Cơm Nhà Cũng Phải Ghi Sổ
Phong thư niêm sáp của quán cơm Đậu Vân rơi xuống bàn trà quán trọ ven đường, mang theo mùi tương đậu quen thuộc cùng lời đòi nợ sắc bén không lẫn vào đâu được của Đỗ Mẫn.
Mùi tương đậu rang mỡ hành bốc lên từ thớ vải dầu xua tan đi phần nào mùi ẩm mốc của gian quán trọ lụp xụp sát biên giới ngoại vi phân đường Bạch Đăng. Bốn người Bổ Thiên Môn cùng kiểm sổ viên Nghiêm Túc ngồi vây quanh chiếc bàn gỗ ghép cập kê, một bên chân bàn phải chêm bằng nửa viên ngói vỡ mới khỏi nghiêng ngả. Bụi bặm của trận đào thoát khỏi mỏ Hồi Thanh vẫn còn bám trên vạt áo, và vết tro xỉ đá nổ ở hẻm Ngạc Khẩu vẫn còn vương trên khóe mắt từng người, lẫn vào những vệt mồ hôi khô bết lại thành từng mảng mặn chát.
Lâm Tiểu Nghiệp nuốt nước bọt, cổ họng khô khốc như vừa nuốt phải một vốc cát thô từ lòng suối cạn. Cậu cẩn thận dùng đầu móng tay khều nhẹ lớp sáp đỏ in hình chiếc muôi xới cơm tròn trịa — thứ triện ấn mộc mạc làm từ gỗ thị mà suốt mười năm qua đã in dấu trên không biết bao nhiêu tờ hóa đơn bữa trưa của mấy đứa trẻ đồi Vá Áo. Bên trong phong thư bằng vải dầu dầy dặn không chỉ có thư viết tay, mà còn có một tờ phiếu đòi nợ kẻ khung mực tàu vuông vức đến lạnh lùng, từng đường kẻ thẳng tắp như dùng thước thợ mộc gọt qua.
"Kỳ hạn mười ngày cho đợt bồi hoàn thứ hai, hôm nay là ngày thứ tư," giọng Đỗ Mẫn như vang lên mồn một từ từng nét chữ cứng cỏi trên giấy bản, đanh thép và dứt khoát như tiếng muôi sắt gõ mạnh vào vành chảo gang mỗi buổi ban trưa. "Biên bản thỏa thuận ghi rõ: nợ còn lại hai trăm mười sáu linh thạch vụn, chia làm ba đợt nhỏ để tránh việc các ngươi quỵt nợ bỏ trốn. Đợt này: đúng bảy mươi hai viên linh thạch vụn. Chậm một khắc, tiền lãi tính bằng giá ba bát mì thịt kho mỗi ngày."
Tạ Vân Cơ đang tựa lưng vào cột gỗ nứt nẻ, nghe đến đó liền hít một hơi sâu, ngực phập phồng dưới lớp giáp da chắp vá. Nàng đưa bàn tay còn dính muội than và dầu mỡ cơ quan vô thức sờ vào túi cờ lê bên hông, nơi chiếc mỏ lết huyền thiết nặng trịch đang cọ vào xương hông ê ẩm:
"Bà chủ Đỗ này lắp cả đồng hồ cát trong đầu hay sao ấy? Chúng ta vừa chui từ đáy hầm mỏ đầy bẫy rập chông gai ra, ngụm nước còn chưa kịp nuốt trôi cổ họng mà thư đòi nợ đã bay tới tận mặt. Người của phường đưa tin cưỡi chim ưng hay dùng phi hành phù bậc ba mà lùng ra chúng ta nhanh đến mức này?"
"Nhưng bà ấy tính đúng," Hàn Khuyết ngồi bên cạnh, cánh tay phải vẫn được nẹp gỗ cố định ngay ngắn bằng những dải vải xé từ vạt áo cũ, tay trái thong thả nâng chén trà nguội ngắt đầy cặn lá. Đôi mắt sắc lẻm của kiếm tu dường như dịu lại đôi chút khi nhìn thấy dòng chữ ngay ngắn ấy. "Đã ký chỉ máu vào biên bản thì một khắc cũng là trễ hạn. Bổ Thiên Môn ta dẫu sa cơ lỡ vận, nghèo đến mức kiếm rỉ không có tiền mài lại lưỡi, nhưng chữ tín với dân thường tuyệt đối không thể để mẻ một góc."
Tiểu Nghiệp không nói hai lời. Cậu dốc túi cặn vải thô bên hông ra mặt bàn.
Những viên linh thạch vụn góc cạnh, xỉn màu lách cách rơi xuống mặt gỗ xù xì, lăn lông lốc qua những rãnh nứt dọc ngang bám đầy bụi trà. Đó là năm viên linh thạch tiền công thuần túy từ việc cậu dùng cờ lê cân chỉnh lại giàn tời khoáng sản số bốn ở Hồi Thanh; là số tiền thù lao Bùi Thanh Chốt ứng trước cho chặng đường vận chuyển thiết bị sạch qua cửa khẩu ngầm; là tiền công sửa chữa vặt vãnh bằng sức lao động chân chính không dính dáng tới bất kỳ hạt linh lực tạm ứng gian lận nào từ các giao thức thấu chi nguy hiểm.
Từng viên một đều thấm đẫm mồ hôi, vết xước do va chạm kim loại và bụi quặng màu xám tro. Cậu cẩn thận dùng đầu ngón tay gạt, đếm từng viên một, mắt không chớp lấy một lần. Đủ bảy mươi hai viên linh thạch vụn sáng đều đặn, không thừa một mẩu cám, không thiếu một góc vỡ. Tiểu Nghiệp cẩn thận trút toàn bộ vào một chiếc túi da thỏ nhỏ có thêu ký hiệu kiểm toán của trạm dịch liên hoàn.
"Nghiêm huynh," Tiểu Nghiệp ngẩng đầu nhìn sang Nghiêm Túc. "Huynh có con dấu kiểm sổ độc lập của Ty Kiểm Toán tư pháp, phiền huynh làm chứng và đóng dấu niêm phong chuyển phát khẩn của dịch quán giúp ta. Gửi trả kỳ hai về thẳng quán cơm Đậu Vân. Phải đi đường chuyển vận ưu tiên của Nha Hành Chính, không qua tay bất kỳ chân rết tư nhân nào của Ty Định Nghiệp."
Nghiêm Túc đẩy gọng kính kim loại đã xước mờ một bên tròng, ánh mắt nghiêm nghị nhìn đống đá vụn trên bàn. Y rút từ trong tay áo ra chiếc kính lúp đo đạc linh số, rà sát từng viên một, cẩn thận quan sát phổ quang dao động từ những thớ đá xỉn màu.
"Nguồn gốc sạch, thu nhập từ lao động dịch vụ thực tế, không có dấu vết cưỡng đoạt, không phát sinh thấu chi định mức công đức, và quan trọng nhất là không lẫn tạp chất địa sát từ hầm mỏ cấm," Nghiêm Túc gật đầu dứt khoát. "Ta xác nhận biên nhận."
Chiếc ấn đồng hình trụ vuông vức của Nghiêm Túc nện cộp một tiếng đanh gọn xuống tờ phiếu chuyển phát bằng giấy bổi của trạm dịch. Vết mực son đỏ tươi thấm sâu qua ba lớp giấy mỏng, đóng cứng miệng túi da lại.
Ngay khoảnh khắc chiếc túi được trạm dịch viên — một gã tu sĩ Luyện Khí tầng ba mặt mày hốc hác — nhận lấy để đưa lên lồng chim phi ưng hành chính sau chái nhà, trong thức hải của Lâm Tiểu Nghiệp, chiếc chuông kiểm toán bằng đồng thau cổ xưa của Hệ Thống Hoàn Nghiệp bỗng khẽ đung đưa. Một thanh âm trong trẻo, tinh thuần vang lên, dội vào từng ngóc ngách tâm thức.
*«Ting! Ghi nhận hoàn tất nghĩa vụ tài chính kỳ hai thuộc Hồ sơ BTM-001. Số tiền thanh toán: 72 linh thạch vụn. Nguồn gốc: Lao động thực tế đã kiểm chứng. Dư nợ còn lại của hồ sơ bồi hoàn Đậu Vân: 144 linh thạch vụn. Trạng thái kinh mạch: Ổn định, không phát sinh nợ nghiệp thứ cấp.»*
Một luồng khí ấm áp, thanh khiết từ khí hải chầm chậm bốc lên, như dòng suối đầu nguồn tan chảy sau mùa băng giá, len lỏi qua mười hai đường chính kinh, dịu dàng vuốt ve và xoa dịu những chỗ bầm dập, ứ trệ kinh khí do dư chấn áp lực từ trận nổ đá ở hẻm Ngạc Khẩu. Cảm giác thanh thản, vững chãi này hoàn toàn khác biệt với sự căng tức, bỏng rát giả tạo mỗi khi mượn sức mạnh tạm ứng từ hệ thống hoàn nợ; nó là quả ngọt của việc làm đúng quy trình, kiếm từng đồng bạc sạch và trả đủ nợ nần trước ánh sáng ban ngày.
Thế nhưng, phong thư bằng vải dầu của Đỗ Mẫn nằm dưới mặt bàn vẫn chưa hoàn toàn rỗng không. Phía sau tờ phiếu đòi nợ bằng giấy bản thô ráp vẫn còn một mảnh giấy hoa tiên màu xanh nhạt kẹp lại ở góc đáy, mép giấy gấp thành hình một chiếc thuyền nhỏ xinh xắn.
Tiểu Nghiệp rút tờ giấy hoa tiên ra. Mùi hương ngải cứu thoang thoảng bốc lên từ thớ giấy mịn màng. Cậu vừa đọc lướt qua hai dòng đầu tiên, đôi đồng tử liền co thắt dữ dội, tròng mắt trợn tròn đến mức suýt lọt ra ngoài, ngón tay kẹp mép giấy run lên bần bật như bị điện giật.
Cậu chầm chậm ngẩng đầu lên, ánh mắt đầy vẻ kinh ngạc tột độ đưa thẳng về phía góc bàn đối diện — nơi Phùng Dược đang cắm cúi dùng chiếc chày sứ nghiền nát mấy củ thảo dược cầm máu, cố thu mình nhỏ lại hết mức có thể, vai rụt vào tận cổ như một con chim cút non đang trốn bão.
"Phùng sư đệ..." Tiểu Nghiệp hắng giọng một cái thật mạnh, thanh âm méo xệch đi như tiếng kim loại bị bẻ cong. "Đỗ Mẫn tiền bối... bà chủ quán cơm Đậu Vân khét tiếng đanh đá cả ba góc chợ... viết trong này rằng: 'Bảo thằng nhóc họ Phùng đừng có lén lút ăn bớt khẩu phần đan dược bồi bổ, áo rách thì tự mà khâu lấy, kim chỉ nhét ở đáy bọc hành lý rồi, và quan trọng nhất là..."
Tiểu Nghiệp nuốt nước bọt cái ực, ngực nghẹn ứ, cố gắng điều hòa hơi thở để đọc tiếp từng chữ rành rọt từng nét mực:
"...'Quan trọng nhất là, đừng tưởng mẹ mày mở quán cơm thì cái môn phái báo thủ của mày được phép thiếu một cắc tiền ăn!'"
*Rầm!*
Chiếc chày nghiền thuốc bằng sứ trượt khỏi cối đá hoa cương, nện thẳng xuống mặt bàn gỗ làm bắn tung tóe những vụn lá xanh ngắt. Chiếc bàn bốn chân vốn đã cập kê nay run lên bần bật, một bát nước chè suýt nữa đổ ụp vào lòng Nghiêm Túc. Cả gian phòng trọ lập tức rơi vào một khoảng lặng quái dị, đặc quánh đến mức tiếng một con phù du đập cánh bên ngọn đèn dầu cũng nghe rõ mồn một từng nhịp lách cách.
Tạ Vân Cơ há hốc mồm, chiếc đai ốc bằng đồng thau nàng đang mân mê trên đầu ngón tay rơi lăn lóc xuống sàn nhà, nảy tưng tưng rồi chui tọt vào gầm giường:
"Mẹ... Mẹ ruột đệ?!"
Hàn Khuyết đang nhấp dở ngụm trà thứ hai suýt nữa sặc sụa búa xua. Anh vội vã giơ ống tay áo rách lên che miệng ho khù khụ, mặt đỏ gay vì sặc nước, nhưng đôi mắt kiếm tu vốn lạnh lùng sắc bén như sương giá mùa đông giờ đây lại trợn trừng, tràn ngập vẻ hoang mang tột cùng:
"Phùng sư đệ... Đỗ chưởng quỹ... người từng cầm chổi lông gà đuổi đánh ta chạy ba vòng quanh triền đồi Vá Áo vì môn phái nợ tiền ba nồi canh củ cải kho thịt... là mẫu thân ruột thịt của đệ?!"
Gương mặt tròn trịa của Phùng Dược đỏ bừng từ mang tai xuống tận cổ áo, đỏ lan ra cả hai cánh mũi lấm tấm mồ hôi hột. Cậu vội vàng buông cối thuốc, chắp hai tay lại trước ngực, dập đầu lia lịa xuống mặt bàn gỗ van nài ríu rít:
"Đại sư huynh, Tạ sư tỷ, Tiểu Nghiệp ca... đệ xin lỗi! Đệ thề có trời đất chứng giám, đệ không hề có ý lừa dối mọi người đâu!"
"Vậy tại sao từ ngày gia nhập môn phái đến giờ đệ không hé răng nửa lời?" Tạ Vân Cơ nheo mắt tra hỏi, ngón tay gõ nhịp chan chát lên mặt bàn. "Hèn chi hồi đó mỗi lần sang quán Đậu Vân ăn cơm, bát cơm của đệ lúc nào cũng đầy có ngọn, dưới đáy rau luộc bao giờ cũng giấu hai miếng thịt kho mỡ màng thơm phức, trong khi bát của Hàn sư huynh chỉ toàn bã đậu với cuộng cải già! Ta còn tưởng bà chủ Đỗ có lòng trắc ẩn trời ban, thấy đệ là đệ tử nhỏ tuổi nhất môn phái nên thương tình bồi dưỡng!"
"Chính vì thế đệ mới không dám nói một câu nào!" Phùng Dược mếu máo giải thích, hai bàn tay vo chặt lấy vạt áo gai thô ráp đến mức nhăn nhúm. "Tính tình mẹ đệ... các huynh tỷ đâu phải không biết. Bà cứng rắn như đá tảng lòng suối vậy. Bà bảo nếu để người ngoài biết đệ là con trai duy nhất của bà, cả Bổ Thiên Môn sẽ sinh tâm ỷ lại, rồi chòm xóm láng giềng sẽ dị nghị, bảo rằng những lần bà cho môn phái khất nợ hay bớt tiền củi lửa đều là vì tư tình mẫu tử. Đệ... đệ sợ mọi người nghĩ Bổ Thiên Môn tồn tại lay lắt được qua mấy mùa đông rét mướt là nhờ ăn bám vào cái quán cơm nhỏ nhoi của mẹ đệ..."
Cậu cúi gằm mặt xuống, hai ngón chân cái trong đôi giày rơm cọ vào nhau ngượng ngùng, giọng nói nhỏ dần như tiếng muỗi kêu.
Tiểu Nghiệp nhìn bờ vai gầy gò của cậu bé mười bốn tuổi đang run rẩy, khẽ thở dài một hơi thật sâu. Cậu cầm tờ giấy hoa tiên màu xanh nhạt lên, đưa mắt nhìn xuống phần chữ viết phía dưới — nơi những dòng mực tàu trở nên đậm nét, dứt khoát và thẳng thắn hơn bao giờ hết. Giọng cậu chùng xuống, mang theo một vẻ kính cẩn tự nhiên khi đọc to phần tái bút:
"'...Gửi toàn thể Bổ Thiên Môn: Ta là Đỗ Mẫn, đại diện liên hộ khu chợ Đậu Vân, và cũng là mẹ của Phùng Dược. Nhưng công tư phải phân minh. Trận nổ giếng của các ngươi hồi đầu tháng làm hỏng cả dãy phơi đậu tương của ta và làm vỡ ba bể ngâm sợi vỏ cây của lão Tôn xưởng nhuộm. Đó là thiệt hại thật, là mồ hôi nước mắt thật của bà con xóm chợ. Phùng Dược là con trai ta mang nặng đẻ đau, nhưng bước chân vào Bổ Thiên Môn thì nó là một đệ tử có danh phận, có phần trách nhiệm liên đới trong việc không biết can ngăn đồng môn làm ẩu làm bừa. Ta minh bạch tuyên bố từ chối mọi đặc quyền ưu tiên bồi hoàn cho quán cơm của mình.
Số tiền bảy mươi hai viên linh thạch vụn kỳ này, sau khi dịch quán chuyển đến, ta sẽ lập tức chuyển thẳng toàn bộ vào quỹ sửa chữa xưởng nhuộm cho lão Tôn và mua gạo trắng phát chẩn cho mười hai hộ gia đình bị mất nước sinh hoạt đợt đầu. Cơm nhà cũng phải ghi sổ, mẫu tử cũng phải sòng phẳng. Đừng ai mong dùng tình thân để xóa nợ, và cũng đừng mong ta nể mặt thằng Phùng mà bớt cho các ngươi dù chỉ nửa ly linh khí. Trả cho xong nợ đi rồi hẵng vác mặt về ăn cơm.'"
Căn phòng trọ lại một lần nữa chìm vào tĩnh lặng. Nhưng lần này, không khí không còn sự ngột ngạt của nỗi bàng hoàng hay những lời trêu chọc vụn vặt, mà thay vào đó là một sự nể phục trang nghiêm len lỏi vào tâm khảm mỗi người.
Hàn Khuyết khẽ nâng cánh tay bị thương lên, chỉnh lại dải băng nẹp cho ngay ngắn. Kiếm tu trẻ tuổi chậm rãi cất lời, ánh mắt nhìn thẳng vào bức thư trên tay Tiểu Nghiệp, giọng điệu mang theo sự trang trọng hiếm thấy:
"Bà chủ Đỗ... quả thật là bậc nữ lưu hiểu rõ đại nghĩa hơn cả khối kẻ khoác áo bào thêu chỉ vàng của Tiên Minh ngoài kia. Cơm nhà cũng phải ghi sổ. Mẫu tử cũng phải sòng phẳng. Câu này, kẻ học kiếm như ta đáng phải khắc sâu vào đốc kiếm để tự răn mình mỗi ngày."
Nghiêm Túc cũng đẩy gọng kính, khẽ gật đầu tán thưởng. Ngòi bút lông thỏ của y thoăn thoắt chấm mực, ghi chú một dòng chữ nhỏ vào cuốn sổ công vụ bìa đen:
"Minh bạch tài chính đến mức tuyệt đối, tách biệt rạch ròi giữa quan hệ thân tộc và quyền lợi bồi thường dân sự. Đây là chuẩn mực tối cao của luật kiểm toán mà ngay cả Nha Kiểm Soát trung ương nhiều khi còn làm không xong vì tệ nạn bao che nội bộ, dây mơ rễ má của các gia tộc tu tiên."
Tiểu Nghiệp lật mặt sau của bức thư vải dầu. Tại khoảng trống dưới cùng của mép vải, một con dấu mộc lớn bằng mực đen hình bông hoa đậu năm cánh hiện lên rõ mồn một, bao quanh là dòng chữ khắc nổi tinh xảo: Dấu mộc của Liên phường Đậu Vân.
"Chưa hết đâu," Tiểu Nghiệp tiếp tục đọc, ánh mắt sáng bừng lên một tia hy vọng ấm áp giữa đêm đông lạnh lẽo. "Trong này nói... sau khi chúng ta hạ giếng an toàn ở đợt một, lắp đặt van xả áp và đưa nước sạch trở lại lòng đất, bà con ở cả thị trấn Đậu Vân đã họp mặt suốt một đêm ròng tại đình làng. Họ không còn coi vụ nổ giếng này là một hành vi phá hoại cố ý đơn thuần nữa, nhất là sau khi lão Tôn xưởng nhuộm và bà Đỗ phát hiện ra những tờ hóa đơn cưỡng thu mười lăm ty linh lực mỗi tháng mà Ty Định Nghiệp lén lút trích rút từ mạch nước ngầm bấy lâu nay."
Những dòng chữ tiếp theo trên bức thư mở ra một bức tranh hoàn toàn khác về thị trấn nhỏ bé dưới chân đồi:
Dưới sự chủ trì của Đỗ Mẫn và lão thợ nhuộm Tôn Đại Dũng, các tiểu thương khu chợ phiên, những nông hộ trồng dâu nuôi tằm và nhóm thợ rèn thô sơ trấn Đậu Vân đã chính thức ký tên vào một bản khế ước chung, thành lập nên "Tổ chức Dân sự Tự quản Liên phường Đậu Vân". Họ nhận thấy thảm họa giếng nước nổ tung không bắt nguồn từ dã tâm của bốn đứa trẻ nghèo kiết xác sớm tối rau cháo trên đồi Vá Áo, mà thực chất chỉ là giọt nước tràn ly — một mắt xích mục ruỗng trong guồng máy bòn rút địa mạch khổng lồ của tầng lớp thống trị Tiên Minh.
"Liên phường cam kết," Tiểu Nghiệp đọc to từng chữ, thanh âm run lên nhè nhẹ vì những xúc cảm nghẹn ngào nơi cuống họng, "sẽ cắt cử người thay phiên nhau trông nom, bảo vệ đồi Vá Áo và đền thờ Bổ Thiên Môn trong thời gian chúng ta vắng mặt, không để tay sai của các phân đường Tiên Minh bén mảng tới niêm phong tịch thu tài sản. Đồng thời, liên phường đã gom góp, chuẩn bị một mạng lưới hậu cần bí mật gồm lương khô ép dầu mè, băng gạc tiệt trùng bằng rượu ngô, và thảo dược dự phòng gửi đến các trạm dịch tiếp tế dọc tuyến đường chúng ta điều tra. Nhưng..."
Tiểu Nghiệp ngừng lại một nhịp, nhìn quanh ba đồng môn của mình:
"...nhưng đi kèm một điều kiện tiên quyết: Bổ Thiên Môn phải giữ đúng kỷ luật. Không được liều mạng phô diễn thần thông viển vông, không được bỏ qua bất kỳ quy chuẩn an toàn lao động nào, và tuyệt đối không được vì nóng vội rửa oan mà biến mình thành những kẻ vi phạm pháp luật giống như bọn bòn rút linh mạch trên kia. Sai ở đâu sửa ở đó, nợ bao nhiêu trả bấy nhiêu."
"Hậu cần tự quản..." Tạ Vân Cơ lẩm bẩm nhắc lại bốn chữ ấy, khóe mắt nàng hoe đỏ, vệt muội than trên má nhòe đi một vệt dài. "Bà con... không còn muốn kéo người lên dỡ ngói đền của chúng ta nữa sao? Lần trước lão Tôn còn vác cả đòn gánh dọa đánh gãy chân ta..."
"Người ta muốn dỡ mái đền là vì sợ chúng ta làm bậy rồi vô trách nhiệm bỏ trốn như đám tu sĩ vãng lai," Hàn Khuyết mỉm cười, vươn bàn tay trái vỗ thật mạnh lên bờ vai đang run rẩy của Phùng Dược. "Một khi thấy chúng ta làm thật, sửa thật, dám đứng mũi chịu sào và không trốn tránh một đồng nợ nần, thì người dân Đậu Vân chính là bức tường thành vững chắc nhất chở che cho Bổ Thiên Môn."
Phùng Dược lau vội hai hàng nước mắt lăn dài trên má, đôi bàn tay nhỏ bé siết chặt lấy chiếc chày sứ, gật đầu thật mạnh một cái. Cậu hiểu rằng sự tha thứ và chở che của mẹ cùng bà con xóm chợ không phải là một ân huệ dễ dãi, mà là một món nợ ân tình sâu nặng đòi hỏi bản thân cậu cùng các huynh tỷ phải sống và làm việc nghiêm cẩn gấp mười lần trước đây.
Giữa lúc bầu không khí trong gian phòng trọ vừa có chút ấm áp tình người, một tiếng đập cánh lạch cạch khô khốc bỗng vang lên ngoài bậu cửa sổ đóng hờ.
Một con chim bồ câu gỗ cơ quan — loại pháp khí đưa tin rẻ tiền nhất của Bổ Thiên Môn, do chính tay Mộc Tri Hối đẽo gọt từ những khúc gỗ dâu rừng khô khốc nhặt ven suối — lảo đảo bay qua khe cửa, va quẹt vào cánh liếp tre rồi đáp đánh *cộp* xuống mặt bàn. Đôi cánh gỗ ghép bằng chốt tre kêu kèn kẹt từng hồi mệt mỏi, cái mỏ gỗ mòn vẹt mổ ba tiếng xuống mặt bàn rồi nhả ra một ống tre nhỏ chỉ bằng ngón tay út.
"Thư của sư phụ!" Tạ Vân Cơ thốt lên, vội vã chồm người tới.
Tiểu Nghiệp nhanh tay nhặt ống tre, tháo nút bấc niêm bằng sáp thông rẻ tiền rồi cẩn thận rút dải lụa mỏng bên trong ra trải rộng trên mặt bàn gỗ.
Nét chữ viết tay quen thuộc của Chưởng môn Mộc Tri Hối hiện ra trước mắt bốn người. Nét mực xỉn màu, xiêu vẹo, nhiều chỗ run rẩy khác thường, không còn giữ được thế bút cứng cỏi như thuở ông còn vác búa sắt lên rừng đốn củi.
Nội dung bức thư rất ngắn ngủi, không có lấy một câu từ hoa mỹ của giới tu tiên. Ông dặn dò tỉ mỉ từng chuyện nhỏ nhặt đời thường: dặn dò Tiểu Nghiệp trời biên giới trở lạnh nhớ lót thêm rơm khô vào đế giày cỏ cho đỡ cóng chân; nhắc nhở Hàn Khuyết cánh tay phải vừa nối xương tuyệt đối không được cậy mạnh mà xuất kiếm quá mười lăm chiêu một ngày; dặn Vân Cơ mỗi khi đo đạc thiết bị kim khí phải mượn thước chuẩn bằng thép của Bùi thợ rèn chứ đừng áng chừng bằng mắt thường kẻo hỏng then chốt; nhắc Phùng Dược không được uống nước lã dọc đường.
Cuối dải lụa, những nét chữ bỗng trở nên ngập ngừng, đè nặng xuống mặt vải:
*"...Tính mạng của các con là trên hết. Đồ vật cơ quan hỏng thì đền bằng tiền công, nợ nần người ta thì cả năm thầy trò cùng nhau đi làm thuê cuốc mướn, bổ củi gánh nước mà trả dần từng hào từng cắc. Đừng dấn sâu vào chuyện của Tiên Minh nữa. Gió lớn ngoài biển Đông sắp thổi vào đất liền rồi, cây cổ thụ nghìn năm trong rừng sâu còn bị quật gãy đôi, thì mấy ngọn cỏ non mọc trên đá như các con che chắn được cho ai? Nếu thấy nguy hiểm... lập tức buông tay quay về đồi Vá Áo. Dẫu môn phái chỉ còn cháo loãng với dưa muối, sư phụ vẫn nuôi được các con..."*
Thế nhưng, đằng sau những lời quan tâm mộc mạc, chất phác ấy, từng câu từng chữ lại toát lên một vẻ ngập ngừng, lúng túng lạ thường. Mực ở dòng chữ cuối cùng nhòe đi một mảng lớn, loang lổ như vết nước mắt khô hoặc một giọt mồ hôi lạnh rớt xuống. Dường như người viết đã đặt bút xuống rất lâu rồi lại ngập ngừng nhấc lên, muốn nói một điều gì đó hệ trọng đã chôn giấu suốt bao năm tháng, nhưng cuối cùng lại nuốt ngược tất cả vào trong lồng ngực.
Tiểu Nghiệp nhìn chằm chằm vào vết mực nhòe ấy. Ánh mắt cậu dán chặt vào từng sợi tơ lụa thô.
Trong tâm trí cậu lập tức hiện về hình ảnh nửa nét gạt của chữ "Mộc" bị ai đó dùng dao trổ cạo xóa vội vã trên bản thẩm định địa chất công trình mười hai năm trước — tài liệu mật mà cậu vừa tìm thấy trong đống hồ sơ phế liệu ở hẻm Ngạc Khẩu.
Sư phụ biết. Mộc Tri Hối biết rất rõ Bình Kiếp Đại Trận thực chất là cỗ máy tàn bạo đến mức nào, và ông đang run sợ. Đó là nỗi sợ hãi tột cùng của một người thợ già từng bất đắc dĩ tham gia vào guồng máy nghiền nát sinh linh ấy trong quá khứ, từng cúi đầu thỏa hiệp nhượng bộ để đổi lấy sự bình yên tạm bợ cho một môn phái nghèo nàn dưới chân đồi, để rồi hôm nay phải chết lặng nhìn bốn đứa trẻ do chính tay mình nuôi nấng dấn thân vào chính vũng bùn lầy nghiệp chướng mà ông đã cố công chôn giấu suốt nửa đời người.
Tiểu Nghiệp siết chặt dải lụa mỏng trong lòng bàn tay. Vải lụa thô ráp cọ vào vết chai sần nơi ngón trỏ khiến lòng ngực cậu thắt lại một cơn đau buốt. Cậu không một lời oán trách người thầy già nơi quê nhà, nhưng gánh nặng công lý và sự thật đè nặng lên đôi vai dường như lại trĩu xuống thêm một bậc, lạnh buốt như băng tuyết đầu mùa.
*Keng!*
Một âm thanh sắc lạnh, chói gắt xé toạc không gian, mang theo uy áp kim thạch nặng nề đột ngột chấn động toàn bộ quán trọ lụp xụp!
Bụi vôi trên xà nhà rơi lả tả xuống mặt bàn trà, phủ một lớp trắng mờ lên chén nước nguội. Bên ngoài song cửa sổ, ánh hoàng hôn nhập nhoạng của vùng biên ải bỗng chốc bị xé toạc bởi một luồng kim quang chói lòa đến mức làm cay xè khóe mắt.
Một con ưng máy cơ quan khổng lồ đúc hoàn toàn bằng huyền thiết mạ vàng ròng, sải cánh dài hơn một trượng, hai mắt nạm hai viên hồng ngọc đỏ rực như máu sống, lướt đi vun vút qua màn sương mù xám đục rồi đáp thẳng xuống khoảng sân đất trước cửa quán trọ.
*Ầm!*
Hai móng vuốt bằng thép tôi nện lún sâu xuống nền đất sỏi ba tấc. Gió lốc do đôi cánh kim loại khổng lồ tạo ra quét qua dữ dội, thổi tung những tấm liếp tre mục nát che nắng bên hiên nhà, làm bay rạp những bụi cỏ dại ven bờ rào.
Trên lưng con ưng máy cơ quan, một luồng linh áp uy nghiêm, lạnh lùng đặc trưng của tu sĩ Kim Đan trung kỳ khẽ tràn ra như một gợn sóng vô hình, ép chặt không khí xung quanh khiến đám khách đi đường đang ngồi uống rượu trong quán nín thở nghẹn ngào, mặt mày tái mét, run rẩy dạt hết vào các góc tường tối tăm.
Con ưng máy chầm chậm cúi đầu, khớp cổ kim loại kêu lên những tiếng *rắc rắc* chuẩn xác và êm ái đến mức đáng sợ. Từ chiếc mỏ thép sắc nhọn như lưỡi đục, một phong thư dát vàng lấp lánh nhẹ nhàng rơi ra, không hề rơi xuống đất mà bay lơ lửng giữa luồng linh khí hộ thân, lướt qua khung cửa sổ rồi cắm phập xuống mặt bàn gỗ ngay trước mặt Lâm Tiểu Nghiệp!
Mặt phong thư dát một lớp lá vàng mỏng tang, không hề có dấu mộc kiểm soát thông thường của dịch trạm dân sự. Thay vào đó, một đóa sen chín cánh đúc nổi bằng vàng ròng hiện lên kiêu hãnh, ở chính giữa nhụy hoa khắc chìm bốn chữ cổ triện rực lửa linh quang: «Ty Định Nghiệp — Ty chủ».
Hàn Khuyết lập tức đứng bật dậy! Dù cánh tay phải còn nẹp gỗ bất động, bàn tay trái của anh đã đặt chặt lên đốc thanh kiếm gãy, thân hình cao gầy hơi nghiêng về phía trước, che chắn trọn vẹn nửa người cho Lâm Tiểu Nghiệp.
Tạ Vân Cơ siết chặt chiếc cờ lê huyền thiết trong tay, các khớp ngón tay trắng bệch vì dùng lực quá mạnh, ánh mắt như hai đốm lửa sẵn sàng lao vào liều mạng.
Trong khi đó, kiểm sổ viên Nghiêm Túc biến sắc hoàn toàn, đôi môi mỏng mím chặt thành một đường thẳng tắp, sống lưng thẳng đơ như một thanh thước sắt.
"Là thư ký gửi từ hư không của Tống Duy Cẩn," Nghiêm Túc hạ thấp giọng thì thầm, từng âm tiết căng thẳng đến tột độ. "Hắn gửi đích danh cho đệ, Tiểu Nghiệp. Phong ấn sen vàng chín cánh... đây là cấp bậc liên lạc khẩn cấp cao nhất của một Ty chủ Tiên Minh."
Tiểu Nghiệp nhìn chằm chằm vào phong thư dát vàng lộng lẫy và quyền quý phi phàm ấy. Nó nằm đó, tỏa ra ánh sáng hào nhoáng vương giả, hoàn toàn đối lập với phong thư vải dầu dính mùi tương đậu giản dị của Đỗ Mẫn nằm ngay bên cạnh. Một bên là sự trần trụi, lấm lem mồ hôi của những người lao động nghèo nơi ngõ chợ; một bên là sự xa hoa, quyền uy tuyệt đối của kẻ nắm giữ sinh sát trong guồng máy tu chân thượng tầng.
Tiểu Nghiệp hít một hơi thật dài, lồng ngực phập phồng, rồi đưa những ngón tay thô ráp chạm vào mép giấy vàng.
Lá thư dát vàng lập tức nhận diện linh tức, tự động tách lớp niêm phong, lơ lửng bay lên ngang tầm mắt giữa không trung. Một quầng quang ảnh màu vàng nhạt bung tỏa, tạo thành hình bóng mờ ảo của một chiếc nghiên mực ngọc bích.
Và rồi, một giọng nói trầm ấm, điềm tĩnh, mang theo phong thái đĩnh đạc, thấu triệt sự đời của một bậc bề trên từng trải qua trăm ngàn sóng gió vang lên, dội vào màng nhĩ mọi người:
*"Gửi Lâm tiểu hữu Bổ Thiên Môn,*
*Bản tọa đã đích thân xem qua toàn bộ linh ảnh ghi nhận tại giếng nước Đậu Vân và cơ chế xử lý xả áp ngược dòng tại vỉa quặng số bốn mỏ Hồi Thanh. Ngươi dùng những kỹ thuật cơ khí phàm trần thô sơ để chế ngự linh lưu hỗn loạn của địa mạch Vân Châu, lại có thể khiến một bảo cụ kiểm toán quy chuẩn cổ xưa thức tỉnh trọn vẹn trong thần hồn — quả thực là một kỳ tài ngàn năm hiếm gặp của đất Vân Châu này.*
*Siêu bão Địa Sát ngoài biển Đông chỉ còn đúng bảy ngày nữa sẽ đổ bộ toàn diện vào bờ cõi. Bình Kiếp Đại Trận là bức tường thành duy nhất có thể bảo vệ sinh mạng của ba trăm vạn lê dân trăm họ đang sinh sống tại Thành Thiên Bình. Một cỗ máy vĩ đại muốn vận hành trơn tru giữa phong ba bão táp ngút trời, ắt phải có những linh kiện chịu ma sát mài mòn, và ắt phải có những chi phí ngầm không thể nào công khai nơi thanh thiên bạch nhật.*
*Bản tọa không hề muốn đối đầu hay gạt bỏ ngươi. Ngược lại, ta vô cùng trân trọng năng lực kiểm soát nhân quả và linh số chuẩn xác của ngươi. Nay ta trân trọng gửi lời mời Lâm tiểu hữu đến thẳng Tổng đàn Ty Định Nghiệp tại Thiên Bình, cùng ta ngồi vào bàn 'Hợp tác kiểm toán dự án phòng bão', dùng tài năng của ngươi để hoàn thiện đại trận, chung tay cứu độ thương sinh.*
*Đính kèm bức thư này là một phần bản dập 'Cơ chế Phản hồi Nghiệp chướng' trích từ mật điển cổ thư Tiên Minh ngàn năm trước, hy vọng nó sẽ giúp ngươi hiểu rõ: Đại nghĩa cứu người, đôi khi buộc người nắm quyền phải vượt lên trên những phép tắc vụn vặt thường tình.*
*Kính thư,* *Ty chủ Ty Định Nghiệp — Tống Duy Cẩn."*
Luồng kim quang nhạt dần rồi tắt ngấm. Bức thư dát vàng rớt lại trên mặt bàn gỗ xù xì, để lộ một trang giấy da thú cổ xưa kẹp bên trong — một bản trích lục chi tiết về các công thức chuyển hóa nghiệp lực và phân bổ tổn thất mà Tống Duy Cẩn cố tình để lại làm mồi nhử tri thức cho một người sở hữu hệ thống kiểm toán như Tiểu Nghiệp.
Không một lời đe dọa vũ lực, không phát lệnh truy sát đẫm máu, không một chữ kết tội phản nghịch. Đó chính là phong thái đáng sợ nhất của một kẻ phản diện có lý tưởng — một kẻ sẵn sàng bòn rút cạn kiệt từng giọt linh tủy, từng mạng sống hèn mọn của hàng trăm phu mỏ yếu thế dưới danh nghĩa "đại nghĩa bảo vệ ba trăm vạn sinh linh", và hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối vào sự tàn nhẫn chính đáng của bản thân.
Hắn không thèm cướp đoạt hệ thống Hoàn Nghiệp vì biết rõ bảo vật nhận chủ không thể cưỡng cầu; thay vào đó, hắn muốn dùng những lý lẽ vĩ mô cao thượng để thuyết phục, đồng hóa tư tưởng của Tiểu Nghiệp, biến năng lực kiểm toán liêm chính thành một công cụ tinh vi hơn nhằm hợp thức hóa guồng máy chuyển nợ tàn độc của mình.
"Hợp tác kiểm toán..." Tạ Vân Cơ cười khẩy một tiếng đầy cay đắng, khóe môi nhếch lên mỉa mai. "Nói nghe thanh cao, từ bi bác ái làm sao! Rút cạn kiệt tủy sống của dân nghèo vùng biên, đày ải phu mỏ chết rục xương dưới hầm tối để nuôi sống trận pháp hoa lệ ở kinh thành, rồi phủi tay gọi đó là 'chi phí không thể công khai'!"
"Hắn đang tung ra một đòn phủ đầu vô cùng hiểm độc," Nghiêm Túc gằn giọng qua kẽ răng, bàn tay siết chặt lấy tờ biên bản tự thú của chính mình đến mức rách mép giấy. "Bức thư này bề ngoài là chiêu hiền đãi sĩ, nhưng thực chất là một tối hậu thư ngầm. Tống Duy Cẩn đã biết chính xác chúng ta đang nắm giữ những mắt xích gì. Nếu đệ từ chối lời mời này, bước tiếp theo xuất hiện ngoài cửa quán trọ sẽ không còn là ưng máy đưa thư nữa, mà là đại quân thiết kỵ của Chấp Pháp Đường phong tỏa toàn bộ biên giới."
"Vậy... vậy chúng ta phải làm gì bây giờ?" Phùng Dược ôm cối thuốc vào lòng, giọng run rẩy đầy lo âu. "Chúng ta không thể đấu lại Ty chủ một Ty lớn của Tiên Minh được đâu..."
Tiểu Nghiệp không đáp ngay. Cậu chậm rãi đưa tay, cẩn thận gấp bức thư dát vàng của Tống Duy Cẩn lại thành một nếp vuông vức, rồi đặt nó nằm song song bên cạnh tờ giấy nợ lem luốc dính mùi tương đậu của Đỗ Mẫn.
Hai bức thư đặt cạnh nhau trên mặt bàn gỗ cập kê.
Một bên là đại nghĩa cứu thế xa vời vợi, lấp lánh vàng ròng nhưng tanh nồng mùi máu và sự cưỡng đoạt lừa dối; một bên là những bát mì thịt kho nóng hổi, xưởng nhuộm vỏ cây của lão Tôn, sự minh bạch sòng phẳng đến từng viên đá vụn và tình người ấm áp, chở che nhau nơi trần thế lầm than.
Tiểu Nghiệp ngẩng đầu lên. Ánh mắt thiếu niên nghèo của Bổ Thiên Môn giờ đây kiên định, tĩnh lặng như mặt hồ không một gợn sóng:
"Chúng ta không đi gặp Tống Duy Cẩn. Ta không bao giờ ngồi vào bàn tiệc bày trên xương máu của người khác để làm cái gọi là 'hợp tác kiểm toán'. Hắn muốn chúng ta hợp tác trên những con số sổ sách giả mạo của hắn. Vậy thì trước khi siêu bão kia đổ bộ, chúng ta phải lôi bằng được sổ sách thật ra ánh sáng ban ngày."
Cậu quay phắt sang Nghiêm Túc, ánh mắt rực lửa:
"Nghiêm huynh, Điều 8 Luật Kiểm toán Tiên Minh... quyền hạn phong tỏa và phúc tra tài liệu gốc của kiểm sổ viên tư pháp độc lập, huynh nói nó có hiệu lực trong bao lâu?"
"Ba ngày trước khi mở phiên điều trần chính thức," Nghiêm Túc đáp ngay tắp lự, sống lưng ưỡn thẳng, ngón tay điểm mạnh lên ấn đồng. "Và lệnh triệu hồi chứng cứ của ta có hiệu lực pháp lý bắt buộc thi hành ngay trong đêm nay."
"Đi thôi," Hàn Khuyết chống thanh kiếm gãy đứng dậy, tà áo rách phần phật trong luồng gió lạnh thốc qua cửa sổ. "Đến lúc đi đòi lại sự thật cho những bát cơm Đậu Vân rồi."
***
Đêm khuya tàn tạ buông xuống như một tấm màn nhung đen kịt trùm lên vách đá dựng đứng phía sau Phân đường Bạch Đăng.
Gió lạnh từ hẻm núi rít lên từng hồi ghê rợn qua những khe đá tai mèo nhọn hoắt như răng cưa thú dữ. Không khí ở đây đặc quánh mùi lưu huỳnh và hơi ẩm lạnh buốt thấu xương.
Dưới chân một tòa kiến trúc hình bát giác kỳ dị được xây hoàn toàn bằng đá cẩm thạch đen cổ xưa, sương mù dày đặc cuộn trào như những đợt sóng biển đêm. Cả tòa kiến trúc không hề có lấy một ô cửa sổ, tường đá trơn láng rêu phong cao vút chạm vào mây mù. Tuyệt nhiên không có một bóng tuần đinh hay chấp pháp giả nào dám bén mảng lại gần khu vực cấm địa này — nơi lưu giữ toàn bộ hồ sơ mật, văn bản niêm phong và chứng cứ nguyên bản suốt ngàn năm qua của các vụ án trọng điểm thuộc Tiên Minh.
Nghiêm Túc bước lên từng bậc thềm đá phủ đầy rêu trơn trượt. Y dừng lại trước phiến đá hoa cương đen khổng lồ án ngữ lối vào. Hít một hơi thật sâu để ổn định lại tâm thần, y rút từ trong ngực áo ra lệnh bài kiểm toán bằng huyền thiết đúc nổi phù hiệu cán cân công lý, cùng với tờ biên bản tự kiểm điểm có điểm chỉ máu đỏ tươi của chính mình.
Y áp mạnh hai vật phẩm ấy vào một rãnh khuyết hình bán nguyệt lõm sâu trên bề mặt phiến đá chắn cửa.
*Rắc... Ầm ầm ầm...*
Một chuỗi âm thanh kim loại va đập nặng nề vang lên từ sâu trong lòng đất!
Các đạo phù văn phòng thủ cổ xưa khắc chìm trên vách đá cẩm thạch đen bỗng chốc rực sáng lên luồng linh quang màu tím sẫm đầy sát khí, quét qua người Nghiêm Túc từ đầu đến chân ba lượt để xác thực danh tính và nghiệp lực. Nhận diện được quyền hạn của Điều 8 cùng biên bản tự thú hợp thức, các đạo phù văn dần dần thu lại ánh sáng, dòng linh lưu phòng ngự rút lui như thủy triều xuống.
Cánh cửa đá nặng nề nghìn cân của Kho Lưu Chứng Bạch Đăng chầm chậm trượt sang hai bên, phát ra những tiếng ma sát chói tai dội vào màn đêm tĩnh mịch.
Cửa mở toang, để lộ một hành lang dài hun hút, sâu thẳm và lạnh lẽo. Và ở ngay bậc cửa bên trong, dưới ánh sáng vàng vọt lay lắt của một ngọn đèn dầu cá le lói, một bóng dáng già nua, lưng còng rạp xuống đang lặng lẽ ngồi đó từ bao giờ.
Đó là thủ kho già Vệ Lưu Đăng — người gác giữ kho chứng cứ đã qua ba đời phân đường, với đôi mắt đục ngầu như ngọc trai chết và chiếc tẩu thuốc dài bằng đồng hun nhả ra những làn khói mờ ảo trong đêm lạnh.