạch trên đầu, nghe thấy tiếng hơi thở phì phò mệt nhọc của cha, và trong tâm trí cậu bỗng hiện lên mồn một cảnh tượng cha mình đang còng lưng dưới cái lạnh buốt của hầm đá đông lạnh lúc hai giờ sáng, đôi chân trần ngâm trong nước muối bẩn thỉu để đổi lấy từng đồng tiền lẻ gửi lên phố cho cậu.

Bảo không thể tiếp tục diễn vở kịch này thêm một giây phút nào nữa. Tờ giấy thông báo nhắc nợ học phí của phòng tài vụ, những buổi điểm danh vắng mặt triền miên vì chán nản, những cuốn giáo trình quản trị đầy những thuật ngữ xa lạ mà cậu không thể nào nhồi nhét nổi vào đầu, và trên tất cả là lá đơn xin thôi học có con dấu đỏ lòm đang nằm im lìm dưới đáy ba lô... tất cả như một tảng đá ngàn cân đè nghẹn hơi thở của cậu.

Bảo run rẩy đặt đôi đũa tre xuống mép mâm. Tiếng "cạch" khẽ khàng nhưng đanh gọn vang lên trong gian nhà tĩnh mịch bỗng chốc nghe rõ mồn một như một tiếng nổ.

"Ba..." Bảo ngẩng đầu lên. Hai bàn tay cậu giấu dưới gầm bàn đang siết chặt lấy nhau đến mức móng tay găm sâu vào da thịt, đau điếng. "Con... con có chuyện này cần thưa thiệt với ba."

Ông Lâm dừng đũa lưng chừng bát cơm. Nụ cười hãnh diện, chất phác vừa chớm nở trên gương mặt khắc khổ của ông từ từ đông cứng lại. Ánh mắt ông dán chặt vào gương mặt tái nhợt của con trai. Trực giác bén nhạy của một người đàn ông cả một đời lăn lộn giữa đầu sóng ngọn gió, nếm trải đủ mùi hiểm nguy của biển cả dường như mách bảo ông điều gì đó chẳng lành sắp sửa giáng xuống.

"Chuyện gì? Tiền nong thiếu thốn hay sao con? Bị chủ trọ họ đòi thêm tiền cọc hả?" Giọng ông Lâm chùng xuống, đầy vẻ lo lắng.

"Không phải chuyện tiền nong..." Bảo hít một hơi thật sâu, lồng ngực cậu phập phồng dữ dội. Cậu nhắm nghiền mắt lại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi rồi mở to ra, giọng cậu run rẩy nhưng rành rọt từng từ một: "Con nghỉ học rồi ba. Con rút hồ sơ ở trường đại học trên thành phố rồi."

Không gian trong căn nhà cấp bốn chật hẹp bỗng chốc như bị ai đó hút cạn toàn bộ dưỡng khí. Chiếc quạt trần vẫn quay đều đều, phát ra tiếng cọt kẹt rỉ sét buồn bã trên trần nhà, nhưng giữa hai người đàn ông, mọi sự vận động của sự sống dường như đã đóng băng hoàn toàn. Tiếng gió ngoài vườn chuối lay cành rào rạt, tiếng ve sầu ran lên từng hồi ngoài ngõ bỗng trở nên xa xăm, dị biệt lạ lùng.

Gương mặt sạm đen vì muối biển của ông Lâm thoắt cái trở nên trắng bệch, không còn một giọt máu. Đôi đũa tre trên tay ông run lên bần bật, run dữ dội đến mức những ngón tay không còn giữ nổi, rơi tuột xuống mặt bàn gỗ, lăn lông lốc qua mép đĩa cá nục rồi rơi xuống sàn nhà phát ra một tiếng "cạch" khô khốc.

"Mày... mày nói cái giống gì?" Giọng ông Lâm khản đặc lại, lạc hẳn đi như tiếng cọ xát của hai mảnh sắt tây rỉ sét chà xát vào nhau. Ông trừng trừng nhìn con, ánh mắt tràn ngập sự ngơ ngác tột cùng. "Mày nói giỡn hay nói thiệt đó Bảo? Mày đang trêu tao đúng không?"

"Con nói thật. Con làm thủ tục rút hồ sơ từ tuần trước rồi," Bảo cúi gằm mặt xuống, hai mắt nhìn trân trân vào đường vân nứt nẻ của mặt bàn gỗ, không đủ can đảm để đón nhận ánh nhìn trừng trừng như muốn bốc hỏa của cha. Nỗi xấu hổ, sự dằn vặt và cảm giác tội lỗi bóp nghẹt lồng ngực cậu, nhưng một khi cánh cửa đã mở toang, những lời dồn nén suốt bao tháng ngày u uất cứ thế tuôn trào ra không thể ngăn lại: "Con không theo nổi cái ngành đó nữa ba ơi. Quản trị kinh doanh... con học không vô một chữ nào hết. Càng học con càng thấy mình mông lung, nợ môn chồng chất môn này qua môn khác. Con không có năng khiếu buôn bán quản lý, con cũng chẳng có đầu óc tính toán như người ta. Ra trường với cái tấm bằng trung bình thì cũng chẳng biết xin việc ở đâu, làm cái gì để sống... Con không thể nào nhắm mắt để mặc ba ngày nào cũng dầm mình trong nước đá mặn, vác từng thùng cá nặng ba bốn chục ký ngoài bến từ nửa đêm tới sáng để gom từng đồng đóng học phí cho một cái bằng mà con biết chắc cả đời này con không dùng tới! Con không muốn tiếp tục lãng phí mồ hôi nước mắt của ba nữa!"

"Lãng phí?"

Hai chữ ấy bật thốt ra khỏi miệng ông Lâm như một tiếng gầm nghẹn ngào. Lồng ngực người đàn ông phập phồng dữ dội sau lớp áo may ô mỏng tang. Ông nhìn đứa con trai duy nhất trước mặt—đứa con mà ba năm trước, khi nhận được giấy báo trúng tuyển của trường đại học, ông đã tự hào đem khoe khắp đầu trên xóm dưới; đứa con mà vì nó, người cha góa vợ ấy chưa từng dám từ chối một ca bốc vác hàng đêm nào, dẫu cho khớp gối có sưng vù vì lạnh, dẫu cho lưng có đau buốt đến mức không đứng thẳng dậy nổi.

"Mày bảo... việc tao đổ mồ hôi sôi nước mắt nuôi mày ăn học ba năm trời qua là lãng phí?" Hai mắt ông Lâm đỏ hoe, vằn lên những tia máu đỏ rực. Nỗi thất vọng trần trụi, sự cay đắng và đau đớn cùng cực dâng lên ngập tràn trong ánh nhìn của ông. "Mày có biết mỗi lần tao gánh cá qua chợ, người ta nhìn tao người ta bảo sao không? Người ta bảo anh Lâm cực khổ bốc vác thật đấy, nhưng được cái phúc đức trời cho, có thằng con trai học đại học đàng hoàng trên phố, sau này nó ra trường ngồi bàn giấy máy lạnh, ăn trắng mặc trơn, không phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời như cái ngữ phu cá chúng tao! Mày có biết tao hãnh diện chừng nào không hả Bảo? Giờ mày học dở dang, mày đùng đùng xách ba lô trốn về cái xó này... rồi mày tính làm cái giống gì ở cái xứ biển khỉ ho cò gáy này? Mày tính lại đi bốc cá thuê, xách sọt như tao hả? Hả?"

"Con sẽ tìm việc làm! Việc gì chân chính con cũng làm được hết!" Bảo bặm chặt môi, giọng run rẩy nhưng xen lẫn sự bướng bỉnh u uất của tuổi trẻ. Cậu ngẩng phắt đầu lên, nước mắt lưng tròng. "Con có tay có chân lành lặn, con tự lao động nuôi được cái thân con, con nhất định không ăn bám ba nữa đâu!"

"Nuôi cái thân mày?" Ông Lâm bật cười cay đắng. Nụ cười méo xệch, co giật nơi khóe miệng chứa đựng một sự bất lực đến xé lòng. Ông đứng phắt dậy. Chiếc ghế đẩu bằng nhựa phía sau bị hất văng ra, đập mạnh vào vách tường gạch. Ông trừng trừng nhìn mâm cơm hãy còn bốc khói dở dang, nhìn đĩa cá nục măng chua mà ông đã cẩn thận kho thật mềm cho con, rồi nhìn đứa con trai đang quỳ gối cúi đầu trốn tránh tội lỗi.

Không có một trận đòn roi thịnh nộ nào giáng xuống. Cũng không có những lời chửi rủa ầm ĩ vang động xóm giềng như Bảo từng mường tượng trong nỗi kinh hãi suốt dọc đường xe chạy.

Chỉ có một sự im lặng chết chóc. Một sự im lặng nặng nề như cả tấn chì lèn chặt vào không gian, bóp nghẹt từng nhịp đập của trái tim.

Ông Lâm không nói thêm một lời nào nữa. Ông quay lưng bước vội vào gian buồng trong tăm tối. Tiếng then cài cửa bằng gỗ mun va vào then sắt kêu lên một tiếng "cạch" cộc lốc, khô khốc và dứt khoát như một nhát dao xé toạc bầu không khí mỏng manh, tội nghiệp của ngôi nhà.

Bảo ngồi lại một mình bên mâm cơm trưa đã bắt đầu nguội ngắt. Khúc cá nục thơm phức trong bát cậu giờ đây đã phủ lên một lớp mỡ đông màu xám đục. Từng giọt nước mắt kìm nén bấy lâu rốt cuộc cũng vỡ òa, lăn dài trên gò má hốc hác, rơi lã chã xuống mặt bàn nhựa. Cậu nuốt từng ngụm nước mắt mặn chát vào trong, lẳng lặng bưng mâm bát xuống gian bếp nhỏ, cọ rửa từng chiếc đũa, chiếc bát nhôm rồi úp cẩn thận lên chạn bát bằng tre. Bầu không khí trong căn nhà lúc này ngột ngạt đến mức từng hơi thở hít vào đều trở thành một cực hình tra tấn. Cậu biết rất rõ, sau cánh cửa buồng đóng chặt kia, người cha già đang ngồi gục đầu bên mép giường tre, có lẽ đang nhìn lên tấm di ảnh đã ngả vàng của mẹ cậu trên bàn thờ, hoặc đang nhìn vào cuốn sổ tay bìa rách nát ghi chi chít những khoản nợ nần và tiền công gánh cá.

Bảo không thể tiếp tục chôn chân trong bốn bức tường ngột ngạt ấy thêm một phút giây nào nữa. Cậu cảm thấy lồng ngực mình như sắp nổ tung. Cậu cần phải bước ra ngoài, cần được hít thở thứ không khí không có sự phán xét, không có nỗi thất vọng đau đớn đang bủa vây nghẹt thở.

Bước vội ra gian nhà sau, ánh mắt Bảo vô tình chạm vào chiếc xe đạp Martin 107 cũ kỹ nằm phủ đầy bụi bặm nơi góc sân sau, dưới mái hiên lợp lá dừa nước đã mục nát. Đó là chiếc xe sườn thép màu xanh bộ đội mà ông Lâm đã gom góp tiền công, mua lại từ một tiệm ve chai phế liệu hồi cậu mới chập chững bước vào lớp mười. Chiếc xe ấy đã từng cùng cậu dầm mưa dãi nắng suốt ba năm học cấp ba trên con đường đất đỏ gập ghềnh sỏi đá, trước ngày cậu xách va ly bước lên xe đò đi về phía giảng đường đại học xa hoa. Giờ đây, sau ba năm nằm trơ trọi một xó, lốp xe đã non hơi, xẹp lép dính chặt vào vành nhôm rỉ sét; xích líp khô kiệt dầu mỡ, bám đầy mạng nhện và bụi đất. Mỗi khi cậu lay nhẹ ghi đông, tiếng xích cọ vào hộp chắn sên nghe lộc cộc, rệu rã chói tai.

Bảo cúi xuống, dắt chiếc xe ra khỏi đống củi khô. Cậu cẩn thận mở then cánh cổng sắt, dắt xe lách qua khe hẹp rồi khép hờ cổng lại để không gây ra bất kỳ tiếng động nào làm kinh động đến người cha đang ở trong buồng kín. Rồi cứ thế, cậu chầm chậm dắt bộ chiếc xe đạp sườn thép trên con đường rải đá dăm hướng về phía trung tâm thị trấn.

Gió biển buổi trưa vẫn thổi rát mặt. Dưới cái nắng ban trưa gay gắt của dải đất miền Trung, mặt đường nhựa Hải An lấp loáng những vệt ảo ảnh loang loáng như mặt nước. Từng luồng hơi nóng từ mặt đường phả thốc lên khiến cổ họng Bảo khô rát. Cậu đẩy chiếc xe Martin rệu rã đi chừng hơn một cây số, vượt qua khúc cua ngột ngạt rẽ vào chợ cá buổi trưa vắng tanh, rồi dừng bước trước một căn nhà cấp bốn lợp ngói xi măng cũ kỹ nằm ngay góc ngã tư dẫn ra con đường lớn về trường trung học cơ sở của thị trấn.

Phía trước khoảng sân nhỏ của căn nhà, treo lủng lẳng một tấm biển bằng tôn sơn chữ hoa giản dị, viền sơn đỏ đã tróc lở nhiều mảng lớn do bị hơi muối biển ăn mòn qua năm tháng: *Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn*. Bên dưới dòng chữ lớn ấy là một dòng chữ nhỏ ngay ngắn, kẻ bằng sơn đen: *Chuyên sửa chữa, phục hồi xe đạp, xe lôi nhỏ*.

