Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.19 / 40
Chapter 19

Những chiếc hộp đóng dở

Tiếng bánh xe kéo lộc cộc trên mặt đường đá dăm ẩm ướt vang lên giữa đêm sương, kèm theo hơi thở hổn hển của hai người già đang chống chọi với cái lạnh Đà Lạt.

Âm thanh ấy bắt đầu từ phía con dốc dẫn xuống hẻm Hoa Đăng, nơi những hàng rào hoa dã quỳ đã tàn lụi sau những đợt gió bấc đầu mùa, chỉ còn trơ lại cành khô gầy guộc run rẩy trong bóng tối. Con hẻm sau những ngày ồn ào vì đám đông hiếu kỳ giờ đây đã tìm lại được vẻ tịch mịch thường nhật. Màn sương đêm dày đặc như một tấm chăn bông ướt sũng phủ trùm lên mái ngói âm dương, nuốt chửng ánh sáng từ những cột đèn đường vàng vọt. Giữa không gian thinh lặng đến mức nghe rõ từng giọt nước đọng trên mái tôn tí tách rơi xuống rãnh thoát nước, tiếng trục kim loại han rỉ cọ xát vào vòng bi khô dầu của chiếc xe kéo tay cứa vào màn đêm từng nhịp nặng nề, đứt quãng. Mỗi vòng quay của bánh xe sắt dường như đều phải nghiến qua từng lớp sỏi nhọn, va vào những ổ gà trũng nước mưa, tạo nên một chuỗi âm thanh lục cục, khô khốc và mệt mỏi đến nao lòng.

Lạc Nhiên đang đứng bên bàn gỗ mộc trong gian bếp, đôi tay phủ một lớp bột mỏng khi cô kiểm tra mẻ bột ủ chậm cho sáng hôm sau. Khối bột sau nhiều giờ ngủ yên dưới lớp khăn ẩm đã phồng căng, mịn màng như da thịt một đứa trẻ sơ sinh, tỏa ra mùi thơm dịu nhẹ của lúa mì quyện với men tự nhiên. Hũ men cái nằm yên vị bên góc tủ gỗ thông ba ngăn, tỏa ra mùi thơm chua dịu của hoa quả lên men và hơi ấm trầm lắng quen thuộc. Mỗi nhịp thở của căn bếp nhỏ này dường như đều hòa chung với nhịp sống của những vi sinh vật vô hình đang cựa mình sinh sôi trong từng thớ bột. Con mèo Mè nằm cuộn tròn trên chiếc ghế đẩu bọc nỉ cạnh lò nướng, hai tai nó khẽ giật một cái rồi đôi mắt xanh ngọc bích mở hé, hướng thẳng ra phía cánh cửa kính đang mờ đục vì hơi nước ngưng tụ. Nó khẽ vươn vai, móng vuốt cào nhẹ vào lớp nỉ sờn, rồi lại lười biếng thu mình vào vòng tròn ấm áp của ngọn lửa đang tí tách cháy trong bầu lò.

Chiếc đồng hồ quả lắc bằng đồng cổ kính treo trên vách gỗ buông một tiếng *boong* trong trẻo, ngân dài.

Đúng một giờ sáng.

Tiếng lách cách ngoài bậu cửa dừng lại, thay vào đó là tiếng kim loại va chạm lỉnh kỉnh và tiếng bước chân bì bõm giẫm lên vũng nước đọng trước bậc thềm. Có tiếng thở hắt ra, nặng nhọc như thể lồng ngực người ta vừa trút bỏ một tảng đá đè nặng suốt cả quãng đường dốc. Cánh cửa gỗ tiệm bánh Lúc Nửa Đêm khẽ rung rinh rồi bị đẩy ra, mang theo một luồng gió buốt lạnh thấu xương và mùi ẩm ướt đặc trưng của màn sương phố núi. Chiếc chuông đồng nhỏ gắn trên khung cửa reo lên một tràng lanh lảnh, xé toang bức màn tĩnh mịch của căn phòng.

Hai bóng người chầm chậm bước qua ngưỡng cửa. Đó là một cặp vợ chồng già ngoài bảy mươi tuổi. Người đàn ông dong dỏng cao nhưng lưng đã còng rạp xuống như một thân thông già oằn mình trước gió bão, mặc chiếc áo khoác dạ màu tro xám đã sờn rách ở mép cổ tay và chiếc mũ nồi len che kín đôi tai tím tái vì rét. Từng nếp nhăn trên trán ông hằn sâu như những rãnh cày trên đất cằn, đọng lại những giọt sương muối li ti chưa kịp tan. Đi sát phía sau ông là một bà lão vóc người nhỏ nhắn, quấn chiếc khăn len màu đỏ bầm quanh cổ đến ba bốn vòng, chỏm tóc bạc phơ lòa xòa trước trán bị hơi sương bết lại thành từng vệt mảnh. Gương mặt bà trắng bệch vì giá lạnh, đôi môi mỏng run rẩy không ngừng, hai gò má hóp lại in hằn những vết đồi mồi sẫm màu.

Cả hai người tay xách nách mang cơ man nào là đồ đạc. Ngoài chiếc xe đẩy hai bánh bằng sắt chở một thùng các-tông buộc dây chuối chằng chịt đang phải bỏ lại ngoài hiên vì bậc cửa cao, trên tay họ còn mang theo vài chiếc túi cói cũ kỹ đan bằng sợi lác thô ráp, bên trong chật ních những món đồ không định hình: một góc khung ảnh gỗ nhô ra, vài cuộn len thừa đã xơ xác, một chiếc ấm nhôm đã móp méo phần vòi và những bọc giấy báo cũ được quấn băng dính vàng ố. Từng món đồ như một mảnh vụn vỡ vụn của một nếp nhà vừa bị bứng gốc, nhét vội vã vào những chiếc bao tải tạm bợ.

Người đàn ông – ông Bùi Đức Tâm – khẽ ho hắng một tiếng đục ngầu nơi cuống họng, vội vã đưa bàn tay xương xẩu thô ráp gạt cánh cửa khép lại để chắn bớt gió lùa, nhưng động tác vụng về khiến chiếc túi cói trên tay ông va quệt vào mép bàn gỗ kê sát lối đi, làm rơi ra một đoạn dây thừng gai và một thanh gỗ tiện tròn đã ngả màu nâu sẫm.

“Đấy, tôi đã bảo ông để cái mớ bòng bong ấy ở nhà mà ông có nghe đâu!” Bà lão – bà Ngô Thanh Sương – vừa bước tới chiếc bàn gỗ thông đặt giữa phòng vừa đặt mạnh chiếc túi cói của mình xuống sàn, giọng càu nhàu xen lẫn tiếng thở dốc mệt nhọc. “Đã già yếu, khớp chân khớp tay sưng vù cả lên mà cứ nằng nặc đòi khuân cho bằng hết. Đi bộ có nửa con dốc mà thở không ra hơi, nhỡ trượt chân ngã ra đấy thì ai gánh nổi ông? Đêm hôm hôm khuya khoắt, đường sá trơn như đổ mỡ, ông tưởng ông còn là anh thợ mộc hăm lăm tuổi nhảy thoăn thoắt trên sườn đồi chắc?”

Ông Tâm đặt chiếc túi của mình xuống chân bàn đối diện, khó nhọc cởi chiếc găng tay len đã thủng ngón trỏ, khuôn mặt sạm đen đầy những nếp nhăn xô lại trong một vẻ bẳn gắt cố hữu:

“Bà thì biết cái gì! Mấy cái chân ghế gỗ gõ đỏ ấy là đồ mộc thủ công từ thời bố tôi còn sống, chỉ cần đem về đóng lại mộng gỗ, tra thêm chút keo con chó là ngồi vững như bàn thạch. Bà cứ hở ra là đòi vứt, đòi bán cho mấy bà đồng nát với giá vài đồng bạc vụn. Tiếc của là tiếc thế nào? Đồ còn dùng được, còn hồn cốt của nó, vứt đi là có tội với trời đất! Cả đời tôi làm nghề mộc, nhìn thấy khúc gỗ tốt bị bỏ xó là lòng dạ không yên. Đâu phải cứ cái gì cũ kỹ cũng thành rác rưởi như cái thói nghĩ nông cạn của bà!”

“Trời đất nào bắt ông tha lôi đống gỗ mục ấy vào tận Sài Gòn?” Bà Sương kéo ghế ngồi xuống, hai bàn tay co ro áp chặt vào nhau rồi đưa lên miệng phà hơi nóng, giọng bà run run nhưng vẫn chưa chịu thua trong cuộc khẩu chiến đã kéo dài suốt nhiều ngày qua, từ khi những tờ giấy chuyển nhượng đất đai được ký kết. “Thằng Tuấn nó mua căn hộ chung cư tít trên tầng hai mươi, sàn nhà người ta lát gỗ công nghiệp bóng loáng, cửa kính kín mít mở máy điều hòa tối ngày. Ông vác mấy cái ghế gãy chân, sứt mẻ ấy vào để chật cả lối đi, người ta cười cho vào mũi! Con nó đã bảo đồ đạc trong ấy không thiếu thứ gì, chỉ cần mang người và mấy bộ quần áo lành lặn vào thôi. Thế mà ông cứ như người mất trí, bới tung từng góc xó nhà lên để nhặt nhạnh từng cái đinh gỉ! Ông định biến cái nhà lầu của con trai thành cái xưởng cưa phế liệu của ông đấy à?”

“Phải, trong mắt bà thì cái gì ở cái nhà này cũng là rác rưởi, cũng là đồ bỏ đi!” Giọng ông Tâm bỗng cao lên một tông, mang theo sự run rẩy nghẹn ngào của một người đang cố kìm nén cơn uất ức tột cùng. Đôi mắt kèm nhem sau tròng kính lão dày cộp vằn lên những tia đỏ sọc. “Bà muốn sạch sẽ, bà muốn thảnh thơi thì bà cứ việc đi tay không! Còn tôi, tôi không thể vô tâm vô tính như bà được. Vứt hết đồ đạc đi thì cái nhà ấy còn là cái nhà nữa không? Hay bà tưởng bước chân lên chiếc máy bay rồi chui vào cái hộp bê tông ấy là có thể xóa sạch mấy mươi năm sống ở cái xứ lạnh này hả? Bà tưởng cứ quẳng hết đi là người ta quên được mình từng là ai chắc?”

“Ông…” Bà Sương nghẹn lời, bờ môi mỏng run bần bật. Bà quay mặt đi, nhìn trừng trừng vào mặt bàn gỗ thông láng bóng, hai bờ vai gầy dưới lớp áo khoác len cũ khẽ nhấp nhô theo từng nhịp thở dồn dập. Một tiếng nấc cụt nghẹn lại trong cổ họng bà, biến thành một tiếng thở dài khô khốc.

Căn tiệm nhỏ bỗng chốc chìm vào một khoảng lặng nặng trĩu. Sự giận dữ của hai người già không giống như ngọn lửa bùng phát rồi tàn lụi của tuổi trẻ; nó âm ỉ, lạnh buốt và day dứt như thứ sương muối đang bao vây lấy những mái nhà gỗ ngoài kia. Đó là sự bực dọc sinh ra từ nỗi bất lực cùng cực trước một dòng chảy mà họ không cách nào cưỡng lại. Tuổi tác như một cái bẫy vô hình khép chặt lại, tước đoạt dần sức lực, quyền tự quyết và cuối cùng là tước đoạt luôn cả mảnh đất mà họ đã gắn chặt cuộc đời mình vào đó.

Từ sau quầy bếp, Lạc Nhiên lặng lẽ quan sát từng cử chỉ của hai vị khách. Cô không lên tiếng can thiệp, cũng không tỏ vẻ ngạc nhiên hay bối rối trước màn cãi vã chát chúa lúc nửa đêm. Trong suốt những năm tháng đứng sau chiếc bàn nhào bột của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, Nhiên đã nhìn thấy quá nhiều người mang theo những vết rạn nứt trong lòng bước vào đây giữa khoảnh khắc giao thoa của bóng tối. Có người im lặng như tượng đá, có người vỡ òa trong tiếng khóc, và cũng có những người chọn cách làm tổn thương nhau bằng lời nói chỉ để che giấu nỗi sợ hãi đang gặm nhấm tâm can.

Nhiên khẽ nghiêng người nhấc chiếc ấm đồng đun nước trên bếp củi nhỏ. Ngọn lửa liu riu bén vào lớp than hồng phát ra tiếng lách tách êm tai. Cô lấy hai tách gốm màu men mộc thô nhám, thả vào mỗi tách vài lát gừng tươi Đơn Dương vừa thái mỏng, một nhánh quế nhỏ thơm nồng và một thìa mật ong hoa rừng sóng sánh màu hổ phách. Nước sôi sùng sục được rót vào tách, cuốn theo hơi khói nghi ngút bốc lên, mang theo vị cay nồng, ngọt dịu làm ấm bừng cả một khoảng không gian nhỏ hẹp quanh quầy thu ngân. Mùi thơm của thảo mộc tự nhiên như một liều thuốc xoa dịu, len lỏi qua từng kẽ gỗ, đối chọi lại cái lạnh lẽo thấu xương đang bám riết lấy vạt áo hai vị khách già.

Bưng khay gỗ bước lại gần chiếc bàn nơi hai ông bà đang ngồi quay lưng vào nhau, Nhiên khẽ đặt từng tách trà xuống trước mặt họ. Động tác của cô nhẹ nhàng, uyển chuyển, không tạo ra bất kỳ tiếng động va chạm nào trên mặt bàn.

“Hai bác dùng chút trà gừng cho ấm người ạ. Đêm nay trời hạ nhiệt sâu, ngoài đường lạnh lắm.”

Giọng nói của Nhiên trầm tĩnh, đều đặn như nhịp gõ của chiếc đồng hồ trên tường, không chứa đựng bất kỳ sự tò mò hay phán xét nào. Nó như một dòng nước ấm chảy tràn qua lớp băng giá đang bao bọc lấy không khí ngột ngạt của căn phòng.

Khi cô cúi người xuống đặt tách trà, một luồng mùi hương rất đặc biệt từ quần áo và những chiếc túi cói của hai vị khách xộc vào cánh mũi thính nhạy của cô. Đó không phải là mùi nước hoa, xà phòng hay mùi thức ăn thông thường, mà là một sự pha trộn phức tạp và đầy u uất: mùi bụi gỗ mục ẩm mốc của những góc nhà lâu năm không lọt ánh sáng mặt trời, mùi long não hăng hắc bám trên những thớ vải dạ cất kỹ trong đáy rương suốt mấy mùa đông, và đặc biệt là mùi keo dán công nghiệp gay gắt toát ra từ những cuộn băng dính bản lớn dùng để đóng thùng các-tông.

Đó là mùi hương của sự xới xáo. Mùi của một không gian sống đang bị bóc tách từng mảng, bị đập vỡ tính toàn vẹn vốn có để nhét vào những chiếc hộp vuông vức vô hồn. Mùi của những góc kỷ niệm bị lôi ra ánh sáng một cách tàn nhẫn, phủi bụi vội vã rồi phân loại thành "giữ lại" hay "vứt bỏ". Đó là mùi của một cuộc chia ly cưỡng ép mà không ai trong số họ thực sự mong muốn, một thứ mùi mang vị đắng chát của sự tàn lụi.

Bà Sương giật mình ngước nhìn Nhiên. Khi nhìn thấy nụ cười khẽ khàng và đôi mắt tĩnh lặng như mặt hồ phẳng lặng của cô gái trẻ, nét gay gắt trên gương mặt bà chùng xuống đôi chút. Đôi môi bà mấp máy, ánh mắt lộ vẻ ngượng ngùng vì vừa để người lạ chứng kiến cảnh tượng chẳng mấy đẹp đẽ của vợ chồng mình. Bà đưa đôi bàn tay cằn cỗi, chằng chịt những đường gân xanh và đốm đồi mồi ôm lấy thân tách gốm ấm sực. Hơi ấm từ lớp men thô ráp truyền qua da thịt dường như đã xoa dịu phần nào cơn run rẩy nơi đầu ngón tay bà, đánh thức lại những cảm giác bình yên đã bị xua đuổi suốt những ngày đóng gói đồ đạc triền miên.

“Cảm ơn cháu…” Bà Sương thì thào, giọng khàn đặc như có cát nghẽn nơi cuống họng. “Làm phiền cháu quá. Già cả rồi, chân chậm mắt mờ, đi giữa đêm hôm thế này lại còn làm rộn cả quán xá. Bác ngại với cháu quá chừng.”

Ông Tâm không nói gì, chỉ liếc nhìn tách trà bốc khói rồi khẽ hừ một tiếng trong cổ họng, cố giữ vẻ bất cần của một người đàn ông gia trưởng. Nhưng bàn tay run rẩy vì bệnh khớp của ông cũng vô thức đưa ra, chạm nhẹ vào vành tách như thể đang tìm kiếm một điểm tựa nhiệt lượng giữa căn phòng gỗ lạnh lẽo. Những ngón tay thô ráp, sần sùi vết chai sạn của một đời cầm cưa, cầm đục siết nhẹ lấy lớp gốm nung, hấp thụ từng chút hơi nóng quý giá.

Cửa tiệm một lần nữa bật mở, tiếng chuông đồng lại reo lên vui vẻ, xua tan nốt những tàn dư căng thẳng còn sót lại.

Phạm Thịnh bước vào, mang theo vẻ rắn rỏi thường ngày trong bộ đồng phục bảo vệ màu xanh đậm của tòa nhà An Sương đối diện. Chiếc áo khoác gió dày cộp của anh lấm tấm những hạt sương đêm li ti, hai gò má đỏ ửng vì gió lùa nơi góc bốt gác ngã ba. Trên tay Thịnh cầm theo một chiếc đèn pin nghiệp vụ cỡ lớn, ánh sáng đèn quét qua sàn nhà một vệt dài trước khi anh kịp tắt đi. Theo thói quen nghề nghiệp, anh đưa mắt quét nhanh một lượt khắp tiệm bánh, ánh mắt dừng lại ở hai bóng người già nua cùng đống hành lý bề bộn dưới sàn.

“Kìa… có phải bác Tâm không ạ?” Thịnh tròn mắt, bước nhanh lại gần chiếc bàn gỗ, giọng anh đầy vẻ ngạc nhiên pha lẫn kính cẩn.

Ông Tâm ngước đầu lên, nheo mắt nhìn qua tròng kính lão, mất vài giây định thần mới nhận ra gương mặt chữ điền quen thuộc, cương nghị của người thanh niên trẻ:

“Cậu… cậu Thịnh bên tòa nhà An Sương đấy à?”

“Dạ, chính cháu đây!” Thịnh nở nụ cười tươi rói, lập tức tháo đôi găng tay da nhét vào túi áo khoác, bước lại gần hơn. “Cháu đứng bên bốt gác nhìn sang, thấy chiếc xe kéo đỗ ngoài hiên tiệm cứ ngờ ngợ, không nghĩ là hai bác lại đi đâu vào giờ này. Trời đất ơi, đêm nay lạnh dưới chín độ, sương muối xuống trắng cả mặt đường mà hai bác xách từng này đồ đi đâu thế này? Con dốc này trơn trượt lắm, thanh niên đi còn phải rón rén nữa là hai bác!”

Bà Sương thở dài một hơi sườn sượt, vừa nhấp một ngụm trà gừng vừa lắc đầu cay đắng, khóe mắt lại hoe đỏ:

“Đi đâu được nữa hả cháu. Dọn dẹp cả tuần nay, đóng được mươi cái thùng các-tông rồi. Chiều mai người ta cho xe tải đến bốc đồ chở ra ga tàu hỏa, rồi sáng mốt vợ chồng già này phải lên đường vào Nam với thằng Tuấn. Đêm nay nằm ở cái nhà trống hoác không tài nào chợp mắt nổi, nhìn quanh bốn bức tường ván trơ trọi mà ngực nó tức nghẹn lại. Bác bảo ông ấy dậy đi dạo một vòng cho khuây khỏa, thế mà ông ấy lại hì hục lôi cái xe kéo ra, đòi tha lôi thêm mấy cái túi này đi gửi người quen. Cứ nằng nặc không chịu bỏ lại thứ gì, khổ thế đấy cháu ạ.”

Thịnh thoáng lặng người. Anh nhìn ông Tâm, ánh mắt ánh lên vẻ thấu hiểu sâu sắc. Là người làm ca đêm ở khu vực này nhiều năm, Thịnh quá quen thuộc với căn biệt thự gỗ cổ kính nằm khuất sau những rặng tùng ở cuối con dốc lân cận – nơi ông Tâm và bà Sương đã sinh sống suốt hơn nửa thế kỷ qua. Căn nhà đó được xây dựng từ thời kỳ đầu của khu phố, với những cột gỗ thông đỏ vững chãi lên nước bóng loáng theo thời gian, ban công nhìn thẳng xuống thung lũng sương mù và một khoảng sân vườn nhỏ lúc nào cũng rực rỡ sắc hoa trà mi và túy điệp do chính tay bà Sương chăm bón. Đối với người dân quanh vùng, căn biệt thự ấy như một chứng nhân lịch sử trầm mặc của góc phố núi này, một phần không thể tách rời của ký ức đô thị Đà Lạt.

Nhìn đống túi cói và những thùng đồ lỉnh kỉnh đang nằm bừa bộn chắn cả lối đi, Thịnh không chần chừ, anh cúi người xốc chiếc túi nặng nhất lên bằng đôi tay vạm vỡ:

“Thôi, hai bác cứ ngồi uống trà cho ấm đã. Để cháu dọn mấy thứ này gọn vào góc trong kia cho, kẻo tí nữa có khách vào lại vấp phải. Bác Tâm này, đồ nặng thế này sao bác không gọi cháu một tiếng? Bốt gác cháu ngay đầu dốc, chỉ cần bác ới một câu là cháu chạy sang khuân giúp ngay chứ có gì đâu. Mình chòm xóm bao nhiêu năm, bác cứ khách khí mãi.”

“Cậu tốt bụng quá…” Ông Tâm lúng búng trong miệng, ánh mắt nhìn theo đôi bàn tay khỏe khoắn của Thịnh đang thoăn thoắt nhấc từng chiếc túi cói nặng trĩu xếp ngay ngắn sát vào vách tường thông bên dưới kệ sách. “Tôi… tôi sợ làm phiền cậu đang ca trực. Với lại, toàn đồ lặt vặt cũ kỹ của mình, nhờ vả người ngoài người ta lại cười cho là lẩm cẩm, tiếc rác tiếc rơm.”

“Phiền hà gì đâu bác, hàng xóm láng giềng với nhau cả mà,” Thịnh vừa lau tay vào vạt áo vừa cười xòa, kéo một chiếc ghế đẩu lại ngồi cạnh bàn, quay sang nhìn Nhiên với ánh mắt ấm áp. “Nhiên cho anh xin một ly nước ấm nhé, ngoài trời đêm nay buốt buốt là.”

Nhiên gật đầu, lặng lẽ rót thêm một ly nước ấm đặt trước mặt Thịnh. Con mèo Mè lững thững bước lại gần chân Thịnh, cọ cọ cái đầu êm như nhung vào ống quần anh rồi ngồi thụp xuống, hai mắt lim dim quan sát mọi chuyển động trong căn phòng. Nó thở ra những nhịp đều đặn, như muốn chia sẻ chút bình yên hiếm hoi của căn tiệm nhỏ cho những tâm hồn đang chao đảo vì giông bão cuộc đời.

Không gian trong tiệm dần ấm lên nhờ hơi nóng từ lò nướng và mùi trà gừng quế lan tỏa. Sự xuất hiện đầy sức sống và tự nhiên của Thịnh dường như đã làm tan bớt lớp không khí căng thẳng, ngột ngạt vừa rồi. Thế nhưng, nỗi buồn của sự ly biệt thì không dễ gì xua đi được. Nó như lớp sương muối ngoài hiên, dù ánh đèn có rọi chiếu bao nhiêu cũng không thể làm tan biến ngay trong chốc lát.

Bà Sương đặt tách trà đã vơi một nửa xuống bàn. Đôi vai bà khẽ chùng xuống, vẻ gay gắt ban nãy hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự rệu rã của một người đàn bà đã bước qua dốc bên kia của cuộc đời. Bà đưa tay kéo chiếc túi cói nhỏ nhất – chiếc túi duy nhất mà bà nhất quyết tự mình ôm khư khư trong lòng từ lúc bước vào tiệm đến giờ, không chịu để ông Tâm hay Thịnh chạm vào.

Những ngón tay gầy guộc, nhăn nheo của bà run rẩy luồn vào trong túi, cẩn thận nhấc ra một vật thể bọc trong chiếc khăn tay bằng vải xô trắng đã ố vàng theo năm tháng.

Đó là một chiếc hộp nhạc bằng gỗ hồ đào nhỏ nhắn, kích thước chỉ bằng hai bàn tay úp lại. Mặt gỗ đã sứt sẹo ở các góc cạnh, lớp sơn bóng bên ngoài bong tróc từng mảng lớn để lộ thớ gỗ xám xịt bên trong. Trên nắp hộp, bức tranh khắc chìm hình một cặp đôi đang khiêu vũ dưới tán cây thông đã bị mờ nhạt, một vết nứt kéo dài từ góc phải chạy chéo qua thân hộp như một vết sẹo thời gian không thể lành lặn. Chiếc khóa gài bằng đồng đã ngả màu xỉn đen, lỏng lẻo chực rơi ra.

Bà Sương mở chiếc khăn xô ra, cẩn thận gấp chiếc khăn lại làm tư rồi đặt ngay ngắn trên đùi. Bằng một động tác vô cùng nâng niu, chậm rãi, bà dùng mặt khăn mềm mại lau đi từng hạt bụi mờ còn bám trong những rãnh khắc li ti trên nắp hộp nhạc. Đôi mắt bà nhìn vào khúc gỗ sứt sẹo ấy tràn đầy sự dịu dàng, như thể đang nhìn vào dung nhan của chính mình thời con gái.

“Cái này…” Bà Sương khẽ thì thào, ánh mắt dán chặt vào chiếc hộp gỗ, giọng nói run rẩy như sắp vỡ ra thành từng mảnh vụn. “Là quà cưới của ông ấy tặng tôi hồi mùa đông năm bảy mươi tư. Năm đó Đà Lạt rét dữ lắm, tuyết sương phủ trắng cả đồi thông, nước trong lu đóng thành từng váng băng mỏng. Hai đứa cưới nhau chẳng có vàng bạc gì quý giá, ông ấy nhịn ăn sáng suốt ba tháng trời, lén gom góp từng đồng lương thợ mộc ít ỏi để mua cho tôi chiếc hộp này từ một người quen dưới phố…”

Bà ngừng lại, đưa mắt nhìn ra khung cửa sổ kính mịt mùng hơi sương. Đôi mắt già nua của bà ngấn lệ, ánh lên những đốm sáng lung linh phản chiếu từ ngọn đèn vàng treo trên trần tiệm bánh. Ký ức của nửa thế kỷ trước dường như đang cuộn trào trở lại, rõ nét và sống động đến mức làm tim bà thắt nghẹt.

“Năm mươi năm rồi cháu ạ… Năm mươi năm trời chiếc hộp này nằm trên đầu giường của căn nhà gỗ ấy. Cứ mỗi lần trong lòng có chuyện buồn, hay những đêm mùa đông lạnh buốt gió lùa qua khe liếp, tôi lại vặn dây cót nghe nó gảy từng nốt nhạc. Âm thanh của nó lanh lảnh, nghe như tiếng chuông nhà thờ từ xa vọng lại, nghe rồi thấy lòng mình yên ả hẳn. Thế mà chiều nay… khi mấy đứa thanh niên chuyển nhà xộc vào, chúng nó bảo cái thứ này cũ mèm rồi, cót cũng rão, vác theo chỉ tổ nặng vali, bảo tôi bỏ lại để chúng nó dọn rác một thể…”

Một giọt nước mắt lăn dài qua những nếp nhăn chằng chịt trên gò má bà Sương, rơi trúng vào vết nứt trên mặt gỗ hồ đào. Giọt nước đọng lại nơi khe gỗ, lấp lánh dưới ánh đèn như một hạt sương sớm.

“Bỏ lại làm sao được hở cháu? Người ta nhìn vào chỉ thấy một khúc gỗ mục sứt sẹo. Nhưng với tôi, nó là cả tuổi thanh xuân, là những ngày tháng nghèo khổ mà thương nhau đến thắt ruột thắt gan. Chiếc hộp này đã cùng tôi đi qua những năm tháng bom đạn, những ngày đói kém chia nhau từng củ khoai củ sắn, rồi nuôi nấng thằng Tuấn khôn lớn. Từng vết xước trên mặt gỗ này đều có chuyện của nó. Người ta bảo tôi háo hức chuyển vào Sài Gòn hưởng phước… Phước ở đâu tôi chẳng thấy, tôi chỉ thấy tim mình như bị ai lấy dao gọt đi từng miếng một. Rời khỏi căn nhà ấy, tôi thấy mình như cái cây bị chặt đứt rễ, sống lay lắt thế nào được nữa…”

Thịnh ngồi lặng im, bàn tay anh siết nhẹ quanh chiếc ly nước ấm, không biết phải nói gì để an ủi một nỗi đau sâu kín và thiêng liêng đến thế. Anh thấu hiểu cảm giác bất lực của những người già khi đời sống hiện đại cuồn cuộn trôi qua như một cơn lũ lớn, sẵn sàng quét sạch mọi dấu vết của quá khứ mà không một chút xót thương. Đối với thế hệ trẻ, sự tiện nghi là thước đo duy nhất; nhưng đối với những người đã đi gần hết cuộc đời, những món đồ vô tri vô giác kia chính là nơi lưu giữ linh hồn, là bằng chứng cho thấy họ đã từng sống, từng yêu và từng hiện hữu trên cõi đời này.

Nhiên đứng sau quầy, ánh mắt cô dừng lại trên chiếc hộp nhạc gỗ sứt sẹo. Cô nhận ra sự tương đồng kỳ lạ giữa chiếc hộp ấy với chiếc hộp thiếc rỉ sét cất giấu bức thư của thầy Bách trên gác xép của mình. Con người ta, dù ở lứa tuổi nào, dường như cũng luôn cố bám víu vào một vật thể hữu hình để neo giữ những ký ức mà họ sợ rằng nếu buông tay ra, chúng sẽ tan biến vào hư vô. Ký ức vốn mỏng manh và dễ phai tàn, nên người ta mới cần những thanh gỗ, những mảnh sắt gỉ hay những tờ giấy ố vàng để làm chứng nhân cho sự tồn tại của chính mình.

Trong khi bà Sương đang đắm chìm trong dòng hồi tưởng nghẹn ngào, thì ở phía đối diện, ông Tâm lại ngồi bất động như một pho tượng đá.

Khuôn mặt ông đăm chiêu, những đường gân xanh nơi thái dương giật giật theo từng nhịp đập nặng nề. Ánh sáng vàng vọt hắt xiên qua tròng kính lão, che giấu đi ánh nhìn mờ đục của ông. Ông không nhìn chiếc hộp nhạc, cũng không nhìn vợ mình, ánh mắt ông dán chặt xuống sàn nhà gỗ thông dưới chân như thể đang cố đếm từng thớ gỗ, từng vết đinh tán. Thế nhưng, Nhiên – với sự tinh tế bẩm sinh và thói quen quan sát những chi tiết nhỏ nhất của thực khách – lập tức nhận ra một cử chỉ bất thường của người đàn ông già nua.

Bàn tay phải của ông Tâm không hề đặt trên bàn. Nó đang thò sâu vào bên trong túi chiếc áo khoác dạ dày cộp.

Dưới lớp vải dạ thô dày, những ngón tay khẳng khiu, run rẩy của ông đang không ngừng sờ nắn, lần giở một vật thể bằng kim loại. Tiếng va chạm lách cách rất khẽ, như tiếng những chiếc răng sắt cọ xát vào nhau, thỉnh thoảng lại lọt qua lớp vải phát ra âm thanh khô khốc. Đó không phải là một sự cử động vô thức; nó là một hành vi đầy căng thẳng, lặp đi lặp lại như một nghi thức bí mật mà ông đang cố giấu giếm cả thế giới.

Đó là một chùm chìa khóa.

Một chùm chìa khóa cổng sắt cũ kỹ, nặng trịch, đã bị rỉ sét ăn mòn gần hết lớp sơn mạ bên ngoài.

Nhiên nhận ra ngay hình bóng của chùm chìa khóa ấy qua tiếng kim loại đặc trưng. Đó chính là chìa khóa mở chiếc cổng sắt hoa văn kiểu Pháp đã tróc sơn, dẫn vào khoảng sân đầy hoa trà mi của căn biệt thự gỗ cuối dốc. Chiếc cổng ấy mỗi lần mở ra đều phát ra tiếng kêu kèn kẹt quen thuộc mà cả xóm đều nghe thấy mỗi sớm mai khi ông Tâm dắt chiếc xe đạp cọc cạch ra ngoài. Theo thỏa thuận mua bán nhà mà Thịnh từng phong phanh nghe kể lại ở khu phố, toàn bộ chìa khóa nhà và cổng sắt đáng lẽ phải được bàn giao đầy đủ cho người chủ mới vào trưa ngày mai trước khi họ lên xe ra ga. Người mua là một cặp vợ chồng trẻ từ nơi khác đến, họ dự định sẽ đập bỏ căn biệt thự gỗ cũ kỹ để xây dựng một homestay hiện đại nhiều tầng.

Thế nhưng, ông Tâm đã lén giấu lại một chùm.

Ông giấu nó đi như một tên trộm đang cất giấu chiến lợi phẩm quý giá nhất, nhưng thực chất ông chỉ đang ăn cắp một phần của chính cuộc đời mình. Ông sờ nắn từng chiếc chìa kim loại thô ráp ấy như một đứa trẻ đang giấu giếm món đồ chơi duy nhất của mình trước nguy cơ bị tước đoạt. Ngón tay cái của ông miết đi miết lại trên những rãnh khía sắc nhọn, miết mạnh đến mức những khớp xương ngón tay trắng bệch ra vì dùng sức. Từng chiếc rãnh khía ấy đã mòn vẹt sau hàng vạn lần tra vào ổ khóa, chứng kiến biết bao mùa mưa nắng đi qua ngưỡng cửa nhà ông.

Đằng sau vẻ ngoài gắt gỏng, khó tính và những lời lẽ cằn nhằn cay nghiệt dành cho vợ ban nãy, khuôn mặt ông Tâm lúc này lộ rõ một sự suy sụp hoàn toàn. Lớp vỏ bọc bướng bỉnh, độc đoán của người chủ gia đình dường như đã nứt toác ra, để lộ một tâm hồn tan nát và kiệt quệ. Đó là vẻ mặt của một người đàn ông từng là trụ cột, từng tự tay đẵn từng cây gỗ thông trên đồi về dựng nên mái nhà che mưa che nắng cho gia đình suốt nửa thế kỷ, nhưng giờ đây phải đối diện với sự thật tàn nhẫn nhất của kiếp người: sự già nua và bất lực.

Ông sợ.

Nỗi sợ hãi ấy không phải là sợ cái chết, mà là sợ bản thân mình đã trở thành một kẻ vô dụng, một gánh nặng đè lên vai vợ và con cái. Đôi bàn tay từng cầm cưa, cầm đục thoăn thoắt, từng tạo nên những đường chỉ phào tinh xảo cho căn nhà giờ đây run rẩy không cầm nổi chiếc đinh; đôi chân từng băng qua những cánh rừng thông giờ đây chỉ đi vài bước dốc đã thở dốc kiệt quệ. Căn bệnh thoái hóa khớp và chứng tức ngực đã biến ông thành một phế nhân trong chính ngôi nhà của mình. Ông biết rõ, việc chuyển vào căn hộ chung cư chật hẹp ở Sài Gòn thực chất là một sự đầu hàng. Người ta đưa ông bà vào đó không phải để họ bắt đầu một cuộc sống mới, mà là để dễ bề chăm sóc những phế tích của thời gian, để con cái yên tâm làm việc mà không phải lo sợ một ngày nào đó nhận được tin dữ từ vùng núi xa xôi.

Chính ông là người đầu tiên gật đầu đồng ý ký vào giấy tờ bán nhà khi đứa con trai quỳ xuống nài nỉ vì lo cho sức khỏe của cha mẹ ở xứ lạnh đơn độc. Lúc ấy, ông đã tỏ ra dứt khoát, thậm chí còn gạt đi những giọt nước mắt của bà Sương để tỏ rõ bản lĩnh của người chủ gia đình. Nhưng cũng chính ông, khi đối diện với những căn phòng trống trơn và những thùng đồ đóng dở, lại cảm thấy mình như một kẻ phản bội. Ông đã phản bội lại mồ hôi nước mắt của người cha quá cố, phản bội lại từng gốc cây, tảng đá trong khu vườn mà ông đã gắn bó trọn một đời.

Ông bám víu vào từng chiếc chân ghế gãy, từng đoạn dây thừng, từng chiếc chìa khóa han rỉ… như những mảnh vỡ cuối cùng của lòng tự trọng đàn ông đang chìm dần xuống đáy biển sâu. Giữ lại chùm chìa khóa này, ông như tự huyễn hoặc bản thân rằng mình vẫn còn một lối quay về, rằng cánh cổng ấy vẫn thuộc về ông, và mối dây liên hệ giữa ông với mảnh đất này chưa hoàn toàn bị cắt đứt. Đó là một sự dối lừa tội nghiệp, nhưng là chiếc phao cứu sinh duy nhất giúp ông không bị ngạt thở trong nỗi tuyệt vọng.

Bà Sương lau khô giọt nước mắt trên má, khẽ thở dài rồi cẩn thận dùng chiếc khăn xô bọc lại chiếc hộp nhạc gỗ, chuẩn bị nhét lại vào túi cói. Bà liếc nhìn chồng, thấy ông vẫn ngồi im lìm như khúc gỗ thì lại không nén nổi tiếng thở dài mệt mỏi:

“Đấy, cháu xem… Cứ ngồi lì ra như thế suốt mấy ngày nay. Hỏi có mệt không thì không nói, bảo nghỉ ngơi thì cứ lúi húi ngoài sân nhặt từng cành củi khô. Tôi làm sao mà không xót ruột cho được? Giá mà ông ấy cứ nói thẳng ra một câu là ông ấy tiếc cái nhà, đằng này cứ kiếm chuyện cãi nhau về mấy thứ rác rưởi…”

Bà trách móc, nhưng trong giọng nói không còn sự gay gắt ban nãy, chỉ còn lại sự xót xa của một người bạn đời đã cùng đi qua giông bão. Bà hiểu ông quá rõ, hiểu cả cái thói sĩ diện ngấm vào máu thịt của một người thợ già, nhưng sự bế tắc của hoàn cảnh khiến bà không biết phải làm sao để kéo ông ra khỏi vũng lầy câm lặng ấy.

Ông Tâm khẽ giật mình khi nghe lời vợ nói, bàn tay trong túi áo dạ siết chặt lấy chùm chìa khóa cổng sắt rỉ sét đến mức cạnh kim loại sắc nhọn cấn sâu vào lòng bàn tay đau nhói. Nhưng miệng ông vẫn mím chặt lại thành một đường thẳng thừng, bướng bỉnh và cô độc. Ông không nói, vì ông biết bất kỳ lời thú nhận nào lúc này cũng sẽ chỉ làm vỡ vụn nốt chút tôn nghiêm cuối cùng mà ông đang cố bấu víu.

Nhiên bước lại gần bếp, nhìn ngọn lửa than đang đỏ rực bên dưới lò nướng. Mùi thơm của mẻ bánh mì sữa nướng sớm bắt đầu lan tỏa thoang thoảng trong không khí, vị béo ngậy ngọt ngào của bơ và men chín hòa vào làn sương đêm, nhưng dường như nó vẫn chưa đủ sức để sưởi ấm cho khoảng trống đang toác hoác ra giữa hai con người già nua ấy. Căn bếp ấm cúng có thể làm dịu đi cái buốt giá của da thịt, nhưng làm sao sưởi ấm được một tâm hồn đang bị bứng khỏi gốc rễ của chính mình?

Chiếc đồng hồ quả lắc lại buông một tiếng chuông khô khốc báo hiệu nửa giờ trôi qua. Đêm càng về khuya, sương muối ngoài hiên càng đóng dày, phủ trắng xóa lên những bậc thềm đá mờ mịt.

Ngôi nhà mấy mươi năm gắn bó sắp bị thu gọn vào mấy thùng các-tông, để lại một khoảng trống toác hoác trong lồng ngực.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories