Đò Qua Vô Danh — Phần 1: Bến Không Có Người ĐợiCh.36 / 38
Chapter 36

Bàn Giao Trước Tiếng Gà

Tiếng gà gáy đầu tiên từ xóm chài bên kia bãi lau xé toạc màn sương mù xám đục đúng khoảnh khắc mũi thuyền va nhẹ vào cọc bến Bến Lau Tàn.

Cú va chạm khô khốc truyền một chấn động dọc theo lườn gỗ bọc thép, làm bắn lên vài giọt bọt nước đen ngòm còn sót lại nơi mũi đò. Cùng lúc với tiếng gáy rền rĩ kéo dài ấy, mặt sông Dạ Thủy sau lưng họ rung chuyển một nhịp trầm đục, sâu hoắm như thể một chiếc then cài khổng lồ chôn dưới đáy vực sâu vừa sập chốt. Dòng nước đen kịt, quánh đặc tử khí và tro tàn của con sông cõi âm lập tức rút cạn với tốc độ mắt thường cũng có thể nhìn thấy rõ rệt.

Nước cuồn cuộn đổ dồn về những khe nứt ngầm nơi hạ lưu, mặt nước hạ xuống từng tấc, từng thước chỉ trong vài nhịp thở. Chẳng mấy chốc, những gờ đá tai mèo nham nhở, những bãi bùn xám xịt nhung nhúc rong rêu và những thân cọc gỗ mục đóng dấu giới hạn ranh giới âm dương lần lượt trồi lên khỏi mặt nước. Mùi bùn sình ngai ngái, nồng nặc mùi kim loại rỉ sét và rêu mốc xộc thẳng vào khoang mũi, át đi cái lạnh lẽo thấu xương của đêm tàn. Dòng sông hung hãn từng chực nuốt chửng bao sinh mạng cách đây nửa canh giờ giờ chỉ còn lại một lòng lạch cạn trơ đáy bùn non, gió sớm luồn qua rặng lau sậy hai bên bờ làm vang lên những tiếng xào xạc dài, lạnh buốt và rợn ngợp.

Dạ Thủy đã khép nước hoàn toàn.

Nếu con đò cập bến chậm chỉ nửa tuần trà, sinh tức của tất cả những người trên thuyền—từ Trình Dạ, Lâm Chiêu cho đến gần mười nhân chứng sống vừa kéo ra khỏi lòng Đập Khóa Mạch—sẽ bị giam lỏng vĩnh viễn trong dòng âm cho đến tận canh ba đêm hôm sau. Khi ấy, dù không chết vì ngạt nước, linh hồn của họ cũng sẽ bị hàn độc và tử khí của đáy sông gặm nhấm đến mức tan rã thành những bóng ma không danh tính, trôi dạt vô định giữa hai bờ sinh tử.

Trình Dạ buông rơi mái chèo gỗ lim xuống sàn thuyền. Tiếng gỗ va đập lách cách trên những thanh be thuyền ướt sũng nghe mệt mỏi rã rời. Hai bàn tay anh tê dại, từng ngón tay cứng đờ như hóa đá vì phải ghìm chặt lái qua những xoáy nước ngầm hung dữ. Lòng bàn tay toác da rớm máu, chất máu đỏ tươi quyện chặt với bùn đen bết dính vào cán chèo nham nhở dấu vết va đập của đá ngầm và mảnh vỡ cọc tiêu. Vết chém sượt ngang bả vai trái do kiếm khí của Bạch Huyền để lại nhói buốt từng cơn dưới lớp áo tơi rách bươm, máu đã bắt đầu đông lại thành từng mảng thâm đen, cứng quắc trong ngọn gió sớm lạnh căm căm. Anh thở hắt ra một hơi dài, lồng ngực phập phồng đau nhức sau từng nhịp rít sâu của buồng phổi nhuốm khói tro, nhưng đôi mắt Thính Tức vẫn mở to, hướng lên bờ. Đồng tử anh lấp loáng những vệt sáng lân tinh tàn dư, thu trọn từng biến động trên nền đá bến.

Trên sân bến lát đá hoa cương xám của Bến Lau Tàn, đèn lồng đã thắp sáng rực một góc trời mờ sương. Ánh sáng vàng vọt từ những ngọn hoa đăng lồng khung sắt hắt xuống nền đá ướt lạnh, phản chiếu bóng những vạt áo, những mũi giáo và những thanh kiếm dài đang bất động đứng chờ.

Không khí ngột ngạt và căng thẳng như trước một trận giao chiến lớn. Một vành đai phong tỏa bằng dây thừng bện gai ngâm tro bùa đã được giăng kín từ chân dốc dẫn lên mặt đê cho đến tận đầu cầu tàu, tạo thành một ranh giới cách ly bất khả xâm phạm. Đứng đầu hàng rào phong tỏa là Phạm Lục. Y khoác chiếc áo lại viên màu xanh chàm của Ty Danh Tịch, vạt áo còn lấm lem bụi đường, ống tay áo trái còn quấn băng vải thẫm máu do vết tiễn nỏ bắn sượt hôm trước, nhưng nét mặt y không còn vẻ sợ sệt, lấm lét thường ngày. Cặp mắt của viên lại dịch nhỏ bé giờ đây ánh lên sự kiên quyết lạ thường, hai bàn tay nắm chặt mép đai lưng da thú.

Cạnh Phạm Lục là Chánh chủ khảo Lưu Trọng Nghị cùng hơn chục quan viên áo thụng đen của Ty Danh Tịch, ai nấy đều mang vẻ mặt nghiêm cẩn, tay lăm lăm thước đo danh tịch, tráp niêm phong bằng đồng nguội và các ống đựng văn bản hành chính bọc kín bằng lụa dầu.

Phía cánh hữu là nhóm trưởng lão của Hội Giữ Bến, dẫn đầu bởi Trưởng bến Trần của bến Hạ Du với chiếc áo tơi bằng vỏ bàng cổ xưa xù xì và những chiếc móc sắt dùng để neo đò cứu nạn vắt ngang thắt lưng. Gương mặt khắc khổ đầy những nếp nhăn như rãnh nước của ông ta đăm chiêu nhìn xuống lòng sông cạn, bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy cây gậy định mức nước cắm sâu bên mạn đá.

Còn ở cánh tả, một toán tu sĩ áo xám thêu phù văn hoa sen ba ngọn lửa của Huyền Đăng Môn đứng nghiêm trang, thần sắc lạnh lùng tựa băng sương, tay cầm kiếm Chiếu Hồn chưa tuốt vỏ nhưng sát khí nội liễm vẫn khiến sương mai ngưng tụ thành từng giọt nước nhỏ lăn tăn trên lưỡi bao kiếm. Đây là nhóm giám sát độc lập của viện kỷ luật môn phái do đoàn thanh tra liên ngành yêu cầu có mặt để giám sát trực tiếp mọi động thái, ngăn chặn bất kỳ ý đồ tiêu hủy vật chứng nào của phe cánh Bạch Huyền.

Nhìn thấy thuyền nan của Trình Dạ cập bến an toàn cùng sáu chiếc thuyền bến Thượng Du do Dương Kha dẫn đầu kẹp hai bên mạn, tạo thành một thế gọng kìm vững chãi che chắn trước sau, đám đông trên sân bến dấy lên một làn sóng xôn xao. Tiếng xì xào bàn tán của các nha dịch, tiếng xột xoạt của áo giáp và vải lụa cọ xát vào nhau vang lên râm ran, xua bớt đi cái tĩnh mịch rợn người của bình minh cõi âm.

Ở góc cầu tàu, đứng lặng lẽ sau hàng rào người đông đúc, là bà Lê An. Bà mặc chiếc áo vải thô vá vai quen thuộc, hai tay ôm chặt lấy chiếc giỏ tre cũ kỹ bên trong đựng khăn vải sạch và một bát cháo hoa còn bốc khói mỏng manh. Bà không bước tới, không cất tiếng gọi để tránh vi phạm quy tắc phong tỏa nghiêm ngặt của bến nước lúc giao thời, nhưng đôi mắt trũng sâu vì bao đêm thức trắng của người mẹ dán chặt vào Trình Dạ. Thấy con trai đứng thẳng, đôi bàn tay dù rớm máu nhưng bước chân vẫn vững vàng trên sàn đò, khóe môi khô khốc của bà khẽ run lên một nhịp nhẹ nhõm, và hai hàng nước mắt chầm chậm lăn dài trên đôi gò má sạm đen vì sương gió.

"Cập bến đúng giờ mở nước!" Giọng Dương Kha khàn đặc cất lên từ chiếc thuyền bên cạnh, phá tan sự im lặng căng như dây đàn. Gã ném sợi dây chão lớn bện bằng vỏ dâu rừng lên cọc đá bến, tiếng dây quất vào đá chát chúa. Khóe miệng rách toạc nhếch lên một nụ cười ngạo nghễ hướng về phía các vị trưởng lão Hội Giữ Bến: "Đò của Bến Lau Tàn và mười hai bến hộ tống, mang đủ người sống, đủ tang chứng trở về!"

Phạm Lục lập tức bước lên trước một bước, giơ cao chiếc thẻ lệnh bằng gỗ lim khắc chìm hoa văn mây lửa của Ty Danh Tịch, cất giọng sang sảng xé tan màn sương sớm: "Ty Danh Tịch phụng mệnh đoàn thanh tra liên ngành, tiếp nhận đò trở về! Xin mời Chấp pháp sứ Lâm Chiêu và người giữ bến Trình Dạ đưa tang chứng, nhân chứng lên thềm đá đối soát!"

Lâm Chiêu khẽ gật đầu với Trình Dạ. Nàng cắn chặt bờ môi nhợt nhạt nén cơn đau do phản chấn nội thương nơi ngực áo, vết thương từ kiếm khí vẫn đang âm ỉ cắn xé kinh mạch. Nàng cùng Tống Yên đỡ lấy những nạn nhân sống sót trong Buồng Mẫu Thể bước lên mạn thuyền.

Gần mười con người tiều tụy, thân hình quấn vải liệm trắng ngâm dược dịch âm tính để bảo toàn chút tàn hồn lay lắt, trên người còn ghim những đầu kim châm đồng đen chưa kịp tháo, lảo đảo bước từng bước run rẩy lên bờ đá. Họ ngơ ngác nhìn quanh, đôi mắt kèm nhèm sợ hãi trước ánh sáng chói chang của những ngọn đèn bến, hít thở từng luồng không khí ấm nóng của cõi sống trần gian. Tiếng khóc nấc nghẹn ngào bắt đầu bật ra, nước mắt chảy ròng ròng trên những gương mặt hốc hác không còn chút sắc máu, cuốn trôi đi lớp tro tàn bám chặt trên da thịt suốt bao tháng ngày bị vùi dập dưới đáy cống ngầm.

Và cuối cùng, hai đệ tử lực lưỡng của bến Thượng Du lôi từ lòng thuyền lên một bóng người tàn tạ.

Bạch Huyền.

Vị Trưởng viện Viện Nghiên Cứu Bảo Danh lừng lẫy, tu sĩ cảnh giới Thủ Giới tầng thứ chín từng một tay che trời suốt mười hai năm qua tại Lạc Châu, lúc này chỉ là một kẻ điên loạn tả tơi. Tấm đạo bào thêu chỉ vàng quý giá của ông ta đã rách nát từng mảng lớn, lấm lem bùn đen hôi hám và muội than xám chì từ vụ nổ lò luyện. Mái tóc hoa râm xõa xượi bết dính máu tươi từ những vết cào cấu sâu hoắm do chính tay ông ta tự rạch lên mặt mình trong cơn hoảng loạn tột cùng. Đôi mắt Bạch Huyền đục ngầu, con ngươi giật liên hồi không kiểm soát, khóe miệng sùi bọt trắng lẩm bẩm những câu vô nghĩa đứt quãng, giọng khàn đặc như tiếng cưa gỗ gỉ: "...không... đừng gọi tên ta... mẫu thể số mười... Làng Sau Miếu... ba trăm mẫu ruộng... ai là ai... trả lại đây... xóa hết... xóa sạch tên đi..."

Toán tu sĩ Huyền Đăng Môn trên sân bến đồng loạt biến sắc. Những gương mặt vốn lạnh như băng giờ đây lộ rõ vẻ bàng hoàng, kinh hãi tột độ. Một vài kẻ từng là thân tín của Bạch Huyền theo bản năng siết chặt chuôi kiếm Chiếu Hồn, tiếng khớp xương kêu răng rắc trong tĩnh lặng, nhưng ánh mắt nghiêm khắc, sắc bén như lưỡi dao của các chấp sự giám sát viện kỷ luật đã kịp thời ghìm chặt họ lại tại chỗ. Bất kỳ một cử động bất minh nào lúc này cũng đồng nghĩa với việc tự nhận mình là kẻ đồng lõa phản môn quy.

Lâm Chiêu bước từng bước chậm rãi nhưng kiên định lên thềm đá hoa cương. Tấm áo lam của nàng rách rưới, vết máu nơi khóe môi đã khô cứng lại thành một vệt sẫm màu, nhưng sống lưng nàng thẳng tắp như thanh kiếm Chiếu Hồn nàng từng mang bên mình suốt bao năm tháng phụng sự môn phái. Nàng dừng lại trước mặt Chánh chủ khảo Lưu Trọng Nghị và vị trưởng lão đại diện giám sát viện của Huyền Đăng Môn.

Từ trong tay áo rộng lấm tấm tro than, Lâm Chiêu rút ra một cuộn giấy da trâu bọc sáp chống nước cùng tấm lệnh bài đồng đen khắc triện hoa sen ngược—vật chứng tối thượng chỉ có các chức sắc đầu ngành mới được sở hữu.

"Đệ tử Huyền Đăng Môn Lâm Chiêu, phụng mệnh công lý của môn quy và lời thề giữ bến cõi Dạ Thủy, xin trình diện trước liên ngành!" Tiếng nói của Lâm Chiêu trong trẻo, đanh thép, vang vọng khắp khoảng sân bến câm lặng, từng lời từng chữ rành rọt rơi vào tai từng người có mặt: "Tôi chính thức công bố lệnh bắt giữ khẩn cấp đối với Bạch Huyền, nguyên Trưởng viện Viện Nghiên Cứu Bảo Danh!"

Nàng mở tung cuộn giấy da trâu trước mắt các đồng môn và quan viên hai ty. Dưới ánh sáng vàng vọt của đèn lồng, từng dòng chữ son đỏ như máu hiện rõ mồn một: "Đây là bản chỉ thị mật do chính tay Bạch Huyền ký và đóng dấu triện hoa sen ngậm đuốc, ban hành vào canh hai đêm qua, hạ lệnh cho Ninh Sắc dùng cấm thuật Đoạt Danh thiêu hủy nhận thức của người giữ bến Trình Dạ và cưỡng bức hạ cống ngầm Đập Khóa Mạch để chôn vùi nhân chứng. Đi kèm với bản chỉ thị này là lời khai nhận tội có điểm chỉ máu của tổng giám công Ninh Sắc—kẻ đã thừa nhận toàn bộ mạng lưới thu gom bài vị, sổ bến và con người để làm bộ đệm linh mạch suốt mười hai năm!"

Các tu sĩ giám sát của Huyền Đăng Môn bước tới, cẩn trọng cầm lấy cuộn giấy. Bàn tay của vị chấp sự kỳ cựu khẽ run rẩy khi ông ta nâng kính thấu quang bằng đá thạch anh soi lên dấu triện đỏ tươi. Sắc mặt ông ta xám xịt lại, từng thớ thịt trên mặt giật giật: "Dấu triện bản mệnh đích thực của Bạch sư huynh... Linh lực ba ngọn lửa khóa trong chu sa... Không thể làm giả."

Lâm Chiêu hít sâu một hơi, nén cơn đau thắt nơi ngực áo, giọng nàng không hề run rẩy: "Căn cứ Minh ước Giữ Bến ba trăm năm và Giới luật Khảo danh của bản môn, tôi tuyên bố: chính thức lập biên bản tước bỏ mọi quyền điều hành, phong tỏa chức vụ Trưởng viện Nghiên Cứu Bảo Danh của Bạch Huyền ngay tại bến này. Toàn bộ cơ sở nghiên cứu ngầm, các tài liệu tước danh và những kẻ dính líu trong viện sẽ bị giao cho đoàn thanh tra liên ngành điều tra xử lý!"

Những lời ấy buông xuống như tiếng sấm nổ giữa thanh thiên bạch nhật. Các đệ tử Huyền Đăng Môn cúi gập đầu im lặng, không một ai dám cất lời phản đối hay bao biện. Sự thật trần trụi về những vò gốm chứa ký ức vỡ nát dưới đáy đập, về những sinh mạng bị cắm kim châm phong bế thức hải suốt hàng trăm kỳ trăng đã phơi bày quá rõ ràng qua thân xác điên loạn của chính kẻ cầm đầu đang quỳ rạp dưới bùn đất. Bức màn che đậy mười hai năm qua của một đại phái đã hoàn toàn sụp đổ.

Ngay lúc đó, một bóng người từ phía sau đoàn quan viên khoan thai bước ra.

Đỗ Từ Uyên. Người quản hồ sơ của Tàng Danh Các xuất hiện trong bộ cẩm bào màu xám tro trang nhã, vạt áo phẳng phiu không vương một hạt bụi dù đã đứng chờ giữa sương đêm suốt mấy canh giờ. Gương mặt bà trầm tĩnh như nước hồ thu, toát lên vẻ uy nghiêm tuyệt đối của kẻ nắm giữ kho tàng văn tự cổ xưa. Phía sau bà là hai thị giả áo đen khiêng một chiếc tráp lớn bằng huyền thiết nguội sáng loáng, các góc bịt đồng thau, bên trên nắp khắc hoa văn ngọn đèn ba cánh không bao giờ tắt.

Bà bước đến cạnh mạn thuyền nan của Trình Dạ, ánh mắt lướt qua những vết thương trên người anh rồi dừng lại trên người Tống Yên và chiếc hòm gỗ nhỏ mà nàng đang ôm chặt trước ngực như báu vật sinh mạng.

"Trình Dạ, Tống Yên. Đưa những mảnh vỡ niêm phong và tài liệu thu hồi từ Đập Khóa Mạch sang đây," Đỗ Từ Uyên cất giọng điềm tĩnh, mực thước, âm lượng không lớn nhưng từng thanh âm đều mang sức nặng không thể chối từ.

Tống Yên hít một hơi run rẩy, cung kính trao chiếc hòm gỗ dâu rừng cho Đỗ Từ Uyên. Nắp hòm bật mở. Bên trong đó là những mảnh vỡ của chiếc vò gốm lớn nhất tại lò luyện tâm trận—nơi phong ấn ký ức tập thể của một vùng đất, những tập hồ sơ sổ hộ tịch ngâm Tỏa Hồn Dầu còn sót lại từ Buồng Giấy với những dòng chữ đen ngòm đang bốc khói mờ, mảnh bản vẽ cửa xả ngầm bằng da cừu do Tống Thợ Đá để lại với những nét mực đỏ đánh dấu điểm tử huyệt, và con dấu chức nghiệp bằng gỗ thị cổ của Ty Danh Tịch mà Tống Yên đã gìn giữ bằng cả sinh mệnh của cha con nàng.

Đỗ Từ Uyên mở chiếc tráp huyền thiết. Đôi mắt sắc sảo của bà khẽ nheo lại khi nhìn thấy những dấu vết của cấm thuật hắc ám còn vương trên mép giấy. Bà không chạm tay trần vào các chứng tích mà rút từ tay áo ra một chiếc kẹp bạc dài ngâm nước giếng hoa cương, cẩn thận gắp từng món đồ đặt vào từng ngăn lót vải gấm trắng đã được ướp bột trừ tà.

Tiếp đó, bà rút từ thắt lưng ra một khối triện vuông bằng đồng đen nguyên khối—con dấu kiểm chứng độc lập của Tàng Danh Các. Đây là con dấu không thuộc về bất kỳ triều đình trần thế hay tiên môn phương ngoại nào; nó chỉ đại diện cho tính liên tục của chứng tích lịch sử, thứ sự thật tuyệt đối không thể bị bôi xóa bởi bất kỳ quyền lực hay mưu mô trần tục nào.

*Cạch! Cạch! Cạch!*

Từng dấu sáp đỏ thẫm được đóng dứt khoát lên dải lụa niêm phong của từng ngăn tráp. Mỗi một lần con dấu kim loại nặng nề hạ xuống, một làn khói trắng mỏng manh lại bốc lên kèm theo tiếng xèo xèo nhè nhẹ, khóa chặt khí tức nguyên bản của vật chứng lại bên trong, ngăn ngừa tuyệt đối mọi nguy cơ dùng tà thuật tiêu hủy, đánh tráo hay sửa đổi lời chứng từ xa.

"Tất cả tang chứng vật chất độc lập thu hồi từ biến cố Đập Khóa Mạch chính thức nhập kho Tàng Danh Các," Đỗ Từ Uyên ngẩng đầu, ánh mắt sắc như lưỡi dao quét qua Lưu Trọng Nghị và các trưởng lão hai bên: "Từ thời khắc này, không một môn phái, không một nha môn nào được quyền đơn phương tiếp cận hay hủy bỏ những thứ này. Muốn mở tráp đối soát, phải có đủ ba con dấu: Ty Danh Tịch, Hội Giữ Bến và người giữ bến Bến Lau Tàn."

Sự can thiệp chặt chẽ, dứt khoát và không khoan nhượng của Đỗ Từ Uyên khiến một vài viên quan từng toan tính chuyện ém nhẹm hồ sơ để giữ thể diện cho quan phủ và môn phái phải lén nuốt khan một ngụm nước bọt. Hệ thống kiểm chứng đa bên đã khép lại hoàn toàn mọi kẽ hở cho sự mập mờ hành chính. Sự thật giờ đây đã được khóa chặt sau lớp huyền thiết nguội và quy tắc ngàn năm của Tàng Danh Các.

Cách đó vài bước chân, một viên thư lại trẻ tuổi của Ty Danh Tịch đang ngồi bên chiếc bàn gỗ kê tạm trên thềm đá, ngòi bút lông trên tay run rẩy khi lật mở tập bản nháp thuế đinh ố vàng mà Phạm Lục vừa nộp lên đối chiếu với mảnh vỡ vò gốm mang dòng chữ "Làng Sau Miếu".

Nét chữ trên gốm cào xước, méo mó nhưng rành rọt từng nét: *Làng Sau Miếu, tổng An Lạc, ba trăm mẫu ruộng đầm, mười bảy hộ đinh trạch.*

Viên quan ngẩng đầu nhìn về phía dải đê quai số chín xa xăm phía chân trời mờ mịt sương sớm, nơi trên bản đồ chính thức của nha môn suốt mười hai năm qua vốn chỉ là một vùng trắng trống trơn mang cái tên vô hồn: Bãi Hoang. Trong mắt ông ta hiện lên một vẻ trầm tư sâu sắc, xen lẫn âu lo tột cùng.

Xóa một cái tên khỏi bản đồ chỉ cần một mệnh lệnh độc đoán và một lò lửa thiêu sổ sách trong đêm tối; nhưng để vẽ lại cái tên ấy lên địa bạ, để chứng minh ba trăm mẫu ruộng và mười bảy nóc nhà từng thực sự tồn tại giữa cõi nhân gian, đó sẽ là một cuộc chiến công văn, đối soát, tranh biện và thanh trừng kéo dài hàng tháng, hàng năm trời giữa các tầng lớp quan liêu phức tạp. Mảnh đất ấy đã mất đi mười hai năm, những người nhớ về nó kẻ thì đã chết, kẻ thì điên loạn, con đường tìm lại danh phận cho một ngôi làng đã mất sẽ còn gian nan, trắc trở không kém gì trận chiến đẫm máu dưới lòng sông vừa qua.

Khi toàn bộ tang chứng và nhân chứng đã được bàn giao xong xuôi vào vòng bảo vệ nghiêm ngặt của liên ngành, sự chú ý của hội đồng bến bỗng dồn ngược trở lại con đò nan của Trình Dạ.

Tiếng bước chân nặng nề dẫm trên đá ướt kéo mọi ánh nhìn về phía Trưởng bến Trần. Vị lão nhân hắng giọng một tiếng khô khốc, bước lên trước mặt Trình Dạ. Gương mặt ông ta đanh lại theo quy thức nghề nghiệp cổ xưa, đôi mắt đục ngầu không giấu nổi sự nghiêm khắc lạnh lùng: "Người giữ bến Trình Dạ. Dù công lao cứu người và vạch trần đại án của ngươi là không thể phủ nhận, nhưng theo sổ bến và điều lệ thứ chín của Minh ước Giữ Bến: Bến Lau Tàn đã mở đò ngoài giờ quy định, lưu lại cõi âm qua giờ nước khép trong chuyến đi Cồn Đèn Câm trước đó, và đặc biệt—chuyến đò đêm rằm tháng Bảy mười hai năm trước của thân phụ ngươi vẫn là một vết khuyết hồ sơ phi pháp chưa có lời giải. Có lời tố cáo cho rằng Bến Lau Tàn từ lâu đã là tuyến vận chuyển ngầm che giấu các phần tử tước danh. Nếu không làm rõ những vết ố này, Hội Giữ Bến buộc phải thu hồi lệnh bài, đình chỉ bến vĩnh viễn để bảo toàn sự trong sạch của hệ thống tự quản mười hai bến!"

Những lời ấy buông ra như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào bầu không khí vừa tạm lắng. Dương Kha lập tức trừng mắt, gân xanh trên trán nổi cuồn cuộn, định bước lên vung mái chèo cãi lý: "Lão Trần! Giờ này mà ông còn giở cái giọng hành chính thối tha đó ra à? Nếu không có thằng Dạ—"

Nhưng một bàn tay gầy guộc, thô ráp đã kịp thời đặt lên vai Dương Kha, ghìm chặt gã lại.

Từ trong đám đông người chèo đò đứng phía sau, Trưởng bến Vũ Kính chậm rãi bước ra.

Ông không còn mang vẻ say xỉn, lú lẫn hay ngơ ngác như những ngày trước. Tấm áo chàm cũ kỹ được giặt sạch, mặc chỉnh tề ngay ngắn, mái tóc bạc phơ được búi gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ bồ đề mộc mạc. Gương mặt già nua hằn sâu những nếp nhăn của sự dằn vặt, hối hận và mất mát suốt một giáp trôi qua, nhưng đôi mắt ông sáng quắc, thanh thản một cách kỳ lạ—ánh mắt của một người đã trút bỏ được gánh nặng nghìn cân đeo đẳng cả một kiếp người.

"Không cần phải truy cứu Trình Dạ," Vũ Kính cất giọng trầm thấp, uy nghiêm của một bậc tiền bối từng đứng đầu mười hai bến đò suốt mấy mươi năm sóng gió: "Mọi sai phạm về thủ tục, mọi trang sổ bị khuyết của Bến Lau Tàn trong mười hai năm qua, đều bắt nguồn từ một kẻ duy nhất."

Ông dừng lại trước chiếc bàn lập biên bản của hội đồng bến. Từ trong ngực áo chàm, nơi gần trái tim mình nhất, Vũ Kính run rẩy rút ra ba trang giấy dó đã ố vàng vì thời gian, mép giấy còn nguyên vết rạch sắc lẹm, dứt khoát của dao trổ mười hai năm về trước.

"Đây là ba trang sổ bến bị bóc gáy vào đêm rằm tháng Bảy năm Cảnh Hưng thứ mười hai," Vũ Kính đặt ba trang giấy lên mặt bàn gỗ trước sự ngỡ ngàng tột độ của Trưởng bến Trần và toàn thể các bến đò: "Chính tay ta đã dùng dao rạch chúng ra khỏi cuốn sổ cái Bến Lau Tàn. Chính tay ta đã ký vào bản báo cáo khuyết chuyến đò gửi lên Hội Giữ Bến, vu khống cho Trình Hoài tội bỏ bến trốn đi."

Tiếng xì xào kinh ngạc bùng lên như ong vỡ tổ. Các trưởng lão Hội Giữ Bến nhìn nhau trân trối, không ai dám tin vào tai mình.

"Vũ huynh... huynh nói cái gì vậy?" Trưởng bến Trần lắp bắp, cây gậy đo nước trong tay khẽ run: "Chính huynh... chính huynh đã làm chuyện đó sao?"

"Trình Hoài không hề bỏ bến, cũng không hề làm tay sai cho kẻ cắt danh," Vũ Kính nhìn thẳng vào mắt mọi người, từng lời từng chữ rành rọt như đóng đinh vào đá: "Đêm đó, Trình Hoài phát hiện âm mưu dùng nhân chứng Làng Sau Miếu làm mồi đắp móng Đập Khóa Mạch. Đệ ấy đã liều chết đột nhập ngục đê cứu người, rồi quay lại quỳ dưới chân ta, cầu xin ta hãy xóa tên chuyến đò ấy đi để đánh lạc hướng tai mắt truy sát của Huyền Đăng Môn. Đệ ấy đã chọn làm mồi nhử kéo quân địch về phía thượng nguồn để bảo vệ bến nước này, bảo vệ quyền tự quản của cả mười hai bến đò chúng ta!"

Khóe mắt Vũ Kính khẽ đỏ lên, ánh nước lấp lánh dưới râu mày bạc trắng, nhưng giọng ông vẫn vững như bàn thạch: "Để giữ trọn lời hứa bảo vệ bạn, để giữ cho Bến Lau Tàn không bị tiên môn viện cớ tiếp quản, ta đã dùng bí thuật Kết Danh thế chấp chính ký ức thật về đứa em ruột Vũ Trực đã khuất của mình. Mười hai năm qua, ta chấp nhận để trí nhớ mình hao mòn từng ngày, chấp nhận không còn nhớ nổi khuôn mặt của em trai mình, chỉ để giữ kín khoảng trống hành chính ấy."

Ông cầm lấy cây bút lông từ tay viên thư lại, nhúng đẫm mực đen.

"Nhưng sai lầm là sai lầm. Dùng một sự dối trá để che giấu một sự thật đau lòng, dẫu vì đại cuộc, thì nó vẫn là hành vi làm sai lệch sổ sách thiêng liêng của người giữ bến. Hôm nay, trước mặt trời và đất, trước mặt vong linh con sông Dạ Thủy và toàn thể hội đồng, ta tự nguyện nhận toàn bộ trách nhiệm về mình."

*Xoẹt!*

Ngòi bút của Vũ Kính hạ xuống góc dưới bản biên bản xử lý vi phạm hành chính của Bến Lau Tàn. Chữ ký sắc sảo, dứt khoát mang theo toàn bộ danh dự, uy tín và sự nghiệp cả một đời chèo đò của ông in hằn lên mặt giấy dó.

"Ta, Vũ Kính, xin từ nhiệm chức vụ Trưởng bến Hội Giữ Bến, chấp nhận chịu kỷ luật đình quyền vĩnh viễn và giao nộp bản thân cho hội đồng giám sát định đoạt. Đổi lại, mọi cáo buộc sai phạm phi pháp nhắm vào Bến Lau Tàn và người giữ bến Trình Dạ phải được bãi bỏ hoàn toàn ngay lập tức!"

Cả khoảng sân bến chìm vào một sự im lặng tuyệt đối. Gió sớm ngừng thổi, chỉ còn tiếng sóng vỗ ì oạp vào chân cầu đá.

Không một ai lên tiếng chê trách hay kết tội. Những người chèo đò đứng xung quanh đều cúi đầu trước sự hy sinh thầm lặng và dũng khí nhận lãnh trách nhiệm của người tiền bối già nua. Bằng việc đặt bút ký vào bản kỷ luật ấy, Vũ Kính đã tự tay chặt đứt sợi dây thòng lọng cuối cùng mà các thế lực bên ngoài có thể dùng để tước đoạt Bến Lau Tàn. Tính danh nghĩa và sự trong sạch hợp pháp của bến đò nhỏ bé này đã được bảo vệ một cách trọn vẹn nhất, bằng chính vết thương lòng của thế hệ đi trước.

Trình Dạ bước tới bên cạnh Vũ Kính. Anh không nói lời cảm ơn, bởi giữa những người giữ bến lênh đênh sông nước, có những món nợ ân tình sâu nặng đến mức mọi lời nói trần tục đều trở nên thừa thãi. Anh chỉ nghiêng mình, chắp hai tay cung kính vái người thầy đã dạy mình từng nhịp chèo, từng thế buộc dây đò sau ngày cha mất tích.

Vũ Kính đưa bàn tay khô khốc, run rẩy vỗ nhẹ lên vai Trình Dạ, khóe môi khẽ nở một nụ cười hiền từ, thanh thản: "Đi đi con. Nợ của thế hệ trước, hôm nay coi như đã trả xong một nửa. Con đã chèo được chuyến đò của riêng mình rồi."

Lưu Trọng Nghị thở dài một hơi dài, buông lỏng đôi vai căng cứng. Ông cầm lấy bản biên bản có chữ ký của Vũ Kính, cộp con dấu đỏ của Ty Danh Tịch xuống góc giấy xác nhận khép lại vụ việc điều tra vi phạm bến bãi. Ông quay sang Lâm Chiêu, khẽ gật đầu ra hiệu.

Lâm Chiêu bước tới trước mặt Trình Dạ.

Nàng lấy từ trong bao da bên hông ra chiếc thẻ lệnh bến bằng gỗ lim khắc chìm hoa văn sóng nước và tên Bến Lau Tàn—chiếc thẻ lệnh từng bị dán dải bùa niêm phong giám sát cấp hai suốt những ngày giông bão qua. Những dải bùa niêm phong màu vàng đã được nàng cẩn thận xé bỏ hoàn toàn, để lộ thớ gỗ lim bóng loáng, nhẵn nhụi thấm đượm mồ hôi và tâm huyết của nhiều đời người giữ bến họ Trình.

Gió sớm từ bãi lau thổi qua bến đá, mang theo hơi ẩm ngai ngái của bùn non và mùi hương ngải cứu quen thuộc từ chái bếp nhà Lê An thoảng lại, ấm áp và bình yên lạ thường.

Lâm Chiêu chìa chiếc thẻ lệnh ra, đưa về phía Trình Dạ.

"Bến Lau Tàn đã hoàn tất mọi thủ tục bàn giao trước tiếng gà," nàng nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt trong veo không còn vẻ lạnh lùng quy củ của một Chấp pháp sứ, mà lấp lánh sự dịu dàng và tin cậy sâu sắc: "Từ nay, ngươi là người giữ bến hợp pháp duy nhất của khúc sông này."

Trình Dạ vươn bàn tay thô ráp đầy vết xước đón lấy chiếc thẻ lệnh.

Lâm Chiêu trao lại cho Dạ chiếc thẻ lệnh bến đã được gỡ bỏ niêm phong hạn chế, ngón tay hai người khẽ chạm vào nhau giữa làn gió sớm.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories