Cửa Gió Sai Nhịp
Cánh buồm tơ mây của thuyền Mầm Gió giật nẩy lên từng hồi tanh tách, phát ra những âm thanh khô khốc và buốt nhói trước luồng phản phong dữ dội cuộn ra từ hẻm mây xám tro.
Đó không phải là cơn gió mùa bình thường từng lướt qua các tầng hải trình quen thuộc, mà là một bức tường khí nén đặc quánh, lạnh buốt và chứa đầy những mảnh đá vụn lơ lửng bị bứt ra từ sườn rạn của Đảo Tiêu Sa. Cơn bão im đột ngột ập tới từ góc mù tây nam đã đảo lộn toàn bộ trật tự của dòng khí lưu vốn đã mong manh nơi tầng trời này. Không gian xung quanh con thuyền biến thành một cái cối xay sương mù khổng lồ, nơi từng đợt áp suất nhảy múa hỗn loạn, sẵn sàng nghiền nát bất cứ cánh buồm nào dám ngáng đường nó. Những dải mây xám xịt bị vặn xoắn thành từng búi đặc như mỡ bò, cuộn tròn rồi nổ tung thành những lốc xoáy nhỏ li ti, găm thẳng vào vỏ thuyền những vệt ẩm ướt buốt giá.
Đứng nơi bệ lái, hai chân Tứ Hải choàng rộng, ghì chặt xuống mặt sàn gỗ thông có khía rãnh chống trượt. Bắp chân cậu gồng lên đến mức các thớ cơ nổi cộm dưới lớp vải gai thô, bám rễ vào từng đường thớ gỗ như thể chỉ cần cậu lơi chân nửa tấc, sàn tàu sẽ trượt phăng đi dưới chân. Bắp tay cậu thiếu niên mười sáu tuổi gân guốc nổi hằn dưới lớp áo cộc tay sờn vai đã bạc phếch vì nắng gió Tầng Nắng, từng đường gân xanh căng cứng như dây đàn hồi của cung nỏ. Bánh lái bằng gỗ sồi ngâm dầu rung lên bần bật, phản hồi lại sức giằng xé điên cuồng của hệ thống bánh răng trục vây ngầm đang oằn mình dưới lườn thuyền. Mỗi cú thúc của luồng khí xoáy lại truyền qua trục lái một chấn động buốt óc, giật giật từng nhịp như muốn bẻ gãy cổ tay người cầm lái.
"Muốn cản đường ta à? Đừng hòng!" Tứ Hải gầm lên một tiếng qua kẽ răng, mắt mở trừng trừng nhìn thẳng vào tâm xoáy xám ngắt đang cuộn trào trước mũi thuyền.
Cậu vặn người, dùng trọn trọng lượng cơ thể cùng sức bật từ sống lưng đè nghiến lấy cần hãm của bánh lái, đồng thời tay trái thoăn thoắt quấn chặt lấy sợi dây lèo buồm chính, giật mạnh ba nhịp liên tiếp để ghì cánh buồm đón gió ở góc căng nhất. Bánh răng cóc kim loại ken két ăn vào từng rãnh khóa, tóe lên những tia ma sát vô hình trong làn sương ẩm. Thay vì xả buồm để thuyền trôi tự do theo quán tính hoặc tìm một đường lượn an toàn vòng qua mép gió, Tứ Hải lại siết chặt then cài, cố ép mũi Mầm Gió đâm thẳng vào luồng nghịch phong đang gầm thét. Cậu muốn bổ đôi dòng khí cuộn, muốn dùng chính tốc độ lao dốc tích tụ từ triền mây phía trên để xuyên thủng bẫy nén khí của hẻm Tiêu Sa bằng một cú đâm trực diện kiêu hãnh.
Trong đầu cậu lúc này không chỉ có cơn bão. Ánh mắt kiên quyết và có phần hung hãn của Tứ Hải đang bốc cháy một ngọn lửa khác—ngọn lửa của lòng tự ái bị dồn nén suốt bao năm tháng lang bạt.
Dưới bến Cảng Cánh Diều, những hoa tiêu chính quy của Phường Giữ Bản Đồ với bộ đồng phục viền chỉ bạc tề chỉnh, ngực áo cài tấm huy hiệu bằng đồng sáng loáng khắc hình hoa gió mười hai cánh, chưa từng một lần cúi mắt nhìn ngang tầm với cậu. Đối với họ, Tứ Hải chỉ là một đứa trẻ mồ côi không gốc gác làm thuê vặt ở xưởng sửa chữa lườn thuyền, một tên thủy thủ ranh mãnh không bằng cấp, kẻ chỉ biết chắp vá một con thuyền mạt hạng từ gỗ vụn thải loại và những mẩu tơ mây thừa thãi nhặt nhạnh được sau mỗi mùa đóng tàu. Họ coi cậu là kẻ đứng ngoài lề của bầu trời văn minh, kẻ không hiểu gì về các phương trình khí áp hay những biểu đồ phân tầng thanh lịch. Giờ đây, khi đang chở trên tàu đứa cháu gái duy nhất của bậc thầy Vân Kính—cô gái mang theo chiếc la bàn gia truyền bằng bạc và những thước đo học thuật chuẩn xác từng vạch ly—Tứ Hải khát khao chứng minh bản thân hơn bao giờ hết. Cậu muốn Lam Nhi thấy rằng, không cần đến những công thức rườm rà trong thư viện hay những chứng chỉ hoa tiêu lộng lẫy kia, chỉ bằng đôi bàn tay chai sạn và sự gan dạ của một kẻ lớn lên cùng gió bụi biển mây, cậu vẫn có thể đè bẹp bất kỳ nghịch lưu nào mà trời xanh ném xuống.
"Tứ Hải! Thả dây lèo ra! Cậu điên rồi sao?!" Lam Nhi bám chặt lấy thanh giằng kim loại bên bàn đo đạc, hét lên lạc cả giọng.
Gió quất rát rạt vào má cô, từng sợi tóc đen buột khỏi kẹp cài, bay ngược về phía sau như một vệt cờ rách giữa màn sương mù mịt. Bụi đá nhỏ li ti bay ràn rạt trên không trung cứa vào da thịt ran rát, nhưng ánh mắt Lam Nhi vẫn dán chặt vào chiếc đồng hồ đo áp suất màng mỏng đang rung lên bần bật trên mặt bàn. Cây kim chỉ thị bằng xương cá đã vượt quá vạch đỏ tới hai phân độ, chạm đến ngưỡng nguy hiểm chết người.
"Thuyền buồm khí động học không thể đâm trực diện vào phản phong!" Lam Nhi hét to hơn, hai bàn tay trắng trẻo bấu chặt vào thanh giằng đến trắng bệch các đầu ngón. "Quy tắc căn bản của mọi hải trình là không bao giờ được đối đầu trực tiếp với một luồng gió nén! Áp suất dội ngược sẽ xé toạc mọi điểm tiếp xúc!"
"Cứ tin ở tôi!" Tứ Hải gào át cả tiếng rít của không khí rạch qua các dây chằng, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau đến mức quai hàm bạnh ra, từng đường gân bên thái dương giật giật. "Quy tắc của đám học giả các người chỉ áp dụng cho mấy cỗ thuyền buôn nặng nề vụng về chở đầy quặng đồng thôi! Con Mầm Gió này do chính tay tôi gọt từng thanh sườn từ gỗ thông mây dẻo nhất, vát từng mép vây theo hình vây cá lượn! Mũi thuyền hình nêm rẽ mây này được thiết kế để xé gió chứ không phải để né gió! Chỉ cần đâm thủng tâm luồng xoáy này trong mười trượng đầu tiên, chúng ta sẽ bứt tốc sang thẳng phía bên kia hẻm đá! Nhìn cho kỹ đi, Lam Nhi!"
Cậu dồn toàn bộ sức nặng của thân trên, giậm chân phải lên bàn đạp gia lực, giật mạnh cần lái về phía mạn hữu thêm nửa nấc. Khớp truyền động dưới sàn rít lên một tiếng khô khốc, toàn bộ dàn vây định hướng dưới lườn thuyền ghim sâu hơn vào lòng khối khí đặc.
Thế nhưng, bầu trời Vân Quốc chưa bao giờ cúi đầu trước sự bướng bỉnh liều lĩnh của con người.
Thay vì rẽ đôi dòng khí như Tứ Hải mường tượng trong cơn say máu kiêu hãnh, mũi thuyền Mầm Gió vừa chạm vào rìa tâm xoáy đã phát ra một tiếng nổ trầm đục, nghẹn ngào, tựa hồ như một khối gỗ mục đâm sầm vào một bức tường thành bằng đá hoa cương vô hình. Toàn bộ con thuyền khựng lại đột ngột đến mức sàn gỗ rên lên ken két, quán tính cực lớn hất ngược mọi thứ về phía sau. Sức ép nghìn cân của dòng nghịch lưu dội ngược lại toàn bộ cấu trúc thân tàu với một lực tàn phá khủng khiếp.
*Ken két! Rắc!*
Âm thanh kim loại cọ xát dữ dội hòa lẫn tiếng gỗ thông bị vặn xoắn gắt gao vang lên nhức óc từ phía đuôi thuyền. Trục vây lái kép—nơi Lam Nhi vừa liều mạng trườn ra ngoài mép mạn để gỡ kẹt cách đây chưa lâu—bị dòng khí nén khổng lồ bẻ quặt sang một góc chết. Các khớp xoay đồng trục bằng đồng thau rên rỉ dữ dội dưới tải trọng vượt xa ngưỡng an toàn tối đa, những chiếc đinh tán bằng sắt non bắt đầu rỉ ra những vệt rạn nứt nhỏ li ti. Bánh lái trên tay Tứ Hải giật mạnh một cú kinh hoàng như một con thú hoang đứt xích, quất ngược trở lại theo chiều kim đồng hồ với tốc độ xé gió. Cú giật dữ dội khiến hai lòng bàn tay cậu tước da tóe máu, thân người bị hất văng sang một bên, bánh lái bật tung khỏi then cài an toàn và quay tít mù trong không khí.
Cùng lúc đó, túi nâng tơ mây ba lớp bên trên phồng căng cực độ. Lớp khí nâng tự nhiên chứa bên trong bị áp suất nén khổng lồ của môi trường bên ngoài ép nghẽn, không thể thoát qua các van xả một chiều vốn đã bị hơi sương đóng băng bịt kín. Bề mặt túi nâng bị đội ngược lên tròn vo, căng cứng như một quả cầu gai chực nổ tung giữa trời. Từng đường chỉ tơ mây mùa thu tám lõi do chính tay mẹ Mộc Miên nhẫn nại dệt suốt ba tháng ròng bắt đầu căng ra đến mức giới hạn. Những hạt bụi sáp chống thấm nhỏ li ti tróc ra khỏi các khe sợi, bay mù mịt như bụi phấn hoa giữa cơn lốc. Các thớ vải tơ phát ra tiếng nứt râm ran, tiếng kêu sợi đứt lách tách như than hồng rơi trên mặt băng, đe dọa sẽ bục chỉ toác toàng áo khí bất cứ giây phút nào.
Thảm họa hơn cả, con thuyền mất hoàn toàn lực đẩy tới phía trước. Lực phản hồi tàn khốc biến nó thành một món đồ chơi trôi nổi vô định giữa lòng biển mây cuồng nộ. Mầm Gió bị dòng xoáy nghịch chiều cuốn phăng đi, xoay tròn một góc chín mươi độ trong không gian vô trọng lực và bị đẩy giạt thẳng về phía vách đá Tiêu Sa.
Trong màn sương mù xám đục đang cuộn trào mù mịt, những gờ đá đen nhọn hoắt như hàm răng của một con quái thú thời tiền sử lù lù hiện ra với tốc độ kinh hoàng. Từng phiến đá xám sắc lẹm, nứt nẻ vì sương muối, đang lao thẳng về phía mạn tả của con tàu. Cự ly rút ngắn nhanh đến mức mắt thường có thể nhìn thấy rõ từng kẽ nứt bám đầy rêu phong đóng băng trên bề mặt vách đá, chỉ còn cách mạn tả chưa đầy hai mươi trượng, rồi mười tám trượng, mười lăm trượng...
Dưới khoang hàng tăm tối, quả chuông bão đồng bộ của Đội trưởng Hạ Vũ bị xô lắc kịch liệt bên trong khung gỗ đệm lót rơm bện. Những sợi dây chằng bằng da thuộc căng ra hết cỡ, cọ sát vào then gỗ phát ra những âm thanh cót két ghê người. Bản thân quả chuông nặng trịch bằng hợp kim đồng cổ va đập lách cách vào thành khung, phát ra những tiếng *ong... ong...* trầm đục và ngột ngạt, như tiếng rên rỉ nghẹn ngào của một linh hồn bị giam cầm dưới đáy vực. Chốt định âm bằng thạch anh tím bên trong ruột chuông—trái tim của cỗ máy đo tần số bão—đang phải chịu những chấn động chết người từ các góc va đập lệch tâm. Chỉ cần một cú va chạm mạnh nữa làm nứt dù chỉ một góc nhỏ của chốt thạch anh, quả chuông sẽ vĩnh viễn mất đi tần số dao động chuẩn mực của nó. Khi ấy, chiếc vé thông hành duy nhất để bước chân vào Tháp Lịch Phong coi như tan thành mây khói, và mọi hy vọng của Lam Nhi cũng sẽ tan biến theo.
"Vây lái... vây lái không ăn gió nữa rồi!" Tứ Hải hoảng hốt kêu lên, sắc mặt cậu thoắt cái trắng bệch như tờ giấy quyến ngâm nước.
Cậu gượng dậy, lảo đảo chồm tới bệ lái, dùng cả hai bàn tay rướm máu ôm chặt lấy cần lái vừa bị văng ra. Cậu nghiến răng, vận hết sức tàn để xoay bánh lái, nhưng chiếc bánh gỗ sồi lúc này trơn tuột và nhẹ bẫng một cách ma quái—dòng khí xoáy nghịch chiều đã nêm chặt các phiến vây ngầm vào hốc lườn thuyền, biến toàn bộ hệ thống điều hướng tinh xảo thành một đống gỗ vô dụng trôi dạt.
"Chết tiệt! Gió ở đây đặc như bùn lầy vậy! Khí nén đã lấp đầy các khe rãnh truyền động rồi!" Tứ Hải gào lên trong bất lực, hai mắt vằn lên những tia máu đỏ quạch. "Không thể bẻ mũi thuyền sang hướng khác được! Nó không chịu nghe lệnh nữa!"
Mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa trên vầng trán lấm lem của cậu thiếu niên, hòa lẫn với những hạt nước sương giá buốt chảy ròng ròng xuống cằm, cay xè nơi khóe mắt. Sự tự tin ngạo nghễ, vẻ ngang tàng của một hoa tiêu tự do ban nãy vỡ tan tành thành từng mảnh vụn vô nghĩa trước sức mạnh nghiền nát của tự nhiên. Nỗi kinh hoàng tột cùng bóp nghẹt lấy tim cậu khi bóng đen khổng lồ, sừng sững của vách đá Tiêu Sa đã phủ rợp cả một góc boong tàu, che khuất chút ánh sáng lờ mờ hiếm hoi còn sót lại từ Tầng Sáng.
Đúng vào khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, một đốm lông trắng muốt vụt bay ra từ góc lều bạt phụ nơi đuôi tàu.
Đó là Bông. Con chim cánh mây nhỏ bé không thể chịu nổi sự ngột ngạt của túi khí nén đang dồn ứ dưới mặt sàn gỗ nữa. Đôi mắt hạt huyền đen láy của nó lóe lên tia sáng cảnh giác sắc bén khác thường, không còn vẻ ngơ ngác lười biếng thường ngày. Con chim xòe rộng đôi cánh tơ mỏng manh nhưng dẻo dai phi thường, dùng một cú đạp chân dứt khoát vào thanh nẹp gỗ, phóng vút thẳng lên không trung. Cơ thể tròn trịa của nó xé toạc màn sương mù xám đục đang cuồn cuộn quanh thân tàu như một mũi tên bạc.
Bất chấp những luồng gió cắt sắc lẹm có thể bẻ gãy lông vũ của bất kỳ loài chim tầm thường nào, Bông vẫn lượn thành một vòng xoắn ốc tuyệt đẹp giữa tầng không. Nó nghiêng mình nương theo những kẽ nứt vô hình của dòng gió cuộn, bay vọt lên tận đỉnh cột buồm chính cao vút. Nó bấu chặt bốn chiếc móng vuốt màu đồng sắc nhọn vào đầu chỏm gỗ tiện tròn của cột cờ, đứng hiên ngang giữa tâm điểm của cơn cuồng phong đang gào rú xé trời.
Tại điểm cao nhất của con thuyền Mầm Gió, Bông đột ngột khựng lại. Toàn thân nó căng ra như một cánh cung. Đôi mắt tròn xoe đảo nhanh như chớp qua từng tầng mây đang biến động hỗn loạn. Những sợi lông vũ vi mô quanh cổ và dọc sống lưng nó dựng đứng lên hết thảy, rung rinh rung rinh theo từng nhịp sóng dao động của áp suất không khí—những dao động tinh tế mà mắt thường của con người hay bất kỳ chiếc máy đo kim loại thô kệch nào cũng không thể nào nhìn thấy được. Con chim nghiêng đầu chếch về phía mạn hữu, hơi hạ thấp phần ức lông trắng muốt xuống sát mặt gỗ chỏm cột.
Rồi, bằng một cử chỉ dứt khoát đến kinh ngạc, nó xòe rộng một bên cánh trái ra chắn ngang luồng gió tạt từ vách đá tới, trong khi cánh bên phải khép hờ sát lườn, tạo thành một góc nghiêng khí động học hoàn hảo. Chiếc mỏ nhọn màu hổ phách há rộng, cất lên ba tiếng kêu ngắn, đanh gọn và dồn dập đến xé lòng:
"Quých! Quých! Quých!"
Âm thanh kim khí đanh thép vang lên ba nhịp rành rọt, xuyên qua tiếng rít gào man dại của bão mây, rơi thẳng xuống mặt boong đang chao đảo dữ dội.
"Bông!" Lam Nhi ngước mắt lên, ánh nhìn của cô lập tức bắt trọn từng cử động vi tế của con chim nhỏ trên đỉnh cột buồm.
Một cánh xòe rộng ba mươi lăm độ, một cánh khép sát mạn sườn, thân nghiêng ba mươi độ về phía tây bắc, kèm theo ba tiếng chuông cảnh báo nhịp ba dứt khoát! Ký ức về những ngày ấu thơ bên xưởng gỗ Lam Bến bỗng chốc bừng sáng trong tâm trí cô như một ngọn hải đăng xé toạc đêm đen. Đó không phải là tiếng kêu hoảng loạn của loài thú hoang tìm chỗ trốn bão. Đó chính là bộ ngôn ngữ đọc gió cổ xưa—bản mật mã của bầu trời mà ông nội cô, bậc thầy Vân Kính, từng kiên nhẫn ghi chép lại suốt bốn mươi năm ròng trong những ngày ông thuần dưỡng bầy chim cánh mây nơi bến cảng quê nhà.
Gió ở tầng thấp sát đáy thuyền đang bị vách đá Tiêu Sa nén lại thành một cái bẫy chân không tử thần, biến mọi nỗ lực đâm thẳng thành hành động tự sát. Nhưng ở tầng cao hơn—ngay trên đỉnh cột buồm khoảng tám đến mười trượng—đang tồn tại một dòng khí trượt! Đó là một dòng khí êm, mang mật độ áp suất đồng nhất và độ ẩm cực thấp, đang chạy chéo góc qua khe nứt tự nhiên của dầm mây sụt lún!
Lam Nhi hít một hơi thật sâu, luồng không khí lạnh buốt tràn vào buồng phổi làm cô tỉnh táo đến từng chân tơ kẽ tóc. Giữa cơn chao đảo dữ dội của sàn tàu đang nghiêng dần về phía vực đá tử thần, cô áp dụng triệt để bài học kiểm soát nỗi sợ hãi mà Đội trưởng Hạ Vũ từng rèn giũa cho cô trong những chuyến bay thử nghiệm khắc nghiệt: hít vào ba nhịp thật sâu, nén hơi thở lại ba nhịp nơi lồng ngực, rồi thở ra ba nhịp thật đều đặn. Nỗi hoảng loạn vì độ cao vô tận và bóng ma của cú va chạm chết người lập tức bị đè nén xuống tận đáy lòng, nhường chỗ cho sự tập trung lạnh lùng, tuyệt đối của một người học việc vẽ bản đồ mây chân chính.
Cô quỳ sụp xuống bên bàn thao tác dã chiến, giật phắt chốt khóa cuốn nhật ký đo đạc bọc da hải cẩu dày cộp. Bàn tay nhỏ nhắn không còn một chút run rẩy nào nữa. Lam Nhi rút chiếc thước lăn bằng đồng thau có khắc vạch đo góc và chiếc compa phân độ lăng kính thạch anh khỏi túi đồ nghề gia truyền bằng da nai của ông nội.
Đặt mép thước lăn lên tấm sơ đồ áp suất mà cô vừa phác thảo vội từ các số đo mớn mây ban nãy, ngón tay Lam Nhi lướt nhanh thoăn thoắt như múa trên mặt giấy kẻ ô. Cô căn góc nghiêng theo đúng tư thế xòe cánh của Bông trên đỉnh cột: cánh trái hứng gió tạo góc ba mươi lăm độ so với trục dọc thân tàu, mỏ hướng lệch sang mạn hữu mười độ. Tổng hợp véc-tơ lực của dòng khí nghịch, kết hợp với độ võng ba mươi trượng của dầm mây sụt lún phía sau lưng hẻm đá Tiêu Sa...
Đầu ngòi bút chì than vạch ra một đường chéo dứt khoát, cắt ngang qua những vòng tròn đồng tâm biểu thị vùng nguy hiểm.
"Bốn mươi lăm độ!" Lam Nhi thốt lên, hai mắt cô sáng rực lên như những vì tinh tú của Tầng Sáng giữa đêm trường u tối. "Không phải đâm thẳng, cũng không phải lùi lại! Nếu bẻ lái zíc-zắc tạo thành một góc chéo bốn mươi lăm độ sang mạn hữu, chúng ta sẽ không phải đối đầu trực diện với bức tường khí nén của Tiêu Sa nữa! Thuyền sẽ lọt thẳng vào một cửa trượt tự nhiên—một hành lang gió trượt tầng trung sinh ra từ sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mảng mây nóng lạnh!"
Cô bật dậy như một chiếc lò xo, hai chân bám chắc vào các mấu gờ sàn tàu đã được khắc rãnh, bất chấp từng đợt chấn động đang hất tung mọi thứ. Lam Nhi lao về phía bệ lái nơi Tứ Hải đang tuyệt vọng ghì chặt then bánh lái bằng đôi bàn tay rách da rướm máu.
"Tứ Hải! Nghe tớ đây!" Lam Nhi hét lớn, giọng nói trong trẻo nhưng đanh thép và dứt khoát vang lên đầy uy quyền giữa tiếng gầm rú điên loạn của bão tố. "Buông then khóa vây lái chính ra! Hạ ngay cánh buồm mũi xuống hai phần ba diện tích! Cậu phải bẻ lái sang mạn hữu góc bốn mươi lăm độ! Ngay lập tức, không được chần chừ một tích tắc nào nữa!"
Tứ Hải quay phắt lại, khuôn mặt cậu tái mét nhễ nhại mồ hôi lạnh hòa lẫn nước sương, trong đôi mắt mở to vẫn còn hằn lên sự cay cú, hoang mang và nỗi sợ hãi tột cùng: "Cậu nói cái quái gì thế hả?! Mạn hữu là hướng gió tạt sườn! Cậu có hiểu nguyên lý cơ bản của tàu buồm không đấy? Nếu quay trọn sườn thuyền vào luồng phản phong dữ dội này, sức gió sẽ bẻ gãy sống tàu và lật úp Mầm Gió xuống Tầng Mù trong chớp mắt! Tôi là người đóng và lái con tàu này! Tôi biết sức chịu đựng của từng thớ gỗ trên thân nó!"
"Cậu chẳng biết gì về bản chất của luồng khí này cả!" Lam Nhi không hề nhượng bộ dù chỉ nửa bước. Cô bước tới, áp sát người vào bệ lái, giơ thẳng cuốn sổ đo đạc với những đường kẻ mực phong vũ còn tươi rói và những con số chi chít vào sát mặt Tứ Hải. "Nhìn vào những con số thực chứng này đi! Đảo Tiêu Sa bị sụt lún ba mươi trượng đã tạo ra một vùng áp suất dương cục bộ cực lớn ở tầng thấp, gió dội ngược lại từ vách đá với vận tốc lên tới mười tám hải lý một giờ! Càng cố đâm thẳng, lực nén càng tăng lên theo cấp số nhân! Cậu có thấy túi nâng tơ mây đang căng đến mức rỉ bụi sáp và sắp bục chỉ không? Nó chỉ có thể chịu đựng thêm ba mươi giây nữa thôi! Ba mươi giây nữa! Nếu túi nâng nổ tung, cả cậu, tớ và quả chuông bão của Đội Chuông Bão sẽ rơi thẳng xuống vực thẳm không đáy của Tầng Mù, vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy ánh mặt trời nữa!"
Tứ Hải sững sờ nhìn vào đôi mắt của Lam Nhi.
Trong đôi mắt màu nâu sâu thẳm của cô gái học việc vẽ bản đồ lúc này, không hề có sự hoảng sợ đến mất trí, cũng tuyệt nhiên không có chút khinh miệt hay trịch thượng nào mà cậu vẫn thường thấy ở những học viên chính quy của Phường Giữ Bản Đồ mỗi khi họ nhìn một kẻ thất học, thô lỗ như cậu. Ở đó chỉ có sự kiên định sắt đá, lòng tin cậy tuyệt đối vào những số liệu đo đạc thực chứng, và một sự tha thiết chân thành đến cháy bỏng muốn bảo vệ con thuyền, bảo vệ quả chuông và bảo vệ mạng sống của cả hai người.
"Bông đã tìm ra lối thoát duy nhất cho chúng ta rồi!" Lam Nhi hạ giọng xuống nửa tông, nhưng từng lời cô nói ra đều nặng tựa ngàn cân, tay cô chỉ thẳng lên đầu cột buồm nơi con chim cánh mây nhỏ bé vẫn đang kiên cường dang rộng đôi cánh giữ thăng bằng giữa cơn lốc. "Gió tầng trung ở góc bốn mươi lăm độ không phải là gió tạt lật thuyền, mà là một dòng khí nâng thứ cấp! Bông đã thử nghiệm áp suất bằng từng sợi lông vũ của nó rồi! Tin tớ đi, Tứ Hải! Lái tàu bằng lòng dũng cảm không có nghĩa là đâm đầu vào chỗ chết để chứng tỏ bản thân, mà là dám rẽ vào con đường sống dù con đường ấy trông có vẻ nguy hiểm nhất!"
Tứ Hải ngước nhìn con chim cánh mây trắng muốt đang gồng mình trên đỉnh cột gỗ sồi giữa bầu trời vần vũ, rồi nhìn xuống đôi bàn tay trầy xước, đầm đìa máu tươi của chính mình đang run lên bần bật vì kiệt sức trên vành bánh lái. Tiếng gầm gào man dại của vách đá Tiêu Sa đã ở ngay sát bên tai, bọt mây xám xịt bắn tung tóe qua mạn tàu như những mũi tên băng buốt giá, cào rách cả góc áo cậu.
Thời gian đã cạn kiệt. Không còn chỗ cho sự chần chừ hay lòng kiêu hãnh mù quáng nữa. Cậu không thể thua, và quan trọng hơn tất thảy, cậu không thể để cô gái duy nhất dám đặt trọn niềm tin vào tay lái của mình phải chôn vùi tuổi xuân dưới đáy vực Tầng Mù tăm tối.
"Được rồi! Mẹ kiếp, chết thì cùng chịu!" Tứ Hải gầm lên một tiếng xé toạc lồng ngực. Nỗi tự ti, sự cố chấp và bóng ma cay đắng bấy lâu tan biến sạch ghẽ, nhường chỗ cho bản năng phản xạ nhạy bén phi thường của một hoa tiêu tự do từng tung hoành khắp các luồng gió hoang.
"Giật chốt buồm mũi!" Cậu thét lớn ra lệnh, thanh âm vang rền át cả tiếng bão.
Lam Nhi không chần chừ dù chỉ một phần mười giây. Bằng một động tác dứt khoát và chuẩn xác, cô lao bổ tới cột giằng phụ bên mạn tả, dùng trọn trọng lượng cơ thể cùng hai bàn tay giật mạnh sợi dây hãm tơ mây khỏi nấc khóa an toàn.
*Xoạt! Rầm!*
Cánh buồm tam giác bằng vải tơ mây ở mũi thuyền lập tức tụt xuống hai phần ba diện tích, xếp gọn lại dọc theo sống mũi tàu. Áp lực cản gió khổng lồ đang đè nặng lên phần đầu con thuyền bỗng chốc được giải tỏa tức thì. Đầu mũi Mầm Gió hơi ngóc lên trong không trung, thoát khỏi sự đè nén nghẹt thở của túi khí thấp đang dồn ép nó xuống vực.
Cùng lúc đó, Tứ Hải nghiến chặt hai hàm răng đến bật máu môi, hai bàn tay nắm chặt các nan hoa bánh lái, vặn ngược sang mạn hữu một vòng rưỡi bằng một lực bộc phát kinh người. Chân trái cậu đạp lún bàn đạp phụ bên dưới sàn để mở khóa hãm vây lái kép dưới đáy thuyền. Cậu không bẻ lái bằng một cú giật đột ngột thô bạo—điều chắc chắn sẽ bẻ gãy vụn các trục truyền động bằng gỗ thông—mà nắn nót đưa bánh lái đi theo một đường lượn zíc-zắc hình chữ S đầy ảo diệu. Cậu nhấp nhả sợi dây lèo buồm chính theo từng nhịp thở gián đoạn của dòng khí xoáy, khéo léo ghìm giữ thân thuyền như một vũ công thượng thặng đang lướt trên lưỡi dao sắc nhọn giữa ranh giới của sự sống và cái chết.
Mũi thuyền Mầm Gió chao đảo dữ dội trong không gian mù mịt. Thân tàu nghiêng hẳn sang một bên ở một góc ba mươi độ đầy thót tim. Mạn thuyền hạ thấp đến mức mép gỗ gần như cày sâu vào lớp mây xám tro xốp đặc. Lam Nhi phải quắp chặt hai chân vào chân bàn đo đạc, hai tay ôm ghì lấy thanh giằng sắt. Cả thân người cô treo lơ lửng trên khoảng không mây mù thăm thẳm bên ngoài lan can bảo vệ, phía dưới là vực sâu muôn trượng của Tầng Mù không đáy. Nỗi sợ độ cao nguyên thủy lại nhói buốt lên trong lồng ngực cô như một mũi kim băng giá, làm tim cô thắt lại nghẹt thở, nhưng Lam Nhi vẫn cắn chặt môi đến bật máu, mắt không rời khỏi chiếc compa thạch anh đang lấp lánh phản chiếu góc nghiêng.
"Bốn mươi lăm độ... Đúng vạch chia rồi! Giữ nguyên góc đó! Tứ Hải, ngay bây giờ!" Lam Nhi thét lên qua làn gió rít.
Tứ Hải gồng hết toàn bộ gân cốt trên thân thể, cơ bắp cuộn lên như sắt nguội. Cậu giậm mạnh gót chân, đóng sập chốt then hãm bánh lái vào đúng vạch chia độ mà Lam Nhi vừa chỉ điểm.
Một giây... hai giây trôi qua trong sự im lặng nghẹt thở, tưởng chừng như thời gian của toàn cõi trời đất đã ngưng đọng lại.
Rồi, một phép màu vĩ đại của khí động học đã thực sự xảy ra ngay trên Biển Mây.
Cú bẻ góc bốn mươi lăm độ táo bạo đã đưa Mầm Gió trượt chéo ra khỏi rìa của luồng gió nén tử thần đang dội ngược từ vách đá Tiêu Sa. Đúng như những gì đôi mắt tinh tường của Bông đã cảm nhận và những phép tính chuẩn xác của Lam Nhi đã vạch ra, thân thuyền vừa chạm vào mép hành lang khí tầng trung thì toàn bộ tiếng rít gào chói tai, man dại của cơn bão im bỗng nhiên dịu hẳn lại.
Một dòng khí êm ái, mát lạnh, mang mật độ áp suất hoàn hảo và hương vị trong lành từ tầng cao trượt dài xuống, ôm trọn lấy cánh buồm chính đang mở hé của Mầm Gió. Thay vì giằng xé, bẻ gãy và đập phá như luồng nghịch phong ở tầng thấp, dòng khí này nâng bổng toàn bộ con thuyền lên như một bàn tay khổng lồ vô hình đầy dịu dàng của trời cao. Mầm Gió rùng mình một cái nhẹ tênh, rồi êm ái trượt dài trên một đường trượt không khí vô hình, lướt ngang qua sườn vách đá sắc nhọn như dao cạo của Đảo Tiêu Sa chỉ trong gang tấc—gần đến mức bụi đá đóng băng rơi rụng từ vách núi chỉ bay sượt qua mạn tàu vài tấc rồi chìm nghỉm vào hư không.
Tiếng ken két nghiến ngấu ghê rợn của trục vây lái biến mất hoàn toàn. Túi nâng ba lớp bằng tơ mây xẹp bớt lượng áp lực dư thừa qua các van tự động vừa được giải tỏa, trở lại hình dạng căng tròn một cách hoàn hảo và mềm mại, mang lại lực nâng ổn định tuyệt đối cho toàn bộ thân tàu. Con thuyền lấy lại thăng bằng trong nháy mắt, mũi tàu hình nêm kiêu hãnh ngẩng cao, hướng thẳng về phía chân trời thoáng đãng phía trước, lướt đi với tốc độ êm ru và thanh thoát tựa hồ một chiếc lá khô trôi trên mặt hồ nước phẳng lặng không một gợn sóng.
Trên đỉnh cột buồm cao vút, Bông khép đôi cánh tơ mỏng manh lại, rũ rũ bộ lông trắng muốt còn đọng những giọt sương mai lấp lánh, rồi cất lên tiếng kêu "cúc cù... cúc cù..." đầy vẻ mãn nguyện và kiêu hãnh của một kẻ chiến thắng.
Lam Nhi từ từ buông lỏng hai bàn tay khỏi thanh giằng kim loại lạnh ngắt. Cô ngồi bệt xuống sàn boong gỗ còn vương vãi đầy những vụn sáp tróc ra và nước sương đóng băng lóng lánh. Lồng ngực cô phập phồng dữ dội sau cơn căng thẳng tột độ vừa trải qua. Đôi chân cô mềm nhũn ra, các khớp ngón tay mỏi nhừ và run rẩy vì phải bám víu quá lâu, nhưng nơi khóe môi cô bất giác nở một nụ cười nhẹ nhõm vô cùng rạng rỡ.
Cách đó vài bước chân, Tứ Hải cũng từ từ buông lỏng hai bàn tay khỏi vành bánh lái gỗ sồi. Cậu tựa trọn lưng vào thành bệ lái vững chãi, rồi từ từ trượt dần xuống sàn tàu, thở hắt ra một hơi dài tưởng chừng như đã vắt kiệt toàn bộ sinh lực tích tụ trong lồng ngực suốt mười sáu năm qua. Cậu cúi đầu nhìn xuống hai lòng bàn tay rách toác, máu tươi vẫn đang rỉ ra thành từng giọt rơi lách tách xuống mặt gỗ thông, rồi chậm rãi ngẩng đầu lên, ngắm nhìn cánh buồm tơ mây đang căng tràn no gió một cách hoàn mỹ trên nền trời cao.
Cậu quay đầu sang nhìn Lam Nhi. Ánh mắt của hai con người trẻ tuổi chạm nhau giữa không gian bao la, khoáng đạt của tầng trời vừa được tái sinh sau bão tố.
Không còn chút nghi kỵ nào sót lại. Không còn khoảng cách vô hình giữa một "kẻ không bằng cấp" xuất thân từ bến cảng bụi bặm và một "học giả trường lớp" lớn lên trong những thư phòng êm ấm. Trong khoảnh khắc cùng nhau đối mặt với lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết vừa rồi, một sự thấu hiểu sâu sắc, kỳ diệu và bền chặt đã lặng lẽ nảy mầm giữa hai tâm hồn trẻ tuổi.
Tứ Hải hiểu rằng, nếu không có đôi mắt tinh tường, sự bình tĩnh phi thường và những phép tính toán học chuẩn xác đến từng ly từng tấc của Lam Nhi—kết hợp với trực giác đọc gió nhạy bén của con chim cánh mây nhỏ bé kia—thì sự dũng cảm và kỹ năng lái tàu điêu luyện của cậu chỉ là một sự liều lĩnh mù quáng, một tấm vé một chiều đưa cả con thuyền đâm thẳng xuống đáy vực Tầng Mù muôn kiếp không trở lại.
Và ở chiều ngược lại, Lam Nhi cũng thấu hiểu sâu sắc rằng, dù bản đồ của cô có chính xác đến đâu, dù những con số đo đạc trên giấy da có hoàn hảo và tuyệt mỹ đến mức nào, thì nếu không có đôi bàn tay thép chai sạn, sự gan dạ không lùi bước trước hiểm nguy và phản xạ tài hoa xuất chúng của Tứ Hải trên bệ lái, những trang giấy đo đạc ấy sẽ mãi mãi chỉ là lý thuyết chết nằm im lìm trên bờ vực của sự diệt vong.
Họ chính là hai mảnh ghép còn thiếu của nhau giữa bầu trời Vân Quốc rộng lớn này. Một người là khối óc sáng suốt và tầm nhìn bao quát vạch lối giữa mê cung mây mù đầy cạm bẫy; một người là đôi bàn tay vững chãi và ý chí kiên cường không gì lay chuyển nổi, sẵn sàng lèo lái con thuyền vượt qua mọi giông bão của số phận.
"Này... cô thợ vẽ," Tứ Hải cất tiếng phá vỡ sự im lặng tĩnh mịch của boong tàu, giọng cậu khàn đặc vì khói sương, bụi đá và những tiếng la hét gãy giọng ban nãy, nhưng trên bờ môi nứt nẻ đã lại nở nụ cười lém lỉnh, hơi méo mó nhưng tràn đầy sức sống quen thuộc. Cậu đưa ống tay áo sờn rách quẹt vội những giọt mồ hôi và vệt máu trên trán. "Lúc nãy... cái góc bốn mươi lăm độ quái quỷ của cậu... chuẩn xác đến từng tấc một đấy. Suýt chút nữa thì cái mũi hếch của tôi bị mài nhẵn thín vào vách đá Tiêu Sa thành một mặt phẳng rồi."
Lam Nhi bật cười thành tiếng, nụ cười trong veo và rạng rỡ như ánh nắng sớm, xua tan đi hoàn toàn cái lạnh lẽo, u ám của màn sương mù vừa lùi lại phía sau lưng. Cô chống tay vào sàn gỗ, khó nhọc đứng dậy, bước từng bước chậm rãi lại gần bệ lái. Cô rút chiếc khăn tay bằng vải lanh trắng sạch sẽ trong túi áo ngực đưa cho Tứ Hải:
"Cậu cũng đâu có tệ. Pha bẻ lái zíc-zắc hình chữ S vừa rồi... tớ nói thật đấy, ở trường đào tạo hoa tiêu cao cấp của Phường Giữ Bản Đồ, ngay cả những hoa tiêu bậc năm dạn dày kinh nghiệm nhất cũng chưa chắc đã dám thực hiện trong một cự ly hẹp và hiểm hóc đến như thế đâu. Tay nghề của cậu... không phải là của một thợ sửa thuyền đâu, Tứ Hải. Đó là bản lĩnh của một thuyền trưởng thực thụ."
Tứ Hải ngẩn người ra một thoáng trước lời khen ngợi chân thành và mộc mạc ấy. Cậu sững lại nhìn chiếc khăn tay trắng muốt trước mặt, rồi ngập ngừng đưa bàn tay thô ráp, lấm lem máu và dầu mỡ đón lấy nó. Cậu vội vàng cúi gằm đầu xuống, giả vờ chăm chú lau những vệt máu đang bắt đầu khô lại trên lòng bàn tay để che giấu đi sự bối rối vụng về và một thoáng ửng đỏ bất ngờ hiện lên trên đôi gò má phong trần dày dạn gió sương.
"Hừm, dĩ nhiên rồi! Đã bảo tôi là hoa tiêu tự do cừ khôi nhất cái Cảng Cánh Diều này mà lị... Làm sao có thể gục ngã ở cái xó xỉnh này được!" Cậu lầm bầm, giọng nói có chút ngượng ngùng dễ thương. "Có điều... con chim béo ú của cậu hôm nay làm ăn cũng không tệ lắm. Tí nữa neo đậu an toàn, tôi sẽ trích hẳn một nửa phần bánh lương khô san hô hảo hạng của mình ra để thưởng cho nó."
Như hiểu được người ta đang nhắc đến mình và bàn về bổng lộc, Bông từ trên chỏm cột buồm dang cánh sà xuống, đáp nhẹ như một cục bông gòn êm ái lên bờ vai mảnh dẻ của Lam Nhi. Nó cọ cọ chiếc đầu tròn xoe, mịn màng vào má cô bé, phát ra những tiếng rù rù êm ái trong cổ họng, rồi nghiêng nghiêng đôi mắt hạt huyền liếc nhìn Tứ Hải với một vẻ kênh kiệu và đắc thắng, như muốn nói: *Biết điều đấy, anh bạn thô lỗ! Đừng quên ai là người dẫn đường ở đây!*
Lam Nhi mỉm cười, đưa những ngón tay thon thả vuốt ve lớp lông ức mềm mại ấm áp của Bông, rồi quay trở lại bàn đo đạc dã chiến để thu dọn những dụng cụ vừa bị xáo trộn sau cơn rung lắc dữ dội.
Khi ngón tay cô chạm vào phần mép bằng da của tấm Bản Đồ Mây nằm bên trong ống đồng bảo hộ đang hé mở nắp, Lam Nhi chợt khựng lại, khẽ thốt lên một tiếng ngạc nhiên đầy sửng sốt.
Tấm bản đồ cổ được làm từ da rễ Neo ngàn năm—vật báu gia truyền của dòng họ Vân—lúc này đang phát ra một hiện tượng kỳ lạ chưa từng thấy. Dòng mực phong vũ màu tím bầm u ám—thứ sắc màu chết chóc từng báo hiệu sự đứt gãy, rạn nứt nghiêm trọng của Mạch Neo ngầm suốt từ khoảnh khắc họ rời Đảo Lam Bến và khiến trái tim cô luôn thắt lại trong âu lo—bỗng nhiên nhạt màu đi một cách trông thấy ngay trước mắt cô.
Tại vị trí tương ứng với tọa độ mà con thuyền Mầm Gió vừa lọt vào hành lang gió trượt tầng trung, vệt mực tím đục ngầu, giận dữ kia đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó, nó dần chuyển hóa thành một sắc xanh lam phỉ thúy dịu mát, trong trẻo và thanh khiết như màu của nền trời quang đãng sau một trận mưa rào mùa hạ.
Lam Nhi khẽ đặt đầu ngón tay trần miết nhẹ lên thớ da mây mát rượi.
Một luồng xung động êm dịu, ấm áp và nhịp nhàng tựa như nhịp đập của một trái tim khổng lồ khỏe mạnh bỗng chốc truyền thẳng qua da thịt, thấm sâu vào huyết quản của cô. Đó không phải là ảo giác. Mạch Neo của tầng trời này đang thở. Nó đang thở một cách nhẹ nhõm và thanh thản.
"Kỳ lạ thật..." Lam Nhi lẩm bẩm một mình, ánh mắt đăm chiêu nhìn sâu vào vệt sáng màu phỉ thúy trên tấm bản đồ da mây. "Khi con thuyền của chúng ta đi đúng vào hành lang gió tự nhiên... khi chúng ta không cưỡng bức bầu trời mà nương theo nhịp thở của nó, lực cộng hưởng của Mạch Neo xung quanh khu vực này dường như đã được xoa dịu... Bầu trời này không hề chết đi như những lời tiên tri u ám ở kinh thành. Nó không hề sụp đổ... Nó chỉ đang bị nghẽn thở vì những bẫy nén khí sai lệch do sự dịch chuyển của các đảo nổi gây ra mà thôi."
"Lam Nhi! Mau nhìn kìa! Phía trước!"
Tiếng gọi đầy phấn khích, sang sảng của Tứ Hải đột ngột cắt đứt dòng suy nghĩ miên man của cô. Cậu thiếu niên đã đứng bật dậy bên bệ lái từ lúc nào, một tay giữ hờ bánh lái đã ổn định, tay kia vươn thẳng chỉ về phía chân trời xa xăm trước mũi thuyền.
Lam Nhi ngẩng đầu lên.
Cảnh tượng mở ra trước mắt khiến cả hai người cùng lúc nín thở, ngỡ ngàng đến mức không thốt nên lời.
Màn sương mù xám đục nặng nề và những đám mây tro tàn ảm đạm của cơn bão im đang nhanh chóng rẽ sang hai bên mạn tàu, cuộn lại rồi tan biến vào hư vô như một tấm rèm sân khấu khổng lồ vừa được kéo lên. Nhường chỗ cho nó là một khoảng không gian khoáng đạt, quang đãng và bao la vô ngần mở rộng ra đến tận cùng của tầm mắt. Biển Mây ở tầng hải trình này phẳng lặng như một tấm thảm lụa trắng muốt, tinh khôi trải dài tít tắp đến tận đường chân trời, lấp lánh muôn ngàn đốm sáng vàng óng ả dưới những tia nắng rực rỡ của Tầng Sáng đang xuyên qua các kẽ nứt mây tầng cao rọi xuống.
Và ngay giữa biển mây trắng xóa diệu kỳ, thanh bình ấy, một quần thể kiến trúc vĩ đại, đồ sộ và kỳ vĩ từ thời cổ đại đang sừng sững hiện ra giữa cõi trời.
Đó chính là Đảo Đồng Hồ Thiên Phong.
Không giống như Đảo Lam Bến quê hương của cô với những mái nhà lợp ngói xanh mộc mạc nép mình bình yên bên sườn đồi thoai thoải, Thiên Phong là một kỳ quan cơ khí bằng đá lơ lửng sừng sững giữa trời xanh bao la.
Những tầng tháp khổng lồ bằng đá hoa cương trắng và đá bazan xám đen xếp tầng tầng lớp lớp lên nhau như một chiếc bánh cưới nghìn năm tuổi của các bậc thần linh cổ đại. Chúng nối liền với nhau bằng hàng trăm cây cầu vòm bằng đá thanh mảnh, uốn lượn vắt vẻo qua những khoảng không thăm thẳm giữa các mỏm đảo trôi nổi. Những dòng thác mây trắng mịn như sữa đổ tràn qua các bậc thềm đá, chảy tràn xuống tầng không trung bên dưới tạo thành những dải lụa mờ ảo bồng bềnh trong gió.
Và điều kỳ diệu nhất, điều khiến trái tim của bất kỳ ai lần đầu chiêm ngưỡng cũng phải rung lên kinh ngạc: trên khắp các bề mặt vách đá dựng đứng của hòn đảo, hàng trăm, hàng ngàn những bánh răng bằng đồng thau và đá hoa cương khổng lồ đang hiện diện. Có những cỗ bánh răng vĩ đại với đường kính rộng bằng cả một sân vận chuyển thuyền bè của Cảng Cánh Diều, răng cưa của chúng ăn khớp vào nhau một cách tinh xảo đến từng phân ly.
Tất cả những cỗ máy cơ khí vĩ đại ấy đang quay chầm chậm, nhịp nhàng theo một trật tự vĩnh hằng bất biến của thời gian. Mỗi vòng quay của chúng phát ra những âm thanh tích tắc, tích tắc trầm hùng, vang vọng như tiếng sấm rền từ lòng đất, ngân nga khắp không gian biển mây vô tận, hòa quyện thành một bản trường ca cơ khí hùng tráng giữa đất trời.
Và ở đỉnh cao nhất của hòn đảo kỳ vĩ ấy, ngọn Tháp Lịch Phong bằng đá trắng tinh khiết vươn thẳng lên trời cao, kiêu hãnh xé toạc những tầng mây mỏng. Đỉnh tháp nhọn hoắt bằng kim loại mạ vàng lấp lánh dưới ánh mặt trời rực rỡ, tựa như một mũi kim đồng hồ khổng lồ của tạo hóa đang chỉ hướng thẳng về phía hư không vô tận của bầu trời Vân Quốc.