Nước chạm cọc vàng
Tiếng kẻng đồng từ điếm tuần bến rúc lên từng hồi dồn dập, sắc lạnh và chát chúa, xé toạc màn sương mù xám đục đang sà sát mặt nước bến Vọng Giang. Âm thanh kim loại va đập thảng thốt ấy hòa cùng tiếng người í ới gọi nhau, tiếng mái dầm gõ mạn thuyền côm cốp, và trên hết thảy là tiếng ì ầm trầm đục từ phía thượng nguồn đổ về như tiếng ngàn cỗ xe tang lăn bánh trong lòng đất.
Gió từ hẻm núi Tây Lĩnh mỗi lúc một thốc xuống dữ dội, không còn là những ngọn gió núi se lạnh quen thuộc của cữ chớm thu, mà mang theo hơi ẩm ướt lạnh, nồng nặc mùi bùn tanh và lá mục phân hủy từ rừng sâu. Bến sông mới trưa nay còn phẳng lặng như một tấm lụa biếc in bóng những rặng tre xanh mướt, nay đã hoàn toàn biến dạng thành một dải lụa bùn đỏ quạch, đặc quánh phù sa, sủi bọt ngầu đục và cuộn xoáy hung hãn. Những mảng bèo lục bình trôi dạt kết lại thành từng mảng lớn như những hòn đảo trôi, ken dày lấy thân cây gỗ mục, rều rác, gốc tre khô từ đại ngàn trôi băng băng như những mũi tên bắn xuôi theo dòng nước xiết. Từng đợt sóng vỗ bờ không còn rì rào êm ả mà chồm lên ngoạm từng tảng đất thịt của bãi bồi, kéo sụt từng mảng cỏ xanh xuống đáy sâu chỉ trong chớp mắt.
Dưới mép nước đang liếm láp từng tấc bờ, bóng lão lái đò Từ Bá sừng sững như một gốc lim già cắm rễ giữa phong ba bão táp. Chiếc quần cật tre xắn cao quá bắp chân gân guốc màu đồng hun chằng chịt những vết sẹo do dây neo cọ xát, lão dầm nửa thân dưới trong dòng nước lạnh buốt ngập bùn cát rát bỏng. Hai cánh tay cuồn cuộn gân xanh của lão vung chiếc búa tạ nặng trịch nện chan chát xuống chiếc cọc gỗ nghiến vừa được vót nhọn đầu. Mỗi cú nện dội ngược một luồng chấn động râm ran qua bắp thịt, dội vào vách đá ong sau lưng nghe khô khốc.
"Một... hai... đóng!"
Lão Từ Bá gầm lên một tiếng ngắn gọn qua kẽ răng. Cây cọc tiêu phụ dài hơn trượng được găm sâu ngập quá nửa vào tầng đất sét ven bờ, cách cọc mốc chính bằng đá ong chừng ba thước. Lão quệt ngược dòng nước mưa xối xả lẫn mồ hôi đang chảy ròng ròng trên gò má nhăn nheo hằn sâu sương gió, cúi rạp người xuống, đưa bàn tay thô ráp sờ nắn thật kỹ vạch sơn vàng chói lọi vừa nổi lên giữa lớp bùn đỏ bám dính. Mặt nước cuộn trào chỉ còn cách vạch sơn chừng nửa đốt ngón tay, từng đợt sóng phù sa hung hãn chốc chốc lại chồm qua, liếm trọn lấy ngấn vàng cảnh báo rồi rút đi để lại một vệt bọt vàng khè.
"Chạm cọc vàng rồi! Cả bến nghe lệnh!"
Tiếng lão Từ Bá cất lên, ồm ồm, khàn đục nhưng vang dội lạ thường, xuyên qua tiếng gió hú rít bên tai và tiếng sóng gầm gào dưới chân. Lão buông búa tạ xuống tảng đá cạn, hai tay chống chặt mái dầm gỗ nghiến dài mười thước đứng thẳng dậy trên mỏm đá nhô, quay người hướng về phía hàng chục con đò ngang đò dọc đang dập dềnh chao đảo như những chiếc lá tre khô giữa dòng xoáy.
"Hội đò Vọng Giang lập tức dừng toàn bộ chuyến ngang! Tuyệt đối không chở thêm một mống khách vãng lai nào nữa! Đò lớn đò nhỏ thu dầm, kéo hết vào lạch trong doi cát! Lấy thừng bện ba tao quấn bảy vòng neo chặt vào chùm rễ cây đa bến! Mau lên, đứa nào tiếc mấy đồng tiền xâu tiền cắc mà lơ là, hà bá nuốt cả người lẫn thuyền xuống đáy sông thì đừng có trách đất trời!"
Tiếng còi đồng của đội tuần bến rúc lên từng chặp the thé phụ họa theo khẩu lệnh sắt đá của lão. Cả bến sông lập tức rơi vào cảnh tượng hỗn loạn nhưng răm rắp có quy củ. Những người chèo đò trẻ tuổi dù còn ngoái lại tiếc nuối những đám khách nhỡ độ đường đang đứng túm tụm, nhốn nháo giơ tiền van nài trên bờ cao, song hễ chạm phải ánh mắt quắc thước như dao chém của Từ Bá là lập tức rụt cổ, răm rắp cắm sào, ghìm mũi thuyền tấp sát vào hõm vịnh nơi rễ đa cổ thụ buông chằng chịt. Những cuộn thừng xơ dừa to bằng cổ tay được quăng ra vun vút, siết chặt lấy những thân rễ đa to như cột nhà, chằng néo chằng đan dày đặc như mạng nhện khổng lồ để giữ cho thuyền không bị sức nước ngàn cân bứt phăng trôi về phía hạ lưu.
Cách mép nước chừng mươi trượng, túp lều tranh vách đất của Liễu Thanh Hà đang run rẩy bần bật dưới sức ép của từng cơn gió giật. Tấm rèm nứa che hiên đập phần phật vào cột tre nghe chan chát như tiếng pháo nổ giòn. Tấm thẻ tre nhỏ cạo nhẵn ghi dòng chữ "Trà vối hai văn" treo đung đưa ngoài hiên quán đã được nàng cẩn thận gỡ xuống tự bao giờ.
Thanh Hà đứng giữa gian lều chật hẹp, vạt áo nâu sồng được túm gọn ghẽ nhét chặt vào lưng cạp váy củ nâu, hai ống tay áo buộc túm đến tận khuỷu bằng hai dải vải gai bền chắc để thao tác cho nhanh gọn. Mái tóc dài của nàng được vấn chặt thành búi cao sau gáy, ghim bằng chiếc trâm gỗ trơn mộc mạc, để lộ khuôn mặt thanh tú đẫm mồ hôi nhưng ánh mắt toát lên vẻ bình tĩnh lạ thường. Nàng ngước nhìn khoảng gác xép bằng những gióng tre đực ghép lại mà mấy chú phu bến thân tình đã giúp nàng gia cố từ hồi đầu hạ, thầm cảm tạ sự cẩn trọng lo xa của mình. Gác xép này nằm cao sát mái rạ, tựa lưng vào triền dốc thoai thoải của sườn đồi đá ong, là nơi khô ráo và an toàn nhất của túp lều tạm bợ bên mé nước.
"Tiểu Mãn, mang nồi sáp ong lại đây cho chị! Nhanh tay nhưng phải vững chân đấy!" Thanh Hà cất tiếng gọi, thanh âm trong trẻo vẫn giữ được nhịp thở đều đặn giữa khung cảnh mưa gió cuồng nộ ngoài kia.
"Dạ, em mang lại ngay đây chị Hà ơi!"
Từ góc bếp lờ mờ khói, Tiểu Mãn lanh lẹ bưng chiếc nồi gang nhỏ bằng hai miếng giẻ rách lót tay. Bên trong nồi, lớp sáp ong rừng màu vàng sẫm sền sệt vừa được hơ mềm trên đống than hồng còn sót lại ở góc lò, tỏa ra một mùi hương ngọt lịm pha lẫn khói củi ngai ngái. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của con bé lấm lem tro bếp, muội than và bùn non, nhưng đôi mắt đen láy mở to tròn xoe, sáng quắc và không hề lộ ra một nét hoảng loạn nào. Từng trải qua những chuỗi ngày trôi dạt đầu đường xó chợ, ngủ dưới gầm cầu tàu và tranh nhau từng mẩu bánh bao mốc, con bé hiểu rõ sự tàn khốc của mưa gió đói rét hơn bất cứ đứa trẻ đồng trang lứa nào. Và nó càng hiểu sâu sắc rằng, răm rắp làm theo từng lời dặn của chị Thanh Hà lúc này là con đường duy nhất để giữ trọn nồi cơm, giữ trọn mái che trên đầu và bảo toàn mạng sống.
"Khéo tay kẻo bỏng đấy em." Thanh Hà đón lấy quai nồi gang, đặt vững vàng xuống chiếc ghế đòn cạnh bốn chiếc chum sành lớn đựng trà khô kê sát vách trong.
Bốn chiếc chum sành này chính là toàn bộ gia tài, là mồ hôi, nước mắt và hy vọng mà nàng đã chắt chiu gây dựng từng hào từng cắc suốt mấy tháng qua: số búp trà hè loại một vừa gom từ đồi chè Tây Lĩnh của bà Mộc Lan, mớ trà xanh phơi sấy công phu qua bao bận lửa, cùng nửa cân trà cổ thụ ướp sương quý giá mà nàng cất riêng trong hũ gốm tráng men. Nếu để hơi nước sông và độ ẩm đặc quánh của mùa lũ ngấm vào dù chỉ một chút, toàn bộ số lá trà này sẽ ẩm mốc, chua nồng, xỉn màu và biến thành đống rác rưởi bỏ đi, đẩy nàng và Tiểu Mãn trở lại hố sâu trắng tay.
Thanh Hà trải tấm vải dầu dày—thứ vải thô dệt sợi to đã được nhúng kỹ mỡ trâu sôi rồi phơi qua ba con nắng gắt—phủ trùm kín lên miệng từng chiếc chum sành. Dưới đáy chum, nàng đã lót sẵn một lớp vôi sống bọc vải xô dày ba tấc để hút kiệt từng giọt ẩm dư thừa. Nàng dùng một thanh nẹp tre cật uốn cong quanh cổ miệng chum, rồi nhúng một miếng giẻ gai vào bát sáp ong nóng chảy, thoăn thoắt miết từng đường sáp dẻo quánh, nóng hổi vào khe hở giữa mép vải và gờ sành nung. Lớp sáp ong rừng gặp gió lạnh đông lại ngay tức khắc, tạo thành một lớp màng niêm phong bóng loáng, mịn màng và kín mít đến mức dẫu có dìm cả chiếc chum xuống đáy nước thì một giọt ẩm cũng không tài nào lọt qua được.
"Cầm lấy đầu dây gai này, Tiểu Mãn. Dẫm chân ghì chặt, siết vòng quanh cổ chum cho chị, buộc theo nút thòng lọng kép như bác Từ Bá chỉ hôm nọ." Thanh Hà vừa miết nốt lớp sáp cuối cùng vừa dặn.
Hai chị em phối hợp nhịp nhàng như đã tập dượt từ lâu. Tiểu Mãn tuy nhỏ con, người gầy như dải khoai nhưng ghì chân lấy đà siết dây rất có lực, hai hàm răng nghiến chặt, kéo sợi dây gai bện chặt quanh miệng chum có trét sáp. Sau khi niêm phong kín cả bốn chum trà, Thanh Hà lấy chiếc đòn tay bằng gỗ nghiến và hai tao dây thừng bện, cùng Tiểu Mãn dùng thế đòn bẩy nhích từng chiếc chum nặng cả tạ lên sàn gỗ cao kê bằng ba tầng đá tảng sát vách trong cùng, cách xa mặt đất nửa thước.
Kế đó là các bao bột nếp hoa vàng, bột tẻ xay mịn và những hũ đường phèn, mật mía mà Đỗ Nguyệt Nương vừa cất công gửi từ chợ Đông Tân sang hôm trước bằng chuyến xe bò cuối cùng. Mỗi bao bột đều được bọc thêm hai lớp bao tải gai khô bên ngoài, miệng buộc túm bằng lạt tre ngâm nước muối dẻo quẹo.
"Để chị vác bột lên gác xép. Em gom toàn bộ thẻ tre ghi công nợ bằng giấy bổi, tráp gỗ đựng tiền kẽm và chiếc hũ sành 'Đón Thanh Du' lại một chỗ cho chị." Thanh Hà lau mồ hôi rịn trên sống mũi, cất giọng gấp gáp.
Tiểu Mãn gật đầu lia lịa. Con bé chạy vội vào góc chiếc phản gỗ ọp ẹp kê sát vách đất, ôm chặt chiếc hộp gỗ có then đồng nhỏ đựng những đồng tiền công và tiền khách thưởng của chính nó, rồi thoăn thoắt bọc cuốn sổ nợ bìa vải xanh của Thanh Hà cùng chiếc hũ sành gom tiền chuộc thân vào trong một vuông vải điều đỏ thắm. Chiếc hũ sành ấy từng ngày từng tháng tích cóp từng đồng tiền kẽm hai văn, ba văn bán nước trà, là tất cả tâm can của Thanh Hà hướng về người em trai đang lưu lạc nơi lò gạch xa xôi. Đôi vai nhỏ gầy gò của Tiểu Mãn nâng niu bọc đồ như nâng niu chính sinh mạng của hai chị em.
Thanh Hà bước lên từng nấc thang tre ọp ẹp, lưng cõng bao bột nếp ba mươi cân trèo lên gác xép. Tiếng cọt kẹt của gióng tre vang lên rờn rợn dưới sức nặng, nhưng sàn tre bên trên nàng đã gia cố bằng những tấm ván thuyền cũ dày dặn, vô cùng vững chãi. Nàng cẩn thận xếp các bao bột, bao đường lên tầng cao nhất, cách sàn gác một khoảng ngón tay bằng những thanh gỗ kê để phòng trường hợp nước mưa dột từ mái rạ xuống. Cuối cùng, nàng đón lấy vuông vải bọc sổ sách và chiếc hũ sành từ tay Tiểu Mãn, đặt vào vị trí khô ráo nhất, sát cạnh tấm khế ước thuê lều có dấu mộc đỏ và cuốn sổ tay ghi chép công thức làm các thứ bánh lá của mẹ nàng để lại.
"Xong rồi, đồ đạc cốt yếu đều đã an toàn ở trên cao." Thanh Hà thở phào một hơi dài, lồng ngực phập phồng sau lớp áo ướt đẫm mồ hôi. Nàng xoa đầu Tiểu Mãn, khẽ cười trấn an. Nhưng vừa bước xuống thang tre, đưa mắt nhìn qua khe liếp hé mở ra ngoài bến sông, chân mày nàng lập tức nhíu chặt lại, nét mặt đanh lại đầy vẻ căng thẳng.
Phía bên kia sông, mé bờ tây nơi Trà lâu Nghênh Xuân tọa lạc nguy nga trên nền đá cao, cảnh tượng lại hoàn toàn trái ngược với sự phòng bị cẩn trọng của bờ đông.
Những chiếc lồng đèn lụa đỏ rực của tửu lầu ba tầng vẫn đang lắc lư dữ dội trong cuồng phong, hắt xuống mặt nước đỏ ngầu những vệt sáng quái đản như vệt máu. Dưới bến đò lát đá hoa cương của lầu trà lúc này đang diễn ra một cảnh tượng hỗn loạn và nhốn nháo tột độ. Một đoàn thương nhân mặc áo gấm lót lông, cưỡi năm con ngựa chiến to lớn cùng năm cỗ xe ngựa chở những rương hàng lớn phủ bạt kín mít đang hối hả thúc giục dưới mưa. Tiếng roi ngựa quất vun vút vào không khí hòa lẫn tiếng chửi bới của đám gia đinh, tiếng la hét hối thúc xôn xao làm náo loạn cả một góc trời.
Đứng sừng sững trên cầu tàu bờ tây, một phụ nữ đẫm mình trong chiếc áo choàng nhung màu cánh sen thẫm, tóc búi cao cầu kỳ cài chiếc trâm vàng khảm ngọc sáng lóa—chính là Tống Kim Phượng, nữ chủ nhân lọc lõi khét tiếng của Trà lâu Nghênh Xuân.
Bà ta đang cầm một túi tiền bằng gấm căng phồng, vung vẩy trước mặt đám phu đò riêng của lầu trà, giọng the thé gắt gỏng, the thé xuyên qua tiếng sóng gầm:
"Hai mươi lượng bạc trắng! Chỉ cần các ngươi chèo chiếc đò đôi đưa đoàn thương nhân của Tiền trang Hưng Phát sang được bờ đông trước khi trời tối mịt, số bạc trắng này là của các ngươi! Mau tháo dây neo! Một chuyến đò bằng cả nửa năm chèo lái rạc rài trên sông, còn chần chừ cái gì nữa lũ vô dụng kia?!"
Đám phu chèo của Nghênh Xuân nhìn túi bạc nặng trịch va vào nhau kêu lách cách thì hoa cả mắt, lòng tham nổi lên lấn át cả nỗi sợ hãi cái chết đang chực chờ dưới lòng nước đỏ. Hai gã phu lực lưỡng cởi trần trùng trục đã bắt đầu cúi rạp người xuống gỡ dây cáp sắt buộc mũi con thuyền lớn mười hai mái chèo. Đoàn thương nhân giàu có kia vì sợ bị kẹt lại bờ tây khi nước lũ dâng ngập con đường thiên lý qua đèo, sẵn sàng vung tiền như rác để vượt sông sang bờ đông nhằm rút về huyện thành Thanh Lâm an toàn ngay trong đêm.
"Dừng lại! Lũ điên kia, muốn đâm đầu vào chỗ chết đấy à?!"
Một tiếng quát vang lên như sấm sét nổ tung bên tai, át cả tiếng gió rít gầm gào. Từ Bá không biết từ lúc nào đã nhảy phắt lên chiếc thuyền độc mộc nhỏ nép sát doi bờ, dùng một mái dầm gỗ nghiến cắm sâu vào dòng xoáy ven bờ, điều khiển mũi thuyền lướt xé nước lao sang mé giữa dòng. Lão giữ một khoảng cách an toàn với dòng chảy chính nhưng đủ gần để tiếng nói dội thẳng sang bờ tây như tiếng chuông đồng vọng lại từ vách núi.
Thanh Hà thấy vậy, tim đập thắt lại trong lồng ngực. Nàng không quản mưa gió quất rát mặt, vội vã chạy bổ ra sát mép cầu tàu bờ đông, hai tay vịn chặt vào chiếc cọc tre lớn cắm sâu bên bờ, dồn hết sức bình sinh cất giọng hô to sang mé sông bên kia:
"Tống chủ quán! Bà mau bảo họ dừng tay lại! Không thể sang sông lúc này được đâu! Nhìn ra giữa dòng mà xem kìa!"
Tống Kim Phượng nghe tiếng gọi, quay phắt sang bờ đông. Nhìn thấy Thanh Hà trong bộ dạng áo nâu ướt sũng, khóe môi thoa son đỏ chót của bà ta nhếch lên một nụ cười khinh khỉnh đầy vẻ ghen ghét và ngạo mạn:
"Liễu Thanh Hà! Ngươi lo bán mấy bát nước trà vối hai văn của ngươi cho đám cửu vạn rách rưới đi! Chuyện làm ăn bạc vạn của Nghênh Xuân này khi nào tới lượt một ả góa phụ hèn mọn, không chồng không gốc gác như ngươi xía vào? Nước mới chỉ liếm cọc vàng, thuyền của ta là thuyền mười hai dầm gỗ nghiến bọc sắt kiên cố, sợ gì dăm ba con sóng phù sa của con sông cạn này!"
"Ngu xuẩn! Rõ là đồ đàn bà tóc dài óc ngắn!" Từ Bá đứng trên mũi chiếc thuyền độc mộc chao đảo trên đầu ngọn sóng, mái chèo ghìm chặt chống lại sức đẩy khủng khiếp của dòng nước ngầm. Lão giơ thẳng cán chèo bằng gỗ nghiến chỉ vào một khoảng nước sẫm màu, đen quánh cách bờ chừng ba mươi trượng. "Mụ Phượng, mụ có mắt mà như mù à?! Mụ nhìn cái hõm nước sủi bọt đen kịt hình phễu kia xem! Đó là 'Vực Nuốt'! Mưa lũ trên Tây Lĩnh dồn về làm trôi gốc gụ ngàn năm, nó đang kẹt ngầm dưới đáy sông tạo thành cái xoáy ngầm hút sắt đá! Thuyền mười hai dầm của mụ chở nặng cả chục con người với hàng hóa, chỉ cần chạm vào mép xoáy ngoài là gãy đôi mạn thuyền, rơm rác còn chẳng nổi lên được chứ đừng nói là người sống!"
Lời cảnh báo đanh thép của một tay chèo lão luyện bốn mươi năm ăn ngủ cùng dòng Vọng Giang mang sức nặng ngàn cân gõ thẳng vào tâm trí mọi người. Đám phu chèo của Nghênh Xuân nghe thấy hai chữ "Vực Nuốt" thì mặt cắt không còn một hột máu, hai tay buông thõng sợi dây cáp, lùi thụt mạng về phía bậc đá hoa cương. Họ sinh ra bên mé nước, họ biết rõ "Vực Nuốt" một khi đã mở miệng thì đến cá kình cũng khó lòng thoát khỏi cái chết.
Đúng lúc đó, như một minh chứng rùng rợn cho lời Từ Bá, một khúc gỗ lim dài hơn hai trượng, đường kính hai người ôm trôi từ thượng nguồn lao sầm sập tới với tốc độ kinh hoàng. Vừa chạm vào vùng nước xoáy sủi bọt đen kịt mà lão vừa chỉ, khúc gỗ khổng lồ bỗng nhiên khựng lại giữa dòng như bị nghìn sợi xích vô hình giữ chặt. Rồi trong nháy mắt, như có một bàn tay quái vật hung bạo từ đáy sâu kéo giật xuống, thân gỗ nặng hàng tấn bị vặn xoắn, xoay tít mù ba vòng rồi chìm nghỉm mất tăm vào lòng nước đỏ ngầu cuộn xoáy, phát ra một tiếng "ục" trầm đục rợn người, tuyệt nhiên không để lại lấy một mảnh dăm bào nổi lên.
Mặt nước rít lên ghê rợn như tiếng cười lạnh lẽo của thủy thần. Tất cả những người chứng kiến trên hai bờ sông đều lạnh toát sống lưng, dựng tóc gáy. Đám thương nhân giàu có mặt mày tái mét như xác chết không còn giọt máu, vội vã lùi xe ngựa, kéo ngựa dạt sâu vào con đường dốc ngược lên đồi phía sau tửu lầu, không một ai còn dám hó hé nhắc đến chuyện qua sông dẫu có phải bỏ lại cả gia tài.
Tống Kim Phượng đứng chôn chân trên cầu tàu đá, chiếc túi gấm đựng hai mươi lượng bạc trong tay tuột khỏi ngón tay rơi cộp xuống nền đá ướt. Môi bà ta run rẩy bần bật, ánh mắt hết nhìn xoáy nước đen ngòm giữa sông lại nhìn sang lão Từ Bá và Thanh Hà đang đứng ở bờ đông. Một thoáng bàng hoàng, bẽ bàng, xấu hổ và sợ hãi tột cùng lướt qua đôi mắt sắc sảo của người đàn bà buôn bán lọc lõi. Bà ta không thốt nên được nửa lời, chỉ hậm hực vẫy tay ra lệnh cho đám gia nhân lập tức thu thuyền vào âu đá, đóng chặt cửa rào sắt của Trà lâu Nghênh Xuân lại.
Từ Bá khẽ hừ lạnh một tiếng trong cổ họng, hai cánh tay gân guốc uyển chuyển bẻ lái, đưa chiếc thuyền độc mộc nương theo dòng nước ven bờ quay trở lại bến đông an toàn như một con rái cá thuần thục.
"Bác Từ, bác liều quá! Giữa dòng xoáy thế mà bác dám lao ra!" Thanh Hà chạy vội xuống mép nước đón lão, hai tay níu chặt mũi thuyền độc mộc giúp lão già bước lên bờ đá.
"Không quát tháo cho chúng nó tỉnh ra thì đêm nay đáy sông Vọng Giang lại thêm vài chục thây ma làm mồi cho tôm cá," Từ Bá thở dốc từng hơi nặng nhọc, đưa tay quệt nước mưa xối xả trên trán rồi cười khẩy. "Cái mụ Kim Phượng ấy buôn bán thì ranh ma có sỏi trong đầu, nhưng lòng tham tiền bạc làm mờ hết mắt mũi, không biết sợ trời sợ đất là gì. Sông nước này, khinh suất một tấc là mất mạng một đời."
Hai người chưa kịp thở đều nhịp thì từ con đường đất đỏ dẫn từ chợ Đông Tân ra bến đò, một bóng người mặc áo tơi lá cọ dầy cộp, đầu đội nón mê rách tơi tả đang hớt hải chạy tới, vừa chạy vừa vấp phải rễ cây suýt ngã nhào. Đó là Đào Văn Kính, phường bảo quản bến Vọng Giang. Chiếc áo tơi ướt sũng nước mưa làm dáng người vốn gầy gò của ông ta trĩu hẳn xuống, trên tay cầm chiếc chiêng đồng nhỏ gõ từng hồi gấp gáp: "Chát... chát... chát..."
"Tất cả tiểu thương, chủ sạp, bà con bờ đông tập trung lại đây! Có lệnh khẩn từ huyện nha! Khẩn cấp lắm rồi!" Đào Văn Kính vừa thở hồng hộc vừa gọi lớn, giọng lạc hẳn đi vì kiệt sức.
Chỉ trong chốc lát, nghe tiếng chiêng lệnh khẩn, những người bán buôn quanh bến—những bà bán bánh cá rán dọn hàng dở dang, người gánh hàng xén vội vã đậy thúng mủng, mấy thợ mộc xưởng đóng thuyền tay lăm lăm búa rìu và đám phu khuân vác bến bãi—đều lục tục kéo nhau đến tụ tập dưới gốc đa cổ thụ đầu bến, nơi có mái hiên rộng của điếm sở tuần bến che bớt mưa gió mịt mùng. Thanh Hà dắt chặt tay Tiểu Mãn cùng bước tới, nép mình đứng bên cạnh lão Từ Bá.
Đào Văn Kính gạt phắt nước mưa đang chảy ròng ròng trên mặt. Vẻ dùng dằng, e dè, ngại va chạm thường ngày của viên dịch chức nhỏ nay đã biến mất hoàn toàn, thay vào đó là nét lo âu tột độ của một người mang trên vai trách nhiệm đối với sinh mạng của cả trăm con người nơi bến sông:
"Thưa bà con, trạm dịch mã vừa phi ngựa chuyển công văn hỏa tốc từ Huyện nha Thanh Lâm xuống bến. Nước lũ trên thượng nguồn Tây Lĩnh đổ về quá nhanh làm vỡ một đoạn bờ đập ngăn lũ ở vùng Lạc Thủy rồi! Dự tính chỉ trong hai canh giờ nữa thôi, đợt sóng triều lớn nhất sẽ tràn về bến Vọng Giang này! Mực nước chắc chắn sẽ vượt qua vạch đỏ thứ tư trên cọc đá mốc, ngập trắng toàn bộ bãi bồi ven sông và xộc thẳng vào tất cả lều quán hàng quán ven mé nước!"
Tiếng ồn ào lập tức bùng lên như ong vỡ tổ. Mấy người đàn bà yếu bóng vía bắt đầu sụt sùi khóc nấc. Bà bán cá ven sông ôm mặt rơm rớm nước mắt:
"Trời ơi đất hỡi, ngập trắng bãi bồi thì cái lều nứa của mẹ con tôi biết chạy đi đâu bây giờ? Vốn liếng tích cóp cả năm trôi sạch thì lấy gì mà ăn, lấy gì mà sống qua mùa đông này đây trời ơi?!"
"Yên lặng hết cho tôi! Nghe phường bảo nói hết câu đã!" Từ Bá nện mạnh đuôi chèo gỗ nghiến xuống nền đá ong đánh "chát" một tiếng khô khốc, quát lớn át đi sự hỗn loạn của đám đông.
Đào Văn Kính nhìn quanh một lượt những gương mặt tái mét vì lạnh và sợ, rồi cất giọng dứt khoát:
"Không một ai được phép ở lại trong lều ven sông đêm nay! Tính mạng con người là trên hết, còn người là còn của! Toàn bộ người già, phụ nữ và trẻ nhỏ phải lập tức thu dọn những thứ thật cần thiết, sơ tán ngay lên Miếu Gò Cao trên sườn đồi ngay bây giờ! Nơi đó nền đá cao ráo, sân gạch rộng rãi, tường bao kiên cố, nước lũ trăm năm nay chưa từng chạm tới thềm miếu! Đi ngay, chậm chân nước dâng cắt đứt chân dốc là hết đường chạy!"
Nghe nhắc đến Miếu Gò Cao, nét mặt của bà con tiểu thương giãn ra đôi chút, tia hy vọng le lói hiện lên. Ngôi miếu cổ thờ thủy thần ấy tọa lạc trên một mỏm đồi đá ong vững chãi, cách bến đò gần một dặm đường dốc thoai thoải, xưa nay vẫn là nơi dung thân an toàn duy nhất của dân vạn chài mỗi khi mùa nước lớn bất thần tràn về.
"Nhưng lên miếu thì lấy gì mà ăn, lấy gì mà sưởi ấm hả ông phường bảo?" Một phu than người đen nhẻm cất tiếng hỏi, giọng run lập cập vì cái rét luồn qua manh áo mỏng rách rưới. "Trời mưa tầm tã trút nước thế này, củi đuốc dưới bến ướt sũng hết cả, gió trên gò cao thổi thông thốc lạnh thấu xương thì người già với con nít chịu sao thấu qua đêm nay?"
Đào Văn Kính ngập ngừng một thoáng, nét lúng túng hiện rõ trên khuôn mặt hốc hác. Điếm sở của phường tuần bến vốn thanh bần, chỉ có vài ba bó đóm mục và mấy chiếc chiếu rách dự phòng, ngân khố huyện nha thì xa xôi, cứu trợ chưa thể nào tới ngay được trong đêm lũ lụt. Mọi sự sống còn lúc này đều hoàn toàn dựa vào sự tự lực cánh sinh đùm bọc lẫn nhau của bà con xóm bến.
Không khí chùng xuống trong sự âu lo ngột ngạt. Đúng lúc ấy, Thanh Hà khẽ buông tay Tiểu Mãn, bước dứt khoát lên một bước trước mặt mọi người. Ánh mắt nàng sáng trong, kiên định, giọng nói dịu dàng nhưng vang rõ, rành mạch từng lời giữa tiếng mưa gió ràn rạt:
"Thưa phường bảo Đào, thưa toàn thể bà con lối xóm! Quán trà của chị em tôi tuy nghèo, quy mô nhỏ hẹp, nhưng trên gác xép tôi còn giữ được một ít bột nếp mới xay, một chum mật mía và nửa bao muối hạt sạch. Tôi xin tự nguyện góp toàn bộ số bột nếp này cùng hai chiếc nồi gang sâu lòng của quán mang lên miếu để nấu cháo hoa nóng hổi chia cho mọi người lót dạ cầm hơi. Nhưng tôi xin thưa thật với bà con, điều sinh tử lúc này không chỉ nằm ở miếng ăn, mà chính là củi khô giữ lửa!"
Nàng đưa tay chỉ về phía dòng sông đang đỏ ngầu gầm réo, cất cao giọng phân tích: "Nước lũ một khi đã tràn ngập bờ thì ít nhất cũng phải ba ngày, năm ngày mới rút. Trời mưa dầm dề thế này, nếu không có củi khô nhóm lửa sưởi ấm thì người ướt lạnh sẽ phát sinh cảm hàn, thương hàn; nước sông đục ngầu không đun sôi sùng sục thì uống vào sẽ sinh dịch tả, hại đến mạng sống của trẻ nhỏ và người già trước tiên! Quán tôi may mắn có tích trữ được ba bó củi gộc khô hong khói trên gác bếp từ tháng trước, tuyệt đối không dính một giọt nước mưa."
Nàng quay sang nhìn bác thợ mộc già và các tiểu thương quanh bến: "Bác thợ mộc có sẵn vỏ bào, đầu mẩu gỗ lim gỗ nghiến khô trong xưởng; các chủ sạp khác nếu ai còn củi thanh hong khô hay hũ dầu lạc, mỡ lợn thì xin gom hết lại, lấy vải dầu bọc kín chuyển hết lên miếu. Chúng ta sẽ lập chung một bếp lửa lớn ngay giữa sân tiền tế của miếu, cắt cử người luân phiên giữ lửa không để tàn. Ai có công góp công, ai có của góp của, cùng nhau san sẻ miếng cơm ngọn lửa thì dẫu nước có ngập năm ngày hay mười ngày, xóm bến chúng ta cũng sẽ bình an vượt qua cơn hoạn nạn này!"
Từng lời, từng lẽ của Thanh Hà nói ra khúc chiết, thấu tình đạt lý và tràn đầy hơi ấm nhân ái, hệt như một ngọn lửa ấm áp nhen nhóm thẳng vào lòng những con người đang hoang mang, run rẩy giữa lằn ranh tai họa.
Bác thợ mộc già lập tức đập tay vào đùi đánh "bốp" một tiếng vang giòn: "Cô Hà nói chí phải! Đúng là sáng dạ hơn cả cánh đàn ông chúng tôi! Xưởng mộc của lão còn hai bao tải mùn cưa và đầu mẩu gỗ lim khô nén chặt trong cót ép, lão sẽ vác hết lên miếu để nhóm lò giữ than hồng!"
"Tôi có nửa hũ mỡ lợn với bao muối hột, tôi mang góp vào bếp chung!" Một bà bán bánh rán xởi lởi lên tiếng.
"Tôi còn một sọt khoai lang khô trên gác bếp, tôi vác lên miếu nướng chia cho lũ trẻ con!" Người đàn ông gánh than cũng phụ họa theo.
"Được lắm! Có thế chứ bà con!" Đào Văn Kính mừng rỡ ra mặt, ánh mắt nhìn Thanh Hà đầy vẻ cảm phục và kính nể sâu sắc. "Vậy theo đúng trật tự: cánh đàn ông trai tráng khỏe mạnh và phu thuyền của lão Từ Bá chia làm hai cánh. Một cánh ở lại dùng dây cáp giằng néo lại các kho bãi, chèn đá tảng lên mái lều tranh; cánh còn lại hộ tống người già, trẻ nhỏ và khuân vác lương thực, củi khô lên dốc miếu. Lập tức hành động ngay, không được chậm trễ nửa khắc!"
Đám đông lập tức tản ra như một cỗ máy đã vào guồng, đâu vào đấy hối hả hành động. Không còn cảnh khóc lóc hoảng loạn nhốn nháo ban nãy, thay vào đó là sự gắn kết khẩn trương, kiên cường của một cộng đồng dân cư bến bãi vốn đã quen đương đầu với những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên sông nước.
Thanh Hà nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của Tiểu Mãn, hai chị em thoăn thoắt rảo bước quay trở lại túp lều ven mé nước. Nước sông Vọng Giang lúc này đã dâng lên ngấp nghé mép cầu tàu gỗ nghiến, từng đợt sóng đục ngầu cuộn bọt trắng xóa bắt đầu tràn qua các khe ván sàn, táp bì bõm vào những trụ tre chịu lực của quán. Nền đất nện trong gian lều đã bắt đầu rịn nước ẩm ướt, nhớp nháp dưới bàn chân trần.
Nàng nhanh chóng dỡ chiếc đòn gánh bằng tre đực già dẻo dai gác bên vách nứa. Đôi bàn tay thoăn thoắt sắp xếp đồ đạc vào hai chiếc sọt tre lớn: một bên sọt, nàng xếp hai bó củi gộc chẻ nhỏ đã hong khô kiệt trên gác bếp, chèn chặt chiếc chảo gang sâu lòng và chiếc siêu đất nung đun nước trà vối; bên sọt kia là chiếc nồi gang lớn, một bao bột nếp nhỏ chừng mười cân bọc vải dầu cẩn thận, cùng một túi vải đựng muối hạt và vài củ gừng già cay nồng để nấu nước giải cảm. Chiếc đòn gánh tre uốn cong oằn xuống dưới sức nặng gần bốn mươi cân, nhưng đôi vai mảnh dẻo của Thanh Hà—đôi vai đã trải qua bao tháng ngày lam lũ, gánh gồng từ biến cố gia đình cho đến những ngày lập nghiệp gian nan nơi bến lạ—vẫn vững vàng đón lấy gánh nặng mà không hề run rẩy.
"Tiểu Mãn, em ôm lấy chiếc rổ sành này, bên trong có bát đĩa đất nung và ấm trà, theo sát ngay sau lưng chị. Nhìn đường dưới chân cho kỹ, giẫm đúng vào những tảng đá ong nhô cao, cấm tuyệt đối không được bước vào những vũng bùn lầy thụt, nghe rõ chưa em?" Thanh Hà ân cần căn dặn.
"Dạ, em nhớ kỹ từng lời rồi chị Hà. Em đi sát gót bên chị, không rời nửa bước đâu!" Tiểu Mãn hai tay ôm chặt chiếc rổ sành được bọc kỹ bằng bao tải rơm khô, đôi chân thoăn thoắt bước đi, ánh mắt kiên định không hề hé một lời than mệt.
Hai chị em bước ra khỏi quán, khép chặt hai cánh cửa nứa lại rồi cài chiếc then tre ngang thật chắc chắn. Thanh Hà đứng lại chừng một nhịp thở, ngoái đầu nhìn lại căn lều nhỏ lợp rạ đơn sơ—mái ấm đầu tiên nàng tự tay gây dựng sau chuỗi ngày tăm tối, nhục nhã rời khỏi nhà họ Phạm. Dù dòng nước lũ dữ dằn ngoài kia sắp tràn vào ngập thềm, dù gian lều tranh có thể bị xiêu vẹo hay tốc mái sau mùa nước lớn, nhưng sâu thẳm trong lòng nàng không hề có lấy một tia tuyệt vọng. Bởi lẽ toàn bộ vốn liếng quý giá nhất nàng đã bảo bọc kỹ càng trên gác xép cao ráo, và quan trọng hơn hết thảy, đôi bàn tay lao động cần mẫn, khối óc tỉnh táo và ý chí tự lập kiên cường của nàng vẫn vẹn nguyên, chẳng cơn lũ dữ nào có thể cuốn trôi đi được.
Con dốc đá ong dẫn từ bến đò lên Miếu Gò Cao quanh co khúc khuỷu, trơn trượt như bôi mỡ bởi lớp rêu ẩm lâu ngày gặp nước mưa xối xả. Gió núi quất ràn rạt qua những rặng tre gai rậm rạp hai bên đường mòn, làm những ngọn tre uốn cong rạp xuống tận mặt đất, cọ vào nhau rít lên từng hồi ken két nghe rợn tóc gáy. Nước mưa từ trên đỉnh đồi đổ dồn xuống lòng đường mòn như một con suối nhỏ đục ngầu, cuộn theo sỏi đá lạo xạo. Từng hạt mưa nặng hạt quất rát buốt vào mặt, vào cổ, làm nhòe cả tầm nhìn.
Thanh Hà cắn chặt môi dưới đến rớm máu, dồn toàn bộ sức lực vào từng bước chân ngập bùn. Đôi bắp chân trần gồng lên căng cứng để giữ thăng bằng cho đôi sọt nặng trĩu trên vai đang kẽo kẹt theo từng nhịp thở. Mỗi khi một cơn gió giật tạt ngang qua sườn đồi, nàng lại khéo léo nghiêng người hạ thấp trọng tâm, mười đầu ngón chân bấm sâu vào kẽ đá ong sắc nhọn để ghìm mình lại, không để bị gió cuốn xô ngã xuống vực. Tiểu Mãn đi ngay sát gót phía sau, một tay ôm ghì lấy rổ bát đĩa, một tay túm chặt lấy mép áo tơi của nàng, hai chị em nương tựa vào nhau, từng bước, từng bước một kiên trì vượt dốc.
Khi đôi chân đã mỏi nhừ và hai vai như muốn trĩu gãy, bóng dáng uy nghiêm, trầm mặc của Miếu Gò Cao cuối cùng cũng hiện ra trước mắt qua màn mưa xám xịt. Ngôi miếu tọa lạc trên đỉnh một gò đất đá ong rộng thênh thang, cao hơn mặt nước sông bình thường đến bốn, năm trượng. Bốn bề sân gạch có những gốc thị cổ thụ mấy người ôm tỏa cành lá rậm rạp che chắn bớt những ngọn gió dữ, toát lên vẻ tĩnh lặng và vững chãi lạ thường.
Khung cảnh trên sân miếu lúc này đang vô cùng náo nhiệt và tất bật. Mấy chú phu thuyền và thợ mộc đã chặt xong những cây tre đực dài dựng cọc, đang cùng bà con kéo căng những tấm bạt dầu lớn và liếp nứa để dựng thành ba gian rạp che mưa tạm bợ dọc theo hai bên cánh gà sân gạch. Những người già cả lưng còng và các em nhỏ ướt sũng run rẩy được ưu tiên đưa hết vào gian tiền tế của miếu, nơi có mái ngói vảy cá kiên cố che chở để tránh gió lùa thấu xương.
Thanh Hà hạ đôi sọt củi xuống góc sân gạch có mái hiên miếu che chắn—nơi râm mát, khô ráo và khuất gió nhất. Đôi vai nàng đỏ ửng những vết lằn của đòn gánh, nhưng nàng chỉ khẽ xoay khớp vai rồi nở nụ cười nhẹ nhõm.
"Kìa, cô Hà mang củi khô và chảo gang lên rồi bà con ơi!" Mấy người phụ nữ trong xóm chài đang co ro túm tụm mừng rỡ reo lên.
Không một phút ngơi nghỉ để mặc cho cái lạnh ngấm vào da thịt, Thanh Hà mở nắp sọt, lấy ra một nắm phoi bào khô của bác thợ mộc và mấy thanh củi gộc chẻ nhỏ thơm mùi khói bếp. Nàng xếp ba viên gạch vỡ làm kiềng, dùng thanh đá lửa và mẩu bùi nhùi rơm khô đánh tanh tách. Chỉ sau vài nhát gõ dứt khoát, tia lửa đỏ rực bén vào bùi nhùi, khói xanh bốc lên thoang thoảng. Nàng khéo léo thổi nhẹ, đốm lửa bùng lên bén vào phoi bào, rồi nhanh chóng liếm trọn lấy những thanh củi gộc hong khói kiệt nước.
Ngọn lửa bùng lên đỏ rực, reo tí tách vui tai giữa sân miếu lạnh lẽo. Một luồng hơi ấm nồng nàn, xua tan cái giá buốt thấu xương của núi rừng gió lũ lập tức lan tỏa ra chung quanh. Mấy đứa trẻ con mắt sáng rực, xúm lại chìa những bàn tay nhỏ xíu tím tái ra hơ lửa, nét mặt rạng rỡ hẳn lên.
Thanh Hà thoăn thoắt bắc chiếc nồi gang lớn lên kiềng đá, múc từng gáo nước giếng miếu trong vắt đổ vào đun sôi. Nàng mở bọc vải dầu lấy bột nếp hoa vàng, rắc từng nắm vào nồi nước sôi sùng sục, tay cầm đũa cả khuấy đều thoăn thoắt để bột không bị vón cục. Nàng đập dập mấy củ gừng già thả vào nồi cháo, nêm thêm vài thìa muối hạt trắng tinh. Mùi thơm ngọt dịu của nếp mới quyện với vị cay nồng ấm áp của gừng già bốc lên ngào ngạt, lan tỏa khắp không gian sân miếu, làm ấm lòng tất cả những ai đang có mặt.
"Tiểu Mãn, em phụ các thím chia từng bát cháo nóng cho các cụ già và các em nhỏ trước nhé." Thanh Hà múc cháo ra những chiếc bát sành nàng mang theo, dặn dò em nhỏ.
"Dạ, em làm ngay đây chị!" Tiểu Mãn nhanh nhẹn bưng từng bát cháo nóng hổi, cẩn thận đưa đến tay từng người già đang ngồi co ro trong gian tiền tế, miệng luôn nở nụ cười lễ phép.
Đứng từ trên đỉnh gò cao nhìn xuống chân đồi, dòng sông Vọng Giang giờ đây đã hoàn toàn biến thành một con thủy quái khổng lồ hung tợn ngoài sức tưởng tượng. Mặt nước dâng cao với tốc độ kinh hoàng, dòng lũ đỏ ngầu phù sa đã nuốt chửng hoàn toàn chiếc cầu tàu bằng gỗ nghiến, nhấn chìm toàn bộ bãi bồi ven sông trong biển nước mênh mông cuộn sóng. Những con sóng dữ bắt đầu xô ầm ầm, liếm láp vào vách đất của những dãy lều thấp dưới bến. Tiếng sóng vỗ vào bờ đá dội lên tận đỉnh gò như tiếng gầm gào giận dữ nhưng bất lực của thiên tai trước sức sống bền bỉ, kiên cường và tình đoàn kết chở che của con người.
Đúng lúc đó, từ phía chân dốc đá ong dẫn lên miếu, một tốp người chạy lũ ướt sũng, lếch thếch dắt díu nhau trèo lên trong màn mưa gió mịt mùng. Đó là những người dân nghèo chạy nạn từ vùng trũng bến Nam Kiều phía hạ lưu bị ngập sâu, gom góp chút hơi tàn trôi dạt sang sườn đồi này tìm nơi cao ráo trú ẩn qua đêm.
Thanh Hà buông thanh củi đang cầm trên tay, đưa tay quệt vệt muội than vương trên má rồi bước nhanh ra mép hiên miếu nhìn xuống dòng người đang lũ lượt kéo lên gò để phụ giúp đón tiếp, nhường chỗ sưởi ấm.
Nhưng ngay khoảnh khắc ánh mắt nàng vừa lướt qua đám đông tơi tả, rách rưới ấy, bước chân nàng bỗng khựng lại giữa chừng. Toàn thân Thanh Hà như bị một tia sét đánh ngang tai, máu trong người như đông cứng lại, lồng ngực thắt nghẹt đau đớn.
Giữa dòng người ướt sũng, bùn lầy bê bết đang liêu xiêu bước lên từng bậc đá, Thanh Hà bàng hoàng nhìn thấy bóng dáng một thiếu niên gầy gò, trơ cả xương sườn. Cậu bé mặc một manh áo vải thô chắp vá rách bươm tơi tả, khắp mình mẩy dính đầy những vệt đất sét đỏ quánh đặc trưng của bùn đất lò gạch. Đôi môi cậu thâm sì, tím tái vì lạnh, đôi chân trần rướm máu vì đá nhọn cào xước, đang run rẩy liêu xiêu từng bước dò dẫm trong màn mưa gió bão bùng.
Đó chính là Thanh Du—đứa em trai ruột thịt mà nàng hằng đêm đau đáu khôn nguôi, người thân duy nhất còn lại trên cõi đời này của nàng.