Mặt tiền của tiệm không hề rộng rãi, chỉ chừng bốn mét ăn sâu vào gian nhà trong, nhưng mọi đồ vật bên trong lại được sắp đặt ngăn nắp đến mức kinh ngạc, hoàn toàn đối lập với khung cảnh lộn xộn, bừa bãi thường thấy ở những tiệm sửa xe ven đường của cái xứ biển này. Trên vách tường quét vôi vàng nhạt, hàng chục chiếc cờ lê, mỏ lết, tuốc nơ vít, kìm bấm đủ kích cỡ từ nhỏ đến lớn được treo thẳng hàng ngay ngắn trên một tấm bảng gỗ lớn; bên dưới mỗi món đồ nghề đều có hình vẽ định hình viền bằng sơn đỏ tươi, để hễ chiếc cờ lê nào bị lấy đi là lập tức để lại một khoảng trống rõ ràng. Dưới nền xi măng láng bóng, tuyệt nhiên không hề có những vũng dầu nhớt đen ngòm hay giẻ lau bẩn thỉu vương vãi bừa bãi; chỉ có mùi dầu hỏa thơm nồng dùng để tẩy rửa xích líp phảng phất trong không gian. Góc bên trái gian nhà là một chiếc kệ sắt ba tầng chia thành từng ngăn gỗ nhỏ, đựng săm lốp, ốc vít, bu-lông, vòng bi các loại, mỗi ngăn đều được dán nhãn bằng băng keo giấy và ghi chú bằng bút dạ rõ ràng, thẳng thớm.

Giữa khoảng sân hiên râm mát, một người phụ nữ trạc gần năm mươi tuổi, vóc người đậm đà, chắc nịch, mái tóc hoa râm búi gọn gàng sau gáy dưới chiếc mũ lưỡi trai bạc màu đang cúi mình chăm chú kiểm tra một chiếc xe cào cào mini của học sinh. Đó là cô Mai. Cô mặc một bộ quần áo bà ba may bằng vải kaki màu cỏ úa dày dặn, hai ống tay áo xắn cao qua khuỷu tay để lộ đôi cẳng tay săn chắc, rám nắng màu mật ong. Đôi bàn tay cô thoăn thoắt cầm chiếc giẻ sạch bằng vải cotton lau nhẹ quanh trục giữa của chiếc xe, từng cử chỉ, từng động tác đều toát lên một vẻ dứt khoát, điềm tĩnh lạ lùng.

Đứng ngay bên cạnh cô là một người đàn ông trung niên mặc chiếc áo sơ mi kẻ sọc cộc tay, vẻ mặt đầy sốt ruột. Ông ta liên tục đưa cổ tay lên nhìn chiếc đồng hồ mạ vàng, chân giậm giậm xuống nền xi măng vẻ bồn chồn.

"Cô Mai coi giùm tôi lẹ lẹ đi, cái xe của con bé nhà tôi tự nhiên sáng nay đạp nó cứ tuột xích hoài à," người đàn ông giục giã, thanh âm the thé chen lẫn tiếng thở dài bực dọc. "Cô ước chừng giùm tôi hết bao nhiêu tiền để tôi gửi tiền lại đây luôn rồi còn chạy xuống bến đón mối hàng cá trưa? Chừng bốn chục, năm chục ngàn không? Cô cứ nói đại một cái giá đi rồi tôi đi liền cho kịp giờ, việc gấp lắm rồi!"

Cô Mai không hề ngẩng đầu lên ngay lập tức. Đôi mắt sắc sảo, trầm tĩnh của người thợ già vẫn dán chặt vào độ rơ của trục giữa chiếc xe đạp nhỏ. Ngón tay cái với vết chai sần dày cộm của cô ấn nhẹ vào từng mắt xích, tỉ mỉ kiểm tra độ dãn và độ khớp của răng đĩa. Sau vài giây im lặng tuyệt đối, cô mới từ tốn buông chiếc giẻ lau xuống mặt bàn đồ nghề bằng sắt, đứng thẳng người dậy.

"Anh muốn đi lo việc của anh thì cứ đi," cô Mai cất giọng bình thản. Giọng cô trầm, đanh gọn và có một sức nặng kỳ lạ khiến người đối diện phải lắng nghe. "Xe anh cứ để lại đây, tôi xé cho cái phiếu biên nhận. Nhưng giá thì tôi không thể đoán mò được."

"Ủa, có cái xích xe đạp cỏn con thôi mà cô làm gì khó khăn dữ vậy cô Mai?" Người đàn ông nhăn mặt, giọng điệu bắt đầu lộ rõ vẻ gắt gỏng của kẻ đang vội. "Thợ lành nghề như cô ở cái đất Hải An này ai mà chẳng biết, liếc mắt qua một cái là biết bệnh liền chứ gì. Báo đại một tiếng cho người ta an tâm để tiền lại không được hả? Mất mát gì đâu!"

"Không được," cô Mai trả lời dứt khoát, ánh mắt nhìn thẳng vào người đàn ông, không hề có lấy một chút e dè hay nhượng bộ khách hàng. "Xe của con anh bị tuột xích có thể do xích dão cần cắt mắt, có thể do líp sau mòn vẹt răng không ăn khớp, mà cũng có thể do trục giữa bị rơ bạc đạn làm lệch hẳn đường sên. Tôi chưa tháo hộp xích ra đo độ mòn của líp, chưa kiểm tra ổ bi côn thì tôi tuyệt đối không thể phán một câu bừa bãi cho vừa lòng anh được. Nói năm chục ngàn rồi lát nữa tháo bung ra thấy hỏng cả cụm líp phải thay mới mất trăm rưỡi thì anh bảo tôi vẽ bệnh moi tiền; mà nói trăm rưỡi rồi lúc tháo ra chỉ cần siết lại con ốc năm ngàn thì hóa ra tôi là quân ăn cướp à? Đúng ba giờ chiều anh quay lại đây, tôi kiểm tra xong xuôi, lên danh sách phụ tùng cần sửa và báo giá chính xác từng đồng. Anh đồng ý với giá đó thì tôi mới bắt tay vào làm. Còn nếu anh vội quá, cần biết giá liền hay muốn sửa ẩu cho xong chuyện thì anh dắt xe sang tiệm khác giùm tôi."

Người đàn ông đứng sững sững, ngớ người trước những lời nói đanh thép, khúc chiết và không hề có một kẽ hở nào của người thợ đàn bà. Nhìn cuốn sổ ghi chép bìa cứng đặt ngay ngắn bên cạnh cây bút bi trên bàn tiếp nhận, rồi nhìn phong thái nghiêm cẩn, vững như bàn thạch của cô Mai, ông ta đành nuốt ngược sự bực bội vào trong, giọng dịu hẳn xuống: "Thôi được rồi... cô kỹ tính quá. Vậy cô ghi cho tôi cái phiếu đi. Đúng ba giờ chiều tôi ghé lại xem sao."

Cô Mai rút cây bút bi cài trên túi áo bà ba, cẩn thận xé một liên giấy nhỏ trong cuốn sổ biên nhận, nắn nót ghi tên khách, số điện thoại và hiện tượng xe bị tuột xích rồi xé đưa cho người đàn ông. Sau khi người khách dắt chiếc xe cào cào vào khu vực có kẻ vạch sơn trắng mang biển "Xe chờ kiểm tra", cô mới quay sang nhìn Bảo—người nãy giờ vẫn đứng nép mình bên vệ đường cạnh gốc cây bàng râm mát, hai tay nắm chặt ghi đông chiếc xe Martin cũ kỹ.

Bảo đứng chết trân ở đó, toàn bộ cuộc đối thoại vừa rồi như ghim chặt từng mảnh vào tâm trí cậu. Suốt ba năm ngồi trên giảng đường đại học, trong những môn học về quản trị và kỹ năng giao tiếp kinh doanh, các giảng viên luôn dạy cậu hàng tá lý thuyết về nghệ thuật chiều chuộng khách hàng, về những nụ cười công nghiệp và những lời hứa hẹn êm tai để làm vừa lòng đối tác bằng mọi giá. Nhưng đứng trước người phụ nữ này, cô không dùng bất kỳ một xảo thuật ngôn từ nào. Sự đàng hoàng, lòng tự trọng và tính minh bạch tuyệt đối toát ra từ chính nếp làm việc rành mạch, không đoán mò, không nhận bừa, không hạ thấp tiêu chuẩn nghề nghiệp để đổi lấy sự dễ dãi của bất kỳ ai.

"Dắt xe vô trong bóng râm đi cháu," cô Mai nhìn Bảo, giọng cô dịu đi đôi chút nhưng vẫn giữ nguyên nét nghiêm nghị vốn có của một người quen kỷ luật. "Xe bị làm sao? Xẹp lốp hay đứt xích?"

Bảo giật mình như vừa bừng tỉnh sau một cơn mê, vội vàng dắt chiếc xe Martin cọt kẹt bước qua gờ xi măng vào trong hiên tiệm. Mùi dầu hỏa cay nồng, mùi mỡ bò bôi trơn ngai ngái và mùi kim loại mát lạnh xộc thẳng vào cánh mũi cậu; kỳ lạ thay, thứ mùi hương thô ráp của xưởng thợ ấy lúc này lại đem đến cho tâm hồn đang chông chênh của cậu một cảm giác vững chãi và an tâm đến lạ kỳ.

"Dạ... xe này của cháu để lâu ngày không đi, sên xích nó khô rang với chùng quá, đạp nó cứ kêu lộc cộc cọ vào hộp xích cô ạ," Bảo ngập ngừng nói, giọng run rẩy, rồi như sợ mất đi dũng khí, cậu vội vàng hít một hơi thật sâu và bổ sung: "Nhưng mà... nhưng mà cháu dắt xe tới đây không phải chỉ để sửa xe đâu cô."

Cô Mai khẽ nhướng một bên mày hoa râm, ánh mắt sắc sảo quét từ gương mặt trẻ măng nhưng đầy nét âu lo, tiều tụy của Bảo xuống chiếc ba lô du lịch to tướng còn bám đầy bụi đường xa mà cậu vẫn khoác lệch trên vai.

"Không sửa xe thì dắt tới tiệm này làm gì?" Cô hỏi, giọng đều đều.

Bảo siết chặt hai bàn tay vào nhau, những khớp ngón tay trắng bệch ra. Trái tim cậu đập thình thịch liên hồi trong lồng ngực, mạnh đến mức hai bên màng nhĩ lùng bùng những tiếng máu chảy rần rật. Xấp tiền hơn tám trăm ngàn trong túi quần, ánh mắt đau đớn đỏ hoe của cha bên mâm cơm trưa nguội ngắt, sự lạc lõng của một kẻ vừa bước chân ra khỏi cánh cổng trường đại học mà không có lấy một tấm phao cứu sinh... tất cả dồn ứ lại thành một quyết định liều lĩnh nhất trong cuộc đời hai mươi hai năm của cậu.

Cậu hít sâu một hơi, ngẩng cao đầu đối diện trực tiếp với ánh mắt sắc lạnh của cô Mai:

"Cô Mai ơi... cháu muốn xin cô cho cháu học việc ở tiệm của cô ạ!"

Khoảng không gian dưới mái hiên tiệm sửa xe bỗng chốc rơi vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối. Gió biển thổi qua kẽ ngói xi măng nghe xào xạc. Tiếng một chú chim sẻ ríu rít trên cành bàng ngoài ngõ dội vào nghe rõ mồn một. Cô Mai không hề tỏ ra ngạc nhiên, khóe môi cô cũng không hề nở một nụ cười cợt nhả hay giễu cợt. Ánh mắt từng trải của người đàn bà đã chứng kiến bao thăng trầm của xóm biển dừng lại trên gương mặt Bảo rất lâu, dò xét và sắc sảo như muốn lột trần từng ngóc ngách suy nghĩ của chàng trai trẻ.

"Mày là con trai anh Lâm làm ở vựa cá đúng không?" Cô Mai cất tiếng hỏi, giọng điềm tĩnh đến lạ thường. "Tao nhớ mấy năm trước nghe bố mày đi khắp chợ khoe mày thi đỗ đại học lớn trên thành phố kia mà? Học ngành gì... quản lý buôn bán gì đó ghê gớm lắm?"

Bảo đỏ bừng mặt, cảm giác xấu hổ như ngọn lửa bùng lên đốt cháy hai bên mang tai, nhưng lần này cậu không né tránh ánh nhìn của cô thợ già: "Dạ, con học Quản trị Kinh doanh... nhưng con bỏ rồi cô. Con vừa làm thủ tục rút hồ sơ về hẳn trưa nay."

"Sao lại bỏ? Bị nhà trường đuổi học hay lười biếng ham chơi rồi chán?"

"Dạ không phải bị đuổi. Là con tự thấy mình không theo nổi, càng cố học thì càng tốn tiền mồ hôi nước mắt của ba con mà bản thân con không tiếp thu được gì, ra trường cũng không thành nghề ngỗng gì cả," Bảo thành thật trả lời, từng lời nói ra tuy cay đắng, xót xa nhưng vô cùng rành rọt, dứt khoát. "Con muốn học một cái nghề thực tế. Con biết nghề sửa xe đạp này không phải nghề cao sang gì trong mắt người ta, nhưng con muốn tự tay mình làm ra sản phẩm, muốn kiếm được đồng tiền chân chính nuôi sống bản thân mà không phải nói dối, không phải dựa dẫm hay làm gánh nặng cho ba con nữa."

Cô Mai chầm chậm bước lại gần chiếc bàn gỗ đặt đồ nghề, cầm lấy một chiếc giẻ lau bằng vải thô cẩn thận lau từng ngón tay thô ráp của mình. "Mày có biết học nghề sửa xe ở cái tiệm này nó cực nhọc tới mức nào không? Ở đây không có phòng máy lạnh, không có bàn phím máy tính hay giấy tờ thơm tho như trên giảng đường của mày đâu. Suốt ngày từ sáng tới tối chỉ có cắm mặt vào dầu mỡ, dằm sắt, bùn đất bẩn thỉu. Khách hàng thì đủ mọi hạng người, từ người lao động nghèo tới kẻ khó tính gắt gỏng, mày hẹn trễ mười phút thôi là người ta mắng té tát vào mặt mày rồi. Thân công tử quen ngồi giảng đường như mày, liệu có chịu nổi không?"

"Con chịu được cô!" Bảo vội vàng cướp lời, giọng tha thiết đến nghẹn ngào. "Việc nặng nhọc gì con cũng làm được hết, quét dọn, bưng bê, rửa phụ tùng con đều làm được. Cô cứ cho con phụ việc vặt thôi cũng được, con hứa con không đòi hỏi một đồng tiền công nào đâu cô—"

"Dừng lại!"

Cô Mai ngắt lời cậu bằng một giọng đanh thép như tiếng búa nện xuống đe sắt. Chiếc giẻ lau trên tay cô bị ném mạnh xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng "bộp" dứt khoát.

"Cái câu 'không đòi tiền công' đó, mày dẹp ngay đi cho tao!"

Bảo sững sờ, đứng chết trân nhìn người thợ già, miệng há hốc không hiểu mình vừa nói sai điều gì.

Cô Mai bước từng bước vững chãi đến sát trước mặt Bảo. Đôi mắt sâu thẳm của cô nhìn thẳng vào đồng tử của cậu bé: "Lao động là phải có giá trị của lao động. Tao mở cái tiệm này ra làm ăn lương thiện, tao không cần bất cứ đứa nào đến đây làm công quả chỉ để tao mang ơn hay thương hại, mà tao cũng chẳng bao giờ nhận ai vào tiệm chỉ vì tao mủi lòng thương hại hoàn cảnh khốn khó của nó. Đi làm việc mà mở mồm ra bảo không cần tiền công thì chỉ có hai hạng người: một là làm ăn dối trá, cẩu thả cho xong chuyện vì nghĩ mình không lấy tiền nên không cần chịu trách nhiệm; hai là hạng bốc đồng, dăm bữa nửa tháng đụng chuyện cực khổ, bẩn thỉu là nản lòng rồi bỏ của chạy lấy người. Tiệm của tao không nuôi hạng người đó."

Dứt lời, cô Mai bất ngờ vươn bàn tay thô ráp của mình ra, nắm chặt lấy bàn tay phải của Bảo rồi lật ngửa lòng bàn tay cậu lên.

Bàn tay của chàng thanh niên hai mươi hai tuổi trắng trẻo, da dẻ mềm mại, các đầu ngón tay nhẵn thín chỉ quen cầm bút bi và lướt trên màn hình điện thoại cảm ứng. Nó hoàn toàn đối lập với bàn tay đầy những vết chai sần dày cộp, những vết sẹo chằng chịt do cờ lê trượt ốc va vào khung sắt và những vệt dầu luyn đen ngòm đã ngấm sâu vào từng thớ thịt không cách nào cọ sạch của cô Mai.

"Mày nhìn đi," cô Mai buông tay Bảo ra, giọng cô chùng xuống nhưng sắc lẹm. "Bàn tay trơn láng như ngó cần thế này thì làm thợ làm sao nổi. Miệng thì hứa hươu hứa vượn cho hay, nhưng cái tay này chưa từng cầm chiếc cờ lê mười bảy dùng hết sức bình sinh siết chặt một con ốc trục gỉ sét, chưa từng bị đầu nan hoa đâm toạc móng tay tóe máu thì mày chưa thể hiểu được cái đau, cái giá của cái nghề này đâu con ạ."

Bảo cụp mắt nhìn chằm chằm vào lòng bàn tay trắng trẻo của mình, cảm giác hụt hẫng, tủi hổ và tuyệt vọng trào dâng cuồn cuộn trong lồng ngực. Cậu nghe như một cánh cửa hy vọng cuối cùng vừa sập mạnh lại ngay trước mắt mình, nhốt cậu vĩnh viễn vào ngõ cụt của sự thất bại. Cậu khẽ cúi đầu, giọng nghẹn lại: "Dạ... con hiểu rồi. Con xin lỗi vì đã làm phiền cô trưa nay."

Cậu toan quay người, run rẩy nắm lấy ghi đông dắt chiếc xe Martin quay bước thì giọng nói khô khốc, trầm đục của cô Mai lại một lần nữa vang lên từ phía sau lưng:

"Tao đã bảo đuổi mày về đâu mà mày vội xin lỗi?"

Bảo khựng phắt người lại, tim đập thót một cái. Cậu vội vàng quay người lại, ngơ ngác nhìn cô.

Cô Mai đã quay lưng về phía cậu tự bao giờ. Cô với tay lấy chiếc chổi đót dựng ở góc tường, cúi mình bắt đầu quét những mạt sắt vụn và bụi đất li ti vương dưới chân chiếc giá nâng xe đạp. Từng nhát chổi của cô quét đi đều đặn, chuẩn xác và dứt khoát trên nền xi măng láng bóng.

"Đúng bảy giờ sáng mai quay lại đây," cô Mai nói, mắt vẫn nhìn chăm chú vào từng nhát chổi quét, không hề ngoái đầu lại. "Mang theo một bộ quần áo lao động cũ kỹ nhất mà mày có, một cuốn sổ tay nhỏ bỏ vừa túi áo và một cây bút bi. Sáng mai tao sẽ nói rõ toàn bộ điều kiện học việc ở cái tiệm này: giờ giấc làm việc ra sao, trách nhiệm của mày là gì, mức tiền phụ cấp hỗ trợ cơm trưa ban đầu tao trả cho mày bao nhiêu, và những việc gì mày tuyệt đối không được phép đụng tay vào khi chưa có lệnh của tao. Nghe xong hết những điều kiện đó, nếu mày thấy bản thân chấp nhận được thì ký tên vào bản cam kết học việc rồi bắt tay vô làm. Còn nếu nghe xong mà nhắm làm không nổi, thấy cực quá thì tự giác dắt xe đi về, tao tuyệt đối không ép uổng, không giữ lại một giây nào."

Một luồng điện ấm áp chạy dọc sống lưng Bảo, khiến tim cậu đập rộn lên một nhịp mừng rỡ khó tả xiết. Cảm giác như một kẻ sắp chết đuối vừa vớ được một cành cây bám bên bờ vực. Cậu vội vàng gập người, cúi đầu lia lịa: "Dạ! Dạ con nhớ rồi! Đúng bảy giờ sáng mai con có mặt đàng hoàng ạ! Con cảm ơn cô Mai nhiều lắm!"

"Khỏi cần cảm ơn," cô Mai hừ nhẹ một tiếng qua cánh mũi, giọng vẫn giữ vẻ khô khốc thường lệ. "Về nhà đi. Chiếc xe đạp Martin đó cứ để lại ngay góc kia, lát nữa rảnh tay tao tháo trục giữa ra kiểm tra ổ bi cho, sáng mai tới nghe báo giá phụ tùng rồi tính tiếp."

Bảo cẩn thận dắt chiếc xe đạp cũ vào khoảng sân hiên, dựng ngay ngắn bên cạnh vạch sơn trắng dành cho xe chờ kiểm tra, rồi một lần nữa cúi đầu chào cô thợ già trước khi bước chân ra đường lớn.

Mặt trời miền Trung lúc này đã bắt đầu ngả dần về phía dãy núi đá vôi phía tây, hắt những vệt nắng vàng cam rực rỡ và gay gắt lên mặt vịnh biển Hải An ở phía xa xa. Tiếng sóng biển thủy triều bắt đầu dâng cao, vỗ từng đợt ì oạp vào chân bờ kè đá hoa cương, hòa cùng mùi muối mặn nồng nàn và hơi gió chướng quen thuộc. Bước chân của Bảo trên con đường nhựa trở về căn nhà cấp bốn của cha dường như đã bớt đi phần nào sức nặng ngột ngạt của sự tuyệt vọng ban trưa, nhưng nơi sâu thẳm lồng ngực cậu, nỗi âu lo vẫn trĩu nặng khôn nguôi. Cậu thọc tay vào túi quần, chiếc điện thoại di động cũ kỹ đã được ngón tay cậu bấm cài sẵn chuông báo thức vào đúng sáu giờ sáng mai; nhưng Bảo hiểu rất rõ, việc sáng mai cánh cửa của *Tiệm Sửa Những Điều Chưa Muộn* có thực sự mở ra để đón nhận một kẻ thất học như cậu bước vào nghề, hay sẽ lạnh lùng đóng sập lại tống khứ cậu về với bến cá của cha, tất cả vẫn còn là một dấu hỏi lớn đang treo lơ lửng phía trước.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories