Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.31 / 40
Chapter 31

Bức ảnh ngược sáng

Màn hình chiếc điện thoại của Thịnh sáng bừng giữa quầy gỗ tối, rọi một luồng quang năng lạnh lẽo vào khoảng không gian chật hẹp của gian bếp, chiếu rọi khung cảnh mặt hồ Tuyền Lâm phủ sương bảng lảng lúc rạng đông trong bức ảnh vừa được Gia Huy gửi tới qua đường truyền ngắt quãng.

Ánh sáng trắng xanh hắt lên mặt bàn bằng gỗ trắc lâu năm đẫm mùi bơ nướng, mùi bột lên men và chút mằn mặn của muối biển thô, phản chiếu vào đáy mắt Nhiên một vùng lấp lánh như ngấn nước đọng. Đêm Đà Lạt ngoài khung cửa kính vẫn tĩnh mịch đến rợn người, gió luồn qua khe thông reo từng hồi dài trầm đục, nhưng trong gian bếp nhỏ của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, thời gian dường như vừa ngừng lại, cô đặc thành một khối vô hình chèn ép lên lồng ngực. Chiếc lò nướng bằng gang đúc dày cộp đặt sát góc tường vẫn âm ỉ tỏa ra thứ hơi ấm nồng đượm, quen thuộc của mẻ bánh mì bơ mặn thường nhật vừa chín tới, hòa cùng hương thơm thanh sạch của sương đêm đang bám đầy trên những gờ ngói cổ và khe rãnh máng xối rỉ sét.

Nhiên nín thở. Hai ngón tay cô đặt lên mặt kính phẳng lì của chiếc điện thoại hơi run run, lớp biểu bì lạnh ngắt khẽ trượt đi trên bề mặt bám dính vài hạt bụi mịn. Cô cúi sát mặt xuống, đầu ngón tay khẽ miết nhẹ, tách rời nhau để phóng to góc trái của bức ảnh toàn cảnh.

Khung hình lập tức vỡ hạt đôi chút dưới độ phân giải khiêm tốn của chiếc máy ảnh số chụp vội trong điều kiện thiếu sáng và ngược sương mờ ảo, nhưng từng đường nét, từng mảng màu tương phản vẫn hiện lên rõ ràng đến mức làm thắt lại từng múi cơ nơi lồng ngực cô. Dưới vạt sương sớm mỏng manh giăng ngang mặt nước hồ màu lam xám ngắt, bóng dáng một người đàn ông trạc lục tuần, mái tóc hoa râm cắt ngắn lộ rõ gáy gầy, đang hơi khom người về phía trước, nhẫn nại đẩy một chiếc xe lăn bằng gỗ thông mộc. Trên chiếc xe lăn ấy, một người phụ nữ ngồi nghiêng nghiêng, gương mặt hơi cúi thấp khuất lấp hoàn toàn dưới vành bóng của chiếc mũ len sợi đan lỏng, nhưng vắt ngang qua đôi vai gầy guộc, hơi sụp xuống của bà là một chiếc khăn len dệt sợi thô màu xám tro với đường viền len móc sợi lớn màu cam sẫm.

Mắt Nhiên nhòa đi trong tích tắc. Một làn sương ấm nóng dâng lên nơi khóe mi, làm nhòe nhoẹt quầng sáng điện thoại thành những vệt tia rực rỡ nhưng nhức buốt.

Chiếc khăn ấy… cô không thể nào nhầm lẫn được. Dù có trôi qua bao nhiêu mùa sương muối hay năm tháng dâu bể, dù có nhìn qua ngàn vạn bức ảnh nhạt nhòa, cô vẫn nhận ra từng nút đan thủ công vụng về ấy.

Mới chỉ hai đêm trước thôi, khi bước chân vào gian phòng thực nghiệm xếp bằng đá chẻ phủ đầy rêu phong ẩm ướt và hoa mimosa dại trên đỉnh đồi hoang phế lộng gió, cô đã run rẩy nhặt chiếc khăn y hệt như thế vắt trên lưng chiếc ghế gỗ thông đã mục ruỗng nửa phần chân. Sợi len xám tro pha viền cam đất ấy mang một mùi hương dường như đã ngấm sâu vào từng thớ dệt, một thứ mùi không bao giờ phai nhạt trong tiềm thức cô từ những ngày thơ bé: mùi tinh dầu hoa cam neroli đượm nồng pha lẫn hương vỏ cam sấy khô giòn trên gác bếp, quyện cùng vị ngòn ngọt, thanh khiết và hơi ngai ngái của rễ cam thảo mộc phơi sương. Đó chính là mùi hương thuộc về cô Mai – người phụ nữ mang đôi mắt u buồn tĩnh lặng như mặt nước hồ mùa đông, người mà mẹ Thu Hà của cô và thầy Bách đã dành cả nửa cuộc đời để bảo bọc, chở che trước sự tàn phá nghiệt ngã của chứng mất trí nhớ đang dần xóa sạch từng mảng ký ức.

Từng múi len vặn thừng to bản dệt theo lối ziczac cổ điển, mối nối gút tay có phần gồ ghề nhưng ấm áp ở mép viền màu cam sẫm… tất cả đều trùng khớp hoàn toàn, ăn khớp đến từng milimet trong trí nhớ Nhiên. Đây tuyệt đối không phải là một bóng hình xa lạ ngẫu nhiên đi dạo bên hồ trong buổi sớm sương hàn. Người phụ nữ ngồi trên chiếc xe lăn kia đích thực là cô Mai, và người đàn ông có bóng lưng vững chãi, hơi gù xuống vì thời gian, người đang kiên nhẫn cúi đầu đẩy từng vòng bánh xe lăn qua mặt cỏ ẩm chính là thầy Trần Bách.

"Nhiên, em nhìn kỹ chỗ này chưa?"

Tiếng của Thịnh cất lên thật trầm, rung nhẹ trong lồng ngực dày dặn của anh, kéo giật cô ra khỏi cơn chấn động đang cuộn trào như sóng ngầm dưới đáy biển sâu. Ngón tay thô ráp của anh, nơi kẽ móng vẫn còn vương chút bụi bột mì trắng mịn từ mẻ bánh thường nhật vừa kéo ra khỏi miệng lò gang, khẽ chạm vào màn hình cảm ứng, chậm rãi kéo bức ảnh dịch sang góc đối diện.

"Em nhìn vào hậu cảnh góc phải này." Thịnh phóng to thêm một nấc nữa, tiếng thở của anh phả ra nhè nhẹ bên thái dương cô.

Nhiên chớp mắt liên tục, cố xua đi lớp màng nước mỏng manh đang làm méo mó thị giác để nhìn chăm chú theo hướng ngón tay chỉ của Thịnh. Ở góc phải bức ảnh, chếch về phía doi đất nhỏ nhô hẳn ra mép nước hồ – nơi có một cây thông đuôi phụng khẳng khiu đứng đơn độc, cành lá trơ trọi nghiêng mình soi bóng xuống làn nước thẫm đặc – hiện lên một chiếc bàn tròn bằng gỗ mộc mạc kê sát mép cỏ ngậm sương. Trên mặt bàn con mộc mạc ấy, đặt ngay bên cạnh một chiếc ấm đun nước bằng nhôm đã sứt mất một bên quai quấn dây kẽm, là một chiếc tách gốm đơn độc.

Chiếc tách tráng lớp men màu xanh lam thẫm, thứ màu lam sâu thẳm như lòng vực hồ vào một ngày nhiều mây vần vũ, với những vệt rạn ngầm li ti màu khói chạy dọc thân gốm như mạng nhện giăng trong bóng tối. Nhưng chi tiết khiến ánh mắt Thịnh ghim chặt vào và nhận ra ngay lập tức lại chính là phần quai cầm: quai tách được tạo hình từ hai dải đất sét xoắn vặn thừng thủ công xoay ngược chiều nhau trước khi miết chặt vào thân gốm, tạo nên một đường cong uốn lượn đặc thù, chắc nịch và hơi thô ráp.

"Chiếc tách này..." Nhiên thảng thốt thốt lên, từng âm tiết nghẹn ứ lại nơi cuống họng khô khốc.

"Là của quán cà phê Ban Mai," Thịnh gật đầu, giọng dứt khoát nhưng tràn đầy sự cẩn trọng vốn có của một người lính đã quen quan sát trong đêm tối. "Anh làm bảo vệ ca đêm cho tòa nhà An Sương suốt ba năm nay, thường xuyên đi tuần qua lại con dốc đá đối diện vào những khung giờ giao phiên. Dù chưa bao giờ bước chân vào ngồi lại lâu, nhưng anh nhớ rất rõ những buổi sáng sớm khi quán mở cửa đón sương, bà chủ quán luôn đích thân mang những chiếc tách men lam quai vặn này ra tráng bằng gáo nước sôi đầu tiên của ngày mới. Đây là đồ gốm nung củi thủ công do một lò gốm độc bản ven sông Đa Nhim làm riêng cho quán của bà ấy, xương đất dày, giữ nhiệt cực tốt giữa cái lạnh buốt của cao nguyên, không nơi nào ở Đà Lạt này có chiếc thứ hai mang dáng quai xoắn ngược như vậy."

Những mảnh ghép rời rạc, tưởng chừng như ngẫu nhiên trôi nổi trong tâm trí Nhiên suốt những ngày qua, lập tức va đập vào nhau với một lực chấn động khủng khiếp, tạo thành một chuỗi liên kết sáng rõ đến ngỡ ngàng.

Mẩu giấy báo cũ lót dưới đáy giỏ đựng những quả quýt rừng héo cuống mà người tài xế tên Lộc mang tới tiệm bánh trong đêm mưa bão có in dấu mộc tròn đỏ mờ *Cà phê Ban Mai* cùng vài dòng chữ viết tay bằng mực tím quen thuộc của thầy Bách; những bao bột mì mang nhãn hiệu T-W-65 mộc nguyên cám xay bằng cối đá mà cô Hảo ở tiệm tạp hóa Vạn Hảo dưới chân dốc chợ vẫn đều đặn gửi ra bến xe liên tỉnh vào ngày mùng năm hằng tháng cho một người nhận viết tắt tên *Đ.P*; và giờ đây, chính chiếc tách gốm men lam quai vặn này lại xuất hiện sừng sững ngay bên mép hồ Tuyền Lâm, đặt cách chiếc xe lăn của cô Mai chỉ vài bước chân trần.

Thịnh từ từ thu tay về, hai bàn tay to bè, sạm nắng của anh đan chặt vào nhau đặt trên mặt bàn gỗ trắc, ánh mắt nâu sẫm nhìn thẳng vào mắt Nhiên, điềm đạm nhưng sắc sảo:

"Hồ Tuyền Lâm không phải là một vạt hồ nhỏ phẳng lặng để chúng ta có thể tùy tiện rảo bước một vòng là tìm thấy người cần tìm. Toàn bộ khu vực bờ tây nam giáp hẻm núi sâu rộng hơn ba trăm héc-ta, đồi dốc trập trùng, rừng thông ba lá rậm rạp đan xen vô số nhánh suối ngầm, đầm lầy cạn và những lối mòn tự phát của dân đi tìm nấm, tìm lan rừng. Nếu chúng ta cứ mù quáng men theo mép nước để tìm kiếm căn nhà gỗ có ống khói bằng đá chẻ và chiếc bến thuyền ghép hình chữ T mà Huy vô tình chụp được, rất có thể chúng ta sẽ lọt vào những thung lũng cụt đầy sương độc, hoặc mất hàng tuần lễ ròng rã vô ích giữa những cánh rừng không lối ra."

Anh dừng lại một nhịp thở sâu, quan sát từng nét mặt đang căng cứng và tái nhợt dần của cô gái đối diện, rồi tiếp tục nói bằng giọng trầm ấm:

"Người duy nhất quen thuộc từng ngóc ngách của doi đất đó, người duy nhất nhận bột mì nguyên cám từ cô Hảo để âm thầm vận chuyển sâu vào lõi rừng cho thầy Bách, và cũng là người đã bí mật gửi mẻ men sấy đồi Mimosa qua những chuyến xe đò sớm... chính là bà Đỗ Phượng, chủ nhân của quán cà phê Ban Mai. Muốn tìm được thầy Bách và cô Mai một cách an toàn, chính xác và không đánh động đến sự trốn tránh của thầy, chúng ta bắt buộc phải tìm đến người phụ nữ này."

Một sự im lặng nặng nề, quánh đặc như mật mía bỗng chốc đổ sập xuống, bao trùm lấy toàn bộ không gian tiệm bánh.

Nhiên đứng chết lặng sau quầy gỗ. Chiếc tạp dề bằng vải thô màu xám tro buông thõng bên hông, hai vạt áo khẽ lay động theo luồng gió luồn qua khe cửa thông gió trên cao. Lời Thịnh phân tích hoàn toàn hợp lý, chuẩn xác, sắc bén và là con đường thực tế duy nhất mở ra trước mắt họ lúc này. Từng logic móc nối không một kẽ hở. Nhưng chính vào lúc sự thật chỉ còn cách một tầm với tay, một nỗi sợ hãi nguyên thủy, lạnh buốt và tàn nhẫn bỗng từ nơi sâu thẳm nhất dưới đáy lòng trào dâng, bóp nghẹt lấy khí quản cô.

Quán cà phê Ban Mai.

Cái tên ấy tự thân nó đã chứa đựng một định mệnh, một sự đối nghịch tàn nhẫn với toàn bộ bản ngã mà cô đã gầy dựng. Quán chỉ mở cửa vào lúc sớm tinh mơ, khi những tia nắng đầu tiên xuyên qua màn sương mù dày đặc của đỉnh Lang Biang, phục vụ những người phu cạo mủ thông dậy sớm, những người lao động ca sáng cần một ngụm cà phê đậm đặc để bắt đầu ngày mưu sinh, và những chuyến xe tải chở rau quả đầu ngày rầm rập rời phố núi để đổ về phương nam. Quán không bao giờ mở cửa vào ban đêm. Quán chưa từng và sẽ không bao giờ thuộc về khung giờ từ mười hai giờ đêm đến ba giờ sáng – cái vương quốc chật hẹp của bóng tối đặc quánh, của sự tĩnh lặng tuyệt đối và của sự an toàn tuyệt đối mà Lạc Nhiên đã dựng lên như một pháo đài ngầm để che giấu chính linh hồn rách nát của mình suốt ba năm ròng rã.

Tìm gặp bà Đỗ Phượng đồng nghĩa với việc cô phải bước chân ra khỏi con hẻm Hoa Đăng này.

Không phải bước ra trong đêm tối ẩm ướt lất phất mưa phùn, không phải dưới ánh sáng vàng mờ ảo, vặn vẹo của chiếc đèn đường dây tóc đầu dốc khi cả thành phố sương mù đã chìm sâu vào những cơn mộng mị không đáy. Mà là bước ra dưới ánh mặt trời rực rỡ, chói lòa của ban ngày. Bước đi dưới hàng chục, hàng trăm cặp mắt trần trụi, soi mói của những con người bình thường, xa lạ đang cuồn cuộn chảy trôi trong nhịp sống hằng ngày.

Một cơn ớn lạnh buốt giá chạy dọc từ gót chân lên đến đỉnh đầu Nhiên, khiến các đầu ngón tay cô co quắp lại, bấu chặt vào mép gỗ trắc thô ráp.

Ký ức kinh hoàng của bốn năm về trước trên khúc cua đèo Prenn trơn trượt ngập tràn trong ánh sáng chói lóa, tàn khốc của đèn pha xe tải ngược chiều và ánh chớp rạch ngang nền trời bão tố lại ùa về như một cơn thác lũ hung hãn. Tiếng kim loại xé toạc màn đêm, tiếng thủy tinh vỡ vụn găm sâu vào da thịt, và mùi máu tươi tanh nồng hòa lẫn mùi xăng xe bốc cháy. Rồi hình ảnh của buổi trưa nắng gắt ba năm trước, khi thầy Bách lặng lẽ xách chiếc ba lô vải bạc màu rời khỏi tiệm bánh mà không để lại một lời từ biệt, bỏ mặc cô trơ trọi giữa gian phòng ngập tràn ánh nắng trưa chói chang, khô khốc và cay nghiệt. Ánh sáng ban ngày đối với Nhiên chưa bao giờ là biểu tượng của sự ấm áp hay tái sinh; nó là một bản án trần trụi, là sự phơi bày không thể trốn chạy cho những mặc cảm tội lỗi sâu kín nhất, là nơi lột trần mọi yếu đuối, hoảng loạn và những vết thương rỉ máu mà cô đã dùng màn đêm đen đặc như nhung để băng bó, chôn giấu suốt bao ngày qua.

Suốt một nghìn ngày đêm đã qua, chiếc kén bóng tối ở hẻm Hoa Đăng là nơi trú ẩn duy nhất giúp cô duy trì hơi thở sinh tồn. Đúng ba giờ sáng mỗi ngày, khi chiếc đồng hồ quả lắc điểm hồi chuông thứ ba, cô sẽ hạ thanh then cài sắt nặng nề xuống, dập tắt ngọn đèn lồng giấy bồi chữ vàng ngoài hiên, lẳng lặng trèo lên căn gác xép nhỏ được phủ kín bởi hai lớp rèm nhung đen dày cộp để tự giam cầm mình trong bóng tối nhân tạo. Ban ngày đối với cô là kẻ thù, là vùng đất cấm kỵ chứa đầy những hiểm họa vô hình mà đôi chân cô chưa từng dám đặt xuống dù chỉ một bước ngập ngừng.

"Nhiên..."

Giọng Thịnh cất lên thật khẽ khàng, mềm mại như một chiếc lông vũ rơi xuống mặt hồ phẳng lặng, như thể anh đã đọc thấu từng đợt sóng hoảng loạn đang cào xé dữ dội trong tâm can cô gái nhỏ.

"Em... em không thể," Nhiên lùi lại nửa bước, hơi thở đứt quãng, lưng cô va nhẹ vào mép kệ gỗ đựng gia vị phía sau khiến những chiếc lọ thủy tinh đựng quế chi, hoa hồi và thảo quả nướng khẽ va vào nhau phát ra những tiếng lách cách run rẩy. "Quán Ban Mai mở lúc sáng sớm... Lúc đó ngoài đường đã đông người lắm rồi. Xe cộ, tiếng còi bóp inh ỏi, ánh mắt của những người qua đường... Em không bước chân ra ngoài đó được đâu, Thịnh. Em sẽ nghẹt thở mất... Em không thở nổi dưới bầu trời sáng bạch đó đâu..."

Giọng cô lạc hẳn đi, mỏng manh và yếu ớt như một sợi tơ nhện sắp đứt đoạn trước cơn gió chướng. Đôi mắt đen láy mở to hết cỡ, phản chiếu một nỗi khiếp nhược sâu sắc đã bén rễ quá sâu vào từng tế bào, từng dây thần kinh kể từ ngày biến cố ập xuống cuộc đời cô. Cô có thể đứng vững vàng, bình thản đối diện với những vị khách mang theo nỗi đau giằng xé hay những oán hận khôn nguôi ghé qua tiệm bánh lúc nửa đêm; cô có thể kiên nhẫn nghiến răng chịu đựng sự tê dại buốt óc của vị giác khi đón nhận dư chấn ký ức từ chiếc bánh của người khác; nhưng cô lại hoàn toàn bất lực, tê liệt và run rẩy như một đứa trẻ lạc loài trước một buổi sáng bình thường của nhân gian.

Thịnh không cất lời phản bác ngay lập tức. Anh không dùng những lý lẽ đao to búa lớn hay tỏ ra thất vọng. Anh chậm rãi bước vòng qua quầy gỗ, từng bước chân vững chãi, không hề vội vã hay mang bất kỳ vẻ thúc ép nào. Tiếng đế giày da bảo vệ nện êm ái, trầm đục trên nền gạch tàu màu đỏ sẫm đã mòn vẹt qua năm tháng. Anh dừng lại cách Nhiên đúng nửa bước chân, đủ gần để cô có thể cảm nhận được hơi ấm cơ thể tỏa ra từ chiếc áo khoác gió sờn vai còn vương mùi sương lạnh của anh, nhưng cũng giữ một khoảng cách chừng mực, tôn trọng để không vô tình tạo ra sự ngột ngạt cho khoảng không gian đang run rẩy của cô.

Rồi thật chậm rãi, Thịnh đưa bàn tay to bản, thô ráp với những vết chai sần ở lòng bàn tay ra, khẽ khàng nhưng dứt khoát bao bọc lấy những ngón tay đang lạnh ngắt, cứng đờ như tượng đá của Nhiên.

Cái chạm tay của anh mộc mạc, vững vàng như một gốc thông già ngàn năm cắm sâu rễ vào lòng đất đỏ bazan. Nhiên giật mình, bờ vai khẽ co rúm lại, toan rụt tay về theo một phản xạ tự vệ đã ăn sâu vào tủy tủy, nhưng hơi ấm chân chất, mạnh mẽ từ lòng bàn tay anh truyền qua lớp da thịt buốt giá đã dịu dàng giữ các ngón tay cô ở lại.

"Nhìn anh này, Nhiên," Thịnh dịu giọng, âm sắc của anh trầm xuống một tông, ánh mắt nâu sẫm nhìn thẳng vào mắt cô, kiên định, tĩnh tại và chan chứa một niềm tin không gì lay chuyển nổi. "Anh biết em đang sợ điều gì. Anh hiểu chứ. Ba năm qua, con hẻm dốc nhỏ bé này, gian bếp này là ngôi nhà duy nhất, là bức tường thành kiên cố bảo vệ em khỏi những mảnh vỡ nhọn hoắt ngoài kia. Nhưng Nhiên à, em hãy nhìn lại xem, em đã tự mình bước đi được một đoạn đường rất dài rồi. Em đã dám mở lá thư niêm phong bao năm của thầy Bách, đã dám đối diện với quá khứ mà quay lại ngọn đồi Mimosa hoang phế, đã tìm ra nửa sau công thức bánh hoa cam của mẹ Thu Hà. Em đâu còn là cô gái cô độc, bất lực, chỉ biết dùng bóng đêm để tự trừng phạt chính mình của ba năm trước nữa?"

Nhiên nghẹn ngào lắc đầu, khóe mi ướt đẫm, một giọt nước mắt trĩu nặng khẽ lăn dài trên gò má nhợt nhạt:

"Nhưng ngoài trời sáng... ngoài kia quá rộng lớn, quá chói chang... em sẽ gục ngã mất, Thịnh ơi..."

"Sẽ không có ai để em phải ngã xuống đất cả," bàn tay Thịnh siết chặt hơn một chút, truyền sang cô một luồng sinh khí ấm áp và bao dung lạ lùng. "Anh đã ký tên vào biên bản nhận ca trực ban ngày ở tòa nhà An Sương rồi. Em nhớ không? Chính em, vào cái đêm anh tuyệt vọng và suy sụp nhất, chính em đã bảo anh rằng phải dũng cảm sống cho hiện tại, phải đối diện với quá khứ và tìm gặp lại em trai mình. Nhờ có em, nhờ chiếc bánh của em, anh mới dám cầm điện thoại nhắn tin cho Huy, và Huy đã dang tay tha thứ cho anh. Giờ đây, đến lượt anh đứng ở vị trí này. Anh sẽ không để em ở lại phía sau một mình nữa. Anh sẽ kéo em cùng bước ra ngoài đó."

Thịnh mỉm cười. Nụ cười hiền hậu, chất phác làm giãn ra những nếp nhăn nhọc nhằn nơi đuôi mắt của người đàn ông đã nếm trải quá nhiều thăng trầm gió sương:

"Ngày mai, em tuyệt đối không phải đi một mình. Anh sẽ luôn đứng bên cạnh em, từng bước một. Nếu ánh mặt trời làm em chói mắt, anh sẽ đi phía trước nửa bước để làm bóng râm che cho em. Nếu ánh nhìn của những người xa lạ trên phố làm em cảm thấy ngột ngạt khó thở, em cứ việc nhìn thẳng vào lưng áo anh, xem anh như một tấm lá chắn. Bất cứ khi nào, bất cứ giây phút nào em cảm thấy mình không thể chịu đựng thêm được nữa, chỉ cần em nói một tiếng thôi, anh sẽ lập tức đưa em quay trở về con hẻm này, đưa em vào tiệm bánh và cài chặt thanh then cửa gỗ lại. Được không em?"

Trái tim Nhiên rung lên từng hồi mãnh liệt, một cảm giác ấm áp lạ lùng tựa như một dòng suối nước nóng len lỏi qua từng mạch máu đang đóng băng. Những lời Thịnh nói không hề hoa mỹ, không mang vẻ sáo rỗng của những lời hứa hẹn bồng bột, nhưng nó mang sức nặng ngàn cân của sự chở che chân thành và vị tha nhất mà một con người có thể trao tặng cho một con người. Suốt ngần ấy năm tháng đằng đẵng, cô luôn là người lắng nghe, là người dang tay chở che cho những tâm hồn lạc lối, rách nát ghé qua tiệm bánh lúc nửa đêm, dùng từng mẩu vụn ký ức và hương vị bánh nướng để vá víu lại vết thương lòng cho họ. Chưa từng có ai, thực sự chưa từng có một ai đứng trước mặt cô và nói rằng, cô cũng có quyền được yếu đuối, cô cũng có quyền được run rẩy và dựa vào một bờ vai vững chắc để bước qua vực thẳm sợ hãi của chính bản thân mình.

"Thịnh..." Tiếng cô run rẩy thốt lên qua làn nước mắt.

"Sáu giờ sáng mai," Thịnh cắt ngang tiếng thì thầm nghẹn ngào của cô bằng một lời hẹn đanh thép, chắc nịch như đinh đóng vào cột gỗ thông già. "Khi chuyến xe tải chở rau đầu tiên từ vùng ngoại ô Đơn Dương chạy ngang qua miệng hẻm Hoa Đăng, khi tiếng chuông từ tháp chuông nhà thờ Con Gà đổ hồi chuông sớm báo hiệu ngày mới, anh sẽ đứng đợi em ngay dưới gốc cây mimosa cổ thụ đầu con dốc. Em không cần chuẩn bị bất cứ điều gì phức tạp cả. Em chỉ cần bước ra khỏi cánh cửa gỗ này, và đi về phía anh. Những chuyện còn lại của thế giới ngoài kia, hãy để anh cùng em gánh vác."

Nhiên ngước nhìn sâu vào đôi mắt nâu trầm tĩnh của người đàn ông trước mặt. Trong đáy mắt sâu thẳm ấy, cô không tìm thấy bất kỳ một tia thương hại rẻ rúng nào, cũng không thấy sự tò mò vụ lợi hay bất kỳ sự phán xét khắt khe nào; ở đó chỉ có một sự bao dung vô bờ bến, một sự kiên định tĩnh lặng và một lời cam kết thầm lặng rằng từ nay về sau, cô sẽ không bao giờ phải đơn độc chiến đấu với bóng tối thêm một lần nào nữa.

Một giọt nước mắt ấm nóng trượt khỏi cằm Nhiên, rơi khẽ xuống mu bàn tay thô ráp của Thịnh. Cô hít một hơi thật sâu, lấp đầy buồng phổi bằng mùi hương quen thuộc của bột mì, mùi bơ mặn và hơi ấm của gian bếp nhỏ, rồi khẽ gật đầu, một cái gật đầu dứt khoát đầu tiên sau ba năm trốn chạy:

"Vâng... Sáu giờ sáng mai. Em sẽ bước ra."

Thịnh mỉm cười rạng rỡ. Ánh mắt anh sáng lên một niềm vui thuần khiết. Anh từ từ buông bàn tay cô ra, nhưng hơi ấm nồng đượm từ những ngón tay anh dường như vẫn còn in hằn sâu sắc trên da thịt Nhiên, từng chút một xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương đã bám rễ suốt bao mùa đông cô độc.

"Nào, chúng ta dọn dẹp cho xong thôi. Đêm sắp tàn rồi đấy."

Thịnh quay người lại bên chiếc bàn đá lớn giữa gian bếp, nhanh nhẹn xắn hai ống tay áo đồng phục bảo vệ màu xanh đậm lên quá khuỷu tay, để lộ đôi cẳng tay rắn rỏi phủ đầy gân guốc. Nhiên đưa mu bàn tay khẽ lau khô vệt nước mắt nơi khóe mi, hít một hơi thật dài để điều hòa lại nhịp tim, rồi với tay lấy đôi găng tay bằng vải thô sạch sẽ đeo vào, bước lại đứng song song bên cạnh anh.

Cả hai bắt đầu cùng nhau thực hiện những công đoạn dọn dẹp quen thuộc sau mỗi mẻ nướng đêm. Khay bánh mì bơ mặn hình sừng bò vừa ra lò lúc nãy giờ đã nguội bớt, vỏ bánh se lại tạo thành một lớp da màu vàng ươm bóng bẩy dưới ánh đèn điện, những hạt muối biển thô rải đều trên sống lưng bánh lấp lánh như những hạt pha lê đón sáng.

Đây là mẻ bánh mộc mạc nhất, giản dị và thuần khiết nhất mà họ từng cùng nhau làm kể từ ngày gặp gỡ: trong chiếc bánh này hoàn toàn không có thứ men cái gia truyền trăm năm mang theo những ẩn ức ký ức, không có những ảo ảnh mộng mị hay sự hoán đổi năng lượng kỳ bí nào cả. Mẻ bánh này chỉ được tạo nên từ bột mì trắng thông thường, men khô mua ở tiệm tạp hóa cô Hảo, một chút bơ lạt béo ngậy vùng Đơn Dương, một nhúm muối thô và lòng chân thành mộc mạc của hai con người muốn cùng nhau sẻ chia một bữa ăn đời thường, một điểm tựa giữa đêm tàn.

Thịnh cẩn thận dùng chiếc kẹp gỗ gắp từng chiếc bánh mì xếp ngay ngắn, thẳng hàng vào chiếc giỏ mây lớn đã được lót sẵn một tấm khăn bằng vải lanh trắng muốt. Từng động tác của anh tuy có phần vụng về, cứng nhắc của một người đàn ông quen cầm dùi cui và sổ trực, nhưng lại vô cùng nâng niu, trân trọng như đang nâng niu những báu vật mong manh.

Trong khi đó, Nhiên cầm chiếc vét bột bằng silicon màu cam dẻo dai, nhẹ nhàng miết sạch những vệt bột khô bám trên mặt bàn đá cẩm thạch, lau sạch từng hạt bụi bột vương vãi quanh chiếc đĩa cân bằng đồng cổ, rồi tỉ mỉ kiểm tra lại từng van khóa an toàn của bình gas lò nướng.

*Bộp.*

Một tiếng động khẽ khàng, mềm mại vang lên giữa gian phòng.

Từ trên nóc chiếc tủ đựng gia vị bằng gỗ thông ba ngăn cao quá đầu người, con mèo Mè nhẹ nhàng phóng mình xuống mặt chiếc ghế tựa bọc đệm nhung đối diện với quầy bếp. Bộ lông đen tuyền mượt mà của nó lướt qua làn không khí mỏng manh như một dải lụa mun. Nó lững thững bước vài bước, uốn lượn tấm thân uyển chuyển rồi cuộn tròn chiếc đuôi dài duyên dáng quanh bốn bàn chân mang đốm lông trắng muốt như đi tất. Hai chiếc tai nhọn hơi vểnh về phía trước, chăm chú lắng nghe tiếng gió thông xào xạc luồn qua khe ngói cổ trên mái nhà. Đôi mắt to tròn màu xanh ngọc bích trong veo của nó lặng lẽ dõi theo từng cử chỉ, từng ánh nhìn trao đổi giữa Nhiên và Thịnh.

Rồi như thể cảm nhận được một sự chuyển dịch vô hình nhưng vô cùng sâu sắc đang diễn ra trong tâm hồn của cô chủ, Mè khẽ nheo nheo đôi mắt ngọc bích lại. Nó ngửa chiếc cổ thon dài lên, áp cằm vào mặt đệm êm, và bắt đầu phát ra những tiếng rù rù trầm ấm, đều đặn như nhịp đập của một chiếc đồng hồ nước tí tách giữa đêm đông. Tiếng rù rù êm ái ấy rung lên nhè nhẹ trong lồng ngực nhỏ bé của con vật, lan tỏa vào bầu không khí tĩnh mịch của gian bếp, tựa như một lời chứng nhận thầm lặng, một lời chúc phúc dịu dàng cho khoảnh khắc thiêng liêng vừa mới thành hình: chiếc vỏ bọc an toàn kiên cố, chiếc kén bóng tối u uất mà Lạc Nhiên đã dựng lên để giam cầm chính mình suốt ba năm qua, cuối cùng đã xuất hiện những vết rạn nứt đầu tiên.

Nhiên dừng tay lau bàn, ngẩng đầu nhìn Mè. Con mèo đen khẽ chớp mắt đáp lại cô gái, chiếc mũi nhỏ màu hồng ươn ướt hơi hếch lên, hít hà mùi thơm béo ngậy của mẻ bánh mì bơ mặn đang tỏa ra ngào ngạt từ chiếc giỏ mây trên bàn.

"Đấy, em thấy chưa, Mè cũng đồng ý với giao kèo của chúng ta rồi kìa," Thịnh khẽ bật cười thành tiếng, đưa những ngón tay thô ráp gãi nhẹ vào phần yếm cổ mềm mại của con mèo. Lạ lùng thay, Mè không hề giương vuốt cào hay lảng tránh như đối với những người lạ khác; nó nhắm nghiền hai mắt lại một cách mãn nguyện, phát ra tiếng rù rù lớn hơn, tận hưởng cái vuốt ve có phần vụng về nhưng ấm áp của người bảo vệ ca đêm.

Khi mọi thứ trong gian bếp đã được thu dọn ngăn nắp, tinh tươm, từng chiếc khay nướng được xếp gọn vào kệ sắt, Thịnh với tay tắt chiếc đèn bàn trên quầy gỗ trắc. Gian phòng chìm vào bóng tối mờ ảo, chỉ còn sót lại ánh sáng vàng nhạt le lói từ ngọn đèn quả nhót nơi góc tường để giữ cho căn bếp một chút hơi ấm mong manh. Anh bước chậm rãi ra phía cửa chính, dừng chân trên bậu cửa gỗ rồi quay đầu nhìn Nhiên một lần nữa:

"Anh phải về chốt trực ở An Sương để ký sổ sách bàn giao ca đêm cho tổ ngày. Em lên gác nghỉ ngơi một chút đi, ngủ một giấc ngắn cho lại sức. Hãy nhớ lời hẹn của chúng ta đấy."

"Em nhớ rồi. Cảm ơn anh rất nhiều, Thịnh." Nhiên khẽ đáp, giọng cô lúc này đã lấy lại được sự bình thản, trong trẻo và tĩnh tại vốn có.

Cánh cửa gỗ dày khép lại thật êm, tiếng then cài bằng sắt kêu lên một tiếng *cạch* khô giòn quen thuộc trong đêm vắng. Tiệm bánh Lúc Nửa Đêm lại một lần nữa chìm vào sự yên tĩnh tuyệt đối, nhưng lần này, sự yên tĩnh ấy không còn mang cái vẻ ngột ngạt, buốt giá của một chốn lưu đày hay một nấm mồ chôn giấu ký ức, mà nó tràn ngập một sự mong chờ khẽ khàng, hồi hộp và đầy sức sống, tựa như một mầm non đang cựa mình mạnh mẽ trong lòng đất ẩm ướt trước cơn mưa rào đầu mùa.

Nhiên đứng lặng hồi lâu giữa gian bếp tối, cảm nhận từng nhịp đập rộn rã trong lồng ngực mình, rồi bước chậm rãi về phía chân cầu thang. Từng bậc gỗ hẹp và dốc kêu lên những tiếng cót két khe khẽ dưới chân cô. Con mèo Mè lững thững bước theo sau lưng cô chủ, từng bước chân đệm thịt êm ru không phát ra một tiếng động nhỏ nào.

Căn gác xép nhỏ đón cô bằng mùi hương thảo dịu mát, thoang thoảng tỏa ra từ chậu cây nhỏ đặt nơi góc ban công hẹp ngoài cửa kính. Chiếc giường đơn trải tấm ga màu xám tro giản dị kê sát vào vách tường gỗ nghiêng nghiêng theo độ dốc của mái ngói.

Như một thói quen cơ học đã ăn sâu vào tiềm thức suốt ba năm qua, Nhiên tiến thẳng lại gần khung cửa sổ gác mái.

Nơi đó, hai lớp rèm nhung màu đen dày cộp, nặng trĩu luôn được buông kín mít từ đỉnh xà nhà xuống tận mặt sàn gỗ, không để hở ra dù chỉ là một kẽ nứt nhỏ, ngăn chặn tuyệt đối bất kỳ một tia sáng lạc lõng nào của mặt trời ban trưa lọt vào căn phòng. Đã bao nhiêu ngày tháng trôi qua cô tự giam mình sau bức màn đen ngột ngạt này? Đã bao nhiêu buổi trưa cô nằm cuộn tròn, trùm chăn kín đầu để cố bịt chặt tai trước tiếng còi xe inh ỏi, tiếng rao hàng lảnh lót và tiếng cười nói rộn rã của dòng người tấp nập ngoài phố? Đã bao nhiêu đêm cô tự dằn vặt, tự gặm nhấm nỗi đau đớn rằng một kẻ mang tội lỗi gián tiếp gây nên cái chết của mẹ thì vĩnh viễn không có quyền được ngẩng đầu nhìn thấy ánh bình minh rạng rỡ?

Nhưng đêm nay, khi những ngón tay mảnh mai của Nhiên chạm vào mép vải nhung mềm mại và nặng trĩu ấy, chúng không còn run rẩy vì sợ hãi hay chối bỏ nữa.

Trong tâm trí cô lúc này hiện lên rõ mồn một từng nét chữ mực tím nắn nót, dịu dàng của mẹ Thu Hà ở mặt sau tấm ảnh gia đình cũ: *Bánh nướng làm ra là để nuôi dưỡng hiện tại, con gái à. Đừng bao giờ biến nó thành chốn trốn chạy cuộc đời, và hãy sống dưới ánh mặt trời...*

Cô nhớ đến ánh mắt kiên định, chân thành và hơi ấm vững chãi từ bàn tay của Thịnh.

Cô nhớ đến hình ảnh người thầy kính yêu với mái tóc bạc phơ đang nhẫn nại, cặm cụi nướng từng mẻ bánh thơm lừng bên bờ hồ Tuyền Lâm bảng lảng sương khói, kiên trì dùng từng hương vị quen thuộc để níu giữ lại từng mảnh ký ức mong manh cuối cùng cho người bạn đời.

Tất cả bọn họ đều đang sống, đang dũng cảm đối diện và chiến đấu, đang từng ngày bước tiếp giữa cuộc đời đầy rẫy những vết thương và giông bão này. Vậy thì cô có quyền gì để tiếp tục hèn nhát, tự trừng phạt mình bằng cách trốn tránh mãi mãi trong bóng tối câm lặng này?

Nhiên hít một hơi thật sâu, hai bàn tay mảnh khảnh nắm chặt lấy mép rèm nhung đen. Cô dùng lực từ cánh tay, chầm chậm kéo một bên rèm sang phía vách tường, gấp nếp tấm vải dày dặn lại ngay ngắn rồi móc chặt vào chiếc móc bằng đồng gắn cố định trên tường gỗ thông.

Tấm rèm đen hé mở ra một khoảng trống rộng chừng nửa gang tay.

Qua ô kính nhỏ bám chút bụi sương chưa kịp lau, bầu trời đêm phía đông thành phố Đà Lạt đã bắt đầu chuyển biến kỳ diệu. Màu đen tuyền đặc quánh dần tan biến, nhường chỗ cho một sắc lam đậm huyền bí, rồi từ nơi đường chân trời xa xôi, một vệt sáng mỏng manh tựa như lưỡi dao bằng bạc sắc lẹm khẽ rạch ngang qua các tầng mây xám xịt.

Những rặng thông già sừng sững trên các triền đồi nhấp nhô phía xa bắt đầu hiện rõ từng đường viền đen thẫm, kiêu hãnh in bóng trên nền trời đang ửng dần sắc hồng phấn pha tím nhạt. Tiếng một chú chim sớm cất lên tiếng hót trong trẻo, lảnh lót từ ngọn cây mimosa cổ thụ đầu con hẻm, xé toạc sự tĩnh mịch, u uất của màn đêm tàn.

Mè nhún mình phóng tót lên bậu cửa sổ gỗ, ngồi xếp bằng ngay ngắn bên cạnh Nhiên, chiếc mũi hồng ươn ướt khẽ phập phồng hít hà từng luồng không khí thanh tân, buốt lạnh nhưng tràn đầy sức sống của buổi sớm mai đang ùa qua khe thông gió hẹp.

Nhiên đứng lặng ở đó, hai bàn tay áp nhẹ lên mặt kính mát lạnh, đăm đắm ngắm nhìn dải sáng ban mai đang lan rộng và rực rỡ dần lên sau từng nhịp thở của đất trời. Cả gương mặt cô đẫm trong thứ ánh sáng mờ ảo, dịu dàng của rạng đông, thanh thoát, nhẹ nhõm và bình yên đến lạ kỳ.

Chiếc kén an toàn đã vỡ.

Khe sáng đầu tiên của ngày mới khẽ rọi qua khung cửa gác xép, báo hiệu chiếc kén đêm tối sắp sửa phải nứt vỏ.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories