Nộp Đơn Bằng Gì
Tiếng bạc vụn va leng keng trong đáy bao vải thô khi Mộc An dốc toàn bộ chỗ tiền chắt bóp bao năm qua lên mặt chiếu rách.
Âm thanh kim loại chạm vào nhau không giòn giã mà đùng đục, khô khốc như tiếng sỏi cọ vào đáy chum rạn. Những mẩu bạc xám xỉn, góc cạnh nham nhở vì từng bị kìm sắt bấm vụn qua tay biết bao đời con buôn, rơi lả tả xuống những sợi cói đã tước xơ, chen lẫn giữa hàng chục đồng tiền đồng mòn vẹt cả gờ nổi. Một luồng sáng vàng vọt, ngái ngủ hắt qua khe liếp nứa chiếu xiên vào mớ kim loại còm cõi, làm bốc lên thứ mùi gỉ đồng chua lét quyện chặt với mùi vải đay ẩm mốc tích tụ từ góc chiếc rương gỗ mục ở buồng trong.
Mộc Tầm đứng như chôn chân bên mép giường. Ánh mắt anh dán chặt vào từng mẩu kim loại nằm trơ trọi trên manh chiếu xơ xác. Anh nhận ra lai lịch của từng mẩu một.
Góc bên trái là đồng tiền đồng khắc bốn chữ Cảnh Hưng Thông Bảo đã sứt mất góc viền ngoài, vết sứt nham nhở để lộ cốt đồng đỏ quạch bên trong; đó là thù lao cho ba đêm trắng Mộc An ngồi dưới ngọn đèn dầu lạc khét lẹt, nắn nót chép từng trang khế ước thuê mướn phu khuân vác cho lão chủ thuyền buôn muối ở bến sông Đục. Góc bên phải là mẩu bạc vụn xám đen chỉ nhỉnh hơn hạt đậu xanh, mép còn hằn sâu vết răng bấm thử tuổi bạc của tay cai thu mua dược liệu; đó là thành quả của cả tháng trời nàng trèo lên những vách đá tai mèo dựng đứng ngập sương muối hai năm trước, móng tay bật máu bới từng búi rễ hoàng liên phơi khô giấu trong kẽ áo mang về. Từng đồng, từng vụn kim loại này đều thấm đẫm mồ hôi, da thịt và những cơn ho rũ rượi trong đêm lạnh của đứa em gái chưa đầy mười tám tuổi.
"Chỗ tiền này..." Cổ họng Mộc Tầm thắt nghẹn lại, khô khốc như có một nắm tro xỉ chẹn ngang thanh quản. Bàn tay đầy vết chai nứt nẻ vì bới đất của anh run rẩy, vô thức giật lùi về phía sau như sợ chạm vào thứ gì quá đỗi thiêng liêng và cay đắng. "Đây là tiền muội dành dụm suốt ba năm qua... tiền lộ phí để vượt núi mà."
"Phải, là tiền mua đường sống cho hai anh em và mẹ."
Mộc An không ngẩng đầu lên. Mười đầu ngón tay khẳng khiu, xước xát của nàng thoăn thoắt gạt những đồng xu mòn thành từng cụm tròn ngay ngắn, mỗi cụm mười đồng, động tác dứt khoát và chuẩn xác đến lạnh lùng.
"Năm mươi sáu tiền đồng, hai lượng ba phân bạc vụn. Em đã tính đi tính lại hàng trăm lần trên nền đất buồng trong rồi. Nếu ba mẹ con nhịn ăn nhịn uống, mỗi ngày chỉ nuốt một nắm cám rang với nước lã, số tiền này vừa vặn đủ nộp thuế đinh vượt trạm gác phía nam, mua được hai chỗ ngồi chật chội trên chuyến xe la của phường buôn cỏ khô vượt đèo Thạch Môn. Nhưng anh hai, anh thử nghĩ cho cùng xem, chúng ta vượt núi rồi sẽ đi đâu?"
Nàng dừng tay lại. Những ngón tay mảnh dẻ đè chặt lên đống bạc xỉn màu. Mộc An ngước mắt lên nhìn thẳng vào mặt anh trai.
Dưới vầng trán lấm tấm mồ hôi lạnh, đôi mắt nàng thâm quầng sau những đêm dài thức trắng canh chừng mực nước rỉ dưới đáy giếng, nhưng sâu trong con ngươi lại rực lên một ngọn lửa ngoan cường đến thảng thốt—thứ lửa cay đắng được tôi luyện từ bùn đất, đói nghèo và sự cùng quẫn, tỉnh táo đến mức tàn nhẫn:
"Mẹ đang nằm thở dốc từng cơn trong buồng kia kìa. Phổi mẹ đã đông cứng thành đá xỉ sau mười mấy năm hít phải bụi lò luyện đan và trọc tức từ bãi xỉ quặng trôi xuống. Liệu mẹ có chịu nổi ba dặm đường đèo gió rét cắt da cắt thịt không? Bước chân ra khỏi cái lòng chảo Hạ Khê này, ba mẹ con chúng ta là gì? Là lũ dân lưu tán không điền tịch, không hộ khẩu, không có lấy một tờ giấy bảo lãnh của hương lý. Đống tiền còm cõi này chỉ đủ nộp phí qua ba trạm quan lộ. Đến cửa ải thứ tư, khi túi vải rỗng không, mẹ sẽ kiệt sức mà chết rũ bên bờ hào ngoài cửa ải, xác vùi không nổi manh chiếu rách. Còn em với anh? Chúng ta sẽ bị nha binh xích cổ lôi thẳng vào các trại quặng sâu trong hẻm đá, làm phu dịch không công đến khi rữa xương nát thịt. Ôm đống bạc vụn này mà cắm đầu bỏ chạy chẳng phải là tìm đường sống, anh hai à, đó chỉ là đổi một cái chết tức tưởi lấy một cái chết nhục nhã từ từ mà thôi."
Mộc Tầm siết chặt hai nắm đấm, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay nứt nẻ đến rớm máu tươi, nhưng nỗi đau thể xác chẳng thấm tháp gì so với sự giằng xé trong lồng ngực. Từng lời, từng chữ của Mộc An như những lưỡi dao rọc giấy xé toạc ảo mộng trốn chạy mà anh vẫn thầm nuôi nấng bấy lâu nay.
Hình ảnh gương mặt nhờn nhợt, lạnh lùng của Tống Khuê buông lời đe dọa tại trạm Bến Tro; cảnh tượng những nhánh rễ non trắng nõn của mầm rễ lạ bốc khói đen rồi rũ liệt thành đống xơ xác dưới áp lực hút kiệt linh khí; tiếng ho khan quặn thắt ruột gan của người mẹ già từ góc buồng tối tăm cứ dội ra từng chặp... Tất cả dồn dập đè nặng lên vai anh như cả khối núi đá sụp đổ.
"Thà cược một lần để giữ lấy đất," Mộc An dằn từng tiếng một, giọng nàng đanh lại như thép nguội. Đôi bàn tay nhỏ bé gom toàn bộ số bạc vụn và tiền đồng trên mặt chiếu, dốc ngược trở lại vào chiếc túi vải thô rồi giật mạnh dây gai thắt nút thật chặt. "Em không chạy nữa. Cầm số tiền này lên thẳng huyện nha Bình Xuyên đệ đơn. Đóng lệ phí nộp đơn, đóng phí lục bạ điền trạch, đóng phí đóng dấu quan trát. Chúng ta đem tính mạng ra cược xem cái mầm cây Tức Căn dưới đáy giếng và đám ruộng bãi bồi Thạch Nê có thể cứu sống mười hai nóc nhà này hay không. Giữ được đất, giữ được giếng nước thì chúng ta còn rễ để bám, còn đường mà sống. Còn một khi đã mất đất, mất sạch nguồn nước, thì dẫu có ôm mười lượng bạc trong tay cũng chỉ biến thành mồi béo cho lũ lục lâm ngoài đèo xâu xé."
Mộc Tầm nhìn chằm chằm vào chiếc bao vải thô phồng lên một góc nham nhở trong tay em gái. Một luồng nhiệt khí nóng rẫy bỗng trào dâng từ tận đáy lòng, xua đi nỗi sợ hãi tê dại đã bám riết lấy anh suốt bao ngày qua. Anh hít một hơi thật sâu, đón lấy chiếc túi nặng trịch, cẩn thận luồn dây gai buộc chặt vào thắt lưng thô quanh bụng.
"Được. Chúng ta đi Bình Xuyên."
***
Rạng sáng hôm ấy, khi bóng tối mịt mùng vẫn còn trùm kín lòng chảo Hạ Khê và màn sương xám ngậm đầy trọc tức còn quấn chặt lấy những rặng gai xơ xác ở đầu làng, hai bóng người đã lặng lẽ rời khỏi xóm Giếng Cạn.
Trước khi đi, Mộc Tầm đã sang gian chòi của Lê Cẩn, giao phó cẩn thận việc trông nom mầm cây mẹ dưới đáy giếng và điều phối máng tre hứng nước rỉ cho tổ an toàn. Mười hai người đàn ông trong xóm luân phiên cầm gậy gộc túc trực quanh bờ giếng suốt ngày đêm, mắt trũng sâu vì thiếu ngủ nhưng tay chưa từng buông lọn dây kéo gàu. Bà giáo Bùi Sương cùng Đào Nguyệt đã dọn sang ở hẳn gian ngoài nhà Mộc Tầm, nhóm lửa sắc liên tục những ấm thuốc rễ cỏ thơm hái quanh miệng giếng để giữ hơi thở thoi thóp cho mẹ anh.
Trong bọc vải bạt khoác chéo sau lưng Mộc Tầm, ngoài túi tiền lộ phí, còn có những thứ mà đối với anh còn quý hơn cả sinh mạng: một ống nứa bánh tẻ nút chặt bằng sáp ong đựng mẫu đất đen ẩm mượt mới được hồi sinh quanh miệng giếng; một chiếc bình gốm nhỏ niêm phong cẩn thận chứa thứ nước rỉ ngọt mát không vướng chút vị đắng chát của xỉ than; cuốn sổ tay làm bằng giấy bổi ố vàng ghi chép tỉ mỉ từng ngày quan trắc mực nước của Hội giữ đất; và dưới cùng là bản trích lục điền bạ cũ rách mép, ố vàng loang lổ vết nước mưa từ thời cha anh còn khai khẩn bãi Thạch Nê.
Huyện nha Bình Xuyên nằm tít bên ngoài lòng chảo, cách Hạ Khê gần hai ngày đường cuốc bộ men theo con đường quan lộ hướng bắc. Đó là hai ngày ròng rã đầy đọa thể xác lẫn tinh thần.
Càng rời xa lòng chảo Hạ Khê, địa hình càng nâng dần lên, đất đai hai bên đường bớt đi màu xám xịt của tro xỉ, bắt đầu lác đác những vạt cỏ xanh còi cọc mọc chen giữa sỏi đá. Thế nhưng, đất trời càng bớt cằn cỗi thì chướng ngại do con người dựng lên lại càng dày đặc như mạng nhện giăng bẫy thú.
Cứ đi được chừng mười lăm dặm, một trạm kiểm soát lâm thời lại lù lù hiện ra chắn ngang những hẻm núi hiểm trở. Những trạm này do Huyện nha Bình Xuyên phối hợp cùng Thanh Lộ Tông dựng lên dưới danh nghĩa "phòng ngừa gian tế và kiểm soát lưu dân", nhưng thực chất quyền sinh sát trong tay lại thuộc về những gã đệ tử ngoại môn áo lam của sơn môn. Những cây cọc gỗ thiết mộc to bằng bắp đùi cắm sâu xuống lòng đường lởm chởm đá hộc, nối với nhau bằng những sợi xích sắt rỉ sét to bản khóa chặt lối đi độc đạo. Bên cạnh trạm gác luôn dựng sẵn một dãy lán gỗ tạm bợ, nơi nhốt những người không có tiền nộp phí qua trạm, tiếng rên xiết vọng ra rợn cả người.
Tại trạm kiểm soát Khe Cửa Chùa—cửa ải hiểm trở nhất chắn ngang khe núi đá vôi xám ngoét—hàng dài người tị nạn đói rách, quần áo tả tơi đang quỳ mọp dưới lớp bụi đường dày cộp, van nài đám lính canh mở xích.
"Tất cả lũ lưu dân nghe cho rõ!" Một tên đệ tử ngoại môn Thanh Lộ Tông mặc trường bào màu lam nhạt, vạt áo dắt thanh kiếm ngắn vỏ đồng, tay cầm chiếc la bàn bằng gỗ đào viền đồng thau, đứng dạng chân trên bệ đá cao, giọng quát the thé xé toạc bầu không khí khô khốc của buổi trưa hè. "Người rời lòng chảo đi về hướng bắc nộp ba mươi tiền đồng hoặc một phân vụn linh thạch! Kẻ nào mang theo hàng hóa nông sản, dược liệu hay quặng thô, thuế quan tăng gấp đôi! Kẻ nào không tiền, quay đầu về lòng chảo mà bới xỉ, hoặc ký vào văn tự phu dịch ba năm cho mỏ đá!"
Mộc An nhanh tay kéo vạt áo Mộc Tầm lùi lại một bước, khẽ ấn vai anh xuống để tránh ánh mắt soi mói của đám sai nha. Nàng hít sâu một hơi, chủ động bước lên trước rào xích sắt, cúi đầu thật thấp, hai bàn tay run rẩy dâng lên một bọc vải nhỏ chứa năm mươi tiền đồng—số tiền đã bị bớt xén mất gần một nửa số đồng xu trong túi vải thô chỉ sau hai trạm gác dọc đường.
"Bẩm tiên sư đại nhân," Giọng Mộc An cất lên nhỏ nhẹ, cung kính đến mức khúm núm. "Hai anh em tiện dân từ xóm dưới lên huyện nha nộp đơn về việc điền hộ gia đình, trong bọc chỉ có chút lương khô qua đường và đơn từ, tuyệt đối không có hàng buôn hay dược liệu quý. Cúi xin tiên sư rủ lòng từ bi khai ân cho chúng con được qua trạm."
Tên đệ tử khẽ hừ mũi một tiếng qua kẽ răng. Hắn chẳng thèm nhìn vào mặt Mộc An, chỉ vung đầu chuôi kiếm gạt mạnh bọc tiền đồng sang cho tên lính lệ huyện nha đứng cạnh ghi sổ, rồi đưa mắt quét một lượt từ đầu đến chân Mộc Tầm, dừng lại hồi lâu ở bọc vải bạt căng phồng sau lưng anh.
"Cởi bọc ra!" Hắn hất hàm ra lệnh.
Mộc Tầm nén chặt cơn giận đang sôi trào trong ngực, cắn răng cởi bọc vải bạt đặt lên mặt bàn gỗ mấp mô. Tên đệ tử cầm chiếc la bàn tầm mạch loại ba trong tay, rê chậm rãi bên trên bọc hành lý.
Chiếc la bàn này vốn là pháp khí thô thiển chuyên dùng để truy tìm khoáng thạch hạ phẩm và phát hiện tu sĩ cấp thấp lén mang linh thảo trốn thuế. Khi mũi kim bằng sắt từ lướt qua vị trí ống nứa đựng mẫu đất ẩm của Tức Căn, huyền châm bên trong đột ngột giật giật hai nhịp ngắn ngủi, xoay tròn nửa vòng rồi đứng khựng lại. Không hề có kim quang lóe lên, cũng chẳng có làn sương mù linh khí mỏng manh nào bốc ra. Thứ lực dao động của mầm rễ lạ vốn phân tán, hỗn tạp và chìm sâu dưới tầng trọc tức của bùn đất thối rữa, hoàn toàn nằm ngoài ngưỡng cảm ứng của một pháp bảo dò tìm thông thường.
"Hừ, toàn tro rác xơ xác với bùn sình thối hoắc, một tia linh khí cặn bã cũng không có." Tên đệ tử bĩu môi, vẻ mặt lộ rõ vẻ khinh bỉ tột cùng. Hắn nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống lớp bụi đá ngay sát mũi giày rách của Mộc Tầm. "Cút qua mau! Lề mề làm bẩn cả mắt ta, cản trở lối đi của xe tải quặng Vạn Thạch Hành!"
Hai anh em vội vã cúi đầu, gom vội bọc hành lý rồi bước nhanh qua khe hở của dây xích sắt vừa được nới lỏng.
Dọc theo sườn dốc phía sau trạm gác, đập vào mắt Mộc Tầm là cảnh tượng thê lương đến buốt óc. Những gia đình nông hộ kiệt quệ ngồi bệt bên rãnh nước cạn khô trơ đáy, ánh mắt đờ đẫn vô hồn vì thiếu hai đồng tiền lẻ nộp phí mãi lộ. Những đứa trẻ còi cọc, bụng ỏng đít teo nằm co quắp dưới bóng râm cằn cỗi của mấy gốc du khô, mẹ chúng vừa gạt nước mắt vừa quỳ lạy van xin một tên quản sự của đoàn buôn mua đứt văn tự bán mình của đứa con gái lớn để lấy một tấm thẻ tre thông trạm.
Cái nghèo đói và sự bóc lột của sơn môn không chỉ giam cầm con người trong lòng chảo đầy tro xỉ; nó đã bủa vây, đan dệt thành một tấm lưới vô hình nhưng chắc đặc, bóp nghẹt mọi ngả đường sinh tồn của những kẻ thấp cổ bé họng.
Đến chiều muộn ngày thứ hai, khi đôi chân Mộc Tầm đã sưng phù, rớm máu vì những mảnh đá dăm sắc lẹm đâm thủng đế dép cói, và đôi môi Mộc An khô khốc nứt nẻ từng vệt rỉ máu vì khát nước, hai anh em mới lê bước đến trước cổng thành huyện nha Bình Xuyên.
Khác xa với cảnh tượng hoang tàn, u ám ngập trong bụi xỉ của vùng lòng chảo Hạ Khê, huyện thành Bình Xuyên sừng sững hiện ra với những bức tường đá xám kiên cố cao hơn hai trượng. Mặt đường lát những phiến đá tảng xanh bóng loáng vì vết chân người qua lại; hai bên phố xá tấp nập những quán trà bốc khói nghi ngút, mùi thức ăn thơm lừng, tiếng ngâm thơ cùng mùi mực nho tao nhã từ các thư viện, hiệu sách phả ra ngạt ngào. Nhưng sự trù phú, nhộn nhịp ấy đối với hai kẻ áo rách tả tơi, chân bám đầy bùn đất như anh em họ lại lạnh lùng, xa cách và đầy vẻ đe dọa.
Hai anh em nép sát vào chân tường đá rêu phong, tránh né những cỗ xe ngựa sang trọng lướt qua, lần mò tìm về phía cửa đông của nha môn—nơi đặt Điền bạ Ty và phòng lưu trữ án tích huyện hạt.
***
Phòng lưu trữ huyện nha là một gian nhà đá thấp lè tè nằm khuất sau dãy hành lang dài hun hút, không khí nơi đây ẩm thấp và lạnh buốt khác thường. Bước chân qua ngưỡng cửa gỗ lim mục nát, mùi giấy bổi mốc meo nồng nặc lập tức xộc thẳng vào mũi, hòa lẫn với mùi hăng hắc của bột băng phiến chống mối mọt và lớp muội đèn dầu lạc tích tụ hàng chục năm trên những bức tường đá xám xịt.
Giữa những chiếc giá gỗ lim khổng lồ cao chạm xà nhà, chất ngất ngưởng hàng nghìn tập hồ sơ, sổ sách buộc bằng dây gai đã ngả màu vàng vọt, một người phụ nữ trạc bốn mươi tuổi đang ngồi cặm cụi bên chiếc bàn con bằng đá thô.
Bà mặc chiếc áo dài bằng vải thô nhuộm màu chàm sẫm, hai cổ tay áo được bó gọn gàng bằng những dải băng vải đen, mái tóc hoa râm búi chặt sau gáy cài một chiếc trâm tre mộc mạc không chút hoa văn. Trên mặt bàn đá chỉ có một nghiên mực đá đen nhánh đã mòn lõm lòng chảo, một ống bút bằng đồng thau và một chiếc kính phóng đại tròn viền đồng có tay cầm ngắn. Đó chính là Thư lại Lưu Tố—người đã ngồi lì ở góc phòng ẩm thấp này suốt hai mươi năm, cai quản toàn bộ sổ điền bạ, khế ước khai khoáng, văn tự thế chấp và hồ sơ tranh chấp đất đai của toàn bộ phủ Bình Xuyên qua ba đời quan tri huyện.
Tiếng dép cói mòn vẹt của Mộc Tầm lê trên nền đá phát ra âm thanh sột soạt ngập ngừng.
Lưu Tố không buồn ngẩng đầu lên. Ngòi bút lông thỏ trong tay bà vẫn thoăn thoắt chấm mực, đưa những nét chữ chân phương, sắc sảo và ngay ngắn xuống trang sổ ghi chép ngạch thuế vụ mùa thu.
"Hết giờ thụ lý việc công của thứ dân rồi." Giọng bà khô khốc, đều đều và lạnh lẽo như tiếng nước rỉ từng giọt xuống đáy chum đá bỏ hoang. "Nếu muốn nộp đơn xin phát chẩn lương thực hay xin hoãn dịch phu phen mùa lũ, sang sảnh phụ bên hữu, nộp đơn kèm hai mươi tiền lệ phí vào hòm gỗ rồi về nhà chờ trát gọi sau ba mươi ngày."
"Thưa Lưu thư lại đại nhân," Mộc An cất tiếng. Giọng nàng khàn đặc vì hai ngày liền chỉ nhấp vài ngụm nước lã, nhưng từng âm tiết thốt ra lại rành rọt, dứt khoát đến kỳ lạ. "Anh em chúng tôi không đến đây để xin chẩn bần, cũng không đến để xin hoãn dịch. Dân đinh thuộc xóm Giếng Cạn, tổng Hạ Khê, xin nộp đơn thỉnh cầu huyện nha công nhận tình trạng cứu nạn khẩn cấp, bảo hộ hiện trạng đất nông nghiệp đang tự phục hồi, và xin cấp trích lục chứng nhận linh mạch non mới xuất hiện để ngăn chặn việc sơn môn tự ý phong tỏa nguồn nước canh tác."
Ngòi bút lông trên tay Lưu Tố khựng lại ngay giữa không trung.
Một giọt mực đen tròn xoe, nặng trĩu đọng lại ở đầu ngọn lông thỏ, rơi tõm xuống mặt giấy trắng tinh, loang ra thành một chấm tròn sẫm màu như vết máu khô.
Lưu Tố từ từ đặt bút lông gác lên chiếc giá sứ hình rặng núi. Bà ngước đôi mắt thâm sâu, mí sụp nhưng ánh nhìn sắc như dao cau lên, chằm chằm soi xét hai kẻ lạ mặt vừa bước vào. Ánh mắt bà lướt qua manh áo vá chằng vá đụp bám đầy bụi tro xám của Mộc Tầm, dừng lại vài giây ở chiếc túi vải thô lép kẹp bên hông Mộc An, rồi cuối cùng hạ xuống tờ đơn viết vội bằng mực đen trên giấy bổi thô mà Mộc An đang run rẩy nhưng kiên quyết đặt lên mép bàn đá.
Bà vươn những ngón tay gầy guộc, thô ráp cầm tờ đơn lên ngang tầm mắt. Ánh mắt Lưu Tố quét nhanh qua từng dòng chữ ngay ngắn nhưng nét bút đầy uất nghẹn do chính tay Mộc An chấp bút dưới ánh đèn dầu đêm trước.
Bỗng nhiên, Lưu Tố bật cười.
Tiếng cười ngắn ngủn, khô khốc và tràn ngập sự mỉa mai vang vọng giữa những kệ sách ẩm mốc. Bà buông lỏng ngón tay, tờ giấy bổi mỏng manh rơi phịch xuống mặt bàn đá lạnh ngắt.
"Lũ ngu xuẩn. Tự bện thòng lọng chui đầu vào rọ mà còn ngỡ mình vừa tìm được đường sống."
Mộc Tầm nhíu mày, lồng ngực phập phồng vì nghẹn uất. Anh bước dấn lên nửa bước, chắp tay nói:
"Thư lại đại nhân, lời này của người có ý gì? Chúng tôi có trích lục điền bạ gốc của cha ông để lại, có đất đai thực tế đang hồi sinh từng ngày, có nước ngầm ngọt mát trở lại dưới đáy giếng hoang, lại có chữ ký và điểm chỉ bằng máu của mười hai hộ dân đồng lòng. Luật pháp của triều đình xưa nay đều có điều khoản bảo hộ phàm nhân khai hoang phục hóa, chẳng lẽ quan phủ lại làm ngơ trước mạng sống của trăm con người?"
"Luật triều đình bảo hộ đất cấy lúa, chứ không bảo hộ linh mạch!" Lưu Tố đột ngột cao giọng, từng lời sắc như roi mây quất thẳng vào mặt Mộc Tầm.
Bà đứng phắt dậy, hai tay khoanh chặt trước ngực, vóc dáng gầy gò dưới tấm áo chàm bỗng toát ra một uy lực sắc bén của kẻ nắm giữ toàn bộ văn tự pháp lý trong bóng tối. Bà chỉ ngón tay khẳng khiu về phía dãy giá gỗ lim cao ngất phía sau lưng, nơi có những cuốn sách bọc da bò dày cộp mang dấu triện son đỏ chót:
"Các ngươi viết cái gì trong lá đơn này đây? Hở? 'Phát hiện mạch khí lạ', 'xin công nhận linh mạch non', 'bảo hộ quyền khai thác mạch nước ngầm thanh sạch có chứa linh tức'! Các ngươi có biết cái phủ Bình Xuyên này suốt một trăm năm qua vận hành theo bộ luật nào không?"
Bà bước vòng qua bàn đá, dằn từng tiếng vào mặt hai anh em:
"Theo 'Phủ quy Địa Mạch' do Tiên môn Sự vụ ty cùng Tổng đốc phủ ban hành từ năm Cảnh Hưng thứ mười lăm, phàm là tất cả linh mạch, mạch quáng thô, suối ngầm mang linh khí dù là tự nhiên hay nhân tạo phát sinh trên địa phận phủ hạt, quyền tài phán và quyền phân bổ tuyệt đối thuộc về Tiên môn Sự vụ ty! Nếu lá đơn ngu ngốc này của các ngươi được phòng nha môn này đóng dấu thụ lý theo diện 'phát hiện linh mạch mới', thì theo điều lệ hiện hành, Tri huyện Ngô Trực không có quyền giữ lại mà buộc phải chuyển toàn bộ hồ sơ gốc sang cho Chấp sự phòng của Thanh Lộ Tông xử lý trong vòng đúng ba ngày!"
Lưu Tố cười gằn, khóe môi giật giật đầy cay đắng:
"Đến lúc ấy, Thanh Lộ Tông cần gì phải tốn công dùng khế ước nợ nần để ép các ngươi điểm chỉ nữa? Chính quyền phủ huyện sẽ tự tay dâng toàn bộ quyền phong tỏa, quyền điều phối dòng chảy và quyền tịch thu đất đai cho Tống Khuê dưới danh nghĩa 'tiếp quản tài nguyên tu tiên theo phép công'! Các ngươi mang giọt nước ngọt duy nhất nuôi sống cả làng dâng tận miệng cọp đói, rồi còn ảo tưởng mình đang đi tìm công lý của nha môn sao?"
Từng lời nói của Lưu Tố như sét đánh ngang tai. Mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lưng áo Mộc Tầm, thấm qua lớp vải bạt lạnh buốt vào da thịt. Anh sững sờ quay sang nhìn em gái. Mộc An cũng biến sắc, mặt nàng trắng bệch không còn một giọt máu, hai bàn tay siết chặt lấy vạt áo thô đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.
Họ đã quá ngây thơ. Ở tận cùng đáy vực sâu của lòng chảo, nơi chữ nghĩa là thứ xa xỉ và luật lệ chỉ hiện hình qua những cú roi của lính tuần, họ cứ ngỡ mang hai chữ "linh mạch" ra ánh sáng sẽ khiến quan phủ coi trọng mà cử người xuống cứu tế. Nào ngờ, chính cái danh xưng lấp lánh linh khí ấy lại là chiếc thòng lọng pháp lý siết chặt cổ cả làng nhanh nhất, tước đoạt nốt chút quyền hạn còm cõi của quan huyện phàm nhân đối với đất đai của họ.
Không một giây do dự, Mộc An lập tức quỳ sụp xuống nền đá ẩm lạnh, hai đầu gối chạm mạnh xuống mặt sàn phát ra tiếng cộp khô khốc. Nàng dập đầu thật sâu trước chiếc bàn đá của nữ thư lại:
"Xin thư lại đại nhân chỉ điểm đường sống!"
Mộc An run rẩy mở chiếc túi vải thô bên hông, hai tay dốc cạn toàn bộ hai lượng ba phân bạc vụn xám xịt cùng những đồng tiền đồng mòn vẹt còn lại lên mặt bàn đá, đẩy về phía Lưu Tố. Những mẩu bạc vụn va vào nghiên mực lanh lảnh.
"Chúng tôi là lũ dân đen hèn mọn dưới đáy vực, mắt chỉ nhìn thấy cục đất, tay chỉ biết bới bùn tìm củ khoai cọng rau, không thấu tỏ luật lệ tầng tầng lớp lớp của chốn quan trường. Chúng tôi sai rồi! Xin đại nhân rủ lòng thương, chỉ cho mười hai nóc nhà ở Hạ Khê một con đường để sống sót qua cơn đại nạn này!"
Lưu Tố cúi đầu nhìn đống bạc vụn lem luốc, méo mó nằm ngổn ngang cạnh nghiên mực đen nhánh. Đôi mắt sắc lạnh của bà khẽ dao động. Một thoáng xót xa, thương cảm mờ nhạt lướt qua đôi đồng tử sâu thẳm, rồi rất nhanh chóng bị sự lạnh lùng, nghiêm nghị thường nhật che lấp hoàn toàn.
Bà không hề đưa tay chạm vào đống tiền bạc ấy. Lưu Tố chỉ thở dài một tiếng thật khẽ, bờ vai gầy khẽ chùng xuống dưới lớp áo chàm, rồi bà vung tay áo gạt phắt tờ đơn cũ của Mộc An sang một bên góc bàn.
"Đứng dậy đi. Cầm lấy bút." Lưu Tố lạnh lùng ra lệnh, giọng nói tuy vẫn khô khốc nhưng đã bớt đi phần cay nghiệt. "Muốn sống sót trước móng vuốt của tiên môn và sự tắc trách của nha môn, việc đầu tiên các ngươi phải học là: biết cách dùng ngòi bút mà xé nhỏ kẻ thù ra trên mặt giấy!"
***
Mộc An vội vàng đứng dậy, quệt vội giọt nước mắt vừa ứa ra nơi khóe mi. Nàng đón lấy cây bút lông thỏ cán trúc cùng một tập giấy công văn bằng giấy bổi loại dày mà Lưu Tố vừa kéo ra từ ngăn kéo dưới gầm bàn đá.
"Tách bộ hồ sơ ngu xuẩn này ra làm ba phần riêng biệt."
Lưu Tố vừa tự tay cầm thỏi mực Tùng Yên mài đều tay vào nghiên đá, vừa trầm giọng chỉ bảo, từng lời nói của bà chuẩn xác, khúc chiết như lưỡi dao của viên đao phủ:
"Thứ nhất: Tờ đơn đầu tiên, đề tên rõ ràng: 'Đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện hữu và ghi nhận hoa lợi thực tế'. Viện dẫn chính xác Điều mười bốn của bộ Khâm định Điền trạch Luật lệ triều đình ban hành. Trong toàn bộ lá đơn này, các ngươi chỉ được phép dùng các cụm từ: 'đất nông nghiệp hoang hóa được nông hộ tự lực cải tạo', 'nguồn nước ngầm thẩm thấu tự nhiên không độc tố'. Tuyệt đối không được để xuất hiện một chữ 'linh' nào! Không có 'linh mạch', không có 'linh thảo', không có 'tiên tuyền'! Ở Hạ Khê các ngươi chỉ có rau cải, ngô khoai và bùn đất!"
Bà gõ ngón tay gầy guộc xuống mặt bàn:
"Tại sao phải làm vậy? Vì ruộng đất canh tác thuần túy là quyền tài phán tuyệt đối của Huyện quan Ngô Trực! Bổng lộc, thành tích quan lộ và sự đánh giá của triều đình đối với một viên Tri huyện phụ mẫu không nằm ở việc nịnh bợ tiên môn, mà nằm ở ngạch thuế đinh, thuế điền và những bản báo cáo khẩn hoang thành công nộp lên bộ Hộ mỗi dịp cuối năm. Giữ được cái danh nghĩa đất nông nghiệp phàm trần, các ngươi mới giữ được Quan huyện đứng về phía mình, biến ông ta thành chiếc khiên chắn hợp pháp đối trọng lại lòng tham của sơn môn!"
Ngón tay Mộc An run lên trong thoáng chốc, rồi nhanh chóng ghì chặt cán bút. Từng dòng chữ son sắt, rành mạch tuôn chảy dưới ngòi bút lông, kết hợp hoàn hảo giữa những hiểu biết về văn tự mà nàng từng học lỏm được ở bến sông Đục với sự dẫn dắt sắc bén của người đàn bà đã thuộc làu luật lệ suốt hai mươi năm.
"Thứ hai," Lưu Tố dừng tay mài mực, ánh mắt hướng về phía chiếc bình gốm nhỏ và ống nứa Mộc Tầm mang theo. "Lập tờ đơn thứ hai: 'Đơn khiếu nại hành vi xả thải gây hại mùa màng và làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt dân sinh'. Đối tượng bị khiếu nại đích danh: Ban quản lý công trình dẫn nước và các cửa cống xả thượng nguồn của Thanh Lộ Tông đặt tại Khe Táng Thủy."
Bà chỉ tay vào chiếc bình gốm:
"Đưa mẫu nước trong ngọt niêm phong bằng sáp ong và mẫu đất phù sa phục hồi của các ngươi ra đính kèm. Không kiện bọn chúng tội cướp đoạt linh khí hay bức tử rễ thần, mà kiện bọn chúng xả cặn lò đan dược và nước rửa quặng bẩn thỉu làm chết rụi hoa màu, đầu độc nguồn nước uống của phàm nhân dưới hạ du! Đây là tranh chấp dân sự về thiệt hại mùa màng thuần túy. Chiếu theo Thiết luật Triều đình định ra từ ba trăm năm trước: Tiên môn tu hành có quyền thu nạp thiên địa linh khí, nhưng nghiêm cấm việc trực tiếp tàn sát phàm nhân và phá hoại nông vụ ngoài phạm vi phong thổ sơn môn. Có lá đơn này, Quan huyện Ngô Trực buộc phải lập hồ sơ hiện trường để xác minh việc ô nhiễm môi sinh, không ai có thể tự tiện bưng bít."
Mộc Tầm vội vã rút chiếc bình gốm nhỏ cùng ống nứa đặt ngay ngắn bên cạnh tờ đơn thứ hai. Nước rỉ từ rễ Tức Căn trong vắt, tĩnh lặng như gương, đối lập hoàn toàn với một chiếc lọ sứ nhỏ khác chứa lớp cặn đen ngòm, hôi nồng mùi lưu huỳnh mà anh đã cẩn thận múc từ rãnh xả Khe Táng Thủy mang theo để làm bằng chứng.
"Còn thứ ba," Ánh mắt Lưu Tố lóe lên một tia giận dữ lạnh băng khi nhìn sang Mộc An. "Vừa rồi ngươi nói chi nhánh Vạn Thạch Hành dùng khoản nợ thế chấp vườn thuốc để ép siết đất và dọa cắt đứt đường vận chuyển lương thực?"
"Bẩm đúng," Mộc An cắn môi đáp, cổ tay nàng vẫn thoăn thoắt đưa những nét chữ sắc sảo xuống trang giấy thứ ba. "Tên quản sự Đỗ Kính áp dụng mức phạt lãi kép hai phần mười trên tổng số nợ cũ, cộng dồn cả tiền phạt quá hạn một lượng hai tiền trước đó. Chúng tự ý nâng tổng nợ lên mười hai lượng bạc trắng và ba viên linh thạch hạ phẩm, ép toàn bộ mười hai nóc nhà phải ký khế ước độc quyền giao nộp rễ cây và giao quyền kiểm soát giếng nước cho chúng."
"Lũ kền kền hút máu." Lưu Tố nghiến răng buông một lời mắng hiếm hoi, khuôn mặt vốn điềm đạm của bà co giật nhẹ. "Đỗ Kính ỷ vào việc dân xóm núi các ngươi mù chữ, không biết luật lại khiếp sợ uy thế tu sĩ nên mới dám làm càn! Bộ Điền trạch Luật lệ của phủ quy định rõ như ban ngày: Mọi khoản vay mượn có thế chấp điền trạch giữa thương nhân và nông hộ phàm nhân, mức tiền phạt quá hạn tối đa không được vượt quá một phần mười nợ gốc ban đầu, và nghiêm cấm tuyệt đối hành vi tính lãi mẹ đẻ lãi con! Tờ đơn thứ ba của các ngươi là: 'Đơn tố cáo hành vi cho vay nặng lãi và tính sai lệch biểu lãi suất của chi nhánh Vạn Thạch Hành'. Đòi hỏi huyện nha can thiệp, phát trát đình chỉ ngay lập tức mọi hành vi siết đất để chờ đối chiếu với sổ bộ lưu trữ gốc tại Điền bạ Ty!"
Trong gian phòng đá ẩm mốc nồng nặc mùi giấy cũ, tiếng ngòi bút lông cọ sột soạt trên mặt giấy bổi dày vang lên gấp gáp, hòa cùng tiếng thở dồn dập của ba con người. Chưa đầy nửa canh giờ, ba lá đơn khiếu nại đã hoàn thành.
Mực đen đậm nét, từng câu chữ đanh thép, viện dẫn rành rọt từng điều, từng khoản trong các bộ luật cổ xưa của vương triều. Ba lá đơn ấy đã tài tình xé toạc một âm mưu tranh đoạt linh mạch huyền bí thành ba vụ việc hành chính trần tục nhưng mang đầy sức nặng ràng buộc pháp lý không thể chối cãi: bảo hộ quyền đất canh tác nông nghiệp, khiếu nại ô nhiễm hủy hoại mùa màng, và tố giác gian lận tín dụng bóc lột dân đinh.
Mộc Tầm nhìn ba bản công văn nằm ngay ngắn trên bàn, trong lòng dâng lên một nỗi kính phục vô hạn trước trí tuệ và sự tinh tường của người nữ thư lại già nua này. Những thứ xiềng xích pháp lý tưởng như bóp nghẹt họ, qua bàn tay bà, bỗng chốc hóa thành những mũi giáo sắc bén chĩa ngược lại kẻ thù.
Thế nhưng, Lưu Tố vẫn chưa dừng lại ở đó.
Bà đứng lặng nhìn ba lá đơn một lúc, rồi khẽ quay người, bước chầm chậm về phía góc trong cùng của phòng lưu trữ—nơi những giá gỗ lim chìm sâu trong bóng tối dày đặc, được che phủ bởi một tấm bạt bằng sợi gai thô dày cộp phủ đầy bụi bặm.
***
Lưu Tố đưa tay kéo tấm bạt gai sang một bên. Một đám bụi mốc bay mù mịt dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu.
Bà với tay lấy chiếc chìa khóa đồng gỉ sét đeo lủng lẳng bên hông, cẩn thận gạt then cài của một chiếc hòm gỗ sơn son đã tróc vỡ từng mảng lớn. Đôi bàn tay gầy guộc lục tìm hồi lâu giữa hàng chồng hồ sơ phủ bụi, cuối cùng lôi ra một tập văn bản dày cộp bọc bằng da cừu cũ kỹ, các góc bìa đã bị mối gặm nham nhở.
Trên lớp da thuộc ố vàng, hàng chữ Hán thếp vàng đã mờ nhạt theo năm tháng vẫn còn lờ mờ hiện rõ: *Bản sao Đối chiếu Khế ước Khai thác Địa Mạch ngàn năm — Niên hiệu Khai Sơn thứ ba*.
Lưu Tố châm thêm một ngọn đèn dầu lạc nữa, đặt tập hồ sơ da cừu xuống mặt bàn đá, ngay cạnh ba lá đơn vừa viết xong.
Bà lật giở từng trang giấy dày cộp, giòn rụm vì thời gian, ngón tay lướt qua hàng loạt điều khoản nhượng quyền khai thác quặng, quyền lập kết giới trận pháp của Thanh Lộ Tông, cho đến khi lật tới một tờ giấy phụ lục mỏng kẹp rời ở phần gáy phía sau cùng.
Đó là một tờ giấy tuyên chỉ viết tay, phía dưới đóng một dấu triện vuông vức màu đỏ tươi của vị Tri phủ tiền nhiệm ba mươi năm trước, bên cạnh là chữ ký bằng mực son đặc trưng của Chưởng giáo Thanh Lộ Tông thời bấy giờ.
"Các ngươi nhìn kỹ vào dòng này," Lưu Tố dí đầu ngón tay khẳng khiu vào hàng chữ nhỏ ở góc dưới trang giấy.
Mộc Tầm và Mộc An cùng nín thở ghé sát mắt nhìn theo ngón tay bà.
*Phụ lục Giáp-Tý: Về việc điều tiết thủy văn hạ du. Sơn môn Thanh Lộ Tông được trọn quyền thu nạp địa mạch và đắp đập ngăn dòng Thượng Khê để dẫn nước vào các hồ lắng luyện đan, nhưng có nghĩa vụ tuyệt đối không thể bãi bỏ: phải duy trì lưu lượng xả đáy tối thiểu ba phân nước ngọt mỗi ngày đêm qua các cửa cống tự nhiên, nhằm bảo đảm nguồn tưới tiêu và nước sinh hoạt căn bản cho cư dân sáu xóm thuộc vùng lòng chảo. Nhược bằng đơn phương đóng chặt van xả cắt nước, hoặc xả chất phế thải vượt mức cho phép làm hủy hoại mùa màng hạ lưu, khế ước khai thác sẽ lập tức bị đình chỉ hiệu lực để phủ nha tái xét duyệt toàn diện.*
Lồng ngực Mộc Tầm như ngừng đập. Từng thớ cơ trên mặt anh giật giật vì chấn động.
"Điều khoản này..." Mộc An run rẩy thốt lên, ngón tay nàng lướt nhẹ trên dòng chữ son như không dám tin vào mắt mình. "Bản sao khế ước mà tên Chấp sự Tống Khuê ném ra giữa trạm thu mua Bến Tro... hoàn toàn không có trang phụ lục này! Hắn chỉ đưa ra các điều khoản về quyền hạn phong tỏa dòng chảy của sơn môn!"
"Dĩ nhiên là không có." Lưu Tố cười khẩy, trong ánh mắt bà lóe lên sự khinh miệt sâu sắc. "Mười lăm năm trước, khi địa mạch trên núi bắt đầu có dấu hiệu suy kiệt vì sự khai thác vô độ của các lò luyện đan, Chấp sự phòng của Thanh Lộ Tông đã đệ trình lên huyện nha một bản 'tu chính khế ước' mới. Bọn chúng đã khéo léo 'bỏ quên' trang phụ lục cấp nước này khỏi bản lưu thông hành. Bọn chúng lấy cớ sửa chữa đập chứa, nạo vét hồ lắng để dần dần siết chặt lưu lượng nước ngọt xả xuống lòng chảo, biến giọt nước sinh tồn thành công cụ ban ơn và ép buộc phàm nhân quỳ gối. Bản chính lưu giữ tại Tiên môn Sự vụ ty từ lâu đã bị lũ mọt giấy 'vô tình' đục thủng đúng ngay góc có điều khoản này rồi."
Bà khẽ dùng lòng bàn tay vuốt phẳng nếp gấp của trang giấy da cũ:
"Chỉ có gian phòng lưu trữ ẩm mốc này của ta là còn giữ lại bản sao đối chiếu có đầy đủ dấu triện gốc này mà thôi. Tống Khuê dám ngông cuồng ra tối hậu thư ba ngày cắt sạch nước ngọt của các ngươi ư? Hắn tưởng cả cái huyện Bình Xuyên này không còn ai nhớ đến cái nghĩa vụ căn bản này sao? Hắn đang vi phạm trắng trợn bản khế ước nền tảng mà chính tổ sư hắn đã cúi đầu ký kết với chính quyền phàm nhân để đổi lấy quyền lập sơn môn!"
Nói rồi, Lưu Tố nhanh nhẹn lấy ra một tờ giấy dó mỏng, dùng ngòi bút lông chấm mực son đỏ, đồ lại từng nét chữ của trang phụ lục cấp nước. Bà cầm con dấu đồng hình vuông của phòng lưu trữ huyện nha, dằn mạnh một dấu triện giáp lai đỏ chót đè lên mép tờ giấy sao lục, rồi kẹp chặt nó vào tập hồ sơ ba lá đơn khiếu nại vừa hoàn thành.
Làm xong mọi việc, bà quay sang nhìn đống tiền bạc của Mộc An vẫn nằm nguyên trên bàn.
Lưu Tố thò tay nhặt đúng mười lăm đồng tiền đồng mòn vẹt, thả từng đồng vào chiếc hòm gỗ thu lệ phí của nha môn phát ra những tiếng cộc cộc khô khốc, rồi dùng ống tay áo gạt toàn bộ số bạc vụn và số tiền đồng còn lại về phía Mộc Tầm.
"Cất hết chỗ bạc này đi. Lệ phí đệ nộp ba lá đơn theo ngạch luật triều đình chỉ mất đúng mười lăm tiền đồng. Số bạc vụn này, các ngươi cầm về mà mua lương khô, sắm thêm xẻng cuốc cho dân làng đào mương khơi rãnh, nắn dòng nước độc xả từ trên núi xuống. Đừng để cả làng chết đói chết khát trước khi đoàn kiểm tra của quan huyện về tới nơi."
Mộc Tầm run rẩy ôm lấy túi bạc vụn vào lòng bàn tay. Hai hốc mắt anh nóng bừng, cay xè. Anh lùi lại hai bước, quỳ rạp người xuống nền đá, dập đầu ba cái thật mạnh:
"Ơn cứu mạng này của thư lại đại nhân, mười hai hộ dân xóm Giếng Cạn chúng tôi trọn đời trọn kiếp khắc cốt ghi tâm!"
"Đừng vội tạ ơn ta," Lưu Tố thản nhiên xua tay, xoay người lại với chiếc bàn đá, nét mặt bà thoắt cái đã trở về vẻ lạnh băng, xa cách như lúc ban đầu. "Ta chỉ làm tròn bổn phận của một kẻ giữ sổ bạ đã già nua. Quan huyện Ngô Trực không phải là hạng thanh quan dám liều mạng đứng mũi chịu sào vì lũ dân đen các ngươi đâu. Để xem... ông ta dám đặt bút ký đến mức độ nào."
***
Lưu Tố ôm tập hồ sơ dày cộp bước qua cánh cửa ngách, đi sâu vào khu nội đường của huyện nha.
Mộc Tầm và Mộc An bị giữ lại bên ngoài, phải đứng chờ giữa sân đá mênh mông, lạnh buốt của nha môn. Đêm mùa thu buông xuống nhanh chóng, bóng tối nuốt chửng những mái đao cong vút rêu phong của các dãy công đường. Gió núi từ phía bắc thổi về từng cơn lạnh buốt thấu xương, nhưng mồ hôi sau lưng Mộc Tầm vẫn túa ra ướt đẫm manh áo rách.
Anh biết, từng giây từng phút trôi qua lúc này đều đang định đoạt số phận của cả xóm Giếng Cạn. Số phận của mầm cây Tức Căn đang bám rễ dưới đáy giếng, hơi thở thoi thóp của người mẹ già trong buồng tối, và tính mạng của hơn một trăm con người đang nằm trọn trên chiếc bàn trà của viên Huyện quan bên trong cánh cửa gỗ lim then cài kín mít kia.
Hơn một canh giờ trôi qua trong sự im lặng căng thẳng đến nghẹt thở. Tiếng mõ cầm canh từ chòi gác đầu thành thỉnh thoảng lại vọng lại từng hồi uể oải.
Cánh cửa ngách nội đường bỗng cọt kẹt mở ra.
Lưu Tố chầm chậm bước ra ngoài sân đá, vạt áo chàm bay phần phật trong gió đêm. Trên hai tay bà nâng một tập giấy công văn mới tinh, phía dưới góc nổi bật một dấu triện son hình vuông to bản còn ướt mực đỏ của Tri huyện Bình Xuyên.
Bà bước đến trước mặt hai anh em đang đứng chết trân vì hồi hộp, đưa tập giấy ra:
"Quan huyện Ngô Trực sẽ không ra gặp mặt các ngươi. Ông ấy là mệnh quan của triều đình, không thể công khai tiếp kiến những dân đinh đang có sự vụ tranh chấp trực diện với Chấp sự của tiên môn."
Trái tim Mộc Tầm thắt lại, chùng xuống một nhịp đau đớn. Nhưng Lưu Tố lập tức cất giọng tiếp, thanh âm đanh thép lạ thường:
"Nhưng ông ấy đã ký tên và đóng dấu quan trát. Đây là 'Phiếu thụ lý vụ việc tranh chấp dân sự về điền trạch và ô nhiễm nguồn nước canh tác'. Kèm theo đó là Giấy hẹn đích thân Quan huyện và Điền bạ Ty về xác minh thực địa tại xóm Giếng Cạn sau năm ngày nữa."
Mộc An run rẩy vươn hai tay đón lấy tờ công văn. Dưới ánh trăng mờ nhạt đầu tháng, dấu triện son đỏ rực của Huyện nha Bình Xuyên in rành rành trên nền giấy trắng tinh.
Tờ công văn nêu rõ: Huyện nha chính thức tiếp nhận thụ lý đơn khiếu nại của các hộ dân Hạ Khê về việc hoa màu bị hủy hoại do nguồn nước ô nhiễm từ Khe Táng Thủy; đồng thời ghi nhận đề nghị xác minh diện tích đất nông nghiệp tự cải tạo theo Điều mười bốn Điền trạch luật. Quan huyện ra lệnh giữ nguyên hiện trạng đất đai và tài sản thế chấp trong thời gian chờ đoàn kiểm tra của huyện về thực địa, nghiêm cấm mọi hành vi cưỡng chế siết nợ hoặc tự ý phong tỏa, ngăn chặn nguồn nước sinh hoạt trái với phụ lục cấp nước đã được lưu trữ trong văn khố phủ!
"Năm ngày?" Mộc Tầm giật thót mình, nhìn trân trân vào con số ghi trên giấy hẹn. "Nhưng... nhưng tối hậu thư của Tống Khuê chỉ có ba ngày! Đêm mai bọn chúng sẽ xả toàn bộ cặn đáy của lò luyện đan, và đến trưa ngày mốt chúng sẽ khóa chặt van cống cắt hoàn toàn nước ngọt!"
"Tờ giấy này là công văn hành chính, không phải là pháp bảo có thể đỡ được phi kiếm của tu sĩ," Lưu Tố nhìn thẳng vào mắt anh, ánh mắt nghiêm khắc chưa từng thấy. "Quan huyện cho các ngươi một chiếc khiên pháp lý để Tống Khuê và Đỗ Kính không thể danh chính ngôn thuận mượn danh nghĩa luật pháp của phủ mà đè bẹp các ngươi. Nhưng nước độc xả xuống từ đỉnh núi hay van nước bị khóa chặt, các ngươi phải tự dùng đôi bàn tay này, dùng xẻng cuốc, dùng máu và mồ hôi của chính mình mà chống cự lấy trong hai ngày tới!"
Bà chỉ tay về phía trời nam mịt mùng:
"Nếu sau năm ngày nữa, khi đoàn nha môn cưỡi ngựa xuống đến nơi mà đất đai của các ngươi đã biến thành một bãi bùn chết thối rữa, mầm cây của các ngươi đã cháy thành tro xỉ, thì tờ phiếu thụ lý này cũng chỉ là một tờ giấy lộn vứt vào sọt rác mà thôi! Hiểu rõ chưa?"
Từng lời nói của Lưu Tố như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Mộc Tầm, dập tắt chút ảo tưởng non nớt cuối cùng về sự che chở tuyệt đối từ quan phủ. Pháp lý đã mở ra một khe cửa hẹp ngàn cân treo sợi tóc, nhưng mạng sống thì phàm nhân vẫn phải tự mình giằng co với đất trời hung hiểm và lòng người tàn độc.
"Tiểu dân đã hiểu." Mộc Tầm cúi đầu thật sâu, hai tay nâng niu tờ công văn có dấu triện đỏ, cẩn thận bọc nó vào ba lớp vải dầu chống nước rồi nhét sâu vào trong ngực áo, áp chặt vào da thịt nóng rẫy. "Đa tạ Lưu thư lại đại nhân cứu mạng!"
Không chần chừ thêm một khắc nào, hai anh em quay phắt người, lao vút vào màn đêm mịt mùng của quan lộ, bắt đầu cuộc chạy đua nghẹt thở với thời gian để trở về lòng chảo Hạ Khê.
***
Họ không dám dừng lại nghỉ ngơi dù chỉ nửa khắc suốt dọc chặng đường quay về.
Vừa đi vừa chạy thục mạng, băng qua những con dốc đá dựng đứng trơn trượt trong đêm tối, lách qua những trạm gác đêm lạnh lẽo bằng những bước chân trần tóe máu trên đá nhọn. Ruột gan hai anh em nóng như có lửa đốt khi nghĩ về thời hạn xả cặn lò đan của Thanh Lộ Tông đang đếm ngược từng canh giờ trên đầu mười hai nóc nhà xóm Giếng Cạn.
Đến trưa ngày hôm sau, khi đôi chân Mộc Tầm đã rã rời đến mức không còn cảm giác, hai đầu gối run rẩy chực quỵ xuống và toàn thân bám đầy một lớp bụi đất đỏ quạch, hai anh em cuối cùng cũng nhìn thấy rặng cây gai quen thuộc ở lối vào lòng chảo Hạ Khê.
Thế nhưng, bước chân vội vã của cả hai đột ngột khựng lại giữa đường dốc.
Cổng làng dẫn vào xóm Giếng Cạn đã hoàn toàn biến dạng.
Một hàng rào bằng những cọc gỗ vạt nhọn hoắt vừa mới được đóng sâu hoắm xuống nền đất thịt, chắn ngang toàn bộ con đường độc đạo dẫn vào xóm. Hơn chục gã gia đinh và phu quặng vạm vỡ, ngực trần để lộ những vết sẹo ngang dọc, tay lăm lăm gậy gộc bọc sắt và xẻng lớn, đang đứng dàn hàng ngang bịt kín lối đi.
Trên chiếc cọc gỗ cao nhất dựng ngay giữa tim đường, một lá cờ vải thô màu đen nhánh thêu huy hiệu hình bánh xe đá nghiền quặng của Vạn Thạch Hành đang phần phật bay trong gió núi xám xịt.
Ở phía bên kia hàng rào cọc nhọn, tiếng phụ nữ khóc lóc thảm thiết, tiếng gầm thét phẫn nộ của Trịnh Bách và tiếng gậy gộc va vào nhau chan chát vang lên dữ dội, xé toạc bầu không khí oi nồng, ngột ngạt của trưa hè.