Tiệm Bánh Lúc Nửa ĐêmCh.17 / 40
Chapter 17

Ranh giới của sự can thiệp

Mùi bơ khét bốc lên từ chiếc chảo sốt chanh trên bếp ga nhỏ, hòa lẫn với sự ngột ngạt khó tả đè nặng gian bếp của tiệm sau một đêm bão tố truyền thông.

Nhiên đứng chết lặng bên bàn đá, chiếc phới lồng bằng kim loại trong tay cô vẫn còn dính một vệt kem sữa ngả màu vàng đục, lợn cợn và đông kết lại từng mảng như vữa non vừa trát dở trên bức tường ẩm. Cạnh đó, ngọn lửa xanh lè của chiếc bếp mini đang liếm láp quanh phần đáy chiếc nồi đồng nhỏ, nơi vài giọt bơ cháy sém bốc lên làn khói mỏng cay nồng, xộc thẳng vào sống mũi, đọng lại nơi vòm họng một vị khét lẹt, nhẫn đắng. Đôi mắt cô cay xè, mi mắt giật nhẹ từng chặp. Nỗi xót buốt ấy không hẳn sinh ra từ làn khói ngưng tụ trong không gian kín, mà phát tiết từ một cơn chấn động âm ỉ tự đáy lòng vẫn chưa chịu lắng xuống sau những giờ phút kinh hoàng vừa quét qua con ngõ nhỏ.

Bên ngoài gian khách, chiếc đồng hồ gỗ kiểu cổ gắn trên vách ván thông khẽ giật mình gõ một tiếng *coong* khô khốc.

Một giờ mười lăm phút sáng.

Sau khi bài viết của Tạ Diệp Lam bùng nổ trên mạng xã hội với hàng nghìn lượt chia sẻ, hàng vạn lượt tương tác cùng vô số bình luận xoi mói, con hẻm Hoa Đăng vốn dĩ khuất nẻo đã bị biến thành một thứ tụ điểm xô bồ cho những kẻ hiếu kỳ kéo về dòm ngó. Không gian thanh vắng, cô tịch vốn có của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm suốt bốn năm qua hoàn toàn bị xé toạc, vỡ vụn dưới ánh đèn flash điện thoại và tiếng động cơ xe máy gầm rú.

Đêm nay, nhờ có Thịnh đứng ra can thiệp, tình hình ngoài ngõ mới tạm thời được vãn hồi một cách chật vật. Ngay từ đầu giờ chiều hôm trước, khi những tốp thanh niên đầu tiên bắt đầu lượn lờ ở đầu dốc đá với máy ảnh lăm lăm trên tay, anh đã cùng cô Hảo chủ tiệm tạp hóa đầu ngõ đến gặp ban cán sự tổ dân phố. Bằng sự kiên nhẫn lì lợm và uy tín của một người lao động địa phương nhiều năm cặm cụi, Thịnh đã xin phép giăng một sợi dây dù bện hai màu đỏ trắng chắn ngang khúc cua gắt nhất ở đầu hẻm. Trên sợi dây, anh treo lủng lẳng một tấm bìa carton dày xé vội từ thùng mì tôm, dùng chổi sơn quệt lên những dòng chữ đen nguệch ngoạc nhưng dứt khoát: *“Ngõ cụt, khu dân cư có người già đau ốm, cấm xe máy gầm rú ca đêm”*.

Giải pháp đời thường, thô sơ và có phần vụng về ấy của Thịnh kỳ lạ thay lại phát huy tác dụng. Nó ngăn được phần lớn những đám thanh niên choai choai thích lượn xe máy nẹt pô inh ỏi, cùng đám người sáng tạo nội dung tự do chuyên đi săn lùng những câu chuyện giật gân rẻ tiền để câu lượt tương tác.

Con dốc đá lát những phiến đá xanh chênh vênh rốt cuộc đã tìm lại được vẻ tĩnh mịch quen thuộc của nó. Từ thung lũng sâu, màn sương mù đặc quánh và lạnh buốt từ phía hồ Than Thở bắt đầu tràn về, cuộn tròn quanh những gốc thông già rồi từ từ trườn qua từng kẽ lá mimosa ướt sũng nước đêm. Nhưng sự tĩnh mịch của đêm nay không còn mang lại cảm giác bình yên, che chở như những ngày tháng cũ. Nó đặc quánh, căng thẳng và nặng nề, giống như khoảng lặng ngột ngạt rợn người nằm kẹp giữa hai đợt pháo kích. Từng hơi thở của màn đêm dường như đều mang theo sự rình rập vô hình, khiến cho những thanh âm nhỏ nhất—từ tiếng một cành củi mục gãy giòn ngoài vườn hoang cho đến tiếng gió rít qua khe cửa—đều có thể làm thần kinh người ta căng lên như dây đàn.

Dù con hẻm đã vắng bóng xe cộ, cánh cửa gỗ của tiệm vẫn mở he hé một khoảng chừng gang tay, như một thói quen bất di bất dịch mà Nhiên đã duy trì đều đặn suốt bốn năm qua, kể từ ngày thầy Bách rời đi. Và rồi, có một người khách vẫn lách qua được sợi dây dù chắn ở đầu ngõ để bước vào.

Đó là một thanh niên trạc hai mươi lăm tuổi, vóc người dong dỏng cao, khoác chiếc áo măng tô dạ dày màu xám tro còn đọng lại những hạt sương đêm li ti lấp lánh như bụi bạc. Anh ta không mang theo điện thoại giơ lên ngang mặt để vừa đi vừa quay chụp như đám đông hỗn loạn chiều hôm trước, cũng không cười cợt ồn ào hay ngó nghiêng thô bỉ. Nhưng ngay từ khoảnh khắc gã bước chân qua bậc thềm gỗ thông kêu cọt kẹt, ánh mắt gã đảo nhanh một vòng quanh quầy bánh nhỏ, quét qua chiếc tủ gỗ ba ngăn đựng những mẻ bánh mì gối mộc mạc, rồi dừng lại thật lâu ở tấm rèm vải thô che khuất gian bếp phía sau. Trong cái liếc nhìn sắc lẻm và có tính toán ấy, Nhiên lập tức cảm nhận được một luồng khí lạnh bất an chạy dọc sống lưng, làm dựng đứng những sợi lông tơ nơi gáy.

Gã thanh niên bước chầm chậm đến quầy, cố tình chọn ngồi vào chiếc ghế đẩu bằng gỗ sồi đặt ở góc khuất nhất, nơi ánh sáng từ ngọn đèn bão treo trên xà nhà chỉ rọi tới một nửa.

Khi Nhiên bưng ra cho gã một tách trà tim sen bốc khói nghi ngút, người thanh niên không hề có ý định nâng tách lên để sưởi ấm đôi bàn tay đang có vẻ cóng lạnh. Gã ngồi thẳng lưng, ngước mắt nhìn thẳng vào mặt Nhiên. Đôi môi mỏng hơi tái khẽ mím lại, khóe miệng trễ xuống, cố tạo nên một gương mặt mang vẻ bi thương dồn nén của một kẻ vừa bước qua một biến cố kinh hoàng.

“Chị là chủ tiệm đúng không?” Gã cất giọng trầm, khàn đặc và run rẩy như thể vừa trải qua một cơn khóc lóc dài dặc làm kiệt quệ thanh quản. “Tôi… tôi đọc được bài viết trên mạng xã hội… Người ta đồn rằng ở đây có những chiếc bánh không có tên trong thực đơn, những chiếc bánh chỉ dành riêng cho những ai đang bế tắc trong quá khứ, những kẻ đang bị ký ức giày vò…”

Nhiên đứng im sau quầy gỗ, hai bàn tay buông thõng giấu dưới vạt tạp dề thô siết chặt lại thành nắm đấm. Vết bỏng sém do dầu mỡ bắn phải trên mu bàn tay phải của cô cọ xát vào lớp vải gai cứng, nhói lên từng cơn buốt rát. Cô hít sâu một hơi, cố gắng giữ cho giọng nói của mình rơi xuống ở một cao độ phẳng lặng và vô cảm nhất:

“Tiệm chỉ có bánh mì mộc nướng men chua, bánh sừng bò bơ Pháp và vài món bánh ngọt nướng trong ngày theo mẻ sáng. Những bài viết tán tụng trên mạng chỉ là lời đồn thổi quá đà của người ngoài thôi. Nếu anh cần lót dạ cho ấm bụng qua đêm sương, tôi có thể cắt cho anh vài lát bánh mì đen nướng giòn.”

“Chị không cần phải giấu tôi làm gì!” Gã thanh niên vội vàng ngắt lời cô, âm lượng đột ngột nâng lên một tông nhưng vẫn cố kìm lại trong vẻ nghẹn ngào. Ánh mắt gã chớp chớp liên hồi, hai khóe mắt đỏ hoe dường như chực trào nước mắt. “Tôi đến đây hoàn toàn không phải vì hiếu kỳ hay muốn quay phim bêu riếu kiếm chuyện như đám người vô ý thức hôm qua. Tôi thật sự… thật sự đang ở bờ vực tuyệt vọng. Tôi cần sự giúp đỡ của chị. Mẹ tôi… mẹ tôi vừa mới qua đời vào tuần trước sau một cơn tai biến mạch máu não đột ngột. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh, bà đã cố nắm lấy tay tôi, mấp máy môi trăn trối một điều gì đó rất quan trọng, nhưng hơi thở bà quá yếu, xung quanh máy móc kêu quá ồn, tôi không thể nào nghe rõ được…”

Gã đưa hai bàn tay lên ôm lấy mặt, những ngón tay gầy guộc run rẩy bấu chặt vào thái dương:

“Suốt một tuần nay tôi không tài nào chợp mắt nổi. Cứ mỗi lần nhắm mắt lại, tôi lại thấy cảnh tượng trắng xóa lạnh lẽo trong phòng cấp cứu, thấy ánh mắt giận dữ như muốn xé nát tâm can của bố tôi đổ dồn lên đầu tôi. Bố trách tôi là đứa con bất hiếu, chính cuộc cãi vã vô nghĩa của tôi vào buổi chiều hôm đó đã làm mẹ lên cơn tăng huyết áp. Tôi sắp phát điên lên rồi chị có hiểu không? Cảm giác tội lỗi này đang gặm nhấm từng khúc ruột của tôi từng giây từng phút. Nếu chiếc bánh men cổ truyền của chị thực sự có thể giúp con người ta tìm lại một mẩu ký ức đã mất, một khoảnh khắc đã bị lãng quên… tôi xin chị, làm ơn làm cho tôi một chiếc. Bao nhiêu tiền tôi cũng trả, bất kể giá nào tôi cũng chấp nhận!”

Câu chuyện bi kịch gia đình tuôn ra rành rọt, lớp lang, đầy đủ chi tiết éo le và lâm ly chẳng khác nào một kịch bản phim truyền hình dài tập đã được trau chuốt, gọt giũa kỹ lưỡng từng câu từ. Người thanh niên gục hẳn đầu xuống mặt bàn gỗ, hai bả vai gầy dưới lớp áo dạ run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn.

Thế nhưng, đứng cách gã chỉ một chiếc quầy bar hẹp làm bằng gỗ thông xẻ thô, Nhiên không hề ngửi thấy mùi vị của sự kiệt cùng.

Bốn năm đứng sau quầy bánh này trong những đêm sương mù sâu hút của Đà Lạt, Nhiên đã quen với việc tiếp xúc với những mảnh vỡ của đời sống. Mỗi khi một người khách thực sự mang trong mình một vết thương rỉ máu bước vào căn tiệm này, không gian xung quanh họ lập tức biến đổi. Đó là một thứ từ trường rất riêng biệt và rõ ràng, tỏa ra từ da thịt, từ hơi thở và từ chính sự đè nén sâu thẳm trong lồng ngực họ.

Cô vẫn nhớ như in anh Lộc tài xế xe tải đường dài, người mang theo mùi mồ hôi chua nồng trộn lẫn với mùi khói dầu diesel cháy khét và sự mệt mỏi rệu rã của những chuyến xe đêm vượt đèo Bảo Lộc, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mỏng manh như một sợi tóc. Cô nhớ cô sinh viên Minh An, bước vào tiệm với mùi sách vở cũ ẩm mốc và sự bức bối cay đắng của tuổi trẻ bị giam cầm trong những kỳ vọng nghiệt ngã của gia đình. Cô nhớ anh Duy kỹ thuật viên phòng xét nghiệm, người khoác trên mình cái lạnh vô trùng, tanh nồng mùi hóa chất tẩy rửa và sự cô độc thăm thẳm của một kẻ chứng kiến quá nhiều cái chết mà không thể thốt nên lời. Ở những con người ấy, sự đau khổ là một khối nặng đè nén khiến người đối diện cũng phải nghẹt thở, phải rùng mình xót xa.

Còn ở người thanh niên đang gục đầu trước mặt cô lúc này, Nhiên tuyệt nhiên không ngửi thấy thứ không khí nặng trĩu ấy.

Phảng phất quanh chiếc áo măng tô xám của gã chỉ là mùi nước hoa hàng hiệu đắt tiền xịt vội nhưng vẫn còn nồng gắt, mùi sáp vuốt tóc thơm lừng vừa mới tạo kiểu chưa đầy một giờ trước, và trên hết là một nhịp thở hoàn toàn đều đặn, nhịp nhàng. Không hề có sự rối loạn nhịp tim, không có sự co thắt cơ hoành hay hơi thở đứt quãng của một kẻ đang thực sự bị nỗi đau mất mẹ bóp nghẹt khí quản.

Thậm chí, Nhiên còn tinh ý nhìn thấy qua kẽ tóc của gã: dù hai khóe mắt gã đang đỏ hoe vì cố rặn ra nước mắt, nhưng những ngón tay gã đặt hờ hững trên mặt bàn gỗ lại đang gõ nhịp nhịp từng hồi một cách vô thức. Đó là điệu bộ đặc trưng của một kẻ đang tính toán thời gian, một kẻ đang sốt ruột chờ xem màn diễn xuất của mình đã đủ sức thuyết phục và mang lại kết quả như mong muốn hay chưa.

Gã đang diễn.

Hoặc giả, gã là một kẻ tò mò được một hội nhóm ẩm thực nào đó cử đến làm phép thử, hoặc tệ hơn, gã chính là một tay viết sắc sảo nào đó muốn tự mình trải nghiệm để rồi viết bài bóc trần “trò bịp bợm nhân danh ký ức” của tiệm bánh Lúc Nửa Đêm, nhằm kiếm thêm danh tiếng trên các diễn đàn mạng xã hội.

Bình thường, nếu là trước đây, khi đối diện với một vị khách mang tâm địa giả dối như vậy, Nhiên sẽ chỉ mỉm cười nhạt, im lặng rót thêm vào tách của gã một chút nước sôi để giữ ấm, rồi nhẹ nhàng nhắc nhở rằng bột đêm đã hết, lò nướng đã hạ nhiệt, và lịch sự mời gã rời đi khi chiếc đồng hồ trên vách điểm ba giờ sáng. Thầy Bách từng dành hàng tháng trời bên bàn ủ men chỉ để dạy cô về sự kiên nhẫn: sự kiên nhẫn trước sự lên men chậm rãi của bột mì, và sự kiên nhẫn gần như vô hạn trước những thói đời nông nổi, ồn ào của trần thế. Thầy bảo, kẻ không mang vết thương thì không bao giờ tìm thấy cánh cửa của bánh, và người thợ làm bánh không bao giờ có nhiệm vụ phải tranh cãi với những kẻ điếc trước sự tĩnh lặng.

Nhưng đêm nay, bên dưới lớp vỏ bọc điềm tĩnh thường ngày của Nhiên, một ngọn lửa uất ức đang âm ỉ cháy lan.

Những lời bình luận cay độc, tàn nhẫn trên mạng xã hội suốt hai mươi bốn giờ qua như những mũi kim tẩm thuốc độc liên tục găm sâu vào màng nhĩ cô, không cho cô một giây phút nào được yên ổn.

*“Thời buổi văn minh nào rồi mà còn tin vào cái trò ăn bánh gợi nhớ ký ức? Chắc chắn là có tẩm chất kích thích nhẹ hoặc dùng mấy trò bùa ngải lừa bịp tâm lý của đám mê tín!”*

*“Một con bé mới hai mươi bảy tuổi ranh, mở tiệm núp lén lút trong bóng tối hẻm sâu để làm tiền thiên hạ, chỉ có lũ dở hơi mới tin vào ba cái chuyện thần thánh hóa rẻ tiền!”*

*“Nhóm Bếp Mới đã lên tiếng bóc trần rồi đấy thôi, chẳng qua chỉ là áp dụng ba cái kỹ thuật men hoang dã cơ bản của Pháp rồi mượn danh thầy Bách đã chết để làm màu câu khách…”*

Từng câu, từng chữ, từng lời thóa mạ trơ trẽn ấy cứ vo ve, rền rĩ bên tai Nhiên như một đàn ong vò vẽ bị vỡ tổ. Sự bất lực, tức tối và tổn thương bị dồn nén đến tận cùng suốt một ngày một đêm giam mình trong căn tiệm đóng kín đã biến thành một sự sốt ruột cay đắng. Lòng kiêu hãnh của một người thợ được chính tay thầy Bách truyền nghề bị chạm tự ái sâu sắc. Cô muốn phản kháng. Cô muốn chứng minh. Cô muốn đập tan cái định kiến ghê tởm cho rằng cô là một kẻ dựng chuyện kiếm tiền trên sự nhẹ dạ của người khác.

Nếu gã thanh niên này muốn đem bi kịch ra để thử thách cô, muốn dùng một câu chuyện ngụy tạo trơn tru để bẫy cô vào tròng, thì cô sẽ không nhẫn nhịn nữa. Cô sẽ dùng chính kỹ nghệ làm bánh của mình, dùng chính chiếc bánh này để lột trần bộ mặt giả tạo trơ trẽn của gã!

Nhiên siết chặt nắm tay đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau điếng. Cô nhìn chằm chằm vào đỉnh đầu của vị khách đang cúi gục, giọng nói lạnh tanh, sắc bén như một nhát dao khía vào không khí:

“Được. Anh ngồi đợi ba mươi phút. Tôi sẽ làm cho anh một chiếc bánh.”

Người thanh niên ngẩng phắt đầu dậy. Trong đáy mắt gã, trước khi kịp phủ lên một lớp sầu não giả vờ, đã lóe lên một tia kinh ngạc tột độ xen lẫn sự đắc ý lộ liễu. Khóe miệng gã giật giật, vội vã kéo ra một nụ cười méo mó đầy vẻ biết ơn:

“Thật… thật sao chị? Cảm ơn chị… Đội ơn chị nhiều lắm! Chị đúng là cứu tinh của đời tôi…”

Nhiên không buồn đáp lại một lời. Cô quay ngoắt người, thô bạo gạt tấm rèm vải thô bước thẳng vào gian bếp phía sau.

Trên nóc chiếc tủ gỗ thông ba ngăn—nơi cất giữ những dụng cụ làm bánh gia truyền từ thời thầy Bách—con mèo Mè đang nằm cuộn tròn như một cuộn len xám bỗng mở bừng mắt. Đôi mắt màu ngọc bích của nó trong bóng tối nhờ nhờ không hề ánh lên vẻ lười biếng hay ấm áp như mọi ngày. Con ngươi của nó co thắt lại thành một đường chỉ mảnh, sắc lẹm và lạnh băng. Nó nhìn trừng trừng vào bóng lưng đang chuyển động gấp gáp, cứng đờ của Nhiên, rồi bất thần rướn cổ, phát ra một tiếng *khè* thật khẽ, khàn đục từ sâu trong cuống họng.

Đó là một âm thanh cảnh báo lãnh đạm và xa lạ, một thứ thanh âm mà suốt bốn năm sống chung dưới mái tiệm này, con vật chưa từng một lần phát ra đối với cô.

Nhiên nghe thấy tiếng khè ấy. Âm thanh cọ xát vào màng nhĩ cô, nhưng cô gạt phắt nó đi. Cơn tự ái bị kích động và ngọn lửa hiếu thắng mù quáng đang bốc lên ngùn ngụt trong lồng ngực đã bịt kín mọi giác quan tinh tế, nhạy bén nhất của người thợ làm bánh.

Cô bước phăm phăm tới bàn đá hoa cương. Lòng bàn tay cô ướt đẫm một lớp mồ hôi lạnh ngắt.

Đêm nay, cô sẽ không nướng bánh mì men thô mộc mạc như thường lệ. Bánh mì men thô cần thời gian ủ dài, cần sự lắng dịu của đất trời, và quan trọng hơn, nó quá đỗi hiền lành. Cô quyết định làm một chiếc tart chanh hạt dẻ—món bánh đòi hỏi sự cân bằng tinh vi đến từng phần trăm gam giữa vị chua gắt gỏng của chanh tươi, vị ngọt bùi trầm ấm của hạt dẻ nghiền và độ béo sâu lắng của kem tươi lên men.

Nhưng trong tâm thức của Nhiên lúc này, chiếc bánh ấy không hề được nhào nặn để trở thành một sự xoa dịu hay nâng đỡ tâm hồn ai cả.

Nó được tạo ra để làm một chiếc bẫy. Một công cụ thẩm vấn tàn nhẫn.

*Nếu anh ta nói dối về cái chết của mẹ,* Nhiên thầm nghĩ, những ngón tay cô bốc một vốc bột mì nguyên cám thô ráp ném mạnh xuống mặt bàn đá, tạo nên một đám bụi bột trắng xóa bay mù mịt, *chiếc bánh này sẽ ép anh ta phải nuốt trọn sự dối trá của chính mình. Vị đắng cay tột cùng sẽ bóp nghẹt cổ họng anh ta, bắt kẻ lừa gạt phải lộ nguyên hình!*

Với ý nghĩ đen tối và đầy thù hằn ấy dẫn đường, Nhiên bắt đầu gạt bỏ toàn bộ sự cẩn trọng, nhẫn nại và nhịp điệu thiêng liêng mà thầy Bách từng dày công truyền dạy suốt những năm tháng thanh xuân của cô.

Bình thường, việc lấy kem tươi đã được ủ chậm bên cạnh hũ men cái đòi hỏi một sự nâng niu, cung kính tuyệt đối. Hũ men cái đặt trong góc tối của chiếc tủ gỗ thông là một thực thể sống thực sự, nhạy cảm với từng luồng chuyển dịch không khí, từng biến đổi nhiệt độ và từng rung động cảm xúc của người thợ. Men cái cần sự an định tĩnh tại, cần hơi ấm của lòng trắc ẩn để đánh thức những tầng ký ức sâu kín nhất ngủ quên trong tiềm thức con người.

Thế nhưng đêm nay, Nhiên giật tung cánh cửa tủ gỗ bằng một động tác giật cục, thô bạo. Bản lề sắt rỉ sét rên lên một tiếng ken két chói tai. Cô thọc chiếc muôi gỗ vào hũ gốm, múc ra một lượng lớn kem béo đặc quánh đã được đặt ủ cạnh men cái suốt hai ngày hai đêm qua. Lớp kem sánh mịn, thoang thoảng mùi hương thanh khiết của hoa mimosa rừng và men quả dại lên men tự nhiên, khẽ rung rinh trên miệng muôi. Nhưng thay vì để kem nghỉ ngơi, hòa quyện từ tốn với đường cát vàng và lòng đỏ trứng gà ở nhiệt độ phòng, Nhiên lại trút ập toàn bộ khối kem ấy vào lòng chiếc chảo đồng đang nóng rực trên ngọn lửa bếp ga.

*Xèo!*

Một tiếng rít chói tai vang lên, dữ dội và đau đớn.

Lớp kem tươi thượng hạng bị sốc nhiệt đột ngột lập tức biến tính trong nháy mắt. Cấu trúc nhũ tương hoàn hảo bị phá vỡ hoàn toàn, lớp mỡ bơ màu vàng sậm tách rời khỏi phần nước sữa, nổi lềnh bềnh thành một váng dầu loang lổ trên mặt chảo.

Nhiên cắn chặt môi dưới đến mức suýt bật máu, vị tanh của rỉ máu thấm vào đầu lưỡi. Cô nhìn thấy sự hỏng hóc ấy, nhưng cô không dừng lại để điều chỉnh hay làm lại từ đầu. Cơn kích động điên cuồng đang dẫn dắt từng cử động của đôi bàn tay cô.

Cô với lấy quả chanh vàng Đà Lạt to bản, dùng chiếc bàn bào bằng sắt cạo lấy cạo để phần vỏ ngoài. Không chỉ lấy đi lớp vỏ mỏng thơm ngát tinh dầu vàng ruộm, Nhiên cố tình ghì mạnh tay, bào sâu vào tận lớp cùi trắng xốp xáp bên trong—phần mô xơ chứa đầy chất đắng ngắt và chát xít. Từng mảng cùi chanh trắng nhờ rơi lả tả xuống mặt thớt. Chưa dừng lại ở đó, cô cầm lấy con dao sắc, bổ đôi hai quả chanh xanh mọng nước, dùng hết sức bình sinh bóp nghiến, vắt kiệt từng giọt nước cốt chua loét đổ thẳng vào chảo sốt bơ kem đang sôi sùng sục trên bếp.

Lượng axit citric cực mạnh đổ ập vào môi trường nhiệt độ cao lập tức tạo nên một phản ứng hóa học bạo lực. Protein trong sữa bị kết tủa tức thì, vón cục lại thành những mảng lợn cợn, xám xịt như bã đậu phụ non bị hỏng thiu. Mùi thơm thanh tao ban đầu biến mất không còn một dấu vết, nhường chỗ cho một thứ mùi hắc nồng, chua gắt xộc thẳng vào xoang mũi, khiến Nhiên phải ho sặc sụa.

Để tăng thêm tính “thẩm vấn” và trừng phạt cho chiếc bánh, Nhiên với tay lên giá gỗ trên cao, giật lấy hũ bột hạt dẻ nướng.

Hạt dẻ rừng vốn mang trong mình vị ngọt bùi đằm thắm, mộc mạc của đất mùn mùa đông, là thứ nguyên liệu làm dịu đi những vết thương lòng. Nhưng đêm nay, thay vì dùng rây bột để tán mịn hạt dẻ thành lớp bột êm như nhung, Nhiên lại trút toàn bộ nắm hạt dẻ khô khốc vào chiếc cối đá hoa cương. Cô cầm chiếc chày đá nện xuống thô bạo. Những tiếng *thình thịch* nặng nề nện vào lòng cối vang lên như những tiếng búa gõ trong một phiên tòa kết tội. Cô cố tình nghiền dở dang, giữ lại nguyên vẹn cả những mảnh vỏ lụa màu nâu sẫm chát ngắt bên ngoài hạt dẻ, rồi trút tất cả vào khối bột vỏ tart đang nằm trơ trọi trên bàn.

Nhiên bắt đầu nhào bột.

Những ngón tay cô cắm sâu vào khối bột mì, co kéo, vặn xoắn và đấm thùm thụp xuống mặt bàn đá bằng tất cả sự căm phẫn đang gào thét trong lòng. Không có sự âu yếm lắng nghe độ đàn hồi của những sợi gluten. Không có sự hòa nhịp với hơi thở ấm áp của men vi sinh. Không có bất kỳ một thoáng cảm thông nào dành cho sự biến chuyển của nguyên liệu.

Đôi bàn tay cô ấn mạnh, nghiến ngấu khối bột xuống nền đá lạnh như thể cô đang muốn bóp nghẹt cổ họng của một kẻ thù vô hình nào đó. Khối bột dưới sự cưỡng bức tàn bạo ấy không thể trở nên mềm mại, mịn màng và dẻo dai như da thịt của một đứa trẻ. Ngược lại, nó co rút lại trong sợ hãi, trở nên chai cứng, thô ráp, bề mặt sần sùi và đứt gãy từng mảng lớn như một dải đất khô cằn bị nứt nẻ sau cơn hạn hán kéo dài.

Con mèo Mè từ trên nóc tủ gỗ thông nhảy phịch xuống nền đất nện. Nó không thèm cọ mình vào ống quần Nhiên để xin xỏ sự vuốt ve như mọi bận. Con vật lầm lũi lùi xa về phía góc tối tăm nhất của căn bếp, nép mình sau chiếc bao tải đựng bột mì rỗng. Hai tai nó cụp hẳn ra sau đầu, chiếc đuôi dài quất nhẹ từng nhịp bồn chồn xuống sàn, đôi mắt ngọc bích nhìn trừng trừng vào ngọn lửa xanh lè của bếp ga với một vẻ xa cách, ghẻ lạnh và tàn nhẫn đến gai người.

Nhiên hoàn toàn phớt lờ sự hiện diện của con mèo. Lúc này, tâm trí cô đã bị vây hãm trong một màn sương mù u tối của sự thù hận và tính toán.

Cô nhồi nhét khối bột chai cứng vào chiếc khuôn tart bằng kim loại tròn có khía rãnh. Thay vì dùng ngón tay cái miết nhẹ nhàng để bột dàn đều quanh thành khuôn, cô dùng lòng bàn tay nện mạnh xuống đáy. Rồi cô vớ lấy chiếc nĩa kim loại, chọc lia lịa, chọc điên cuồng những lỗ thủng nham nhở, rách rưới dưới đáy bánh để ngăn bột phồng rộp.

Động tác của cô dồn dập, sắc lạnh như những nhát đâm.

Cô múc thứ hỗn hợp nhân kem chanh vón cục, chua loét và sặc mùi bơ khét trút đầy vào lòng khuôn bánh. Không một chút do dự, Nhiên mở toang cánh cửa lò nướng bằng gang đen sì, tống mạnh chiếc khuôn kim loại vào khoang lò sâu hoắm.

Cánh cửa lò đóng sầm lại một tiếng *rầm* khô khốc.

Nhiệt độ trong khoang lò đang được đẩy lên tới hai trăm độ C—mức nhiệt quá cao và hung hãn đối với một chiếc tart cần sự chín từ từ và êm ái.

Nhiên buông thõng hai tay, đứng tựa lưng vào mép bàn đá lạnh ngắt. Lồng ngực cô phập phồng, hơi thở hổn hển như vừa trải qua một cuộc ẩu đả kịch liệt. Khắp gian bếp nhỏ, mùi bơ cháy khét từ đáy chiếc chảo đồng hòa lẫn với mùi tinh dầu chanh bị hun nóng quá lửa tạo nên một luồng không khí hắc nồng, chua loét và ngột ngạt đến tột cùng, quánh lại trong lồng ngực cô như một lớp váng dầu bẩn thỉu. Vết bỏng sém trên mu bàn tay phải nhói buốt lên từng cơn giật thót, râm ran đau đớn như thể chính từng thớ da thịt cô đang phát ra tín hiệu phản kháng, lên án hành vi cưỡng bức thô bạo vừa diễn ra.

*“Món ăn mở cửa, người ăn tự bước.”*

Một giọng nói trầm ấm, khoan thai và tĩnh tại bỗng thoáng hiện lên trong tâm trí cô, mờ ảo và xa xăm như tiếng chuông chùa vọng qua màn sương sớm trên đỉnh đồi Mimosa. Đó là giọng nói của thầy Bách.

Nhiên nhớ lại một buổi chiều thu vàng rực nhiều năm về trước, khi cô còn là một đứa trẻ vụng về mới bước chân vào nghề. Thầy Bách đã kiên nhẫn đứng tựa bên khung cửa sổ ngập tràn ánh nắng xiên khoai, nhìn cô lóng ngóng làm hỏng mẻ bánh đầu tiên mà không hề trách mắng. Thầy chỉ mỉm cười, đôi mắt hiền từ nhăn lại nơi khóe mi, khẽ bảo: *“Bàn tay của người làm bánh không phải là bàn tay của kẻ cầm quyền. Chiếc bánh làm ra không phải để chứng minh người thợ giỏi giang hay thông thái hơn ai. Món ăn chỉ là một cánh cửa khép hờ, người ăn có tự nguyện bước qua hay không là việc của tâm can họ. Nếu con mang lòng hiếu thắng nhào vào bột, chiếc bánh sẽ biến thành một khối đá chặn đứng đường về của người ta.”*

Nhưng ngay trong khoảnh khắc này, Nhiên lắc đầu thật mạnh. Cô đưa hai bàn tay dính đầy bột khô lên bấu chặt lấy hai thái dương, cố dùng sức mạnh của cơn giận dữ để xua đuổi thanh âm hiền từ ấy ra khỏi đầu óc mình.

*Không,* cô thầm gào thét trong câm lặng, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, *thầy đã quá bao dung với thói đời rồi, thầy Bách ạ! Thời thế bây giờ đã khác. Người ta không còn bước vào tiệm bằng sự thành tâm nữa. Họ mang theo máy quay, mang theo sự ngờ vực và những lời lăng mạ độc ác để giẫm đạp lên công sức của chúng ta. Con phải chứng minh cho họ thấy! Con phải cho cái gã giả tạo kia nếm mùi vị của sự dối trá! Con phải ép kẻ trơ trẽn này phải tự mình lột bỏ chiếc mặt nạ tang tóc xuống!*

Mười lăm phút trôi qua nặng nề, dằng dặc như một chuỗi thế kỷ bị kéo lê trên đá nhọn.

Chiếc chuông cơ học của lò nướng gang bỗng vang lên một tiếng *keng* lanh lảnh nhưng khô khốc, xé toạc không gian ngột ngạt của gian bếp.

Nhiên giật mình choàng tỉnh khỏi dòng suy nghĩ hỗn loạn. Cô với lấy đôi găng tay vải thô dày cộp đeo vào tay, kéo chốt lò nướng.

Một luồng khí nóng rực, khô khốc và khét lẹt phả thẳng vào mặt cô, mang theo mùi bơ cháy sém và mùi đường bị caramen hóa quá đà đến mức đắng ngắt. Nhiên dùng kẹp sắt kéo khay nướng ra ngoài, đặt mạnh lên mặt bàn đá.

Chiếc tart chanh hạt dẻ nằm trơ trọi trên khay nhôm xám xịt hiện ra dưới ánh đèn điện vàng vọt trong một diện mạo kỳ dị và thảm hại.

Lớp vỏ bánh không hề có được màu vàng nâu óng ả, ấm áp của bơ chín tới như thường lệ. Nó xám ngoét, khô khốc như một mảnh đất sét nung quá lửa, mép bánh nứt toác thành những đường rãnh ngoằn ngoèo, nham nhở do bị mất nước đột ngột dưới mức nhiệt hung bạo. Phần nhân kem chanh bên trên không còn giữ được độ bóng bẩy, mịn màng như thạch hổ phách; nó co rút lại thành một mảng sần sùi đầy những nốt rỗ li ti, bề mặt nổi lên một lớp váng dầu màu vàng đục, rỉ ra những giọt nước chua loét đọng quanh mép khuôn. Những mẩu vỏ lụa hạt dẻ màu nâu sẫm cháy đen sì nổi lấm tấm trên bề mặt kem, trông chẳng khác nào những vết ghẻ lở xấu xí.

Nhưng vào thời điểm đó, tâm trí của Nhiên đã bị cơn giận dữ và lòng hiếu thắng làm cho mù quáng hoàn toàn. Cô không còn đủ tỉnh táo và sự nhạy cảm nghề nghiệp để nhận ra sự thảm bại ê chề về mặt kỹ thuật đang phơi bày trước mắt mình.

Trong ánh mắt đục ngầu sự thù hận của cô, sự gắt gỏng, xù xì và méo mó của chiếc bánh không phải là một lỗi lầm, mà chính là thứ vũ khí hoàn hảo nhất. Cô nhìn chiếc bánh như một bản án đã được tuyên, một công cụ trừng phạt sắc bén sẵn sàng bẻ gãy sự ngoan cố của kẻ lừa gạt đang ngồi ngoài kia.

Nhiên cầm lấy con dao bản mỏng, dứt khoát cắt một lát bánh hình tam giác. Lớp vỏ bánh quá cứng cọ vào lưỡi dao phát ra một tiếng *rắc* khô khốc, gãy vụn thành nhiều mảnh nhỏ chứ không đứt ngọt ngào. Cô dùng xẻng bánh xúc miếng tart chanh đặt lên một chiếc đĩa gốm tráng men màu lam thô mộc—chiếc đĩa gốm mộc mạc do chính tay thầy Bách đặt làm từ một lò gốm thủ công ven sông Đa Nhim.

Nhiên hít sâu một hơi, bưng chiếc đĩa gốm bước qua tấm rèm vải thô, tiến ra gian ngoài.

Gã thanh niên vẫn ngồi nguyên ở góc bàn khuất sáng ấy. Thấy bóng dáng Nhiên bước ra, gã lập tức đưa hai bàn tay lên xoa vội vào khóe mắt, nhanh chóng kéo lại vẻ mặt tiều tụy, thảm sầu của một đứa con bất hiếu đang chìm đắm trong nỗi ân hận tột cùng trước cái chết của mẹ già.

“Bánh của anh đây,” Nhiên bước tới, đặt chiếc đĩa gốm xuống mặt bàn gỗ thông với một tiếng *cạch* dằn mạnh, dứt khoát. “Tart chanh hạt dẻ nóng. Anh ăn đi.”

Vị khách trẻ tuổi cúi xuống nhìn chiếc đĩa.

Khi ánh mắt gã chạm vào lát bánh xù xì, méo mó với lớp vỏ nứt toác và phần nhân kem chanh lợn cợn màu vàng đục kỳ dị, một thoáng ngập ngừng và hoang mang lộ rõ trong đáy mắt gã. Bằng trực giác của một kẻ sành sỏi, gã nhận ra chiếc bánh này trông chẳng có vẻ gì là một kiệt tác ẩm thực chữa lành tâm hồn như những lời tán tụng bay bổng trên mạng xã hội. Nhưng rồi, nhớ lại mục đích ban đầu khi bước chân vào đây, gã khẽ nuốt nước bọt, vươn tay cầm lấy chiếc nĩa nhỏ bằng bạc đặt bên cạnh đĩa.

“Cảm ơn chị… Đội ơn chị…” Gã lẩm bẩm, giọng nói lại run rẩy, bi thương giả tạo. “Tôi chỉ hy vọng… qua chiếc bánh này, tôi có thể nghe lại được lời trăn trối cuối cùng của mẹ tôi… Dù có phải trả giá thế nào, tôi cũng cam lòng…”

Gã dùng chiếc nĩa bạc xắn một miếng bánh lớn.

Lớp vỏ bánh quá rắn khiến chiếc nĩa kim loại phải nghiến xuống mặt đĩa phát ra một tiếng rít kin kít ghê tai. Sau một hồi chật vật, gã cũng cạy được một mẩu bánh hỗn tạp gồm cả vỏ cứng lẫn nhân kem rỗ rỉ nước, run rẩy đưa lên miệng.

Nhiên nín thở.

Cô lùi lại nửa bước, đứng thẳng người sau quầy bar gỗ, hai bàn tay buông thõng nắm chặt mép tạp dề. Đôi mắt cô mở to, căng ra hết cỡ, găm chặt vào từng cử động nhỏ nhất trên gương mặt người đối diện. Cô không bỏ sót một chi tiết nào: từ độ rung của khóe môi, sự chuyển động của con ngươi, cho đến nhịp phập phồng nơi yết hầu của gã.

Cô đang căng thẳng chờ đợi. Cô chờ đợi một cái nhíu mày kinh ngạc tột độ, một sự rùng mình run rẩy của các thớ cơ mặt khi luồng ký ức dữ dội ập về quật ngã gã. Cô chờ đợi khoảnh khắc gã sụp đổ hoàn toàn trước bàn dân thiên hạ, chờ đợi một giọt nước mắt bàng hoàng thực sự rơi xuống vì bị vạch trần tâm can, và cuối cùng là sự xấu hổ, lúng túng của một kẻ dối trá buộc phải cúi đầu thừa nhận rằng toàn bộ tấn bi kịch mẹ chết chỉ là một vở kịch vụng về.

Thế nhưng, thời gian chầm chậm trôi qua từng giây, từng nhịp thở ngột ngạt.

Không có gì xảy ra cả.

Tuyệt nhiên không có một phép màu hay một sự trừng phạt siêu hình nào xuất hiện.

Khoảnh khắc miếng bánh vừa chạm vào đầu lưỡi gã thanh niên, toàn bộ gương mặt gã lập tức co rúm, biến dạng một cách thảm hại. Nhưng đó hoàn toàn không phải là sự biến dạng của một tâm hồn đang bị chấn động bởi những tầng ký ức sâu thẳm ùa về. Đó là phản xạ tự nhiên của một sự ghê tởm thuần túy, trần trụi và bạo lực của vị giác con người trước một món ăn tồi tệ!

Đôi lông mày tỉa tót của gã nhíu chặt lại thành một nút thắt, hai gò má hóp rọp vào, mắt trợn trừng lên đầy kinh hoàng khi một luồng vị chua gắt gỏng, cay đắng và khé cổ xộc thẳng lên vòm họng gã như một ngụm axit đặc.

Lớp vỏ bánh khô khốc, chai cứng như những mảnh ngói vụn cọ xát dữ dội vào nướu răng và vòm họng gã, nhai rôm rốp rạo rực như thể gã đang phải nhai một vốc cát thô lẫn đá dăm. Còn lớp kem bên trong thì chua loét một cách man rợ—vị chua của chanh bị đun sôi quá lửa kết hợp với axit tự nhiên không hề được trung hòa bởi vị ngọt của đường, khiến cho toàn bộ tuyến nước bọt trong khoang miệng gã co thắt lại đau đớn, đè bẹp dí chút bùi béo ít ỏi của hạt dẻ rừng.

Chưa dừng lại ở đó, ngay sau cú sốc của vị chua xé lưỡi, một hậu vị đắng ngắt, chát xít và hôi hăng của cùi chanh trắng cùng lớp vỏ lụa hạt dẻ cháy khét lập tức bùng nổ, bám chặt lấy cuống họng gã như một ngụm thuốc bắc sắc quá lửa bị khê đáy nồi.

Gã thanh niên ho sặc sụa. Cổ họng gã nghẹn ứ lại, lồng ngực co giật dữ dội như thể gã vừa nuốt phải một thứ độc dược. Gã cố dùng hết sức bình sinh nuốt ực một cái để tống khứ mẩu bánh chết tiệt ấy xuống dạ dày, hai mắt đỏ hoe ứa ra những giọt nước mắt sinh lý vì quá chua và đắng.

Gã vội vàng chộp lấy ly nước lọc đặt trên bàn, ngửa cổ uống ừng ực từng ngụm lớn, uống như một kẻ chết khát giữa sa mạc, chỉ để rửa trôi thứ mùi vị kinh khủng đang bám riết lấy đầu lưỡi mình.

Không có bất kỳ ánh sáng nào bừng lên trong đôi mắt ấy.

Không có cánh cửa ký ức nào hé mở giữa màn đêm sương mù.

Không có bóng hình người mẹ quá cố, không có phòng cấp cứu trắng xóa, không có lời trăn trối nào vọng về từ cõi chết, và trên hết—chẳng có bất kỳ sự bối rối, ân hận hay xấu hổ nào của một kẻ nói dối vừa bị bắt thóp.

Chỉ có một sự thất vọng trơ trẽn, bực bội và khinh bỉ tột cùng đang trào dâng.

Người thanh niên dằn mạnh chiếc ly thủy tinh rỗng không xuống mặt bàn gỗ, phát ra một tiếng *cộp* chói tai. Gã rút tập khăn giấy trên quầy, thô bạo lau đi lau lại khoang miệng của mình, nhổ toẹt một mẩu vụn bánh còn sót lại xuống sàn nhà. Toàn bộ vẻ đau khổ, u sầu, bi thương giả tạo trên mặt gã biến mất sạch sẽ, nhanh như một cái chớp mắt, không để lại một dấu vết nhỏ nhoi nào.

Gã ngả người ra sau lưng ghế, khoanh hai tay trước ngực, khóe môi kéo lên thành một nụ cười khẩy đầy cay độc và mỉa mai. Gã nhìn chằm chằm vào miếng bánh dở dang đang rỉ nước vàng ệch trên chiếc đĩa gốm men lam, rồi ngước mắt lên nhìn thẳng vào Nhiên—người lúc này đang đứng chết trân sau quầy bar. Gã nhún vai, cất tiếng cười khanh khách:

“Trời đất quỷ thần ơi… Bánh với chả trái! Cái thứ quái quỷ gì mà dở tệ dở hại đến mức này vậy trời?”

Nhiên sững sờ. Đôi chân cô như bị đóng đinh chặt xuống mặt sàn gỗ thông lạnh ngắt. Toàn thân cô cứng đờ, máu trong các huyết quản dường như ngừng chảy.

“Tôi nghe thiên hạ đồn ầm ĩ trên mạng xã hội ghê gớm lắm cơ!” Gã thanh niên tiếp tục lắc đầu ngán ngẩm, giọng nói sang sảng, vang vọng khắp gian phòng tĩnh mịch không một chút e dè. “Nào là tiệm bánh bí ẩn lúc nửa đêm, nào là chiếc bánh đánh thức ký ức, chữa lành vết thương tâm hồn, kết nối người sống với người chết… Mẹ kiếp, hóa ra toàn là ba cái trò bốc phét, làm màu của đám reviewer ăn tiền bẩn để dắt mũi dư luận! Vỏ bánh thì cứng như đá tảng, cắn muốn mẻ cả răng; nhân kem thì chua loét như hũ dấm thiu để xó bếp, lại còn đắng nghét như ngậm phải bồ hòn. Nói thật cho cô biết nhé, đến một cái tiệm bánh ngọt hạng bét, bán bánh mì ế ẩm dưới chợ đêm Đà Lạt người ta làm còn ngon hơn cái thứ rác rưởi này gấp vạn lần!”

Gã thọc tay vào túi chiếc áo măng tô dạ đắt tiền, móc ra một tờ tiền mệnh giá năm mươi nghìn đồng đã bị vò nhàu nát. Không một chút tôn trọng, gã ném toẹt tờ tiền lên mặt bàn gỗ, ngay sát cạnh chiếc đĩa gốm.

“Tiền bánh của cô đây. Năm mươi nghìn, coi như tôi bố thí, coi như tôi xui xẻo mất công lặn lội sương gió nửa đêm nửa hôm chui rúc vào cái hẻm rách nát này để rước bực vào thân. Bán buôn cái thứ tay nghề non choẹt, dở ẹc thế này mà cũng bày đặt mở tiệm đêm với chả quy tắc cổ truyền. Đúng là trò lừa đảo mị dân không hơn không kém!”

Dứt lời, gã thanh niên đứng phắt dậy. Gã giật mạnh lại cổ áo khoác, không buồn liếc nhìn lại chiếc đĩa hay đống bừa bãi trên bàn lấy một lần.

Gã sải những bước chân dài đầy vẻ khinh miệt bước thẳng ra phía cửa tiệm. Gã dùng cùi chỏ đẩy mạnh cánh cửa gỗ sang một bên. Chiếc chuông đồng nhỏ gắn trên góc cửa bị chấn động dữ dội, va đập vào nhau phát ra một tràng âm thanh chói tai, hỗn loạn và sắc lạnh, rồi nhanh chóng bị màn sương mù dày đặc ngoài con dốc nuốt chửng.

Tiếng bước chân nện gót giày da cồm cộp xa dần trên con dốc đá, rồi tắt hẳn.

Căn tiệm bánh Lúc Nửa Đêm lại một lần nữa rơi vào khoảng không tĩnh lặng.

Nhưng đó không còn là sự tĩnh lặng thanh tịnh, êm đềm của một chốn dừng chân trú ẩn giữa đêm đông. Đó là một sự tĩnh lặng chết chóc, lạnh lẽo và nhục nhã ê chề.

Tờ tiền năm mươi nghìn đồng nhàu nhĩ nằm trơ trọi trên mặt bàn gỗ sồi xám, bên cạnh chiếc đĩa gốm lam thô mộc vẫn còn chứa miếng tart chanh bị cắn nham nhở, rỉ ra thứ nước chua vàng đục gớm ghiếc.

Nhiên đứng chôn chân tại chỗ. Hai tai cô lùng bùng, rền rĩ như thể có hàng ngàn con sóng dữ đang gầm thét trong màng nhĩ. Toàn bộ các đầu ngón tay cô lạnh ngắt, tê dại đi như bị kim châm. Từng lời chê bai cay nghiệt, từng tiếng cười khẩy mỉa mai và cả cử chỉ ném tiền trơ tráo của gã thanh niên không hề làm dấy lên trong cô sự giận dữ hay phẫn nộ như ban nãy.

Trái lại, chúng giáng một đòn sấm sét tàn nhẫn thẳng vào sâu thẳm tâm can cô. Nó đập vỡ vụn toàn bộ sự tự tin, lòng kiêu hãnh và niềm tin thiêng liêng về nghề nghiệp mà cô đã dày công vun đắp suốt bốn năm qua.

Cô chậm rãi, run rẩy bước ra khỏi quầy gỗ. Đôi chân cô nặng trĩu như thể đang đeo những tảng đá ngàn cân.

Cô tiến lại gần chiếc bàn ở góc khuất, cúi đầu nhìn xuống mẩu bánh màu vàng đục nằm chỏng chơ trên đĩa gốm.

Bằng những ngón tay đang run lên bần bật đến mức không còn làm chủ được, Nhiên cầm lấy chiếc nĩa bạc dính kem mà người khách vừa vứt lại. Cô run rẩy xắn một mẩu bánh nhỏ xíu còn sót lại ở góc rìa ngoài, đưa lên miệng.

Khoảnh khắc mẩu bánh vừa chạm vào đầu lưỡi, một cảm giác kinh hoàng tột độ lập tức bóp nghẹt lấy lồng ngực cô, khiến tim cô như ngừng đập.

Gã thanh niên không hề nói dối. Gã cũng không hề phóng đại để bôi nhọ cô.

Chiếc bánh thực sự tồi tệ đến mức không thể tưởng tượng nổi.

Nhưng điều khiến Nhiên bàng hoàng, chết lặng, điều làm sụp đổ hoàn toàn thế giới quan bên trong cô không phải là vị chua loét bạo lực hay vị đắng chát gắt gỏng của cùi chanh và hạt dẻ cháy. Điều khủng khiếp nhất, tàn nhẫn nhất chính là: bên dưới lớp gia vị hỗn loạn, xung đột và méo mó ấy, chiếc bánh hoàn toàn rỗng tuếch.

Nó trơ trọi, khô cằn và vô hồn như một nắm bùn đất chết bị nhào nặn qua loa với nước lã.

Không có một chút linh hồn nào của men cái.

Không có sự sống. Không có chiều sâu của thời gian lên men. Không có bất kỳ một sự rung động cảm xúc nào có thể chạm tới những tầng sâu kín nhất của trái tim con người. Đó chỉ là một mớ vật chất chết chóc, một xác ướp bột mì đang giãy giụa một cách thảm hại trên đầu lưỡi cô.

Men cái của thầy Bách—thứ men sống vô giá được gìn giữ, nâng niu qua hàng thế kỷ, kết tinh từ linh hồn của khí trời, sương gió Đà Lạt và tình yêu thương vô điều kiện của những thế hệ người thợ làm bánh đi trước—đã hoàn toàn câm lặng trong mẻ bánh này.

Nó đã rút lui. Nó đã từ chối cất lên tiếng nói.

*“Bánh chỉ mở cửa khi người ăn cần được nâng đỡ, không bao giờ dùng để dò xét hay thử thách lòng người.”*

Quy tắc cốt lõi, thiêng liêng nhất mà thầy Bách từng truyền dạy bỗng chốc vang vọng rền rĩ trong tâm trí Nhiên, như một tiếng sấm sét giáng xuống giữa đêm giông bão mù mịt.

Từng ký ức của những ngày đầu tiên chập chững bước vào nghề ùa về dồn dập, bóp nghẹt khí quản cô.

Ngày ấy, trong căn bếp nhỏ ngập tràn ánh nắng vàng như mật và mùi thơm thanh khiết của hoa cỏ trên triền đồi Mimosa, thầy Bách từng đứng nghiêm nghị trước chiếc bàn đá nhào bột. Thầy nhìn thẳng vào mắt cô, giọng nói trầm sâu như tiếng vọng từ lòng đất:

*“Nhiên, con phải khắc cốt ghi tâm điều này suốt cuộc đời làm thợ của mình: Chiếc bánh ký ức không phải là một thứ quyền năng, không phải là một thứ phép thuật để con phán xét, điều khiển hay trừng phạt bất kỳ ai. Người thợ làm bánh chúng ta chỉ là những người gác cổng khiêm nhường, thắp lên một đốm than ấm giữa đêm đông để sưởi ấm cho những linh hồn lạc lối tự tìm đường quay về. Khi trong lòng con dấy lên sự tò mò muốn dò xét tâm can người khác, khi con để cho sự kiêu ngạo muốn chứng minh bản thân dẫn dắt, hoặc khi con biến món ăn thành một thứ bẫy rập để kiểm chứng lòng dạ con người… thì linh hồn của men cái sẽ lập tức rút lui trong im lặng. Lúc đó, món ăn của con sẽ biến thành thứ bột khô vô vị, và tệ hại hơn nữa, nó sẽ biến thành thứ độc dược quay ngược trở lại đầu độc chính cái tâm của người làm ra nó.”*

*“Không bao giờ dùng để dò xét…”*

Nhiên lẩm bẩm lại từng chữ, từng lời ấy trong cơn mê sảng. Nước mắt cô trào ra, nóng hổi và mặn chát, lăn dài trên đôi gò má tái nhợt rồi nhỏ xuống vạt tạp dề thô ráp.

Cô đã làm cái gì thế này?

Chỉ vì sự bức bối tầm thường trước những lời đàm tiếu vô căn cứ trên mạng xã hội, chỉ vì lòng tự ái vụn vặt bị tổn thương bởi những ánh nhìn soi mói của đám đông hiếu kỳ, cô đã biến căn bếp thiêng liêng của thầy Bách thành một phòng thẩm vấn tàn nhẫn. Cô đã cố tình nêm nếm thêm vị cay đắng, cố tình bóp méo từng nguyên liệu để ép người khách phải phơi bày sự thật theo ý muốn ích kỷ của mình.

Cô đã phạm vào điều cấm kỵ lớn nhất, nghiệt ngã nhất của người thợ giữ men.

Cô đã phản bội lại lời răn dạy của người thầy đã khuất, phản bội lại sự tôn nghiêm thuần khiết của hũ men cái mà mẹ cô và thầy Bách đã phải đánh đổi bằng cả cuộc đời âm thầm, lặng lẽ để bảo vệ.

Cơn hoảng loạn và nỗi ân hận tột cùng ập đến như một cơn địa chấn dữ dội, nghiền nát chút sức lực cuối cùng còn sót lại trong cơ thể cô. Đôi bàn tay Nhiên run lên bần bật, run rẩy dữ dội đến mức các khớp ngón tay co quắp lại, không còn một chút lực tì nào.

Chiếc đĩa gốm men lam trên tay cô trượt khỏi những ngón tay mềm nhũn.

*CHOẢNG!*

Tiếng gốm vỡ sắc nhọn vang lên chói tai giữa không gian tĩnh mịch của căn phòng.

Chiếc đĩa gốm gia truyền rơi đập xuống sàn gỗ thông, vỡ tan tành thành vô số mảnh vụn sắc lẹm, bắn tung tóe khắp nơi. Miếng bánh tart chanh dở dang văng ra sàn, lớp nhân kem lợn cợn màu vàng đục bết dính nhớp nhúa vào những mảnh gốm vỡ và những kẽ hở của ván sàn gỗ, trông thảm hại, dơ bẩn và nhơ nhuốc như một vết thương mưng mủ.

Nhiên lùi lại một bước trong sợ hãi, hai tay ôm chặt lấy mặt.

Đôi chân cô khuỵu xuống. Cô ngã quỵ, ngồi sụp xuống sàn gỗ lạnh buốt, hai bả vai run lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào xé ruột xé gan. Sự thất bại này cay đắng và tàn khốc hơn gấp ngàn vạn lần bất kỳ lời thóa mạ độc địa nào của đám đông ngoài kia.

Nó là sự sụp đổ hoàn toàn từ bên trong tâm can cô. Là sự phá sản tuyệt đối của niềm tin nghề nghiệp mà cô hằng tôn thờ và gìn giữ như sinh mệnh.

Cánh cửa gỗ phía trước tiệm bỗng khẽ kêu lên một tiếng *két* êm ru, chậm rãi.

Một luồng gió lạnh buốt từ ngoài ngõ thốc vào, mang theo mùi sương đêm ngai ngái, ẩm ướt và mùi lá thông mục rữa từ những cánh rừng xa xăm.

Một bóng người cao lớn, vững chãi lặng lẽ bước qua bậc thềm gỗ.

Thịnh đứng ở ngưỡng cửa. Chiếc áo khoác kaki sờn vai của anh còn vương đầy những hạt sương đêm lấp lánh dưới ánh đèn vàng mờ ảo. Trên tay anh, chiếc đèn pin cầm tay cỡ lớn khẽ đung đưa bên hông. Nghe thấy tiếng gốm vỡ sắc nhọn và tiếng nấc nghẹn ngào từ bên trong vọng ra, bước chân anh vội vã rảo nhanh hơn.

Thịnh bước vào gian phòng. Ánh mắt anh dừng lại ở chiếc đĩa gốm tráng men màu lam vỡ tan tành dưới đất, dừng lại ở đống vụn bánh tart chanh nhớp nhúa đang bết dính trên mặt sàn, và cuối cùng, dừng lại ở Nhiên—cô gái đang ngồi thu mình sụp dưới đất, hai tay ôm mặt, tấm lưng gầy run rẩy trong nỗi tuyệt vọng câm lặng và cùng cực.

Thịnh không cất tiếng hỏi xem đã có chuyện gì vừa xảy ra.

Anh không hỏi người khách vừa đẩy cửa lao ra ngoài trong đêm sương là ai. Anh không hỏi vì sao chiếc bánh lại bị vứt bỏ một cách nhục nhã và thảm hại như thế. Và anh cũng tuyệt nhiên không tra vấn vì sao chiếc đĩa quý giá của thầy Bách lại vỡ vụn dưới chân cô.

Trong đôi mắt sâu thẳm, đen lánh của người đàn ông lao động từng đi qua biết bao thăng trầm, giông bão của cuộc đời, chỉ có một sự thấu hiểu tĩnh lặng, bao dung và nhẫn nại đến kỳ lạ.

Thịnh chậm rãi tháo đôi găng tay len dày cộp đã sờn rách ở các đầu ngón tay, đặt nhẹ nhàng lên mặt quầy gỗ.

Anh không bước lại gần để chạm vào người Nhiên, cũng không buông ra những lời an ủi sáo rỗng. Anh xoay người, bước vòng qua quầy, đi thẳng vào gian bếp phía sau. Một lát sau, anh quay trở lại gian ngoài, trên tay cầm theo một chiếc chổi đót nhỏ và một chiếc ki hót rác bằng thiếc cũ kỹ.

Không một lời trách móc. Không một ánh nhìn phán xét.

Thịnh lặng lẽ quỳ một chân xuống sàn gỗ thông, ngay bên cạnh những mảnh vỡ sắc nhọn đang nằm vương vãi. Bàn tay to lớn, thô ráp với những vết chai sần dày cộp của một người thợ quen việc nặng cẩn thận nhặt từng mảnh gốm lớn, xếp gọn gàng vào lòng chiếc ki thiếc. Động tác của anh vô cùng chậm rãi, từ tốn, cẩn trọng và chuẩn xác đến từng milimét, tuyệt đối không để một mảnh vụn gốm sắc cạnh nào có cơ hội văng ra cứa vào đôi chân trần của Nhiên đang co quắp bên cạnh.

Sau khi đã nhặt hết những mảnh vỡ lớn, Thịnh cầm chiếc chổi đót nhỏ, cúi đầu nhẹ nhàng quét từng mẩu vụn bánh khô khốc, từng vệt kem chanh lợn cợn bết dính trên mặt sàn gỗ.

Tiếng chổi quét sàn *sột soạt, sột soạt* vang lên đều đặn, nhịp nhàng giữa căn phòng tĩnh mịch.

Âm thanh ấy mộc mạc, bình dị, đời thường và tràn đầy sự nhẫn nại. Kỳ lạ thay, chính cái âm thanh thô sơ ấy lại như một liều thuốc xoa dịu vô hình, từng chút, từng chút một kéo tâm trí Nhiên ra khỏi cơn bấn loạn mù quáng đang nhấn chìm cô trong hố sâu tuyệt vọng.

Thịnh đứng dậy, đem chiếc ki rác chứa đầy mảnh vỡ đổ gọn gàng vào chiếc thùng rác đặt dưới gầm quầy. Rồi anh lại quay vào bếp, nhúng một chiếc khăn vải sạch vào chậu nước ấm, vắt ráo. Anh bước trở lại, quỳ gối xuống sàn một lần nữa, dùng chiếc khăn ẩm kiên nhẫn lau sạch từng vết bẩn, từng vệt dầu bơ khét lẹt cuối cùng còn sót lại trên nền ván gỗ thông.

Bàn tay anh di chuyển nhẹ nhàng qua khoảng sàn ngay trước mặt Nhiên, lau đi cả những giọt nước mắt mặn chát của cô vừa rơi xuống mặt gỗ lạnh buốt.

Khi toàn bộ sàn nhà đã sạch bong, không còn để lại một dấu vết nhỏ nhoi nào của sự thảm bại và nhơ nhuốc vừa diễn ra, Thịnh mới chống tay đứng thẳng người dậy. Anh thở ra một hơi dài, làn khói mỏng từ miệng anh tan biến thật nhanh vào không khí lạnh ngắt của đêm sương.

Anh nhìn xuống Nhiên. Ánh mắt anh ấm áp, trầm tĩnh và kiên định như ngọn than hồng âm ỉ cháy sâu dưới lớp tro tàn trong lò sưởi mùa đông.

Thịnh thò tay vào túi chiếc áo khoác kaki, rút ra một chiếc khăn tay bằng vải bông màu xám tro phẳng phiu, sạch sẽ. Anh cúi người, đưa chiếc khăn về phía cô gái, cất giọng trầm thấp, mộc mạc và bình thản như thể ngoài kia trời đất vẫn đang yên bình, như thể đêm nay chưa từng có cơn giông bão nào quét qua:

“Sương đêm ngoài kia xuống dày lắm rồi. Để anh ra kéo lại sợi dây dù, khóa chốt ngõ lại cẩn thận, rồi vào bếp pha cho cô một ấm trà atisô nóng nhé.”

Nhiên ngước mắt nhìn lên Thịnh qua làn nước mắt nhạt nhòa, mờ đục.

Bàn tay to lớn, thô ráp của anh vẫn kiên nhẫn giơ ra giữa không trung, vững chãi như một điểm tựa không bao giờ lay chuyển.

Nhiên không đưa tay ra đón lấy chiếc khăn. Nhưng sự hiện diện lặng lẽ, không tra vấn, không phán xét của người đàn ông ấy vào đúng khoảnh khắc này giống như một chiếc mỏ neo nặng hàng tấn, níu giữ lại con thuyền tâm hồn đang chao đảo dữ dội giữa cơn bão táp của cô. Nó kéo cô trở về với thực tại, nhắc nhở cô nhớ rằng giữa một thế giới đầy rẫy những thị phi ồn ào và những ảo ảnh giả tạo ngoài kia, vẫn còn có những điều chân thật, mộc mạc và bao dung đang âm thầm che chở cho cô.

Nhiên từ từ cúi đầu xuống, hai bàn tay vẫn còn vương mùi bột mì khét lẹt khẽ run rẩy co lại trên gối.

Cô nhìn trừng trừng vào khoảng sàn gỗ sạch sẽ, nhẵn bóng nơi chiếc đĩa gốm gia truyền vừa vỡ vụn ban nãy. Một nỗi sợ hãi muộn màng, sâu sắc và lạnh buốt từ từ bò dọc sống lưng cô, thấm sâu vào tận tủy xương.

Bởi vì ngay trong giây phút này, người thợ làm bánh trẻ tuổi đã thấu suốt một sự thật nghiệt ngã: cái giá phải trả cho sự can thiệp và lòng hiếu thắng là khủng khiếp đến nhường nào.

Khi người thợ làm bánh bắt đầu tò mò về bí mật của khách, món ăn sẽ lập tức biến thành thứ thuốc độc của lòng tham.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories