Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.39 / 40
Chapter 39

Đêm mở cửa quá ba giờ

Biển hiệu chữ vàng *Lúc Nửa Đêm* bừng sáng lúc không giờ giữa làn sương se lạnh, nhưng gian tiệm đêm nay ngập tràn một thứ hơi ấm khác thường, cất lên từ những lời chúc mộc mạc và những món quà gửi về từ muôn nẻo phương xa.

Mặt kính dày chắn gió phía mặt tiền đã phủ một lớp sương mỏng tang như bụi nước, phản chiếu đốm lửa vàng dịu dàng hắt ra từ sâu trong hẻm Hoa Đăng. Không khí của buổi giao thời tĩnh lặng đến mức người ta có thể nghe được từng nhịp thở mềm của đất trời cao nguyên. Chỉ có tiếng gió khuya lùa qua những vòm thông già sẫm màu phía sau triền đồi, khi rít khẽ qua khe mái ngói, khi hòa cùng tiếng kim đồng hồ quả lắc bằng đồng cổ kính kêu tích tắc, buông từng giọt thời gian đều đặn xuống nền vách gỗ thông ngả màu nâu sáp. Mè ngồi thu lu ngay ngắn trên bậu cửa sổ con, hai chân trước chụm lại, chóp đuôi mềm khẽ vẫy sang hai bên từng nhịp lười biếng. Đôi mắt tròn xoe màu xanh ngọc bích của nó phẳng lặng như hai phiến đá ướt, chăm chú nhìn ra khoảng tối bàng bạc ngập tràn hơi ẩm ngoài kia.

Nhiên đứng lặng sau quầy gỗ thông mộc, đôi bàn tay mảnh khảnh cẩn trọng gỡ từng nốt dây thừng bện, lột mở từng lớp giấy gói bưu phẩm và những kiện hàng nhỏ bằng gỗ được xếp ngay ngắn bên góc bàn chờ của khách. Đó tuyệt nhiên không phải những kiện hàng bột mì, men khô, bơ tảng hay vani thường nhật chuyển lên từ những chuyến xe đò lúc sớm tinh mơ hay từ các chành xe tải quen ngoài bến. Đó là những bọc quà thơm tho mộc mạc, được gói ghém bằng bàn tay của những con người từng mang trĩu nặng vết thương bước qua cánh cửa này, mang theo nhịp đập thổn thức của những phận đời đã tìm lại được ánh sáng sau những đêm dài mù mịt.

Kiện hàng đầu tiên đặt ngay ngắn trên mặt gỗ là một chiếc thùng gỗ nan thưa xộc xệch, bên ngoài dán một mẩu bìa cứng cắt vội từ vỏ thùng carton, đề dòng chữ to bản, nét bút lông dầu hơi run nhưng đường nét lại vô cùng dứt khoát, chắc nịch của người tài xế đường dài Hoàng Tấn Lộc:

*“Gửi cô Nhiên và chú Thịnh, đây là mấy chục ký quýt đường tôi tự tay hái tại vườn nhà dưới Đơn Dương lúc trời vừa hửng sáng tinh mơ. Vợ con tôi dặn đi dặn lại là phải gửi lời cảm ơn sâu nặng đến hai người. Những chuyến xe tải của tôi bây giờ luôn về kịp đến sân nhà trước bữa cơm tối mỗi ngày, con bé Bống nhà tôi đã dứt hẳn cơn sốt kéo dài, vết sẹo sau gáy cũng lành da non và ngày nào nó cũng líu lo đòi ba nổ máy chở đi học bằng chiếc xe bán tải cũ. Tôi không còn phóng bạt mạng qua những khúc cua mù sương nữa.”*

Nhiên gỡ thanh nẹp gỗ cuối cùng, mở hé nắp thùng. Hương quýt chín mọng, thanh mát pha lẫn vị chua dịu và ngai ngái mùi đất đỏ bazan màu mỡ lập tức ùa ra, lấp đầy từng ngóc ngách của gian tiệm. Từng quả quýt vỏ mỏng màu vàng cam bóng bẩy, căng tròn sức sống, cuống lá xanh tươi vẫn còn đọng lại vài vệt đất đỏ khô cong, như minh chứng hiển hiện nhất cho những giấc ngủ trọn vẹn, không còn cơn ác mộng rượt đuổi nào đè nặng lên ngực người đàn ông từng gục trán bên vô lăng vì kiệt cùng thể xác và dằn vặt ân hận suốt bao năm trời.

Bên cạnh thùng nan quýt đường là một chiếc hộp xốp nhỏ buộc dây dù cẩn thận, do chuyến xe khách Đức Trọng chạy tuyến chiều muộn chuyển đến đặt trước thềm từ lúc nhá nhem. Dưới lớp giấy báo ẩm giữ nhiệt là những vỉ dâu tây giống cổ Đà Lạt căng mọng, đỏ au và tỏa ra mùi thơm ngọt lành pha lẫn chút chua thanh thuần khiết của thảo mộc vùng cao. Tấm thiệp cài cẩn thận bên mép hộp mang nét chữ mềm mại, tròn trịa của cô sinh viên Trương Minh An:

*“Chị Nhiên ơi, em đã kể hết mọi chuyện cho mẹ nghe rồi. Em đã gom hết can đảm đón chuyến xe đò sớm nhất về nhà, đúng như lời dặn dò của mẹ ngày ấy. Mẹ không mắng chửi hay trách cứ em một lời nào cả, mẹ chỉ ôm lấy bờ vai gầy của em rồi lẳng lặng xuống bếp nấu cho em một nồi canh chua cá lóc thật to, thật nhiều ngò om như hồi em còn học cấp ba. Em và bạn Linh cũng đã hẹn gặp nhau, ngồi lại bên nhau suốt một buổi chiều đầy nắng sau trường. Chúng em đã ôm nhau khóc nức nở rồi lại cùng cười vang, nhận ra sự đố kỵ bấy lâu chỉ là một đám mây mù vô nghĩa. Chúng em đã cùng ký tên đăng ký học thêm chứng chỉ tiếng Pháp vào học kỳ sau để chuẩn bị hồ sơ du học. Hộp dâu tây này là do chính tay em tỉ mỉ hái ở trang trại nông nghiệp sinh thái nơi em vừa xin làm thêm bán thời gian sau giờ lên lớp. Cảm ơn chị đã trao cho em chiếc tart dâu nồng đượm đêm ấy, để em hiểu rằng một lần vấp ngã hay thất bại cay đắng chưa bao giờ là dấu chấm hết, mà đó là cơ hội quý giá nhất để một người học cách cúi đầu biết ơn tình thương bao dung của những người thân yêu.”*

Nhiên khẽ mỉm cười, đầu ngón tay lướt nhẹ trên từng nét mực còn thơm mùi giấy mới. Cô nghiêng đầu nhìn sang chiếc phong bì vuông vức bằng bìa giấy xi măng màu nâu nhạt đặt cạnh kệ đĩa than bằng gỗ sồi cũ. Bên trong phong bì là một chiếc đĩa than hoàn toàn mới tinh, mặt bìa in hình một vầng bình minh rực rỡ xuyên qua ngọn đồi thông phủ đầy sương khói, với dòng tựa đề dập nổi màu nhũ bạc sắc nét: *“Ban Mai”*. Người gửi bưu kiện ấy là nhạc sĩ Lê Vĩnh Khang. Ở mặt sau của bìa đĩa, phần thông tin tác quyền âm nhạc được in nổi bật, trang trọng với kiểu chữ chân phương: *“Sáng tác: Lê Vĩnh Khang & Nguyễn Thanh Phong”*.

Trong bức thư ngắn đính kèm bên trong, người nhạc sĩ từng gục ngã vì men rượu và những bản hợp đồng dối trá đã viết bằng những dòng chữ nắn nót:

*“Tôi đã tìm được Phong rồi. Cậu ấy đang làm công cho một xưởng mộc nhỏ chuyên đóng bàn ghế gỗ thông ở rìa thành phố Pleiku. Khi tôi bước vào xưởng, bụi cưa bay mù mịt trong nắng chiều, Phong nhìn tôi không hề có một ánh mắt oán hận hay căm ghét. Cậu ấy chỉ buông chiếc cưa tay xuống, bước lại ôm chầm lấy tôi và bảo rằng cậu ấy đã đợi một lời xin lỗi chân thành từ bốn năm trước. Chúng tôi đã cùng nhau ngồi bên hiên xưởng gỗ, mang theo cây đàn guitar cũ hoàn thành trọn vẹn album này mà không còn phải giấu giếm, không còn một chút dối trá hay trốn chạy hèn nhát nào nữa. Chiếc bánh cuộn quế hương atisô của cô đêm ấy đã kéo giật tôi ra khỏi vũng lầy tăm tối của sự hèn mạt. Tặng cô đĩa nhạc đầu tiên vừa ra lò từ xưởng đĩa, mong sao gian tiệm của cô lúc nào cũng vang lên những thanh âm trung thực và thanh khiết nhất của cuộc đời.”*

Và ở góc trong cùng của chiếc bàn chờ, một chiếc hũ thủy tinh tròn trịa thắt nơ vải gai mộc mạc, bên trong chứa đầy những lát mứt gừng vàng ươm, dẻo quánh ngâm đẫm trong mật ong hoa cà phê đậm đặc. Nét chữ run rẩy, gầy guộc nhưng nắn nót của đôi bàn tay người già ghi lại từ một khu chung cư cao tầng nơi Sài Gòn xa xôi:

*“Gửi hai cháu Nhiên và Thịnh. Ông bà đã dọn hẳn vào căn hộ mới ở tầng hai mươi của khu chung cư này rồi. Chiếc hộp nhạc kỷ niệm năm 1974 của bà Sương được đặt trang trọng ngay cạnh khung cửa sổ lớn nhìn thẳng ra khúc quanh của sông Sài Gòn lộng gió. Căn nhà ngói cổ năm gian đầy kỷ niệm xưa đã giao lại cho người ta tháo dỡ, nhưng lòng dạ chúng tôi giờ đây không còn thấy tiếc nuối, xót xa hay sợ hãi bất kỳ điều gì nữa. Bởi vì chúng tôi đã hiểu ra rằng, ở đâu có sự chở che, bao dung và thấu hiểu lẫn nhau giữa hai tâm hồn, thì nơi đó chính là nhà. Hũ mứt gừng cay này là do chính tay bà Sương tỉ mỉ chọn từng củ gừng sẻ, gọt vỏ rồi rim lửa nhỏ suốt một ngày một đêm gửi ngược lên non cho hai cháu ngậm chống rét trong những đêm sương buốt giá của Đà Lạt.”*

Nhiên đứng lặng hồi lâu, lòng bàn tay áp nhẹ lên bề mặt thủy tinh ram ráp, mát lạnh của chiếc hũ mứt. Mùi gừng cay nồng ấm sực, vị ngọt đậm của mật ong hoa cà phê, hương ngai ngái tươi nguyên của những trái quýt non Đơn Dương và sắc đỏ rực rỡ, ngọt ngào của từng trái dâu tây đầu mùa... tất cả những mùi vị ấy dường như đang quyện chặt vào nhau trong không gian kín đáo của gian tiệm bánh, tấu lên một khúc hoan ca sống động của những số phận đã tự mình bước qua giông bão để tìm lại phương hướng của cuộc đời.

Những món quà mộc mạc nằm tĩnh lặng trên mặt quầy gỗ chính là lời giải đáp sáng tỏ và chân thực nhất cho một sự thật mà suốt bốn năm ròng cô từng trăn trở và ngộ nhận: chiếc bánh ký ức tự thân nó chưa bao giờ là một phép màu vạn năng có thể đảo ngược thời gian hay xóa bỏ những lỗi lầm đã hằn sâu vào số kiếp.

Men cái hoang dã từ đất trời và kỹ nghệ nhào nặn gia truyền của mẹ Thu Hà chỉ đóng vai trò như một ngọn đèn dầu nhỏ nhoi được thắp lên giữa đêm đen mù mịt, mở toang cánh cửa nội tâm khép kín và thổi bùng lên đốm than ký ức âm ỉ, để mỗi con người có cơ hội nhìn thẳng vào những góc khuất tăm tối nhất mà họ từng trốn chạy hoặc hèn nhát lãng quên. Nhưng để bước qua ngưỡng cửa ấy, để dũng cảm đối diện với những sai lầm thô ráp, để mở miệng nói ra một lời tạ lỗi chân thành, để buông bỏ những chấp niệm cố chấp và nhấc chân bước đi trên một con đường mới, điều đó hoàn toàn thuộc về ý chí, sức mạnh và lòng can đảm của chính bản thân từng người khách.

Người tài xế Lộc đã tự mình siết chặt vô lăng, quyết định giảm bớt những chuyến xe bạc mạng trong đêm để trở về ngồi bên mâm cơm ấm cúng cùng vợ con; cô sinh viên An đã tự mình dẹp bỏ vỏ bọc sĩ diện hão huyền để đón nhận tình thương bao dung vô điều kiện của người mẹ nghèo và sự chở che của người bạn thân; người nhạc sĩ Khang đã tự mình xé bỏ bản hợp đồng danh vọng bất chính để trả lại danh dự và sự công bằng cho người bạn đồng hành năm cũ; và hai mảnh đời xế bóng của ông Tâm, bà Sương đã cùng nhau trút bỏ sự tự tôn cay nghiệt để nắm chặt lấy bàn tay nhau bước vào chặng đường cuối của kiếp người.

Chiếc bánh thơm tho chỉ là điểm khởi đầu cho một sự thức tỉnh. Chính lòng dũng cảm của con người mới là ngọn lửa diệu kỳ thực sự tái sinh cuộc sống của họ.

Tiếng chuông từ chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ mun trên vách tường bất ngờ buông từng nhịp trầm đục, trang nghiêm vang vọng khắp gian phòng.

*Bính... boong...*

Một tiếng. Hai tiếng. Ba tiếng.

Đúng ba giờ sáng.

Khoảnh khắc thiêng liêng, quen thuộc và cũng là lằn ranh khắc nghiệt nhất suốt một ngàn bốn trăm đêm ròng rã đã điểm. Theo phản xạ và thói quen đã ăn sâu vào từng đường gân, thớ thịt suốt bốn năm trời kể từ ngày tiệm bánh mở cửa, đây chính là lúc ngọn đèn biển hiệu chữ vàng ngoài hiên phải tắt ngấm, hai cánh cửa gỗ thông dày cộp phải khép chặt lại, then cài bằng sắt đen nặng trịch phải hạ xuống để gian tiệm chìm vào bóng tối biệt lập hoàn toàn, ngăn cách cô với dòng chảy chuyển động của thế giới bên ngoài.

Từ gian bếp nhỏ phía sau, tiếng rèm vải thô xao động nhẹ. Thịnh bước ra, hai tay bưng hai tách trà atisô nóng hổi còn nghi ngút khói, hương thảo mộc thanh tao lan tỏa dịu dàng trong không gian. Anh mặc chiếc áo khoác nỉ sẫm màu quen thuộc, bờ vai rộng và bước chân điềm tĩnh, vững chãi như một thân thông già giữa rừng nguyên sinh. Đặt hai tách trà xuống mặt quầy gỗ cạnh thùng quýt đường, Thịnh không hề hối thúc, cũng không đưa mắt nhìn về phía cánh cửa hay nhắc nhở chuyện cài then như mọi đêm. Anh chỉ đứng tựa lưng vào mép quầy, ánh mắt đen lánh ngập tràn sự thấu hiểu sâu sắc, lặng lẽ và dịu dàng ngắm nhìn Nhiên.

“Ba giờ rồi, Nhiên,” Thịnh khẽ cất lời, giọng anh trầm ấm, mang một niềm tin cậy tuyệt đối và bình yên.

Nhiên nhìn anh, rồi từ từ cúi đầu nhìn xuống đôi bàn tay mình. Đôi bàn tay từng run rẩy không kiểm soát vì nỗi sợ hãi ánh sáng mặt trời, từng co quắp trong những cơn sốt phản phệ buốt lạnh xương tủy vì đã dại dột ôm đồm toàn bộ gánh nặng nỗi đau của tha nhân, giờ đây đang hoàn toàn bình thản, những ngón tay ấm áp và hồng hào dưới ánh đèn lồng.

Cô chậm rãi rời khỏi quầy gỗ, bước từng bước khoan thai lại gần khung cửa chính của tiệm bánh.

Đầu ngón tay cô chạm vào thanh then cài bằng sắt đúc nặng trịch, lạnh buốt – thứ chốt chặn hữu hình từng giam hãm cô trong một ốc đảo cô độc của bóng đêm và mặc cảm tội lỗi suốt bốn năm đằng đẵng sau cái chết đột ngột của mẹ Thu Hà. Nhưng lần này, ngón tay cô không hề gạt chốt sắt xuống khe gỗ quen thuộc.

Nhiên đứng thẳng, ngực căng tràn khi hít vào một hơi thật sâu luồng dưỡng khí trong lành, ẩm ướt và se lạnh đặc trưng của màn đêm non cao. Bằng một động tác dứt khoát, thanh thản và nhẹ nhàng đến kỳ lạ, cô nhấc bổng thanh then sắt ra khỏi giá đỡ, đặt nó nằm yên sang một bên hộc gỗ. Đôi bàn tay thon thả áp lên hai cánh cửa gỗ thông dày dặn, đẩy mạnh ra ngoài, mở toang toàn bộ lối vào dẫn thẳng ra con hẻm Hoa Đăng.

Gió đêm lập tức ùa vào lồng lộng, cuốn theo hương thơm ngai ngái của lá thông khô và hơi ẩm mượt mà của những đám sương khuya đang là đà bay qua mặt đường. Nhưng trong khoang ngực Nhiên, không còn sót lại một chút buốt giá hay sự cô đơn rợn ngợp nào của những đêm dài độc hành năm cũ. Trên trần tiệm bánh, ngọn đèn lồng bằng đồng màu vàng hổ phách vẫn tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp, rực rỡ, chiếu rọi xuyên qua làn sương mờ ảo, vươn dài thành một vệt sáng vàng cam kiêu hãnh trải dài trên từng phiến đá lát ẩm ướt của con hẻm.

Bên ngoài hiên, biển hiệu chữ vàng *Lúc Nửa Đêm* vẫn kiêu hãnh bừng sáng giữa nền trời tối thẫm.

Lời nguyền ba giờ sáng – bức tường ngăn cách giữa quá khứ đau thương và sự sống hiện tại – đã chính thức bị phá bỏ từ khoảnh khắc này.

Thịnh bước lại đứng ngay cạnh cô nơi bậc cửa. Bàn tay anh ấm áp và rắn rỏi đặt nhẹ lên bờ vai nhỏ nhắn của Nhiên, truyền sang cô nguồn sinh lực chở che vững vàng và bền bỉ. Hai người cùng đứng bên bậu cửa mở toang, ngắm nhìn làn sương bay lãng đãng qua luồng sáng vàng. Chú mèo Mè cũng thong thả nhảy xuống khỏi bậu cửa sổ, bước từng bước điềm đạm lại gần, cọ đầu thật âu yếm vào mắt cá chân của Nhiên rồi ngồi xếp bằng ngay ngắn trên thềm gỗ, chiếc đuôi khẽ phe phẩy từng nhịp bình thản trên mặt sàn.

“Cảm giác thế nào em?” Thịnh hỏi khẽ, khóe môi khẽ cong lên một nụ cười ấm áp.

“Thoáng đãng và nhẹ nhõm lắm anh à,” Nhiên mỉm cười, ánh mắt cô trong vắt, lấp lánh phản chiếu những đốm sáng lung linh ngoài ngõ. “Như thể em vừa trút bỏ được một khối đá nặng trên ngực, vừa được thở một hơi thật dài, thật sâu sau suốt bao nhiêu năm nín thở.”

Đúng lúc ba giờ mười lăm phút, từ phía đầu dốc hẻm Hoa Đăng, ánh đèn pha tròn màu vàng nhạt của một chiếc xe ô tô chầm chậm quét qua những bức tường đá phủ đầy rêu phong cổ kính. Tiếng động cơ xe êm ái, trầm đục vang lên rồi dừng hẳn lại ngay trước lối rẽ dẫn vào bậc tam cấp của tiệm bánh.

Cánh cửa xe phía trước bật mở. Một bóng người đàn ông cao gầy, mái tóc đã bạc trắng như tuyết sương được buộc gọn gàng bằng một chiếc khăn vải thô nhuộm màu chàm sẫm, chậm rãi bước xuống xe. Đó là thầy Trần Bách. Ông mặc chiếc áo sơ mi đũi màu xám tro giản dị, trên khoé mắt và vầng trán hằn sâu những nếp nhăn của năm tháng phong trần sương gió, nhưng đôi mắt ông giờ đây toát lên một vẻ an nhiên, thanh thản và tĩnh tại đến lạ thường.

Bách vòng ra phía sau xe, ân cần mở rộng cánh cửa sau và nhẹ nhàng đỡ một chiếc xe lăn bằng gỗ thông mộc xuống mặt đường êm ái. Ngồi trên chiếc xe lăn ấy là bà Mai. Bà vẫn quàng chiếc khăn len sợi thô màu xám tro viền cam sẫm thân thuộc năm nào, gương mặt phúc hậu, tròn trịa khẽ nghiêng sang một bên, ngơ ngác ngắm nhìn khung cảnh xung quanh.

“Mai à, chúng ta về đến nơi rồi,” Bách cúi thấp người, kề sát mặt thì thầm dịu dàng vào tai người vợ tri kỷ. “Nhìn kìa, đây chính là tiệm bánh của con bé Nhiên.”

Bà Mai chớp chớp mắt, khóe môi hơi mấp máy, lặp lại từng tiếng ngắt quãng như một đứa trẻ ngoan ngoãn đang học nói: “Tiệm bánh... Nhiên bột nhỏ... thơm mùi bột non...”

Bách mỉm cười đôn hậu, đôi bàn tay có vết sẹo bỏng lớn hình chữ V trên mu tay cẩn trọng nắm lấy hai tay đẩy của chiếc xe lăn, chậm rãi đẩy bà Mai tiến sâu vào con hẻm. Từng vòng bánh xe gỗ lăn đều đặn trên những phiến đá ướt lạnh, rẽ màn sương đêm đang lững lờ trôi dạt dưới chân tường.

Nhiên đứng sững nơi ngưỡng cửa tiệm, tim cô đập rộn ràng từng nhịp nghẹn ngào trong lồng ngực. Những ngón tay cô khẽ siết chặt lấy vạt tạp dề vải thô màu nâu sẫm. Bốn năm trước, cũng chính người thầy này đã lặng lẽ rời khỏi tiệm bánh giữa một buổi trưa nắng gắt, chìm trong sự câm lặng tuyệt vọng và nỗi dằn vặt khôn nguôi, để lại cho cô nỗi ân hận tột cùng tưởng chừng không bao giờ nguôi ngoai. Nhưng giờ đây, thầy đã thực sự quay trở lại, bước qua cánh cửa tiệm vẫn mở toang và sáng rực ánh đèn lúc ba giờ sáng, đúng như lời hẹn ước thiêng liêng mà hai thầy trò đã trao nhau bên bờ hồ Tuyền Lam mù sương.

Mè cất tiếng kêu “meo” một tiếng trong trẻo, thoăn thoắt chạy băng qua thềm đá, quấn quýt quanh đôi ủng da mộc của Bách, rồi nhanh như một tia chớp, nó nhảy phóc lên lòng bà Mai, cuộn tròn ngoan ngoãn. Bà Mai đưa bàn tay gầy guộc, gân guốc khẽ run rẩy vuốt ve lớp lông đen mượt mà ấm áp của chú mèo, đôi mắt đục mờ vì căn bệnh quên lãng bỗng ánh lên một tia sáng ấm áp, rạng ngời.

“Thầy... Cô Mai...” Nhiên bước vội xuống thềm đá, giọng cô run lên, nghẹn ngào tan vào trong gió sớm.

Bách dừng xe lăn lại ngay trước thềm cửa tiệm. Người thầy già ngước mắt lên, nhìn thật lâu vào biển hiệu chữ vàng vẫn đang rực rỡ tỏa sáng, nhìn hai cánh cửa gỗ mở toang hết cỡ và ngọn đèn lồng màu hổ phách ấm áp đang chiếu rọi cả một góc trời đêm. Khóe mắt Bách bỗng hoe đỏ, đôi môi ông run run vì một niềm xúc động quá đỗi lớn lao đang dâng trào trong lồng ngực.

“Nhiên đấy ư con?” Bách cất tiếng, giọng ông trầm ấm, rung rinh và chan chứa tình yêu thương ruột thịt. “Thầy đã nhìn thấy ngọn đèn của con từ tít tận đầu dốc lớn ngoài kia. Con đã giữ trọn lời hứa... ngọn đèn của con vẫn sáng sau ba giờ sáng.”

Thịnh nhanh nhẹn bước xuống thềm, cùng với Nhiên cẩn thận nâng hai bên tay vịn của chiếc xe lăn qua ngưỡng cửa gỗ cao, đưa bà Mai vào trong gian tiệm ấm sực, ngập tràn mùi bơ thơm lừng và men bánh mới. Gian phòng nhỏ bé bỗng chốc trở nên đủ đầy, ấm cúng và trọn vẹn hơn bao giờ hết.

Nhiên kéo chiếc bàn gỗ tròn kê ở góc phòng nhiều ánh sáng nhất – nơi có đặt chậu cây hương thảo xanh tươi của bà Sương tặng hôm nào – và kính cẩn mời thầy Bách cùng cô Mai an tọa. Cô vội vã quay trở vào gian bếp ấm, mang ra một khay bánh vừa được rút ra khỏi lò nướng cách đây ít phút. Đó là những chiếc bánh mì bơ sữa tròn trịa, căng phồng đẫy đà, lớp vỏ bánh vàng óng ả như màu mật ong rừng chớm thu, trên bề mặt lấp lánh những hạt đường nâu mịn màng và phảng phất một làn hương thảo mộc dịu nhẹ, thanh khiết từ bột rễ cam thảo sao khô hòa quyện cùng mẻ men cội nguồn mà hai thầy trò đã cùng nhau hòa trộn bên bờ hồ.

Nhiên đặt khay bánh nóng hổi lên mặt bàn, cung kính gắp hai chiếc bánh còn bốc khói nghi ngút vào hai chiếc đĩa sứ hoa lam đặt trước mặt Bách và Mai, rồi rót thêm hai tách trà hoa cúc nóng vàng ươm.

“Con kính mời thầy, mời cô nếm thử mẻ bánh mới của con,” Nhiên nói, ánh mắt cô lấp lánh niềm tự hào xen lẫn sự biết ơn chân thành nhất.

Bách đón lấy chiếc bánh từ tay cô học trò nhỏ. Ông không vội ăn ngay mà từ từ nhắm mắt lại, nâng chiếc bánh lên gần sát sống mũi để hít sâu từng tầng hương thơm đang lan tỏa. Một nụ cười mãn nguyện, bình yên và thanh thản tuyệt đối hiện rõ trên gương mặt già nua đầy nếp nhăn của người thợ làm bánh kỳ cựu cả đời chìm nổi.

Bách bẻ đôi chiếc bánh mì. Ruột bánh xốp mềm, từng thớ bánh dai nhẹ, đàn hồi hoàn hảo như một lớp bọt biển tự nhiên, bốc lên một làn khói thơm ngậy mùi sữa tươi Đơn Dương hòa cùng men thảo mộc thuần khiết.

Bách tỉ mỉ xé một mẩu ruột bánh mềm mại bón vào miệng bà Mai. Bà Mai nhấm nháp từng chút một, nhai thật chậm rãi, ánh mắt bà ngập tràn niềm vui thuần khiết như một đứa trẻ thơ được nếm quà chợ, bà gật đầu lia lịa rồi mỉm cười ngây ngô: “Ngon quá... thơm mùi sữa mẹ Hà... thơm mùi bột non của con bé Nhiên...”

Bách cũng cắn một miếng bánh nhỏ. Ông nhai thật chậm, để từng phân tử bột mì, bơ béo và men cái thấm sâu vào từng gai vị giác nơi đầu lưỡi và vòm họng. Khi nuốt miếng bánh xuống, cảm nhận một dòng ấm áp lan tỏa từ cổ họng xuống lồng ngực, người thầy già khẽ thở phào ra một hơi thật dài, ngước nhìn người học trò duy nhất của mình bằng một ánh mắt chan chứa niềm tự hào và sự công nhận tuyệt đối:

“Tuyệt vời lắm, Nhiên. Cốt bánh rất vững chãi, hương vị đằm thắm, sâu lắng, hoàn toàn không có một chút nôn nóng, không có một chút sợ hãi, dằn vặt hay cưỡng cầu nào trong mẻ bột này cả. Con đã thực sự vượt qua thầy rồi. Bánh của con làm ra giờ đây không còn mang vị đắng chát của sự trừng phạt hay chuộc tội nữa, mà nó mang trọn vẹn sinh khí nồng nàn của sự sống.”

Nhiên xúc động cúi đầu, hai bàn tay đan chặt vào nhau trên tạp dề. Cô nhìn người thầy đáng kính đã bạc trắng mái đầu, nhìn bà Mai đang ăn từng miếng bánh nhỏ trong sự bình yên thanh thản, rồi ngước sang nhìn Thịnh – người đàn ông đang đứng tựa vào quầy gỗ với ánh mắt ngập tràn sự khích lệ và chở che bền bỉ dành cho cô.

Nhiên hít một hơi thật sâu, ngẩng cao đầu, đứng thẳng lưng trước mặt thầy Bách, cất tiếng nói rõ ràng, dõng dạc từng lời – như một lời tuyên thệ nghề nghiệp thiêng liêng nhất trước người thầy tôn kính và trước chính lương tâm người thợ của mình:

“Thầy Bách, chuyến đi lên triền đồi Mimosa và những ngày ở lại căn nhà gỗ ven hồ Tuyền Lam đã dạy cho con bài học lớn nhất trong cuộc đời của một người thợ bánh. Con đã hiểu vì sao trước lúc đi xa, mẹ Thu Hà luôn dặn con phải bước ra sống dưới ánh sáng mặt trời, và con cũng đã thấu suốt lý do vì sao hai mươi năm trước thầy đã quyết định dừng lại mọi cuộc thử nghiệm men ký ức.”

Bách lặng lẽ lắng nghe, ánh mắt ông ánh lên những tia sáng ấm áp, gật đầu khích lệ cô nói tiếp.

Nhiên tiếp tục, giọng cô đanh chắc, kiên định và đầy bản lĩnh của một người đã tìm thấy điểm tựa tâm hồn:

“Kể từ đêm nay trở đi, tiệm bánh Lúc Nửa Đêm sẽ hoạt động theo những nguyên tắc hoàn toàn mới.

Thứ nhất, tiệm bánh sẽ giới hạn nghiêm ngặt số lượng bánh ký ức được làm ra. Mỗi ngày hoặc mỗi đêm, con chỉ làm tối đa một hoặc hai chiếc, và chỉ làm khi thực sự có một người đang bế tắc, cần được soi sáng một khúc mắc sâu kín trong tâm hồn. Người thợ làm bánh tuyệt đối không bao giờ được tự biến mình thành một cỗ máy cứu rỗi vạn năng, không được phép vắt kiệt thể xác và tinh thần mình vào những dư chấn cảm xúc đau đớn của người khác. Con phải giữ cho gian bếp của mình luôn khỏe mạnh, thanh sạch và bình yên, thì từng mẻ bánh làm ra mới thực sự mang lại sự an ủi trọn vẹn cho nhân gian.”

Bách khẽ mỉm cười, đôi mắt già nua ánh lên niềm mãn nguyện sâu sắc: “Rất đúng. Chiếc lò nướng đất sét của thầy bên bờ hồ kia cũng chỉ vừa đủ chỗ cho hai ổ bánh một lần nướng. Biết dừng lại đúng lúc, biết giới hạn của sức người, đó chính là sự từ bi lớn nhất đối với bản thân và đối với cái nghề làm bánh này.”

“Thứ hai,” Nhiên tiếp tục, ánh mắt cô hướng ra phía con hẻm đang dần chuyển mình đón rạng đông ngoài kia, “con sẽ bảo vệ tuyệt đối danh tính, đời tư và sự tĩnh lặng của từng vị khách tìm đến đây. Tiệm bánh sẽ không bao giờ trở thành một công cụ quảng bá, không cho phép mạng xã hội ồn ào hay sự hiếu kỳ thương mại biến những nỗi đau sâu kín của thực khách thành trò tiêu khiển hay sự săn đón tầm thường. Bánh ký ức chỉ mở ra một cơ hội để họ nhìn lại, còn cuộc đời phía trước thuộc về quyền tự quyết và lòng dũng cảm của chính họ. Con chỉ là người thắp lên đốm than nhỏ nhoi, tuyệt đối không can thiệp, không định hướng và không thao túng số phận của bất kỳ ai.”

“Và điều cuối cùng,” Nhiên mỉm cười rạng rỡ, ánh mắt cô lấp lánh khi quay sang nhìn Thịnh đang mỉm cười đứng bên, “con sẽ không để bóng tối giam cầm số phận mình thêm một ngày nào nữa. Men cái hoang dã thuộc về ánh sáng, thuộc về hơi thở của thiên nhiên và đất trời bao la. Con sẽ không trói buộc đời mình trong khung giờ chật hẹp từ không giờ đến ba giờ sáng như một kẻ trốn chạy cuộc đời nữa. Bắt đầu từ sáng ngày mai, tiệm bánh sẽ mở toang cánh cửa đón những tia nắng ban mai đầu tiên, đón những vị khách bình dị của ban ngày.”

Nói đoạn, Nhiên bước lại chiếc kệ sách nhỏ cạnh quầy bánh, nhấc lên một tấm bảng bằng gỗ thông mới toanh mà cô đã cẩn thận dùng giấy ráp bào nhẵn bóng và lau sạch từ chiều hôm qua. Trên tấm bảng gỗ mộc thơm lừng ấy, những nét chữ màu trắng thanh thoát được chính tay cô nắn nót sơn tỉ mỉ từng nét:

*“TIỆM BÁNH HOA ĐĂNG* *Mở cửa: 06h00 – 18h00* *(Bánh mì tươi nướng mới mỗi sáng)*”

Nhìn tấm bảng gỗ mới với cái tên giản dị mà thân thương, thầy Bách mỉm cười thật tươi, những giọt nước mắt hạnh phúc không kìm nén được khẽ lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo, sạm màu sương gió của ông. Người thầy già đưa bàn tay có vết sẹo bỏng run rẩy vỗ nhẹ lên vai Nhiên, giọng ông nghẹn ngào vì mãn nguyện:

“Tốt lắm, con gái của thầy. Mẹ Thu Hà của con trên trời cao nếu nhìn thấy khoảnh khắc này, nhất định sẽ mỉm cười thanh thản. Con đã thực sự trưởng thành rồi, Nhiên à. Tiệm bánh này từ nay không còn là nơi ẩn náu cô độc của những bóng ma quá khứ nữa, mà nó đã trở thành một mái nhà thực sự của sự sống và tình yêu thương.”

Bà Mai ngồi trên chiếc xe lăn gỗ thông cũng ngước đôi mắt trong veo lên nhìn ngọn đèn vàng ấm áp trên trần nhà, rồi nhìn ra những vệt sáng trắng bạc đầu tiên của ngày mới đang len lỏi qua làn sương mờ ngoài thềm cửa. Bà Mai khẽ vỗ hai bàn tay gầy guộc vào nhau, cất tiếng cười khanh khách giòn tan như một đứa trẻ: “Sáng rồi... trời sáng thật rồi kìa...”

Thịnh bước chậm lại gần bên Nhiên, bàn tay ấm áp của anh lặng lẽ tìm lấy bàn tay cô. Hai bàn tay lồng vào nhau, đan chặt những ngón tay vững vàng và ấm áp giữa không gian ngập tràn tình thương yêu ruột thịt.

Trên vách gỗ, chiếc chuông đồng hồ cổ kính thong thả điểm bốn tiếng ngân vang, rền rĩ và trầm ấm.

Bốn giờ sáng. Nhưng ngoài hiên, ngọn đèn biển hiệu chữ vàng vẫn kiêu hãnh tỏa sáng rực rỡ giữa làn sương non đang dần tan biến dưới ánh ban mai.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories