Người Trồng Linh Mạch — Phần 1: Hạt Giống Dưới Đất ChếtCh.4 / 36
Chapter 4

Không Phải Thuốc Tiên

Tiếng thở khò khè kéo từng cơn nặng nhọc của một cụ già trong xóm phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch quanh miệng giếng lúc bình minh.

Màn sương sớm ở lòng chảo Hạ Khê chưa bao giờ mang theo hơi ẩm ngọt lành của cây cỏ non tơ. Nó đục ngầu, nhờ nhợ một sắc xám pha chì, lơ lửng sát mặt đất như một dải lụa mục tẩm tro bếp, sặc sụa mùi khét nồng của xỉ khoáng từ những con rãnh thượng nguồn tuôn xuống. Thứ sương ấy bám vào da thịt thì rít rát, phủ lên lá cây thì làm cháy mép lá, còn lọt vào buồng phổi người ta thì đọng lại từng vệt muội than không bao giờ tan biến. Dưới chân bờ rào râm bụt xơ xác của vườn thuốc Mộc gia, tiếng bước chân lẹp xẹp dẫm trên nền đất rắn như đá vôi mỗi lúc một gần, xen lẫn tiếng thở dốc đứt quãng nghe như tiếng da thú khô bị cọ xát vào đá tảng.

Mộc Tầm vừa nhấc chiếc đòn gánh sang bên, hai tay nắm lấy mép tấm phên tre đan mắt cáo đậy trên miệng Giếng Cạn toan kéo sang một bên thì bóng người đã đổ dài trên nền đất nứt nẻ.

Đi phía trước là Phạm Nghi. Chiếc áo chẽn vải thô nhuộm củ nâu bạc phếch của ông ta ướt đẫm hơi sương lạnh ngắt, ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân teo tóp phủ đầy những nốt vảy xám của chứng phong lở do nước độc. Bàn tay khẳng khiu nắm chặt chiếc gậy tre đực nhẵn bóng, gõ lục cục từng nhịp vội vã xuống mặt đường mòn. Thế nhưng, khác hẳn vẻ lấm lét, đắn đo và toan tính của buổi chiều hôm trước khi vừa run rẩy ấn ngón tay điểm chỉ vào bản thỏa thuận mười ngày, sáng nay gương mặt người quản sổ giếng hằn sâu những nếp nhăn giật giật, hai bên quai hàm bạnh ra trong một cơn hoảng loạn và nôn nóng đến nghẹt thở.

Phía sau ông ta chừng vài bước chân, một bóng người gầy guộc như que củi đang bước đi liêu xiêu, hai cánh tay khô đét ôm chặt lấy lồng ngực lép kẹp như muốn giữ cho xương sườn khỏi vỡ tung ra.

Đó là lão Bát, một lão nông cày thuê già khú ở xóm Giữa. Lão trạc ngoài sáu mươi, cái tuổi hiếm hoi còn sót lại ở cái chốn bùn độc này, nhưng tấm lưng đã còng rạp xuống gần như song song với mặt đất, hai hốc mắt trũng sâu hoắm như hai cái hang tối tăm không đáy. Da mặt lão bọc sát lấy xương gò má, xám ngoét một màu bùn chết, và từ hai khóe môi nứt nẻ rớm máu, cứ chốc chốc lại ứa ra từng búng bọt mép màu xám chì sủi bọt lăn tăn.

“Khụ... oặc... oặc... khụ!”

Một cơn ho rũ rượi bất thần ập đến xé toạc cuống họng khiến lão Bát quỵ hẳn xuống mảnh sân trước giếng, hai đầu gối bọc da đập mạnh vào những viên sỏi nhọn phát ra tiếng cộp đau đớn. Lão ho đến mức gập đôi người lại, trán gần như chạm sát vào lớp đất khô. Từng thớ thịt nổi gân guốc trên cái cổ khẳng khiu giật giật từng chặp liên hồi, hai bả vai nhô cao rung lên bần bật. Từ sâu trong đáy lồng ngực lão, tiếng rít rỗng tuếch, the thé vang lên như một chiếc ống bễ của lò rèn cũ kỹ đã rách toang túi khí, cố hết sức hút lấy một ngụm khí trời mà chỉ đón về toàn tro tàn cay buốt.

“Bác Nghi... chuyện này là sao?”

Tầm lập tức bước lùi lại nửa bước, đứng chắn ngay trước miệng giếng đá, bàn tay vô thức siết chặt lấy mép thùng gỗ múc nước. Đôi mắt anh ánh lên vẻ cảnh giác cao độ:

“Hôm qua chúng ta đã ước định mười ngày. Bác đã ký tên, hứa không báo cho dân làng, tuyệt đối không để bất kỳ ai bén mảng tới miệng giếng kia mà? Sao sáng sớm hôm nay bác lại dẫn người tới đây?”

“Tầm... thằng Tầm ơi, mày cứu bác Bát một mạng với! Chậm một khắc nữa là không kịp nữa đâu!”

Phạm Nghi buông rơi cả cây gậy tre đực xuống đất, tiếng gậy lăn lóc trên đá dăm. Ông ta lao bổ tới, hai bàn tay thô ráp, lạnh ngắt và nhớp nháp mồ hôi nhớt chụp lấy cổ tay Tầm, siết mạnh đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra:

“Không đợi được mười ngày đâu cháu ơi! Làm sao mà đợi nổi nữa! Đêm qua lão Bát thổ ra nửa bát đờm lẫn máu đen rồi, máu đặc quánh như hắc ín, tanh tưởi không ngửi nổi. Phổi lão nát vụn ra như xỉ than dưới đáy lò rồi đấy! Làng trên xóm dưới từ nửa đêm hôm qua đã rỉ tai nhau đồn ầm lên rồi. Người ta bảo dưới đáy Giếng Cạn nhà mày có mọc lên một cọng linh thảo thượng cổ từ thời khai thiên lập địa, rễ ăn sâu vào mạch trời đất mà sinh trưởng, nước rỉ ra ngọt lịm như mật hoa sen, uống vào một ngụm là bách bệnh tiêu tan. Mày... mày thương tình xóm giềng tối lửa tắt đèn có nhau, trượt dây xuống dưới cắt lấy một mẩu rễ nhỏ thôi, chỉ bằng đốt ngón tay út này thôi cũng được! Chỉ cần một mẩu rễ đem sắc với nửa gáo nước giếng nóng, lão Bát uống vào chắc chắn sẽ thông được phế mạch, trục hết đống tro độc ngập trong ngực ra ngoài!”

Dưới nền đất lạnh, lão Bát ngước cặp mắt đục ngầu, màng mắt đỏ quạch những tia máu vỡ chằng chịt như mạng nhện. Lão run rẩy vươn bàn tay xương xẩu, những móng tay cáu bẩn bám đầy bùn xám cào sột soạt trên nền sỏi, chộp lấy gấu quần vải thô của Tầm:

“Cậu Tầm... lạy cậu... cứu... cứu già với... Già ngột ngạt quá rồi, trong ngực như có cả tảng đá ngàn cân đè nghến lại... Nuốt không trôi nửa hớp nước cháo, thở không ra hơi... Cứ nhắm mắt lại là thấy đất đá đè nghẹt cuống họng... Nghe bác Nghi bảo giếng nhà cậu có cỏ tiên... có nước cam lộ... Cậu thí cho già một mẩu rễ nhỏ... một giọt nước thôi... Già lạy cậu... già đội ơn cậu kiếp này kiếp sau...”

Nói đoạn, cái đầu bạc phơ, lơ thơ vài sợi tóc khô xơ như rễ tre của lão dập côm cốp xuống nền đất khô khốc, bụi đất bay lên mù mịt quanh trán lão.

Lồng ngực Mộc Tầm thắt nghẹn lại. Cổ họng anh đắng ngắt như vừa ngậm phải một ngụm nước rỉ chua lòe dưới đáy mương.

Nhìn tấm lưng còng gập xuống của lão Bát, nhìn những bọt mép xám chì đang rỉ ra từ khóe miệng nhăn nheo kia, anh như nhìn thấy chính hình ảnh của mẹ mình đang nằm co quắp trong gian buồng tối phía sau nhà. Mẹ anh cũng thế, bao nhiêu tháng ngày qua, buồng phổi của bà cũng bị những mảnh tro xỉ vô hình của các lò luyện đan, luyện quặng từ đỉnh núi Thanh Lộ bay xuống gặm nhấm từng chút một, cho đến khi kiệt cùng sinh lực, chỉ còn biết nằm chờ chết trong từng cơn rít ngạt thở. Lòng trắc ẩn và nỗi xót xa trần trụi cuộn lên trong lòng Tầm, thôi thúc bản năng muốn cúi xuống đỡ lấy người già, muốn làm một điều gì đó để xoa dịu nỗi đau đớn cùng cực ấy.

Thế nhưng, cảm giác rát buốt nhói lên ở ngón tay trỏ bàn tay phải ngay lập tức giáng một đòn tỉnh táo lạnh lùng vào tâm trí anh.

Vết hoại tử đen ngòm do trọc tức bùng phát dữ dội hai ngày trước vẫn còn nhức nhối dưới lớp lá bồ hòn băng bó tạm bợ. Mùi thịt cháy khét và sự thối rữa kinh hoàng của tế bào khi tiếp xúc trực tiếp với luồng khí độc tích tụ dưới gốc cây vẫn còn in hằn sâu sắc trong từng dây thần kinh của anh.

Tức Căn tuyệt đối không phải linh dược. Càng không phải thứ cỏ tiên cam lộ có thể chữa bách bệnh như lời đồn đại mù quáng, hoang đường của những kẻ khát nước đang cơn mê sảng.

“Bác Bát, bác đứng dậy đi đã. Bác đừng lạy cháu như thế!” Tầm kiên quyết gạt mạnh hai bàn tay của Phạm Nghi ra, lùi lại một bước, giọng anh đanh lại, từng lời dứt khoát: “Bác Nghi, bác hồ đồ đến mức này rồi sao? Ai đồn với các bác là dưới giếng có linh dược cứu mạng? Cháu đã nói rõ từng câu từng chữ từ chiều hôm qua, đó chỉ là một mầm cây lạ sống bám nhờ bùn độc mà thôi! Việc nó có lọc nổi mạch nước ngầm hay không đến giờ phút này còn chưa ngã ngũ, rễ của nó độc địa ra sao chưa ai hay biết, làm sao bác dám mở miệng đòi cắt rễ đem sắc cho người ta uống?”

“Mày tiếc của đúng không? Mày sợ xén mất một mẩu rễ thì cây tiên chột đi, không lớn được để mày độc chiếm trả nợ cho Vạn Thạch Hành chứ gì?!”

Giọng Phạm Nghi bỗng vỡ ra the thé, đôi mắt vằn lên những tia đỏ ngầu cay đắng và kích động đến cùng cực. Ông ta hoa chân múa tay, nước bọt bắn ra phè phè:

“Mạng người sắp tắt ngấm tới nơi rồi mà mày còn đứng đấy tính toán thiệt hơn từng mẩu rễ cây! Mày nhìn lão Bát xem, lão làm lụng cày thuê cuốc mướn cả đời ở cái xóm nghèo này, hít tro hít bụi của lò quặng Thanh Lộ Tông ròng rã mấy chục năm trời đến mức tàn phế buồng phổi, chẳng lẽ cả cái mạng già của lão lại không đáng giá bằng một mẩu rễ cỏ dưới đáy giếng nhà mày sao? Mày nhẫn tâm đến thế cơ à Tầm?”

“Không phải cháu tiếc rễ cây, mà thứ đó ngậm đầy độc—”

“Dừng tay lại hết cho tôi!”

Một tiếng quát sắc gọn, lạnh lùng như một nhát dao chém phập vào phiến đá vang lên từ phía ngõ râm bụt.

Tiếng dép cỏ bước vội vã, dứt khoát trên nền sỏi lạo xạo. Từ trong màn sương mù xám xịt của buổi sớm, hai bóng người bước nhanh vào khoảng sân đất nứt nẻ.

Đi phía trước là bà giáo Bùi Sương. Bà khoác chiếc áo choàng bằng vải thô sẫm màu đã bạc thếch ở hai bên gấu áo, vóc người gầy nhưng thẳng tắp như một cây tùng mọc trên vách đá. Một tay bà chống thanh ba-toong bằng gỗ mun tiện tròn, mỗi bước đi đều nện xuống nền đất một lực vững chãi. Đi ngay sát phía sau bà là Đào Nguyệt. Nàng mang theo một chiếc hòm thuốc bằng gỗ trắc lên nước nâu bóng đeo chéo bên hông, hai vạt áo chàm gọn gàng dắt vào thắt lưng bản rộng. Đôi bàn tay thon thả của nàng cẩn thận bưng một chiếc khay đan bằng mây tre đan dày dặn, bên trên đặt ngay ngắn ba chiếc đĩa gốm mộc màu trắng ngà cùng vài chiếc lọ sành nhỏ được niêm phong kín miệng bằng sáp ong vàng sẫm.

Từ trong gian bếp xơ xác, Mộc An nghe thấy tiếng cãi vã cũng hớt hải chạy ùa ra sân, trên tay còn lăm lăm chiếc que cời lửa bằng sắt quăn queo, khuôn mặt non nớt đầy căng thẳng lập tức đứng chắn ngay bên cạnh anh trai mình, mắt trừng trừng nhìn Phạm Nghi.

“Bà... bà Sương... cô Nguyệt...” Phạm Nghi chớp chớp mắt, khóe miệng giật giật. Khí thế hung hăng, kích động ban nãy bỗng chùng hẳn xuống một bậc trước ánh nhìn sắc lẹm, uy nghiêm của người dược sư già cả đời gắn bó với cỏ cây sông núi Hạ Khê. “Hai người... hai người sáng sớm đến đây làm gì?”

“Đến để giữ cho cái xóm này không biến thành bãi tha ma chỉ vì thói ngu muội, hồ đồ của ông đấy, ông quản giếng ạ!”

Bùi Sương dừng bước cách miệng giếng năm bước chân. Chiếc gậy mun trong tay bà nện mạnh xuống nền đất khô một tiếng *cộc* khô khốc, dội vào lồng ngực người nghe một cảm giác nặng nề. Cặp mắt sắc sảo dưới đôi mày bạc trắng đảo qua lão nông đang nằm rạp quằn quại dưới đất, rồi quét thẳng một đường lạnh toát vào mặt Phạm Nghi:

“Linh dược tụ khí trời đất? Thang thuốc cam lộ cứu mạng? Mấy cái lời nhảm nhí tanh tưởi đó là do đám con buôn thuốc giả ngoài Bến Tro nhét vào tai ông, hay do cái đầu bã đậu của ông tự tưởng tượng ra để xúi bẩy người ta tìm đường chết thế hả?”

Đào Nguyệt không nói một lời thừa thãi. Nàng nhanh nhẹn bước qua mặt Phạm Nghi, đặt chiếc khay mây lên mặt cối đá cạnh thành giếng rồi quỳ một chân áo xuống nền sỏi sắc nhọn ngay bên cạnh lão Bát.

Đôi ngón tay thon thả nhưng thô ráp, chai sần vì quanh năm sao thuốc, bốc thuốc của nàng khẽ khàng nhưng chuẩn xác áp vào hõm cổ và lướt qua cổ tay khẳng khiu của lão nông. Nàng hơi nghiêng đầu, áp sát tai lắng nghe từng nhịp rít khò khè rền rĩ nghẹt thở sâu trong phế quản người bệnh. Đôi mày thanh tú của nàng khẽ nhíu lại thành một đường gợn sóng trầm tư, ánh mắt sâu thẳm không giấu nổi vẻ nghiêm trọng.

“Phế âm khô kiệt hoàn toàn, trọc khí cùng tro khoáng đã kết thành từng hạch cứng chèn ép phế quản, mạch tượng trầm tế sáp vô lực, mỗi nhịp đập đều nghẽn lại như dao cạo trên thân tre.”

Đào Nguyệt ngẩng đầu lên, giọng nói của nàng đều đều, trong trẻo nhưng mang theo sự đanh thép, lạnh lùng của một người nắm giữ ranh giới sinh tử:

“Bác Bát lúc này đang đứng ngay trên mép bờ vực của sự nghẹt thở. Phế nang của bác ấy đã giòn vụn ra vì tro độc xỉ khoáng bám chặt suốt mấy chục năm. Ngay vào lúc này, nếu uống bừa một giọt độc dịch chưa thuần hóa, hay bất kỳ thứ rễ cây nào có tính kích động kinh mạch, huyết phế sẽ lập tức trào ngược lên vòm họng. Không quá ba hơi thở, máu đen đông cứng sẽ làm tắc nghẽn toàn bộ khí quản, người bệnh sẽ giãy giụa mà chết nghẹn ngay tại chỗ, mắt trợn trừng không kịp trăn trối nửa lời!”

“Cô... cô Nguyệt... cô đừng dọa già...” Lão Bát thều thào qua kẽ răng, hai giọt nước mắt đục ngầu ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo, lăn dài qua gò má xám ngoét rồi rớt xuống nền đất. “Già chỉ muốn... muốn một ngụm thuốc mát cho đỡ rát cổ thôi mà... Ngực già nóng như có hòn than đỏ đè lên... Cô thương già với...”

“Tôi không dọa bác, bác Bát.” Đào Nguyệt mở nắp chiếc hòm thuốc bằng gỗ trắc, rút ra một dải khăn bông sạch đã giặt khô, thấm một ít giấm thanh đựng trong lọ con rồi nhẹ nhàng áp lên hai bên thái dương và hõm trán của lão nông để giúp lão định lại thần trí đang hoảng loạn. Đoạn, nàng đứng thẳng dậy, phủi nhẹ tà áo chàm, ánh mắt nhìn thẳng vào Phạm Nghi rồi chuyển sang Mộc Tầm:

“Dược liệu đưa vào miệng người là chuyện sinh tử của một mạng người. Dù là nhánh cỏ mọc trên đỉnh núi cao hay rễ cây cắm sâu dưới đáy giếng hoang, chừng nào chưa qua thử nghiệm dược tính, chưa xác định rõ phản ứng đối với khí huyết kinh mạch, thì tuyệt đối không một ai có quyền đem nó sắc cho người bệnh uống. Bác Nghi, bác muốn cứu sống một mạng người láng giềng, hay bác muốn tự tay bưng bát thuốc độc tiễn lão Bát xuống mồ rồi gánh cái tội giết người trên lưng?”

Phạm Nghi lúng túng, gương mặt già nua bỗng chốc đỏ bừng lên vì xấu hổ, bẽ bàng xen lẫn sợ hãi:

“Nhưng... nhưng mà lời đồn ngoài bến nước người ta nói rành rành ra đó... Người ta bảo cái rễ cây dưới giếng này hút sạch trọc khí... Đất quanh giếng đã mềm ra như đất phù sa, nước dưới đáy bắt đầu rỉ ra từng giọt trong veo... Nếu cái rễ cây ấy đã trị được trọc khí của đất trời, thì cớ sao lại không trị được trọc khí trong buồng phổi con người?”

“Đất là đất, mà thân thể máu thịt con người là thân thể con người!”

Bùi Sương lạnh lùng quát lớn, giọng bà đanh thép như tiếng chuông đồng giữa sớm mai:

“Đất có thể ngậm chất độc vào trong lòng nó hàng trăm năm mà không biết kêu đau, nhưng phủ tạng con người chỉ cần một giọt độc khí đi lạc là nát bấy kinh mạch! Tầm, vào nhà lấy mẫu bùn nước quanh rễ hôm qua mày múc lên đây cho tao. Tiện thể, mang luôn cái mẩu nốt rễ khô hôm nọ mày lỡ tay làm cháy xém đem ra đây, để cho hai con mắt trần tục của ông quản giếng được sáng tỏ ra!”

Tầm gật đầu dứt khoát không chút chần chừ: “Cháu vào lấy ngay.”

Anh quay người chạy vội vào chái nhà sau. Nơi góc tối râm mát dưới gầm chạn thuốc, chiếc bát gốm đựng chút nước giếng lắng cặn từ lớp bùn quanh mầm Tức Căn vẫn còn nguyên vẹn, mặt nước lờ nhờ phủ một lớp váng xám nhạt. Cạnh đó, trên một mảnh lá dong khô, mẩu nốt rễ sần sùi màu xám tro—vốn là vết tích rụng ra từ vết thương của rễ sau tai nạn kích phát linh khí hai ngày trước—đã khô cứng lại như một viên sỏi mục. Anh cẩn thận bưng bát nước, nhặt mẩu rễ khô bước nhanh ra sân.

Lúc này, khoảng sân giếng hoàn toàn chìm vào sự im ắng ngột ngạt. Tiếng gió sớm rít qua những khe hở trên rào tre khô khốc. Mộc An đứng tựa lưng vào cột phên, bàn tay nắm chặt que sắt cời lửa không rời, đôi mắt đen láy chăm chú dõi theo từng động tác của Đào Nguyệt.

Đào Nguyệt ngồi xuống chiếc ghế đẩu thấp bằng gỗ tạp trước cối đá. Nàng khẽ vén cao hai ống tay áo chàm lên quá khuỷu, để lộ cẳng tay trắng ngần nhưng săn chắc, rắn rỏi của người lao động. Nàng đưa tay rút từ trong hòm thuốc ra một chiếc lọ sành nhỏ hình hồ lô, bên ngoài có thắt dây chỉ đỏ. Khi nút sáp ong được cạy ra, một mùi máu tanh nồng thoang thoảng bay lên trong không khí sớm lạnh buốt.

Đó là máu thỏ tươi còn đỏ thắm, được nàng chuẩn bị sẵn từ rạng sáng nay khi vừa nghe phong phanh những lời đồn thổi hoang đường lan truyền từ bờ sông vào các ngõ xóm quanh Giếng Cạn.

“Bác Nghi, bác bước lại đây, mở to mắt ra mà nhìn cho kỹ từng chút một.” Đào Nguyệt cất lời, thanh âm nàng bình thản, tĩnh tại như dòng nước ngầm trôi chảy dưới khe đá sâu.

Nàng rút từ khay mây ra một chiếc que tre vót nhọn, sạch bong không dính một hạt bụi, chấm nhẹ vào miệng lọ sành rồi nhỏ đúng một giọt máu thỏ tươi vào lòng chiếc đĩa gốm mộc màu trắng ngà thứ nhất. Giọt máu tươi tròn trịa, đỏ hồng óng ánh, tỏa ra chút hơi ấm mong manh của một sinh linh vừa rời khỏi sự sống, nằm phẳng lặng trên nền gốm trắng tinh khiết.

Tiếp đó, nàng với tay lấy chiếc thìa bạc nhỏ xíu chuyên dùng để đong đan dược, múc một lượng nước rỉ chiết xuất từ lớp bùn bám sát quanh rễ Tức Căn trong bát của Tầm. Nàng cẩn thận dùng một chiếc dùi sắt nhỏ cạo lấy một chút bột mịn từ mẩu nốt rễ xám khô sần sùi, hòa tan vào lòng thìa bạc. Thứ dịch chiết ấy ban đầu chỉ mang một màu xám tro nhờ nhờ, lờ lờ như nước vo gạo hòa lẫn tro bếp đã để qua đêm, trông hoàn toàn vô hại, thậm chí còn phảng phất chút hơi mát nhàn nhạt của sương đêm.

Đào Nguyệt nâng chiếc thìa bạc lên, giữ cho bàn tay hoàn toàn bất động trong một nhịp thở. Nàng nghiêng thìa, nhỏ đúng một giọt dịch rễ cây vào ngay tâm của giọt máu thỏ tươi trên đĩa gốm.

*Xì... xèo!*

Một âm thanh rợn người bất ngờ vang lên từ lòng đĩa, tựa như ai đó vừa ném một cục mỡ bò sống vào giữa chảo dầu đang sôi sục trên bếp than hồng rực.

Tất cả những người có mặt trên sân đồng loạt nín thở, hai mắt dán chặt vào chiếc đĩa gốm mộc.

Không hề có bất kỳ cảnh tượng linh khí phát quang, không có hào quang ngũ sắc hay luồng ánh sáng màu lam dịu mát thanh khiết nào như lời thêu dệt của những kẻ dệt mộng ngoài Bến Tro. Ngay khoảnh khắc giọt dịch xám vừa chạm vào bề mặt giọt máu đỏ tươi, giọt máu thỏ lập tức giật nảy lên một cái dữ dội.

Một sự biến đổi tàn khốc diễn ra với tốc độ kinh hoàng ngay trước mắt họ. Sắc đỏ tươi của sự sống biến mất không còn một vết tích chỉ trong vòng chớp mắt. Thay vào đó, toàn bộ giọt máu lập tức chuyển sang một màu đen kịt, quánh đặc lại như một bọt hắc ín bị nung cháy. Chất lỏng hữu cơ nhanh chóng co rút, đông cứng lại thành một khối cặn sần sùi sủi bọt lấm tấm, bốc lên một làn khói mỏng manh màu xám tro nồng nặc mùi lưu huỳnh hôi thối và mùi gỉ sắt bị axit ăn mòn.

Một luồng nhiệt lượng cay xè, buốt nhói xộc thẳng lên không trung. Phạm Nghi đứng sát mép cối đá nhất bất giác hắt hơi một tiếng dữ dội. Mắt ông ta cay xè, nước mắt nước mũi giàn giụa tuôn ra, lồng ngực đột ngột nhói buốt lên từng cơn như thể vừa bị một tàn lửa lò rèn bắn trúng vào da thịt trần trụi.

“Khụ... khụ... cái mùi quái quỷ gì mà... mà cay rát xé họng thế này?!”

Phạm Nghi hai tay ôm chặt lấy ngực, lảo đảo thụt lùi lại ba bước dài, ho sặc sụa đến mức mặt mày tím tái lại.

“Đó chính là trọc tức thuần túy.”

Đào Nguyệt lạnh lùng nhấc chiếc nắp gốm chụp lên chiếc đĩa để dập tắt luồng khói độc đang bốc lên. Ngón tay trỏ của nàng khẽ chạm vào mặt đáy bên ngoài của chiếc đĩa gốm mộc rồi rút lại ngay:

“Đáy đĩa lúc này nóng rực như than hồng. Chất lỏng bên trong kết tủa đen ngòm, sinh nhiệt dữ dội, khí độc bốc lên làm rát bỏng kinh mạch của người sống. Huyết dịch của loài vật hay của con người một khi chạm phải thứ dịch chiết này sẽ lập tức đông kết, hoại tử hoàn toàn, biến thành một cục than chết không còn một chút sinh khí.”

Nàng ngước mắt lên, ánh nhìn sắc bén như ánh trăng mùa đông chiếu thẳng vào khuôn mặt đang tái mét, không còn giọt máu của người quản sổ giếng:

“Bác Nghi, nếu một giọt dịch rễ này vừa trôi qua khỏi cổ họng của bác Bát lúc này, máu trong phế quản và các mạch máu li ti nuôi buồng phổi của bác ấy sẽ đông cứng lại y như giọt máu thỏ trên đĩa này trong vòng chưa đầy nửa khắc. Đến lúc đó, dù có mời đại đan sư của Thanh Lộ Tông giáng trần, cũng không một ai có thể nạo được lớp than cặn đen ngòm này ra khỏi cuống họng của bác ấy đâu. Bác đã nhìn rõ chưa?”

Lão Bát nằm bẹp dưới nền đất đá, tận mắt chứng kiến từ đầu đến cuối cảnh tượng giọt máu thỏ tươi biến thành cục than đen sủi bọt độc. Hai hàm răng lão va vào nhau lập cập *cầm cập* từng hồi giòn giã. Lão sợ hãi đến mức co rúm toàn bộ thân hình gầy guộc lại, hai đầu gối kéo sát vào bụng, bàn tay xương xẩu run rẩy đang níu lấy vạt áo Tầm từ từ buông lỏng ra, rơi thõng xuống nền đất lạnh ngắt.

“Sao... sao lại có thể như vậy được?” Phạm Nghi run rẩy như cầy sấy, bờ môi thâm tím mấp máy mãi mới phát ra thành tiếng, giọng nghẹn lại: “Chẳng phải... chẳng phải mầm cây đó có thể làm cho đất bùn chết mềm ra sao? Nước rỉ ra từ giếng hôm qua chẳng phải đã bớt mùi xỉ than hôi thối rồi sao? Tại sao rễ của nó lại chứa thứ độc dịch giết người tàn khốc đến mức này?”

Bùi Sương bước lên một bước, thanh ba-toong bằng gỗ mun chống mạnh xuống đất.

Bà thò tay vào thắt lưng, rút ra một con dao bài nhỏ bằng thép trắng trơn bóng, lưỡi dao sắc lẹm lấp loáng phản chiếu ánh sáng mờ đục của buổi sớm mai. Bà chìa tay nhặt lấy mẩu nốt rễ khô sần sùi mà Tầm vừa mang ra, đặt ngay ngắn lên mặt phẳng nhẵn thó của cối đá.

“Ông mở to hai con mắt trần của ông ra mà nhìn cho tường tận, cho thấu đáo cái thứ mà ông gọi là ‘linh thảo cam lộ’!”

Bùi Sương gằn từng tiếng một, giọng bà trầm đục nhưng vang vọng khắp gian sân. Lưỡi dao thép trắng ấn mạnh xuống, một tiếng *tách* khô khốc vang lên, mẩu nốt rễ sần sùi bị chẻ đôi ra làm hai nửa bằng nhau.

Bên trong nốt rễ không hề có thớ gỗ xanh non mỡ màng, không có tủy dịch trong suốt hay bất kỳ dấu hiệu nào của một loài linh thực hấp thu tinh hoa trời đất. Cấu trúc bên trong của nó hiện ra trước mắt mọi người như một cái bọc thịt chai cứng, xốp đặc và mang một màu đen thẫm như than đá ngâm nước.

Kinh hoàng hơn cả, ngay tại tâm của nốt sần, những hạt bụi khoáng xám xịt, lấp lánh ánh kim loại nặng bị nén chặt thành từng lớp đồng tâm dày đặc, trông chẳng khác nào một khối u bướu dị dạng, quái gở được bọc kín mít bởi lớp vỏ sợi dai nhách như gân bò.

Bùi Sương dùng mũi dao bài gẩy nhẹ vào lớp bột khoáng đen ngòm ở lõi nốt rễ, để lộ ra cấu trúc xơ vữa chằng chịt bên trong:

“Thấy rõ chưa hả Phạm Nghi? Cái giống cây này, nó sinh ra trên đời không phải để ngậm linh khí thanh khiết của mây trời mà kết tinh thành tiên đan cứu thế! Bản tính sinh tồn của nó là ăn trọc tức! Đất bùn ở cái lòng chảo Hạ Khê này ngấm trọn bao nhiêu thứ độc dịch, xỉ khoáng xả ra từ các lò luyện đan, luyện quặng trên đỉnh Thanh Lộ suốt bao nhiêu năm ròng rã, biến thành thứ bùn chết giết hại vạn vật. Cái mầm cây này cắm rễ vào bùn, nó hút thứ trọc độc đó lên thân nó để tồn tại. Nhưng nó tiêu hóa bằng cách nào? Nó có phải thần tiên đâu mà làm cho chất độc biến mất vào cõi hư không? Nó chỉ có thể gom toàn bộ cặn bã, độc tố, kim loại nặng cô đặc lại từng chút một, nhốt chặt toàn bộ vào trong những cái nốt rễ xẫm màu này!”

Bà giơ thẳng mũi dao bài dính chút bột đen chỉ thẳng vào mặt Phạm Nghi, ánh mắt nghiêm khắc tựa như lưỡi kiếm trừng phạt:

“Nói cho ông hiểu bằng cái thứ tiếng người thô thiển nhất: những cái nốt rễ này chính là cái hố phân, cái túi rác chứa toàn bộ những thứ cặn bã dơ bẩn, kịch độc nhất của cái đáy Giếng Cạn này gom lại! Nó phong tỏa trọc độc lại trong thân thể nó để bảo vệ hai cái chồi non xanh trên ngọn không bị cháy chết, và nhờ thế mà đất đai xung quanh nó mới vô tình bớt độc đi một phần nhỏ! Thế mà ông... một kẻ trông coi giếng làng mấy chục năm trời, ăn hột cơm hớp nước của cái đất này, lại đi nghe lời xúi bẩy của phường đồn nhảm ngoài bến chợ, đòi xẻ cái túi độc cô đặc ấy ra để sắc thuốc cho một người đang sắp vỡ tung buồng phổi uống? Ông đang muốn cứu người, hay ông muốn biến lão Bát thành một đống tro tàn nhanh hơn để rảnh nợ hả?”

Phạm Nghi lảo đảo lùi lại, chiếc gậy tre đực tuột khỏi tay rơi đánh *keng* xuống nền sỏi nhọn.

Toàn bộ ảo tưởng mù quáng, niềm hy vọng bám víu tuyệt vọng mà ông ta ấp ủ từ nửa đêm hôm qua sụp đổ tan tành thành từng mảnh vụn vỡ nát. Ông ta nhìn chăm chú vào hai nửa nốt rễ đen ngòm như than đá trên mặt cối gốm, rồi lại nhìn sang lão Bát đang nằm co quắp thở hắt ra từng hơi yếu ớt dưới đất, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm trán, chảy ròng ròng xuống hai bên thái dương bạc trắng.

“Tôi... tôi thực sự không biết...” Ông ta lẩm bẩm, giọng khản đặc như có cát nhét trong cổ họng: “Tôi chỉ nghĩ... giếng làng có mầm cây lạ sống lại... thì người làng mình cuối cùng cũng có một con đường sống rồi... Tôi chỉ muốn cứu lấy cái mạng của lão Bát... Tôi không ngờ... không ngờ nó lại là cái túi độc...”

Mộc Tầm bước chậm rãi tới mép miệng Giếng Cạn.

Anh cúi đầu nhìn sâu vào khoảng không mờ tối, ẩm ướt hun hút bên dưới lòng giếng đá. Nơi đó, mầm Tức Căn nhỏ bé chưa đầy nửa gang tay vẫn đang âm thầm, kiên nhẫn bám rễ vào lớp bùn xám đáy giếng, vươn hai chiếc lá non xanh ngọc bích ra để đón nhận từng tia sáng hiếm hoi lọt qua kẽ nứt của vách đá. Nó nhỏ bé, mỏng manh đến tội nghiệp trước sự khắc nghiệt của đất trời, nhưng lại mang trong mình một sức sống dai dẳng và một gánh nặng độc chất khủng khiếp mà không loài cây nào chịu nổi.

Anh hít một hơi thật sâu, luồng không khí lành lạnh buổi sớm lấp đầy lồng ngực. Tầm quay người lại, nhìn thẳng vào Phạm Nghi, nhìn lão Bát, và nhìn cả những bóng người đang lấp ló, dòm dỏ sau hàng rào râm bụt ngoài ngõ.

Tiếng ồn ào, cãi vã ban sáng đã đánh thức những người hàng xóm ở xóm Giữa. Họ lục tục kéo tới từ lúc nào, người cầm cuốc, người bưng rổ tre rách, đứng túm tụm ngoài ngõ với những ánh mắt hoang mang, tò mò và le lói những tia hy vọng thầm kín.

“Bác Nghi, và cả bà con xóm Giữa nữa,” Tầm cất giọng dõng dạc. Âm thanh của anh không quá lớn, nhưng từng từ từng chữ rành rọt, vững chãi, vang vọng khắp khoảng sân tĩnh mịch: “Hôm nay, trước mặt bà giáo Bùi Sương và cô Đào Nguyệt của tiệm thuốc Bến Tro, cháu xin nói một lần thật rõ ràng, minh bạch để tất cả mọi người cùng nghe và hiểu cho thấu đáo sự tình.”

Anh giơ tay chỉ thẳng về phía miệng Giếng Cạn:

“Dưới đáy giếng nhà cháu quả thực có một mầm cây vừa nảy mầm sống sót. Nhưng nó tuyệt đối không phải là linh đan tiên thảo trời ban, không có phép màu nào biến nước giếng thành nước cam lộ chữa bách bệnh trong một sớm một chiều cả! Tên của nó là Tức Căn. Thứ cây này chỉ có một tác dụng duy nhất: nó kiên nhẫn hút dần từng chút trọc độc tích tụ trong bùn đất và mạch nước ngầm qua ngày này tháng nọ. Nó cần thời gian, cần nước sạch để tưới tắm, cần sự chăm sóc tỉ mỉ từng li từng tí mới có thể làm cho một khoảnh đất nhỏ quanh giếng bớt cằn cỗi đi, giúp cho giọt nước rỉ ra bớt chua chát, bớt mùi tro than.”

Ánh mắt Tầm quét qua từng gương mặt hốc hác, xám ngoét đang chăm chú nhìn anh qua bờ rào:

“Nó không thể giải độc cho cả cái làng Hạ Khê này trong một đêm. Và tuyệt đối, vĩnh viễn không bao giờ có thể cắt rễ, bẻ lá của nó nuốt vào bụng để trị lành chứng bệnh phổi tro! Ai cố tình nuốt thứ rễ cây này vào bụng, người đó sẽ chết vì tắc nghẽn huyết mạch ngay lập tức, không một thang thuốc nào cứu nổi!”

Những người dân đứng ngoài rào xì xào bàn tán rộ lên như ong vỡ tổ. Những tia hy vọng mong manh vừa nhen nhóm trong đáy mắt họ từ những lời đồn thổi lúc rạng sáng bỗng chốc vụt tắt ngấm, nhường chỗ cho sự hụt hẫng, bàng hoàng và vẻ ảm đạm quen thuộc đã đè nặng lên mảnh đất cằn cỗi này suốt bao mùa khô hạn.

“Vậy là... không có thần dược nào thật sao?” Một người đàn bà trạc tuổi bốn mươi đứng ngoài ngõ ôm chặt chiếc rổ sứt cạp trước ngực, giọng nghẹn ngào, run rẩy thốt lên: “Bệnh phổi tro của chồng tôi... của con tôi... rốt cuộc vẫn không có thuốc nào chữa được à?”

“Không có thứ thần dược nào chữa lành tức thì như trò phù phép cả.” Tầm nhìn thẳng vào người đàn bà ấy, ánh mắt kiên định, không né tránh nhưng cũng không gieo rắc bất kỳ một ảo tưởng hão huyền nào: “Nhưng nếu chúng ta kiên nhẫn giữ được mầm cây này sống, đất quanh giếng sẽ dần dần sạch lại. Nước rỉ ra từ kẽ đá sẽ dần dần uống được mà không làm lở loét dạ dày. Khi đó, chúng ta có thể trồng lại luống rau, gieo lại được một vạt thuốc thực sự để chữa bệnh. Đó là con đường sống duy nhất, đi bằng đôi tay chai sạn và sự kiên nhẫn bền bỉ của chính chúng ta, chứ không thể dựa vào một chén thuốc tiên hoang đường nào cả!”

Sự im lặng bao trùm lấy khoảng sân đất nứt nẻ.

Đó là một sự im lặng nặng nề, đau đớn, xé lòng, nhưng lại vô cùng sạch sẽ và tỉnh táo. Không còn những lời đồn đại hão huyền, không còn sự kích động cuồng loạn của những kẻ bám víu vào cọng rơm cứu mạng trong cơn tuyệt vọng.

Lão Bát nằm bẹp dưới đất khẽ run rẩy một cái. Ảo tưởng cuối cùng tan vỡ khiến chút sinh khí gượng gạo sót lại trong đôi mắt đục ngầu của lão hoàn toàn lịm tắt. Thế nhưng, lão không gào khóc, cũng không buông lời oán trách một ai. Người dân ở cái lòng chảo Hạ Khê này đã quá quen với việc nhìn thấy hy vọng bị dập tắt không thương tiếc; họ đã từng chứng kiến các tiên môn lớn rút cạn linh mạch rồi bỏ đi, chứng kiến những cánh đồng màu mỡ hóa thành đá xám, chứng kiến những người thân yêu nhất gục ngã vì nghẹt thở. Sự thất vọng thêm một lần nữa sáng nay dường như chỉ là một nhát búa quen thuộc nện thêm vào chiếc đe số phận đã chai lì của đời họ.

“Già... già hiểu rồi...” Lão Bát khó nhọc chống hai bàn tay xương xẩu xuống nền đất, cố sức lồm cồm bò dậy. “Làm phiền... làm phiền cậu Tầm quá... Bác Nghi ơi, đỡ già... đưa già về thôi... Về nằm thở nốt... mấy hơi tàn cuối cùng...”

Phạm Nghi cay đắng cúi gập lưng nhặt cây gậy tre đực lên, hai tay run rẩy luồn qua nách đỡ lấy cánh tay gầy trơ xương của người bạn già cùng xóm. Hai bóng người còng queo, xiêu vẹo tựa vào nhau, toan quay gót lê từng bước nặng nề ra phía cổng rào.

“Bác Bát, bác dừng bước đã.”

Tiếng gọi dịu dàng, trong trẻo nhưng đầy dứt khoát của Đào Nguyệt cất lên phá vỡ không gian nặng trĩu.

Nàng đứng dậy từ bên cối đá, hai bàn tay cẩn thận bưng một gói thuốc vừa được bao bọc vuông vắn bằng giấy bổi màu nâu nhạt, bước nhanh tới chắn trước mặt lão Bát.

“Mầm cây dưới đáy giếng không thể uống được, nhưng điều đó không có nghĩa là bác phải về nhà nằm chờ chết trong đau đớn.”

Đào Nguyệt nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay khô ráp, run rẩy của lão nông, cẩn thận đặt gói thuốc vào lòng bàn tay lão rồi khép các ngón tay của lão lại. Giọng nàng trầm ấm, chân thành, mang theo sự an ủi sâu sắc:

“Trong gói này là bách bộ, khoản đông hoa đã được sao kỹ với mật ong rừng, cùng với một ít rễ cát cánh. Đây đều là những loại thảo dược thông thường nhất, được thu hái trên những triền đồi đất cũ chưa bị ngấm bùn độc, tính dược rất bình hòa. Chiều nay về nhà, bác bảo người nhà đem sắc với hai bát nước con, cô lại lấy đúng nửa bát nước thuốc đặc, uống ấm từng ngụm nhỏ trước khi đi ngủ. Thang thuốc này không thể bóc được lớp tro xỉ đã ăn sâu vào đáy phổi của bác ra, nhưng nó sẽ làm dịu cuống họng, làm lỏng những cục đờm tắc nghẽn, giúp cho đêm nay bác có thể thở được êm hơn, ngủ được một giấc trọn vẹn mà không bị những cơn nghẹt thở xé rách lồng ngực.”

Lão Bát ngơ ngác nhìn gói giấy bổi vuông vắn nằm gọn trong lòng bàn tay gầy guộc của mình, bờ môi mấp máy run rẩy:

“Nhưng mà... cô Nguyệt ơi... già không có tiền đâu... Cả nhà già bữa nay đến bát cháo loãng còn phải chạy vạy từng bơ thóc lép... Già lấy đâu ra bạc mà trả tiền thuốc cho cô...”

“Tôi không lấy tiền của bác.” Đào Nguyệt mỉm cười nhẹ, khóe môi thoáng hiện một nét dịu dàng hiếm hoi, đôi mắt nàng trong veo và phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng: “Sáng mai đi hái thuốc sớm về, tôi sẽ ghé qua xóm Giữa xem lại mạch cho bác. Chừng nào tôi còn ở lại Bến Tro này, chừng nào trong chiếc hòm thuốc này còn sót lại một nắm lá cây, tôi sẽ không bao giờ để một người bệnh trong xóm phải quằn quại chết vì ngạt thở mà không có lấy một chén thuốc làm dịu cơn đau.”

Hai giọt nước mắt đục ngầu, mặn chát từ từ lăn dài trên những rãnh nhăn nheo của lão nông già nua. Lão run rẩy ép chặt gói thuốc vào trước lồng ngực gầy guộc của mình, như thể đang ôm lấy chiếc phao cứu sinh giản dị nhưng quý giá nhất trên cõi đời này. Lão cúi gập đầu gật lia lịa, nước mắt rơi lã chã xuống đất:

“Đa tạ... đa tạ cô Nguyệt bồ tát... Đa tạ cậu Tầm...”

Phạm Nghi cũng cúi gầm mặt xuống vì hổ thẹn, lặng lẽ siết chặt tay lão Bát, dìu từng bước chậm chạp rời khỏi mảnh sân giếng.

Bà con xóm giềng đứng ngoài bờ rào râm bụt thấy cảnh tượng ấy cũng thở dài thườn thượt rồi từ từ tản đi. Tiếng bước chân lẹp xẹp dẫm trên nền đất sỏi khô khốc xa dần, hòa lẫn vào màn sương mù xám đục đang bắt đầu loãng ra dưới ánh bình minh.

Khoảng sân giếng lúc này chỉ còn lại bốn người.

Mộc An đứng dựa vào mép cửa bếp thở phào ra một hơi dài nhẹ nhõm, bàn tay nắm que sắt cời lửa từ từ buông lỏng. Cậu bé hiểu chuyện lặng lẽ quay vào gian bếp nhỏ, cời lại đám than hồng để đun ấm nước sôi chuẩn bị cho bữa sáng thanh đạm của hai anh em.

Bùi Sương cẩn thận dùng chiếc khăn vải thô sẫm màu bọc kín hai nửa nốt rễ khô vừa bị chẻ đôi trên mặt cối đá. Ánh mắt người dược sư già nhìn chằm chằm vào khối độc chất màu đen sẫm qua lớp vải mỏng, đôi mày bạc nhíu chặt lại trong một nỗi trầm tư trĩu nặng.

“Một cái mầm cây non nớt chưa đầy nửa gang tay...” Bùi Sương lẩm bẩm một mình, giọng bà chùng xuống, nghe trĩu nặng âu lo: “Một cái nốt rễ phụ bé bằng hạt đỗ mà đã gom giữ một lượng trọc tức đậm đặc, hung hãn đến mức làm cháy rụi cả huyết dịch loài vật... Tầm, mày đã từng nghĩ tới chuyện này sau này chưa?”

Mộc Tầm đứng bên miệng giếng, khẽ giật mình quay lại: “Ý bà giáo là sao ạ?”

Bùi Sương ngước đôi mắt sắc sảo nhìn thẳng vào mặt anh:

“Mày chỉ đang nghĩ làm sao để cái mầm cây này sống sót, làm sao để nó hút sạch trọc độc dưới đáy giếng cho nước rỉ ra để cứu mẹ mày, để giữ lại mảnh đất tổ tiên. Nhưng mày đã tính đến chuyện ngày mai, ngày kia chưa? Nếu cái cây Tức Căn này thực sự lớn lên, rễ của nó lan rộng khắp đáy giếng, rồi mai này lan ra khắp cả cánh đồng Thạch Nê mục nát ngoài kia... nó sẽ thải ra hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng vạn cái nốt rễ chứa đầy kịch độc cô đặc như thế này! Lúc đó, mày và dân làng sẽ vứt cái đống rác độc giết người ấy đi đâu? Hay lại gom lại một chỗ rồi để nó ngấm ngược lại vào nguồn nước khác?”

Câu hỏi của Bùi Sương như một tia sét đánh thẳng vào khoảng trống mênh mông trong những toan tính non nớt của Tầm.

Anh sững sờ đứng chôn chân tại chỗ. Từ trước tới nay, tâm trí anh chỉ dồn toàn bộ vào việc làm sao giữ cho mầm cây không bị chết khô, làm sao để đất hồi sinh và có nước sạch cứu mẹ thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Anh chưa từng một lần lường trước được cái quy luật khắc nghiệt của đất trời: làm sạch một nơi không có nghĩa là chất độc tự nhiên biến mất. Cái giá của sự hồi sinh ở mảnh đất này lại chính là sự tích tụ của một lượng phế phẩm kịch độc khổng lồ, một thứ chất thải nguy hiểm không thể tự tiêu biến vào hư không.

Đào Nguyệt lúc này đang thuần thục thu dọn lại các dụng cụ y thuật trên mặt cối đá. Nàng dùng một chiếc muỗng gốm cán dài, cẩn thận vớt lấy vài giọt nước rỉ lắng cặn từ lớp bùn quanh rễ Tức Căn trong bát của Tầm, cho vào một chiếc lọ sứ nhỏ tráng men trắng tinh. Nàng lấy một miếng sáp ong miết thật chặt quanh miệng nắp lọ, dán kín miệng lại rồi cất sâu vào ngăn đáy của chiếc hòm thuốc bằng gỗ trắc.

Nhận thấy ánh mắt băn khoăn của Tầm đang dõi theo từng động tác của mình, nàng ngẩng đầu lên, khẽ giải thích:

“Tôi giữ lại mẫu nước này để mang về phòng thuốc thử nghiệm thêm liều lượng. Cần phải tìm ra ngưỡng chịu đựng chính xác của cơ thể con người đối với nguồn nước rỉ ra từ vùng đất có rễ Tức Căn sinh sống. Đất có thể bớt độc dần theo thời gian, nhưng nước lọc qua rễ cây dù trong suốt đến đâu vẫn có thể còn sót lại độc tính vi mô. Người uống vào ở mức độ nào thì an toàn, lượng bao nhiêu thì không tổn thương phế thận, điều đó phải có số liệu thử nghiệm rõ ràng, không thể phỏng đoán bừa bãi bằng mắt thường.”

Nói đoạn, Đào Nguyệt dừng tay lại, ngước nhìn thẳng vào mắt Tầm.

Ánh mắt nàng lúc này không còn vẻ xa cách, lạnh lùng hay sự đề phòng ngấm ngầm của một người làm nghề y đối với những kẻ buôn thần bán thánh hay đám tu sĩ cậy tài khoác lác. Trong đáy mắt trong veo, phẳng lặng ấy ánh lên sự tin cậy chân thành, một sự tôn trọng lặng lẽ nảy sinh giữa hai con người cùng can đảm đối diện với sự thật trần trụi, nghiệt ngã của đời sống mà không chịu cúi đầu trốn chạy.

“Sáng nay anh làm đúng lắm, Mộc Tầm.” Nàng khẽ nói, thanh âm nhẹ nhàng như một ngọn gió sớm: “Người đời trong cơn tuyệt vọng thường thích bám víu vào những điều kỳ diệu hoang đường. Họ có thể oán trách, hờn giận anh vì đã nhẫn tâm đập tan một giấc mộng cứu rỗi hão huyền. Nhưng trong cơn bạo bệnh, một sự thật tàn nhẫn bao giờ cũng cứu được nhiều mạng sống hơn là một lời hứa hẹn dối trá ngọt ngào.”

Tầm khẽ gật đầu, tảng đá đè nặng trong lồng ngực anh suốt từ lúc rạng sáng dường như được nhấc bỏ một nửa:

“Cảm ơn cô Nguyệt. Nếu sáng nay cô và bà giáo không mang theo hòm thuốc tới kịp thời, cháu thực sự không biết phải làm cách nào để giải thích cho bác Nghi và bà con hiểu ra chân tướng sự việc.”

Bùi Sương cất chiếc bọc vải chứa hai nửa nốt rễ độc vào sâu trong túi áo choàng rộng thùng thình. Bà vung chiếc gậy mun lên, vỗ nhẹ một cái rõ đau vào bả vai rắn rỏi của Tầm:

“Đừng có đứng đấy mà thở phào vội con ạ! Liệu cái thần hồn mà ghi chép cẩn thận từng biến chuyển của mầm cây vào cuốn sổ tao đã đưa hôm qua. Ba cữ mỗi ngày: sáng sớm, đứng trưa và chập tối, không được phép bỏ sót một chữ, một nét nào đâu đấy! Đi thôi Nguyệt, sương tan rồi, còn mấy thang thuốc giải độc cho đám trẻ con xóm Dưới chưa giao xong đâu.”

Đào Nguyệt khẽ gật đầu chào Tầm, khoác lại chiếc quai da của hòm thuốc lên vai rồi cất bước đi theo sau bóng lưng thẳng tắp của người dược sư già.

Hai bóng người một già một trẻ khuất dần sau rặng râm bụt mờ sương, để lại trong khoảng sân tĩnh mịch một làn hương thảo mộc thanh đạm, ấm áp thoang thoảng bay trong gió sớm.

Tầm đứng lại bên miệng Giếng Cạn một mình.

Mặt trời bắt đầu nhô cao khỏi rặng núi Thanh Lộ sừng sững ở phía chân trời xa xôi, xé toạc màn sương mù xám đục thành từng mảng tro trôi dạt vô định. Những tia nắng đầu ngày vàng nhạt, rực rỡ rọi thẳng xuống miệng giếng đá rêu phong, xua tan đi cái lạnh lẽo thấu xương của đêm tàn.

Tầm ngồi xổm xuống mép giếng, ánh mắt lướt qua những thớ đá xám xịt phủ đầy bụi khoáng.

Bệnh phổi tro của lão Bát và của mẹ anh vẫn chưa thể chữa lành ngay tức khắc. Món nợ khổng lồ của Vạn Thạch Hành vẫn như một lưỡi dao sắc treo lơ lửng trên đầu hai anh em. Nguy cơ về những nốt rễ độc tích tụ trong tương lai mà bà giáo vừa cảnh báo vẫn là một bài toán hóc búa chưa có lời giải đáp...

Thế nhưng, ngay trên vành đất ẩm ướt sát mép đá miệng giếng—nơi giọt nước rỉ lọc qua rễ Tức Căn hôm qua vô tình rớt trúng—những hạt cải dại mục nát tưởng chừng đã chết khô tự bao giờ bỗng cựa mình thức giấc sau chuỗi ngày dài chôn vùi trong bùn độc.

Giữa nền đất xám xịt cằn cỗi, hai lá mầm bé xíu bằng hạt gạo vừa tách lớp vỏ hạt khô nứt trồi lên. Chúng xanh biếc, mỡ màng, tràn trề nhựa sống, kiêu hãnh vươn thẳng về phía ánh mặt trời buổi sớm mai mà không hề vướng một đốm tro tàn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories