Người Máy Biết Làm VườnCh.12 / 30
Chapter 12

Người thợ và cỗ máy

Tiếng kim loại nghiến ken két khô khốc vang lên từ khớp gối trái của Gió giữa trưa nắng gắt, kéo theo một tiếng cạch đanh gọn khiến cỗ máy đổ quỵ xuống luống đất vừa cày dở.

Mặt đất pha cát xốp lún sụt dưới sức nặng hơn một tạ của thân sắt. Những hạt bụi mịn màu nâu xám bốc lên một làn mỏng trong quầng sáng chói chang của ban trưa. Trên thân cỗ máy, chiếc quạt tản nhiệt rít lên từng hồi gấp gáp, cố tống hơi nóng tích tụ từ khối pin LiFePO4 cũ kỹ ra ngoài. Một vệt dầu nhờn sẫm màu, pha lẫn bụi xám đục, ứa ra từ vòng đệm cao su đã rách nát của khớp gối trái, nhỏ giọt xuống đám cỏ chân vịt đang héo rũ.

Cái nắng tháng năm ở dải đất duyên hải An Hải như rót chì lỏng xuống từng thớ đất cằn. Luống cày mà Gió đang vỡ dở mới chỉ đi được hai phần ba chiều dài thửa vườn sau mép rào dâm bụt. Lưỡi cày bằng thép rèn thủ công vẫn còn găm ngập một nửa dưới rãnh đất pha cát xám ngoét, trơ ra những cụm rễ cỏ tranh đứt đoạn và những vỏ ốc biển vụn vỡ từ thời bãi bồi còn chìm dưới triều rút. Khối động lực của Gió khẽ rùng mình; từ khoang tản nhiệt sau lưng, tiếng mô-tơ điện phụ trợ rên rỉ những âm sắc méo mó, nghẹt thở vì không khí chung quanh quá khô cằn và đặc quánh hơi muối.

`[CẢNH BÁO HỆ THỐNG: KHỚP TRỤC TRÁI L-03 KHÓA CỨNG]` `[MÔ-MEN XOẮN QUÁ TẢI: 320% ĐỊNH MỨC VẬN HÀNH]` `[DÒNG ĐIỆN ĐỘNG CƠ BƯỚC: 18.4A — NGUY CƠ CHÁY CUỘN DÂY STATOR]` `[TRẠNG THÁI: TỰ ĐỘNG CẮT NGUỒN CẤP ĐỘNG LỰC CHI DƯỚI]`

Mắt quét quang học của Gió chớp giật liên hồi, sắc xanh lục dịu mát ban nãy thoắt cái chuyển sang sắc hổ phách cảnh báo. Cỗ máy thử gập ống chân lại theo chu trình hồi phục mặc định của hệ điều hành AgriCore 4.2. Thế nhưng, thay vì chuyển động trượt êm ái, bên trong khớp chỉ phát ra những tiếng *rắc, rắc* ghê rợn, tựa như hai phiến đá mài kẹp chặt lấy những viên sỏi vụn. Muối biển An Hải tích tụ qua hàng trăm ngày dầm dãi nắng gió, kết hợp với cát thạch anh siêu mịn từ bãi bồi thổi vào, đã len lỏi qua lớp phớt chắn bụi mục nát. Dưới nhiệt độ vận hành cao và độ ẩm mặn mòi, chúng kết tinh thành một lớp cặn cứng như đá hoa cương, nghiền nát vòng cách và làm vỡ vụn các viên bi thép tôi cao tần của ổ trượt đời cũ.

Những hạt cát ở vùng bãi ngang này không tròn cạnh như cát sông phù sa. Chúng là kết quả của hàng vạn năm sóng biển xé nát vỏ sò, san hô và đá hoa cương trên các rạn ngầm ngoài khơi rồi đập vỡ vụn dạt vào bờ cát. Dưới kính lúp kiểm định, từng hạt cát An Hải đều có vô số cạnh sắc như những mảnh thủy tinh vỡ li ti. Khi lớp mỡ bôi trơn công nghiệp gốc lithium nguyên bản bị hơi ẩm mặn làm thoái hóa, biến tính thành một thứ bột nhão dính dính như hồ gạo thiu, những hạt tinh thể silicat ấy đã đóng vai trò của thứ bột mài công nghiệp tàn bạo nhất. Chúng gặm nham nhở từng rãnh lăn tôi cứng của vòng bi cầu hai dãy, bào mòn lớp xi-mạ crôm bảo vệ, và cuối cùng, trong cú xoay chuyển hướng gập chân để tránh gốc cây tràm cằn cỗi, toàn bộ cụm giảm tốc trục hành tinh đã tự khóa chặt chính nó vào một khối vụn sắt nén chặt.

Minh đang ngồi xổm bên mép mương đất, tay cầm đoạn vòi nước nhựa định rửa trôi bùn đất trên đôi ủng, giật bắn mình khi nghe tiếng đổ sụp nặng nề. Anh quăng vòi nước xuống bờ cỏ, để mặc dòng nước mát đục ngầu phù sa chảy tràn vào rãnh đất khô nứt nẻ, rồi lao vụt qua mấy luống cải non vừa tỉa:

"Gió! Đứng yên, đừng cố gượng dậy!"

Minh quỳ sụp xuống bên luống đất cày dở, đầu gối dính đầy bùn ướt. Lớp vải quần bò mỏng manh lập tức thấm đẫm hơi nóng hầm hập bốc lên từ mặt đất cát. Anh rút phắt chiếc máy tính bảng chẩn đoán dã chiến ra khỏi túi đeo hông, cắm sợi cáp quang giao tiếp bọc cao su chịu nhiệt vào cổng bảo trì sau gáy robot. Những dòng dữ liệu tuôn chảy dồn dập trên màn hình phản chiếu ánh nắng gay gắt:

``` > DIAGNOSTIC: KINETIC FAILURE > JOINT: L-KNEE-REDUCTION-GEAR > STATUS: MECHANICAL JAMMED (100%) > RESISTANCE: INFINITE ```

"Chết tiệt thật..." Minh nghiến răng, những ngón tay gõ lia lịa lên bàn phím ảo. Ánh nắng trưa như thiêu như đốt dội thẳng xuống gáy khiến mồ hôi túa ra cay xè nơi khóe mắt anh. "Chỉ là lệch tải lệch pha thôi, động cơ bước vẫn còn phản hồi dòng điện... Mày ráng chịu một chút."

Tư duy của một kỹ sư phần mềm thúc bách Minh tìm kiếm lối thoát trong các dòng lệnh. Đối với anh, mọi trục trặc của thế giới nhân tạo này từ trước tới nay đều chỉ là vấn đề của trạng thái logic, của sự sai lệch trong các biến số điều khiển hoặc sự bất toàn của các thuật toán bù trừ. Anh mở trình biên dịch cấp thấp của vi xử lý nơ-ron Khôi-Nguyên 7X — trái tim tính toán mà anh từng kỳ công ghép nối vào khối não bộ già nua của cỗ máy phế liệu. Nhanh chóng, anh viết một đoạn mã can thiệp trực tiếp vào thanh ghi điều khiển dòng điện, tìm cách ép cuộn cảm động cơ bước phát ra một xung lực cực đại ngược chiều trong khoảng ba mươi phần nghìn giây, kết hợp phân bổ lại trọng tâm cơ thể sang chi phải để giật tung điểm kẹt:

`#OVERRIDE-TORQUE-PULSE: EXECUTE (CURRENT = 22A, DURATION = 30MS)`

*Xoẹt! Bụp!*

Một làn khói mỏng khét lẹt bốc lên từ khe hở của bắp chân Gió. Mùi tanh nồng của vec-ni cách điện bị thiêu rát lập tức át đi mùi cỏ cháy. Cỗ máy rung bần bật, thân khung hợp kim chấn động phát ra một tiếng rên u u trầm đục từ tận sâu trong lồng ngực, nhưng cái khớp kim loại vẫn trơ trơ như một khối đá đúc liền. Cát mặn và mảnh vỡ của ổ bi đã nêm chặt vào khe rãnh xoắn, biến cơ cấu chuyển động thành một mối hàn nguội chết ngắc. Mọi nỗ lực can thiệp bằng thuật toán, mọi giải thuật cân bằng động lực học tinh vi mà Minh từng triển khai cho các hệ thống tự hành trên các dây chuyền phân loại kho vận thành phố đều trở nên bất lực và nực cười trước một tổn thương vật lý thuần túy.

Kim loại đã vỡ vụn. Ổ bi đã nát. Không có dòng code nào có thể hàn gắn lại những viên bi thép đã vỡ đôi dưới sức nghiền của hạt cát biển. Chẳng có cấu trúc logic hướng đối tượng nào có thể tái tạo bề mặt tiếp xúc của một rãnh trượt đã bị cày nát thành rãnh sâu hoắm bởi ma sát khô khốc.

"Vô ích thôi... Minh à..."

Loa ngoài của Gió phát ra âm thanh rè rè, âm lượng tự động giảm xuống để tiết kiệm điện tích còn lại trong bình. Màng loa bằng giấy ép pha sợi polyme đã mục theo năm tháng khiến giọng nói điện tử vốn trầm ấm nay đanh lại, thều thào ngắt quãng. Đèn báo lỗi trên trán nó nhấp nháy đều đặn theo nhịp đếm ngược:

"Khớp gối trái... mất chức năng xoay hoàn toàn. Cảm biến lực đo được độ lệch biến dạng vỏ bọc ngoài là 1,8 milimét. Càng tăng xung dòng điện... nguy cơ chập cháy bộ điều khiển động cơ bước càng tăng lên chín mươi hai phần trăm."

Minh buông thõng hai tay, chiếc máy tính bảng rơi cộp xuống nền đất cát. Màn hình cảm ứng lấm lem những vệt bụi mịn li ti bám chặt vào lớp kính cường lực. Lòng bàn tay anh dính đầy dầu nhờn đen sì và những hạt cát lạo xạo. Cảm giác bất lực quen thuộc – thứ cảm giác từng bóp nghẹt anh khi nhìn công ty công nghệ ở thành phố phá sản, khi nhìn những thuật toán cả năm trời xây dựng bị làn sóng trí tuệ nhân tạo thế hệ mới xóa sổ trong chớp mắt – lại một lần nữa trào dâng nghẹn ứ nơi cổ họng. Nhưng lần này không phải là một mô hình vô hình trên máy chủ từ xa, không phải là những dòng chữ báo lỗi trên màn hình LED phòng lạnh, mà là một khối kim loại trần trụi, đang nằm bất động giữa cái nắng chang chang của quê nhà, thở ra những tiếng xì xì thoi thóp của van xả áp nhiệt.

Độ ẩm trưa nay tụt xuống mức cực thấp, chỉ còn hơn bốn mươi phần trăm, khiến hơi nước bốc lên từ những luống đất cày dở tạo thành những làn sóng nhiệt dập dờn như ảo ảnh trên mặt ruộng. Cơn gió biển quạt vào từ phía bến cá mang theo vị mặn chát đặc quánh, thổi tung những sợi tóc bết mồ hôi của Minh vào trán.

"Minh ơi! Thằng Gió nó làm sao thế con?"

Bà Lành lập cập chống chiếc gậy tre đi từ bờ rào dâm bụt lại. Đôi mắt mờ đục của bà mở to đầy lo âu, chiếc nón lá cũ rách vành nghiêng ngả trên mái tóc bạc phơ xác xơ vì gió mặn. Dưới chân bà, đôi dép nhựa mòn vẹt kéo lê trên luống đất cát tạo thành hai vệt dài nông hoét. Nhìn thấy cỗ máy nằm nghiêng trên luống đất, bà run rẩy quỳ xuống bên cạnh, chiếc gậy tre tuột khỏi tay rơi đánh cộp xuống vạt cỏ. Bàn tay khô ráp gầy guộc như rễ cây chìa ra, run rẩy vuốt ve lớp vỏ thép nóng rẫy ở bả vai Gió, nơi lớp sơn màu lam nhạt của nhà sản xuất đã tróc lở từng mảng lớn, phơi ra lớp lót màu đỏ gạch rỉ sét.

"Gió ơi, mày đau ở đâu hả con? Hồi sáng còn bưng mấy thùng nước cho bà tưới vạt dưa, rồi còn gánh phân ra tận góc mương... Sao giờ lại nằm còng queo thế này hả Gió?"

"Nó gãy ổ bi khớp gối rồi bà," Minh nói, giọng khản đặc, vừa bực bội với chính sự bất lực của mình, vừa xót xa đến quặn lòng. "Cát biển lọt vào nghiền nát bấy cái vòng bi bên trong rồi. Con đã cố chỉnh phần mềm để giật nó ra, nhưng không được. Đồ cơ khí hỏng kiểu này thì phần mềm chịu chết."

Bà Lành ngẩng lên nhìn cháu, đôi mắt đùng đục nước dại đi một thoáng, rồi bà ngoảnh đầu nhìn sang con đường liên thôn trải bê tông hẹp chạy ngang qua xóm Cát. Phía bên kia đường, đối diện rặng phi lao đang xào xạc từng chùm kim lá trong gió biển, là căn nhà cấp bốn lợp tôn xi măng cũ kỹ mốc meo, trước cửa treo một tấm biển sắt tây rỉ sét viết nguệch ngoạc mấy chữ sơn đỏ đã bạc màu: *Xưởng cơ khí Bảy Phước — Tiện, hàn, sửa máy nổ, ghe thuyền*.

"Sang... sang tìm ông Phước đi con," bà Lành hấp tấp giục, hai tay bà vẫn giữ chặt lấy cánh tay thép lấm lem bùn đất của Gió như sợ chỉ buông ra là cỗ máy sẽ tan biến mất vào lòng đất cát. "Ông Phước ổng rành đồ sắt này lắm. Máy bơm nước đầu bò, máy tuốt lúa của mấy nhà bên xóm Giữa, rồi mấy cái láp chân vịt tàu cá ngoài bến bị gãy chốt la-vét ổng đều đắp hàn, tiện lại chạy ngon ơ. Ổng sửa được mà! Con chạy sang kêu ổng một tiếng đi con!"

Minh cắn chặt môi, cảm nhận được vị mặn của mồ hôi chảy xuống khóe miệng. Trong đầu anh hiện lên gương mặt quàu quạu, đôi lông mày rậm bạc phếch lúc nào cũng cau có và cái nhìn khinh khỉnh của ông Phước thợ rèn. Mới tuần trước, khi anh ghé qua xưởng mượn chiếc máy đo xung điện cũ để kiểm tra đường truyền tín hiệu từ cảm biến chân, ông già đã ném cái nhìn sắc lẻm như dao cạo, buông một câu ráo hoảnh qua kẽ răng thâm sì khói thuốc: *"Thứ sắt vụn của tụi bay đem về chỉ tổ rác mắt, cát xứ này nó nuốt trôi ba hồi!"*.

Lòng tự ái của một kỹ sư trẻ được đào tạo bài bản từ trường đại học bách khoa đô thị, từng làm việc trong những tòa nhà chọc trời bọc kính cách âm, khiến Minh ngập ngừng. Đi cầu xin một ông thợ thủ công vườn, một người cả đời chỉ biết cầm búa tạ với que hàn điện, người đo độ hở ren bằng móng tay và căn độ phẳng bằng mắt trần, để sửa một cỗ máy tự hành mang chip nơ-ron thích nghi? Làm sao một người thợ nguội miệt biển hiểu được cấu trúc tinh vi của bộ truyền động điều hòa (harmonic drive) tích hợp trong khớp gối robot?

Nhưng rồi Minh nhìn xuống Gió. Đôi mắt quang học màu hổ phách của nó đang khẽ chớp, cụm thấu kính máy ảnh bên trong khẽ xoay nhẹ với tiếng rít cơ học cực nhỏ để lấy nét khuôn mặt đầy nếp nhăn của bà Lành. Cỗ máy không hề có bộ phận mô phỏng cảm giác đau đớn sinh học, nhưng hệ thống tự điều chỉnh thăng bằng vẫn đang cố gắng gửi các tín hiệu điều hòa về cơ thể nó. Cánh tay máy còn lại của Gió khẽ nâng lên từ mặt đất, những khớp ngón tay kim loại run rẩy khép lại, nhẹ nhàng giữ lấy một góc gấu áo bà ba nâu bạc phếch của bà cụ như một phản xạ tìm kiếm điểm tựa cuối cùng trước khi mất hoàn toàn năng lượng.

Thời hạn ba mươi ngày của Thông báo cưỡng chế 104 vẫn đang đếm ngược từng khắc trên bản đồ số của Trạm Dịch vụ Công Nông nghiệp huyện. Minh nhớ như in những con số đỏ lòm trên màn hình: thời hạn kiểm tra thực địa, đánh giá năng lực cơ giới hóa nông hộ, nguy cơ thu hồi mã định danh canh tác nếu không đạt tiêu chuẩn sử dụng thiết bị tự hành được chứng thực. Nếu Gió nằm liệt ở đây, nếu mảnh vườn này không kịp xới đất để xuống giống lứa cải củ chịu mặn trước khi những đợt dông muối tháng Sáu tràn về, nó sẽ chỉ là một khối sắt phế liệu vô thừa nhận. Rồi xe tải của đội thanh tra liên ngành sẽ trờ tới, móc xích sắt kéo lê nó lên thùng xe và ném vào họng máy nghiền băm vụn của trạm tái chế phế liệu liên huyện.

"Bà đợi con một chút," Minh thở hắt ra một hơi dài, buông thõng vai rồi đứng phắt dậy.

Anh chạy xộc vào gian nhà kho củi sau hè, nơi mạng nhện giăng đầy trên những bó củi dương liễu khô khốc. Anh lôi ra chiếc xe rùa sắt cũ mèm, một bên bánh xe bằng cao su đặc đã rạn nứt những đường rãnh sâu và đôi tay cầm tróc sơn loang lổ rỉ sét. Đây là chiếc xe rùa ông Tư để lại từ cả chục năm trước, bà Lành vẫn dùng để chở phân chuồng ủ hoai và những bao đất màu xin từ mé sông về bồi luống.

Minh đẩy chiếc xe cọt kẹt ra vườn. Càng xe rùa rung bần bật trên những gờ đất mấp mô. Anh dừng xe sát mép thân Gió, quỳ một chân xuống làm trụ, luồn hai cánh tay run rẩy xuống dưới nách cỗ máy, gắng hết sức bình sinh để nhấc phần thân trên nặng trịch của nó lên:

"Gió, mày ngắt hoàn toàn nguồn động lực chân đi, dồn hết trọng lượng về trục hông!"

"Xác nhận ngắt động cơ bước," loa ngoài của Gió đáp khẽ, âm điệu bằng phẳng nhưng yếu ớt. "Trọng lượng dồn về khung đáy: 64 kilôgam. Các khớp tự do hoàn toàn."

Minh nghiến răng, gân cổ nổi cuồn cuộn dưới làn da cháy nắng, mồ hôi từ trán nhỏ giọt lã chã xuống nắp ngực kim loại của cỗ máy. Anh kéo lê nửa thân trên của robot, ghì chặt lấy khung vai nó rồi hất mạnh, đặt cỗ máy nằm ngửa gọn vào lòng chiếc xe rùa sắt. Cái chân trái gãy gập, cứng đờ chĩa thẳng ra ngoài thành thùng xe, những hạt cát mịn và mạt rỉ sét màu nâu đỏ từ trong khớp gối vỡ rơi lả tả xuống vệt cỏ chân vịt.

Bà Lành một tay chống chiếc gậy tre run rẩy cắm sâu vào đất cát, một tay vịn chặt vào càng sắt bên phải của xe rùa, cùng Minh vừa đẩy vừa ghìm thăng bằng cho chiếc xe khỏi lật nghiêng dưới sức nặng dồn về một phía.

Hai bà cháu ì ạch đẩy cỗ máy qua cánh cổng gỗ xoan xộc xệch, bước chân trĩu nặng đặt lên mặt con đường bê tông bốc hơi hầm hập dưới cái nắng trưa chang chang. Bánh xe rùa nghiến trên mặt đường trải đá dăm phát ra những tiếng *lét két, lét két* nhọc nhằn, khô khốc. Gió mặn từ bờ biển An Hải thổi thốc qua rặng phi lao, mang theo hơi ẩm nồng nặc và vị chát đắng của muối biển bốc hơi ngấm thẳng vào đầu lưỡi, vào từng lỗ chân lông đang giãn nở.

Cảnh tượng một bà lão lưng còng cắm cúi bước đi, bên cạnh là một thanh niên kỹ sư thất nghiệp mồ hôi nhễ nhại, cùng nhau đẩy một cỗ máy tự hành dập dềnh trên chiếc xe rùa tồi tàn băng qua con lộ làng, trông vừa bi hài, vừa tội nghiệp đến thắt lòng giữa cái tĩnh mịch rợn ngợp của buổi trưa miền biển.

***

Xưởng cơ khí của ông Nguyễn Văn Phước ngập ngụa trong bóng tối nhờ nhờ và mùi vị đặc trưng của kim loại cháy.

Đó là một không gian rộng chừng năm chục mét vuông, lợp mái tôn xi măng fibro xám xịt đã võng xuống vì những mùa bão trước, bốn bề không xây tường gạch kiên cố mà chỉ chắp vá tạm bợ bằng những tấm lưới thép B40 rỉ sét và các thanh ván gỗ xẻ từ thùng hàng container phế liệu. Dưới nền đất nện đen nhánh dầu luyn và nhớt thải qua hàng chục năm là hàng ngàn lớp mạt sắt vụn li ti, dẫm chân lên nghe rạo rạo như đi trên sỏi vụn. Khắp nơi ngổn ngang những block máy nổ diesel một xi lanh cởi trần phơi cuộn dây quấn, những cuộn dây hàn hồ quang cháy dở vương vãi như bối chỉ rối, những trục láp tàu cá to bằng bắp đùi người lớn nằm lăn lóc bên cạnh các chồng đĩa xích gỉ đặc quánh mỡ khô.

*Rè... rè... roẹt! Xoẹt!*

Tiếng máy mài góc rú lên từng chùm chói óc, xé toang không gian ngột ngạt của buổi trưa. Những chùm tia lửa điện màu cam đỏ bắn tung tóe vào vách tôn mục, làm sáng rực lên nửa gương mặt quắt queo, đen đúa vì khói lửa của ông Phước.

Ông đang ngồi xổm trên một chiếc ghế đẩu bằng gỗ con kê sát nền đất, hai bàn tay trần gân guốc cầm chặt chiếc máy mài nặng trịch, miết lưỡi đá mài sắc lẹm vào gờ mép của một cánh chân vịt ghe nang bằng đồng thau. Trên đầu ông là chiếc mũ vải mềm bạc phếch đội lệch về một bên tai, khóe miệng ngậm chặt một mẩu thuốc lá Cẩm Lệ đã tắt ngấm từ lâu, tàn thuốc bám đầy bụi kim loại xám xịt. Mỗi lần lưỡi mài cắn vào thớ đồng, một làn khói hăng nồng lại bốc lên cùng với tiếng rít chát chúa, phản chiếu vào đôi mắt nheo lại đầy vẻ dữ dằn của người thợ già.

Minh dừng chiếc xe rùa sát mép cửa xưởng, hai cánh tay anh mỏi nhừ, run rẩy buông càng xe xuống đất. Chiếc chân chống sắt va vào nền đá dăm đánh *khựng*, anh đứng thở dốc, lồng ngực phập phồng dữ dội. Chiếc áo phông màu xám của anh đã ướt đẫm mồ hôi từ trước ngực ra sau lưng, dán chặt vào da thịt, từng giọt mồ hôi mặn chát nhỏ tong tòng từ cằm xuống nền mạt sắt.

"Chú Bảy ơi..." Bà Lành run rẩy lên tiếng, một tay vịn chặt vào chiếc cột gỗ tràm kê ở góc cửa xưởng để giữ thăng bằng.

Tiếng máy mài góc đột ngột tắt lịm. Động cơ điện giảm vòng tua chậm dần rồi dừng hẳn với một tiếng *u... u* trầm đục như tiếng thở dài của kim loại. Không gian trong xưởng bỗng chốc chìm vào một sự im lặng nặng nề, chỉ còn tiếng ve sầu râm ran từ rặng phi lao ngoài đường dội vào.

Ông Phước kéo chiếc kính bảo hộ dính đầy bụi sắt xám xịt xuống cổ, để lộ đôi mắt kèm nhèm nhưng sâu hoắm và sắc như hai mũi đột tâm của thợ nguội. Ông ngước lên, quét mắt chầm chậm từ chiếc xe rùa sắt mục nát đến nửa thân cỗ máy G-7 đang nằm bất động với chiếc chân trái chĩa ngược lên trời một cách kỳ dị, rồi dừng lại thật lâu trên khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi, đỏ bừng vì nắng và xấu hổ của Minh.

Một nụ cười khẩy thoáng hiện trên đôi môi thâm sì vì khói thuốc của người thợ già. Ông đặt chiếc máy mài xuống mặt một chiếc đe sắt lớn đặt giữa xưởng, đứng dậy, chầm chậm phủi hai bàn tay đầy dầu mỡ đen sì vào chiếc quần bò đã sờn rách tận gối:

"Tao đã nói gì nào? Hử?"

Giọng ông Phước khàn đặc, chua loét và chỏng lỏn như nước ốc ngâm lâu ngày trong chum vại. Ông nhổ toẹt một bãi nước bọt lẫn tàn thuốc xuống nền mạt sắt, bước từng bước nặng nề về phía chiếc xe rùa:

"Hồi đầu mùa đông bà Lành kéo nó về từ bãi rác liên xã, tao đã đứng ngay cổng rào bảo: đem đống rác đó về chỉ tổ chật vườn, nuôi thêm con sâu ăn điện của nhà nước! Cát An Hải này là cát thạch anh pha muối, hạt nó bén hơn mạt đá mài loại một, gió bấc nó quất cho vài bận là ổ bi thành bùn hết! Lúc đó ai gạt phắt đi? Ai bảo công nghệ cao, tự động hóa, bấm nút một cái trên điện thoại là rau tự mọc, lúa tự trổ bông?"

Ông Phước bước lại sát chiếc xe rùa, chiếc ủng bảo hộ bọc thép đã mòn vẹt mũi của ông vung lên, đá gõ *cộp cộp* vào ống giằng chịu lực bằng thép rỗng của chiếc chân trái đang khóa cứng ngắc:

"Gãy khớp trục trượt đời cũ. Con mẹ nó, bạc thau thì mỏng dính chưa đầy hai ly mà đòi vác thùng nước hai chục lít đi trên cát lún. Mấy thằng kỹ sư thành phố tụi bay ngồi phòng máy lạnh mười tám độ, mở cái màn hình phẳng lì ra vẽ ba cái hình ba chiều xanh xanh đỏ đỏ, bấm chuột lia lịa thấy nó chuyển động mượt mà như lụa là tưởng ngon ăn! Tụi bay biết cái mặn của gió biển miền Trung này nó tàn phá kim loại ra làm sao không? Hơi muối nó ngấm qua kẽ hở chỉ bằng nửa sợi tóc, gặp nắng trưa nó kết tinh lại thành tinh thể muối nêm chặt ngàm xoay. Đến lúc đó thì có giời cứu! Phần mềm với chả thuật toán, viết cho lắm chữ lằng ngoằng vào rồi có lập trình cho hạt cát nó biến mất khỏi kẽ bi được không?"

Những lời mỉa mai cay nghiệt như những nhát búa nguội gõ thẳng vào lòng kiêu hãnh của Minh. Mặt anh nóng bừng bừng, hai bàn tay nắm chặt lại bên hông chiếc xe rùa, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực.

Là một kỹ sư phần mềm từng đứng đầu nhóm phát triển thuật toán phân tích hành vi của một công ty khởi nghiệp danh tiếng, từng quen với việc tối ưu hóa hàng triệu dòng lệnh và tự hào về những kiến trúc vi dịch vụ sạch sẽ, việc phải đứng cúi đầu nghe một ông thợ già làng biển mắng xối xả vào mặt là một cú tát đau điếng. Anh muốn cãi lại. Anh muốn bảo rằng cỗ máy này không phải là đống sắt vụn vô tri. Nó đã tự tay dựng lại giàn mướp cho bà Lành sau cơn dông muối tháng trước; nó đã ghi nhớ từng hốc đá, từng bước chân của lũ trẻ trường tiểu học Hải Bình khi chúng ríu rít theo sau xem nó gieo hạt; nó đã tự phát triển những liên kết nhận thức qua mạng nơ-ron cục bộ mà không một cuốn cẩm nang cơ khí cổ điển nào có thể tưởng tượng ra được.

Nhưng khi đưa mắt nhìn xuống vệt dầu nhờn đen ngòm đang rỉ ra từ khớp gối vỡ vụn của Gió, nhìn những mảnh thép vụn sắc lẹm găm chặt vào thớ hợp kim nhôm, Minh nuốt ngược cơn giận vào trong cuống họng. Thực tế vật lý không bao giờ biết nhân nhượng trước sự tự ái. Trong thế giới của kim loại trần trụi, của áp lực hàng tấn và ma sát mài mòn, những lý thuyết suông trên màn hình máy tính hoàn toàn câm nín nếu không có sự am tường sâu sắc về độ bền vật liệu và sự nghiệt ngã của môi trường tự nhiên.

"Chú Bảy..." Minh cất tiếng, giọng anh trầm hẳn xuống, không còn chút bóng dáng nào của vẻ kẻ cả trí thức thành thị, mà chỉ còn sự nhẫn nại của một người đang tìm kiếm một con đường sống cho người bạn đồng hành. "Cháu sai rồi. Cháu đã thử bù tải bằng cách ép xung động cơ bước, nhưng chỉ làm cháy thêm cuộn dây. Ổ bi vỡ nát hoàn toàn rồi. Cát mặn nêm cứng trục quay."

Ông Phước nheo đôi mắt kèm nhèm nhìn thẳng vào Minh, có vẻ hơi bất ngờ trước sự xuống nước đột ngột và dứt khoát của cậu thanh niên. Người thợ già nhíu mày, điếu thuốc trên môi khẽ rung lên.

Bà Lành bước lên nửa bước, hai bàn tay gầy guộc chắp lại trước ngực, giọng bà run rẩy khẩn khoản đến xót xa:

"Chú Bảy... tui biết chú giận tui cứng đầu không nghe lời chú hồi trước. Nhưng con Gió nó... nó có nghĩa lắm chú ơi. Đêm hôm dông muối vừa rồi, nó lấy cả cái thân sắt của nó che giàn mướp cho tui, sáng nay nó gãy chân cũng vì ráng cày cho xong luống đất để kịp gieo hạt giống của xã. Chú thương tình bà cháu tui, chú ngó giùm nó một chút đi chú Bảy. Chú mà không cứu nó, mấy hôm nữa người ta trên trạm dịch vụ về bắt nó đi nghiền nát thành sắt vụn mất..."

Nhìn thấy bà lão bảy mươi tám tuổi, người hàng xóm bao năm qua mỗi bận hái được rổ mướp non hay mớ rau tập tàng đều mang sang treo đầu hồi xưởng cho mình, đang đứng chắp hai bàn tay nhăn nheo khẩn khoản giữa gian xưởng cơ khí lem luốc đầy mạt sắt, ánh mắt cay nghiệt của ông Phước khẽ chùng xuống. Đôi lông mày rậm rạp của ông cau lại, cơ mặt giật nhẹ một cái. Ông quay phắt mặt đi chỗ khác, nhổ toẹt bã thuốc lá xuống nền xưởng rồi gắt gỏng:

"Bà Lành làm cái trò gì vậy! Bỏ cái tay xuống mau! Tui có phải quan lớn hay ông thánh trên bàn thờ đâu mà chắp tay van vái! Rõ nợ đời..."

Ông quay ngoắt sang nhìn Minh, giọng vẫn cộc lốc như búa nện nhưng đã bớt đi vẻ hằn học ban nãy:

"Còn đứng đực mặt ra đó làm gì? Khiêng nó vào bệ gá! Định để ngoài cửa cho ruồi bu kiến đậu hay chờ trời mưa cho rỉ sét hết à?"

Minh thở phào một tiếng rất khẽ trong lồng ngực. Anh cùng ông Phước, một người ôm lấy hai vai bọc thép, một người xốc lấy phần khung đáy nặng nề của Gió, cùng đếm nhịp "Một, hai, ba" rồi hiệp lực nhấc bổng cỗ máy ra khỏi lòng xe rùa. Hai người khiêng nó đặt lên chiếc bệ hàn bằng thép chữ I kiên cố dựng giữa xưởng, nơi mặt bàn thép dày hai phân phẳng lì và vương vãi những vết sỉ hàn đen nhánh.

"Bật cái máy tính của anh lên xem nào," ông Phước vừa nói vừa với tay lấy chiếc mỏ lết răng cỡ lớn từ trên giá treo gỗ mục sau lưng. "Vẽ cái gì thì mở ra đây tao coi. Nói trước, tao không đọc mấy cái mã lệnh lằng ngoằng của tụi bay đâu. Cho tao xem mặt cắt cái khớp gối đó!"

Minh vội vàng mở máy tính bảng, lướt ngón tay gọi ứng dụng thiết kế cơ khí chuyên dụng. Màn hình sáng bừng lên giữa gian xưởng u tối. Những ngón tay của anh lướt thoăn thoắt trên màn hình cảm ứng, nhanh chóng tách bỏ từng lớp vỏ giáp bảo vệ bên ngoài của mô hình 3D dòng máy G-7, phơi bày toàn bộ cụm giảm tốc trục hành tinh và ổ bi đỡ chặn hai dãy tiếp xúc góc nằm sâu bên trong khớp gối.

Ông Phước cúi sát mặt vào màn hình, cặp kính bảo hộ gác ngược lên trán để lộ những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt. Ngón tay trỏ thô ráp, nứt nẻ và đóng chai dày cộp vì mấy chục năm cầm búa nguội của ông chỉ thẳng vào một điểm tiếp giáp then chốt trên bản vẽ:

"Nhìn thấy chỗ này không? Rãnh chứa mỡ bò của tụi Tân Mạch nó làm hở một khoảng dung sai tới nửa ly để cho cái vòng đệm tự lựa co giãn. Ở xứ đất thịt, đất phù sa ngoài đồng bằng thì êm ru, nhưng ở đất cát mặn An Hải này, cái khe đó chính là cái cửa tử! Gió biển nó tống cát hạt mịn vào, mỡ bò quện với cát biến thành bột mài kim loại. Càng chạy, cát càng khoét sâu vào ngàm xoay. Muốn nó sống được ở xứ này, khe hở tiếp xúc này không được vượt quá một phần mười milimét, và phải có hai tầng phớt gạt bụi bằng phíp hoặc cao su chịu dầu ép chặt."

Người thợ già vừa nói vừa lấy một que hàn chưa mồi gõ gõ lách cách lên mặt bàn thép, phân tích rành rẽ từng điểm chịu lực xoắn khi cỗ máy bước đi trên nền cát lún. Minh nhìn chăm chú vào từng điểm mà ông Phước chỉ, một luồng sáng bừng lên trong tư duy kỹ thuật vốn quen với các mô hình trừu tượng của anh.

Những điều ông già cộc cằn này nói không hề có trong bất kỳ tài liệu đào tạo hay cẩm nang bảo trì chính quy nào của hãng sản xuất, nhưng chúng hoàn toàn khớp với các định luật cơ học ứng suất thực nghiệm! Đó không phải là lý thuyết bàn giấy; đó là thứ tri thức được chưng cất từ bốn mươi năm vật lộn với sóng gió, rỉ sét, sự mài mòn và tính khí thất thường của biển miền Trung.

"Cháu hiểu rồi," Minh nói, ánh mắt sáng rực lên vì phấn khích. Những ngón tay anh bay múa trên bàn phím số, trực tiếp phác thảo lại bản vẽ phân bố ứng suất động học của cụm khớp chân. Anh thay đổi thông số dung sai lắp ghép của ngàm giữ trục từ tiêu chuẩn H7/k6 thông thường sang một dải dung sai chặt chẽ hơn nhiều, đồng thời thiết kế thêm một rãnh thoát cát phụ có góc nghiêng 45 độ hướng thẳng xuống mặt đất. "Nếu ta đổi góc vát của gờ chặn này, cát lọt vào sẽ tự động bị lực ly tâm đẩy ra ngoài theo khe thoát mỗi khi cẳng chân vung tới trước!"

Ông Phước nhìn những đường nét kỹ thuật biến đổi nhịp nhàng theo từng thông số mà Minh nhập vào, đôi đồng tử già nua khẽ lay động sau hàng mi bạc phếch. Ông không ngờ thằng nhóc kỹ sư thành phố này lại nắm bắt ý đồ cơ khí của mình nhanh đến thế. Nó không hề cãi cọ theo kiểu sách vở hay tự ái cá nhân, mà đang dùng chính công cụ hiện đại của nó để hiện thực hóa kinh nghiệm thực chiến của một người thợ già làng biển.

"Cũng biết điều đấy..." Ông Phước lẩm bẩm trong miệng, nét mặt căng thẳng giãn ra đôi chút. "Nhưng vẽ cho hay ho trên cái mặt kính phẳng lì đó thì được tích sự gì khi ổ bi bên trong đã nát như tương bần? Giờ kiếm đâu ra ổ bi trượt lòng cầu tự lựa cỡ phi bốn mươi hai của dòng G-7 này? Hãng tụi bay bỏ mẫu tám năm rồi, tiệm ve chai ngoài chợ huyện cũng chả còn lấy một mảnh!"

Minh khựng lại. Lại là bài toán linh kiện thay thế. Trái tim anh chùng xuống như có một tảng đá đè nặng. Bản vẽ có tối ưu đến đâu, góc thoát cát có hoàn hảo đến mức nào mà không có phôi thép, không có ổ bi thay thế thì cũng chỉ là những điểm ảnh vô hồn trôi nổi trên một tấm kính phát quang.

Nhìn thấy vẻ ủ rũ buông xuôi của Minh và đôi mắt rưng rưng đầy sợ hãi của bà Lành đang đứng nép bên mép cửa xưởng, ông Phước thở dài một hơi thật sâu. Ông ném que hàn đánh cạch xuống mặt đe, quay lưng bước về phía góc tối tăm và ẩm thấp nhất của xưởng cơ khí — nơi kê một chiếc bàn nguội bằng gỗ lim đen bóng vì tuổi tác và những lớp dầu mỡ tích tụ qua nửa đời người.

Dưới gầm bàn nguội, lẩn khuất sau những bao tải gai rách rưới chứa bu-lông cũ và các đoạn xích neo gỉ sét, là một chiếc hòm gỗ quân dụng màu xanh ô-liu đã tróc sơn từng mảng, bốn góc bọc đồng thau xỉn màu. Trên nắp hòm khóa chặt bằng một ổ khóa đồng to bản kiểu cổ lỗ sĩ.

Ông Phước rút chùm chìa khóa lủng lẳng bên hông quần, lựa ra một chiếc chìa dẹp bằng thép gió đã mòn vẹt răng, cắm vào ổ. *Cạch.* Tiếng lẫy thép bên trong bật mở vang lên khô khốc, rành rọt.

Minh và bà Lành nín thở dõi theo từng cử động của người thợ già. Ông Phước quỳ một gối xuống nền đất nện, hai bàn tay run run chầm chậm đẩy nắp hòm gỗ ngửa ra sau. Bên trong không hề có vàng bạc, tiền nong hay giấy tờ nhà đất, mà là hàng chục gói đồ cơ khí được bọc cẩn thận bằng nhiều lớp giấy xi măng dầu bóng loáng, xếp ngay ngắn từng ngăn theo kích cỡ. Mùi mỡ bò bảo quản vũ khí và máy móc nồng nặc lập tức bốc lên, đậm đặc và hăng nồng, át hẳn mùi mạt sắt vụn của gian xưởng.

Ông Phước thò hai bàn tay chai sần vào tận góc trong cùng của chiếc hòm, cẩn thận nhấc ra một bọc đồ nặng trịch to cỡ bắp chân người lớn. Ông mang bọc đồ lại bệ hàn, đặt xuống bên cạnh chiếc chân gãy của Gió. Rút chiếc dao trổ sắc lẹm từ túi ngực, ông rạch một đường dứt khoát trên lớp giấy xi măng đã ngả màu ố vàng vì thời gian.

Lớp giấy bung ra. Dưới ánh sáng le lói từ khe nứt của mái tôn xi măng hắt xuống, một cụm cơ cấu cơ khí bằng thép hợp kim sáng bóng ánh lên sắc xanh lạnh lẽo hiện ra, bao phủ bên ngoài là một lớp mỡ bò vàng óng ả nguyên bản, mịn màng và tinh khiết không một tì vết bụi bặm.

"Đây là..." Minh tròn xoe mắt, miệng há hốc, thốt lên kinh ngạc. "Cụm khớp trục dẫn hướng hành tinh của G-7! Hàng nguyên bản của nhà máy!"

"Chính nó," ông Phước nói, giọng ông chùng hẳn xuống, mang một âm hưởng xa xăm của ký ức ba mươi năm trước. "Mười lăm năm trước, lúc xưởng đóng tàu ngoài cửa biển nâng cấp dây chuyền tự động hóa, người ta nhập về một lô robot nông công nghiệp G-7 để kéo cáp điện và vận chuyển phôi thép tấm trong kho cảng. Được mấy năm, máy móc đời mới đổ về, người ta tuyên bố bãi bỏ toàn bộ quy chuẩn cũ, thanh lý rã xác cả dàn. Tao phụ trách đội tháo dỡ linh kiện... Lúc thấy người ta đem mấy con máy còn nguyên xi quẳng vào máy ép phế liệu để băm thành sắt vụn cân ký, tao xót ruột quá. Tao lén giấu lại được một cụm khớp chân nguyên bản này, đem bọc mỡ bò niêm phong cất dưới gầm bàn suốt từ dạo đó tới giờ."

Ông Phước đưa ngón tay quẹt nhẹ một vệt mỡ bảo quản trên trục then hoa, mắt nhìn chăm chú vào từng bánh răng con ăn khớp hoàn hảo với nhau:

"Tao ghét ba cái đồ tự động hóa của tụi bay làm tao với đám thợ già mất việc. Nhưng tao không ghét cái thứ thép tốt này. Thép Crôm-Molipđen tôi nguội đa tầng, gia công chuẩn từng micro-mét. Vứt nó đi cho rỉ sét thì có tội với nghề cơ khí, có tội với trời đất."

Ông ngước lên nhìn Minh, ánh mắt đã trở lại vẻ sắc lạnh đầy uy lực của một bậc thầy thợ nguội:

"Có đồ rồi đấy. Giờ nhấc mông lên mà làm! Tao tháo khớp cũ, mày lau sạch ổ gá. Đừng có đứng đó mà há hốc mồm ngắm nghía!"

"Dạ!" Minh đáp dứt khoát, một luồng sinh khí mới mẻ tràn ngập lồng ngực anh, xua tan mọi mệt mỏi và ủ rũ ban nãy.

Công việc sửa chữa bắt đầu trong nhịp điệu khẩn trương và chính xác tuyệt đối. Không còn khoảng cách hay ranh giới giữa một kỹ sư lập trình phần mềm đô thị và một ông thợ rèn cộc cằn miệt biển, chỉ còn lại hai người thợ đang đem hết kỹ năng và tâm huyết của mình để cứu vãn một sinh mệnh cơ khí.

Ông Phước dùng kìm chết và chiếc tuýp chữ T nới lỏng bốn chiếc bu-lông chân bệ đã bị rỉ sét gặm nham nhở quanh ngàm gối. Những tiếng kim loại cọ xát *két... kịch* vang lên đanh gọn dưới sức vặn dứt khoát của cánh tay già nua nhưng rắn như gân bò. Khi chiếc khớp hỏng rơi xuống khay sắt bên dưới, bên trong ộc ra một nắm bùn đen quánh đặc mùi lưu huỳnh lẫn vô số mảnh bi thép vỡ vụn, sắc nhọn như những mảnh đạn bom bi.

Minh dùng giẻ sạch tẩm đẫm dầu hỏa, cẩn thận lau sạch từng rãnh then hoa trên trục truyền động chính nhô ra từ thân máy của Gió. Anh vừa lau vừa chăm chú quan sát đôi bàn tay của ông Phước. Đôi bàn tay thô kệch, đầy sẹo bỏng và chai sạn ấy khi cầm chiếc giũa mịn hay chiếc pan-me đo ngoài lại chuẩn xác và khéo léo đến kinh ngạc.

Ông Phước dùng giấy ráp mịn đánh bóng lại bề mặt tiếp xúc của ngàm đỡ, loại bỏ sạch sẽ từng vết xước tế vi do mạt cát gây ra. Sau đó, ông lấy một tấm cao su lưu hóa dày hai ly, dùng compa sắt vạch một đường tròn hoàn hảo rồi tự tay dùng đục lỗ tạo bốn lỗ bu-lông chuẩn xác không lệch một phần mười milimét để làm lớp đệm chắn bụi kép theo đúng ý đồ bản vẽ vừa sửa.

"Đưa cụm mới vào!" Ông Phước hô lớn.

Minh hai tay đỡ lấy khối thép hợp kim nặng gần mười lăm cân, lựa khớp then hoa thẳng hàng với trục động cơ bước. *Khập!* Một tiếng kêu chắc nịch vang lên. Cụm khớp trục mới toanh trượt êm ru vào ổ gá như thể nó vốn sinh ra để thuộc về vị trí này. Lớp mỡ bò nguyên bản ép phòi ra ngoài mép gờ, thơm phức mùi dầu mỡ công nghiệp xuất xưởng.

Ông Phước dùng cờ-lê siết chặt từng chiếc bu-lông theo thứ tự hình chữ thập để phân bố đều lực ép lên bề mặt gioăng cao su. Mỗi nhát siết, ông đều dừng lại nửa giây, dùng đầu ngón tay cái cảm nhận độ căng của ren thép:

"Được rồi. Bật máy tính của mày lên, cấp nguồn cho động cơ bước chạy không tải xem nào."

Minh cắm lại cáp kết nối vào gáy Gió, các ngón tay gõ nhịp nhàng những dòng lệnh điều khiển cấp thấp:

`#SYSTEM-BOOT: ACTUATOR-TEST (LEFT-LEG)` `#TORQUE-LIMIT: 20%` `#ROTATION: 0 TO 45 DEGREES`

*Vù... vù...*

Âm thanh êm ru, mượt mà của hệ thống bánh răng hành tinh mới toanh vang lên trong gian xưởng ngổn ngang mạt sắt. Cẳng chân trái của Gió từ từ nâng lên khỏi mặt đất nện, gập lại một góc bốn mươi lăm độ rồi duỗi thẳng ra một cách nhịp nhàng, không hề có một tiếng rít khô khốc hay một độ trễ cơ học nào. Hệ thống cảm biến tải trọng trên màn hình máy tính của Minh lập tức trả về một đồ thị sóng sin hoàn hảo: dao động mô-men xoắn nằm gọn gàng trong dải an toàn màu xanh lục.

"Tốt! Giờ thử tải thực tế!" Ông Phước vỗ mạnh một cái *đét* vào bắp đùi bọc thép của robot.

Ông với tay lấy hai quả tạ sắt đặc dùng để cân chì lưới đánh cá giàn ngoài bến, mỗi quả nặng đúng hai mươi lăm cân, móc thẳng vào cùm treo thử tải dưới bàn chân của Gió:

"Tăng tải lên sáu mươi phần trăm định mức! Cho nó đạp xuống!"

Minh lập tức gửi lệnh tăng dòng điện trên giao diện điều khiển. Khối động cơ bước bên trong gầm lên một tiếng trầm chắc đầy uy lực. Cẳng chân máy mang theo năm mươi cân tạ sắt ép thẳng xuống nền xưởng nén chặt, lực đẩy mạnh mẽ khiến lớp mạt sắt dưới đất bay dạt ra hai bên mép chân. Toàn bộ cụm khớp mới đứng vững vàng như một cột đá, không hề có bất kỳ dấu hiệu rơ lắc hay biến dạng hình học nào.

"Chịu lực tuyệt đối ổn định!" Minh reo lên, không giấu nổi sự phấn khích tột cùng. Anh quay sang nhìn ông Phước, trong mắt ánh lên sự kính phục chân thành từ tận đáy lòng: "Khớp khít hoàn toàn, dung sai góc lệch chưa tới không phẩy không hai độ!"

Bà Lành đứng tựa lưng vào cột gỗ tràm nơi cửa xưởng, hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo đen sạm, nở nụ cười móm mém rạng rỡ.

Trong lúc Minh đang tiến hành quét chẩn đoán liên kết toàn diện sau khi thay thế phần cứng, trên màn hình máy tính bảng bỗng hiện lên một tiến trình đồng bộ kỳ lạ. Vì hệ thống vừa được tái thiết lập bus dữ liệu cấp nguồn chi dưới, bộ nhớ đệm của SoC Khôi-Nguyên 7X đã tự động chạy lệnh quét phân vùng để cân bằng lại bảng phân bổ tệp tin hệ thống.

Một dòng trạng thái nhấp nháy lướt qua màn hình trong tích tắc:

``` [HIDDEN-SECTOR-SCAN: 128MB EXT-NVRAM] > FILE FOUND: DRAFT_LETTER_ANHAI_UNSENT.DAT > ATTRIBUTE: ENCRYPTED / PERSONAL_OVERRIDE > CREATED: 45 DAYS AGO ```

Minh khựng lại. Tim anh đập thịch một tiếng. Một tệp thư nháp ẩn? Được tạo ra bốn mươi lăm ngày trước trong phân vùng nhớ sâu không khả biến của một robot nông nghiệp đời cũ? Ai đã viết nó? Hay chính cỗ máy này... trong những đêm nằm sạc pin dưới chái bếp của bà Lành, đã tự mình ghi lại những điều gì đó?

Anh định chạm ngón tay vào màn hình để truy vấn sâu hơn vào địa chỉ ô nhớ đó, nhưng tiếng búa gõ đanh thép của ông Phước đã kéo anh giật mình quay lại thực tại.

Ông Phước dùng chiếc búa nguội gõ mạnh ba tiếng *chanh, chanh, chanh* vào tấm giáp ngực bằng thép đúc dày cộp của Gió. Tiếng chuông thép vang lên ngân nga, trong trẻo lạ lùng, dội vào vách tôn xưởng cơ khí:

"Đồ cổ lỗ này bền hơn mấy cái đồ nhựa của Tân Mạch nhiều, nếu biết trị cái mặn của biển."

Người thợ già nheo mắt nhìn cỗ máy đang chầm chậm đứng thẳng dậy trên hai chân, hai mắt quang học đã chuyển lại màu xanh lục dịu mát, rồi ông quay sang nhìn Minh, khóe miệng nhếch lên một nụ cười nửa miệng đầy ẩn ý:

"Nhưng mới trị được cái chân thôi con ạ. Còn muốn cỗ máy này sống sót qua mùa dông muối năm nay mà không biến thành đống sắt vụn lần nữa, thì cái đầu kỹ sư của mày còn phải học nhiều thứ ngoài bãi cát này lắm!"

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories