Người Giữ Bản Đồ MâyCh.31 / 44
Chapter 31

Đài Sao Dẫn Lộ

Không khí Tầng Sáng loãng và buốt giá như nước ngâm băng, làm đông cứng những giọt sương đọng trên từng sợi cáp buồm của con thuyền *Mầm Gió* khi mũi tàu rẽ qua lớp mây tơ trắng muốt tinh khôi.

Ở độ cao thăm thẳm này, bầu trời không còn mang sắc lam biếc quen thuộc của Tầng Hành Trình hay vẻ bàng bạc ẩm ướt của những dải mây thường nhật. Không gian phía trên đầu họ đã sẫm lại thành một sắc chàm sâu thẳm, hun hút và đặc quánh, gần như ngả hẳn sang màu đen mun lạnh lùng của vũ trụ bao la. Kỳ lạ thay, dẫu vầng thái dương vẫn treo cao, tỏa ra thứ ánh sáng chói gắt nhưng hoàn toàn vô nhiệt, hàng vạn vì tinh tú li ti vẫn hiện rõ mồn một. Chúng rực sáng vằng vặc như những hạt kim cương vụn vãi trên tấm thảm nhung tối tăm của vòm trời vĩnh cửu. Mặt trời và tinh tú cùng ngự trị một lúc, một cảnh tượng tráng lệ đến mức khiến hơi thở của con người phải nghẽn lại nơi cuống họng. Gió ở Tầng Sáng không gầm thét hay giật cục thành từng luồng dữ dằn như ở các tầng dưới; nó trôi đi lặng lẽ, miết qua da thịt êm ru nhưng mang theo cái lạnh thấu xương tủy, làm đông cứng cả lớp lông tơ trên gò má và biến mỗi nhịp thở ra thành những cuộn khói trắng đặc quánh.

Con thuyền *Mầm Gió*, sau đợt đại tu toàn diện và khốc liệt tại Bãi Thuyền Lạc, lướt đi với một phong thái đĩnh đạc chưa từng có. Túi nâng chính gồm mười sáu lõi tơ mây dệt dày ba lớp căng tròn kiêu hãnh, giữ cho thân thuyền lơ lửng vững vàng giữa lớp khí quyển loãng tang. Hai phiến vây lái kép bằng gỗ sồi ngàn năm vươn dài hai bên mạn, được gia cố bằng những nẹp đồng thau đóng đinh tán chìm, khẽ nghiêng theo từng cử động rất nhỏ của bánh lái. Dưới sàn tàu, khối động cơ khinh thạch thượng hạng—thành quả của bao phen sinh tử—đang phả ra nhịp thở trầm ấm, đều đặn như nhịp tim của một cự thú ngủ say. Mỗi vòng quay của trục truyền động đều truyền qua khung sườn gỗ một độ rung êm ái, đẩy mũi tàu bọc đồng sáng loáng lướt mượt mà về phía trước, cắt đôi những cuộn mây tơ bồng bềnh trôi dạt vô định.

Phía trước mũi thuyền, vệt quang ngân xoắn ốc trên bề mặt tấm Bản Đồ Mây vẫn đang phát ra thứ ánh sáng nhấp nháy bền bỉ. Luồng ánh sáng ấy dường như không chỉ chiếu rọi trên mặt giấy da mà còn phóng chiếu thẳng vào khoảng không vô tận trước mắt, vạch ra một hải trình vô hình giữa tầng trời chàm thẫm. Theo đúng góc nghiêng mà dải quang ngân dẫn lối, một hòn đảo đá vôi khổng lồ dần dần trồi lên từ biển mây trắng xoá.

Đó là hòn đảo cao nhất của toàn cõi Vân Quốc—vùng đất nằm ngoài mọi biên độ trôi dạt thông thường, nơi ngự trị của Đài Quan Trắc Sao Dẫn Lộ huyền thoại.

Hòn đảo sừng sững như một ngọn tháp tự nhiên được đẽo gọt từ một khối đá vôi xám lạnh ngắt, cô độc giữa cõi trời cao. Dưới tác động ngàn năm của những luồng gió Tầng Sáng, các vách đá dựng đứng đã bị mài nhẵn thín thành những mặt phẳng dựng đứng không một tì vết, phản chiếu ánh mặt trời lạnh lẽo như những tấm gương mờ. *Mầm Gió* giảm dần vận tốc, các cánh buồm phụ bằng lụa gió khẽ xếp lại theo lệnh kéo dây thừng nhịp nhàng. Con thuyền trượt êm ru vào một rãnh vịnh hẹp cắt sâu vào sườn đảo, nơi một thềm đá bằng phẳng chìa ra tựa như một bến đỗ cổ xưa dành riêng cho những kẻ hành hương của bầu trời.

Mũi thuyền chạm nhẹ vào bờ đá phủ đầy muối sương mỏng tang, phát ra tiếng lạo xạo giòn tan. Từ mép thềm nhìn ngược lên thiên đỉnh, tòa đài thiên văn cổ kính hiện ra với toàn bộ vẻ uy nghiêm trầm mặc của một kỷ nguyên đã lùi xa. Đó là một công trình hình trụ bát giác bằng đá hoa cương xám tro, các khối đá khổng lồ được ghép nối với nhau khít khao đến mức một lưỡi dao mỏng cũng không thể lách qua. Ngự trị trên đỉnh tháp là một vòm đồng thau vĩ đại, đường kính rộng tới hàng chục trượng. Trải qua hàng thế kỷ hứng chịu sương gió tầng cao, lớp đồng thau đã oxy hóa thành từng mảng màu xanh lục loang lổ, rêu phong phong vũ bám chặt vào các đường gờ kim loại và những hàng đinh tán cỡ lớn. Mái vòm khổng lồ ấy đang mở hé một khe ngắm thiên văn hẹp, hướng thẳng lên đỉnh trời—nơi những chòm sao ban ngày vẫn lặng lẽ tỏa sáng như những con mắt thần canh giữ trật tự của không gian.

"Lạnh... buốt thấu tận tủy sống rồi," Tứ Hải vừa rụt cổ sâu vào trong lớp cổ áo khoác bông chần dày cộp, vừa thở hổn hển. Cậu nhảy phắt xuống thềm đá, đôi ủng da thô dẫm lên lớp muối sương giòn rụm, hai bàn tay thoăn thoắt quấn sợi dây thừng bện gai dầu quanh một mỏm đá vôi chịu lực nhô ra bên mép vịnh. Cậu đưa hai bàn tay đỏ ửng vì cóng lên miệng, hà liên tục từng luồng hơi nóng ẩm để lấy lại cảm giác nơi các đầu ngón tay, rồi ngước nhìn bốn bề bằng ánh mắt vừa kinh ngạc vừa choáng ngợp. "Nhưng mà... mẹ kiếp, từ đây nhìn xuống, toàn bộ Vân Quốc chẳng khác nào một cái mâm bạc khổng lồ đựng đầy bông gòn. Chẳng thấy nổi một hòn đảo quen thuộc nào, chỉ có mây và mây."

Trên vai Lam Nhi, chim cánh mây Bông rụt cổ hết mức có thể, vùi trọn chiếc mỏ ngắn ngủn và bộ lông vũ màu xám tro vào trong chiếc khăn len đan sợi thô quấn quanh cổ cô bé. Nó chỉ để lộ ra đôi mắt tròn xoe, trong veo màu hổ phách, nhấp nháy cảnh giác quan sát không gian tĩnh lặng đến rợn ngợp xung quanh. Chiếc vòng đá bọt Canh Neo đeo nơi cổ Bông bỗng khẽ phát ra một luồng quang năng màu lam nhạt, dìu dịu như ánh trăng rằm, dường như đang âm thầm cộng hưởng với sự tinh khiết tuyệt đối của luồng không khí ở tầng trời cao nhất này.

Cô Tùng Lâm bước xuống khỏi cầu tàu một cách thận trọng, hai tay ôm ghì lấy chiếc hộp gỗ bách chứa mầm rễ Neo cổ thụ vào sát ngực áo khoác dạ. Hơi thở của cô phả ra từng vệt dài trắng muốt, tan biến rất chậm trong bầu không khí đậm đặc tính ổn định. Cô đưa mắt nhìn quanh cấu trúc địa chất của thềm đá, gật gù nhận định:

"Không khí ở độ cao này vô cùng loãng, làm giảm thiểu tối đa lực cản và sự thoát hơi nước của thực vật, nhưng điều quan trọng nhất là áp suất ở đây cực kỳ tĩnh tại. Đài quan trắc này không phải ngẫu nhiên được xây dựng tại đây. Nền móng của nó được cắm sâu vào một khối đá khinh thạch có tỉ trọng nặng nhất, ổn định nhất của toàn bộ rạn đá trung tâm Vân Quốc. Suốt mấy trăm năm biến động của các dòng hải lưu gió, nơi này gần như không hề xê dịch lấy một tấc. Nó là chiếc la bàn tĩnh tại duy nhất giữa một thế giới không ngừng trôi dạt."

Lam Nhi khẽ gật đầu, cô không nói gì, chỉ lặng lẽ siết chặt quai đeo của chiếc túi da cá voi giắt bên hông. Bên trong lớp da thuộc dày dặn, chống ẩm ấy, cuốn nhật ký hải trình của cô đang nằm im lìm. Và kẹp sâu trong những trang giấy ghi chép hành trình gian nan vừa qua chính là tờ giấy nháp bài tập trắc đạc năm cô mười bốn tuổi—với vết mực gạch xóa con số đo vĩ độ sao từng ám ảnh cô suốt bao đêm dài, như một vết sẹo vô hình trong tâm khảm đang nhức nhối đòi một lời giải đáp dứt khoát.

Cả nhóm cẩn trọng cất bước, men theo những bậc thang đá vôi ngoằn ngoèo dẫn lên tiền sảnh của đài quan trắc. Những bậc đá này đã bị gió tuyết và sương lạnh bào mòn suốt hàng thế kỷ, nhẵn bóng và trơn trượt như băng. Xung quanh họ, sự tĩnh mịch bao trùm dày đặc đến mức tiếng lạo xạo của lớp tuyết vụn vỡ vụn dưới gót giày vang lên rõ mồn một, dội lại từ các vách đá hoa cương như những tiếng gõ lách cách của chiếc đồng hồ cát vô hình.

Thế nhưng, ngay khi họ vừa bước qua cánh cổng vòm đá dẫn vào khoảng sân trắc đạc lộ thiên phía trước chân tháp bát giác, một âm thanh kim loại va chạm khô khốc đột ngột xé toạc bầu không khí tĩnh mịch:

*Keng... cạch... keng...*

Tiếng động vang lên rời rạc, run rẩy nhưng đầy kiên trì.

Nhóm Lam Nhi lập tức khựng lại. Tứ Hải theo phản xạ bản năng của một hoa tiêu đã trải qua bao phen chạm trán hiểm nguy, bàn tay cậu hạ thấp xuống, nắm chặt lấy chuôi con dao găm phòng thân giắt bên hông, mắt gườm gườm nhìn xuyên qua màn sương muối mỏng đang là là mặt đất.

Giữa khoảng sân đá rộng thênh thang, nơi có những đường kẻ kinh vĩ độ được khắc chìm trực tiếp vào nền đá hoa cương, một bóng người đơn độc đang cặm cụi cúi rạp bên một bệ trắc đạc cơ động ba chân. Bệ máy làm bằng đồng thau và kính thạch anh, chĩa thẳng ống ngắm lên một góc chếch của vòm trời. Rải rác khắp mặt sân xung quanh người đó là hàng chục cuộn giấy đo đạc khổ lớn, những chiếc thước kẹp kim loại, ống thủy ngân đo áp suất, quả dọi bằng chì và những lăng kính phân kì đủ kích cỡ. Để gió Tầng Sáng không thổi bay những tài liệu quý giá ấy, người đó đã dùng những cục đá bọt xám đen thô ráp để đè chặt lên từng mép giấy.

Người đó khoác trên mình chiếc áo choàng trắc đạc viên cấp cao của Phường Giữ Bản Đồ—chiếc áo choàng bằng len xám viền chỉ bạc lộng lẫy, biểu tượng cho quyền uy học thuật tối thượng của Viện Hàn lâm Thiên Phong. Nhưng giờ đây, tấm áo kiêu hãnh ấy đã lấm lem bụi đá vôi trắng xóa, những vệt sáp nến phong vũ màu tím loang lổ bám dọc hai bên tay áo, và gấu áo đã tưa rách xơ xác do liên tục va quẹt vào những gờ đá sắc nhọn. Mái tóc dài từng luôn được chải chuốt mượt mà, búi gọn gàng theo đúng quy chuẩn nghi thức của các nhà đo đạc nay buông xõa rũ rượi, xơ xác vì gió lạnh, vài lọn tóc bết chặt vào vầng trán tái nhợt vì mồ hôi đã đóng băng.

Nghe thấy tiếng bước chân dẫm lên đá sương, bóng người ấy giật thót mình, quay phắt lại. Bàn tay đang cầm chiếc kính lúp đo góc vi phân run bắn lên, khiến chiếc thấu kính suýt chút nữa tuột khỏi những ngón tay trần tím tái.

"Mai Khuê?" Lam Nhi buột miệng thốt lên, thanh âm của cô vỡ ra giữa không gian loãng, ngập tràn vẻ bàng hoàng không thể tin vào mắt mình.

Đứng trước mặt họ không ai khác chính là Mai Khuê. Thiên tài trắc đạc trẻ tuổi nhất của Phường Giữ Bản Đồ, người từng ngẩng cao đầu đứng trên boong chiếc soái hạm lộng lẫy đem lệnh thanh tra trừng phạt đến xưởng vẽ của ông nội ở Đảo Thiên Phong. Nhưng lúc này, không còn tìm đâu ra nét kiêu ngạo lạnh lùng, vẻ trịch thượng khinh miệt hay ánh mắt sắc như dao cạo từng coi thường mọi kinh nghiệm thực địa dân gian của cô ta nữa. Mai Khuê đứng đó, giữa sân đá Tầng Sáng buốt giá, gầy sọp và hốc hác đến mức đáng sợ. Đôi gò má thanh tú nhô cao dưới làn da tái mét không còn một giọt máu, quầng thâm đen sẫm hằn sâu dưới đáy mắt như thể đã nhiều tuần lễ cô không hề chợp mắt. Đôi môi cô nứt nẻ chằng chịt, rớm máu vì khô rét, và đôi bàn tay trần trắc đạc từng được nâng niu trong những chiếc găng nhung nay đầy những vết xước rỉ máu, chai sạn vì thao tác vặn ốc và siết bu-lông kim loại giữa thời tiết dưới độ đông rỗng.

"Là các cậu..." Mai Khuê thều thào, giọng cô khản đặc, nghẹn ứ nơi cổ họng như một thanh kim loại rỉ sét bị ma sát sau nhiều ngày ròng rã không trò chuyện cùng bất kỳ sinh linh nào. Cô chớp mắt liên tục, như thể ánh sáng rực rỡ của những vì sao ban ngày và sự xuất hiện đột ngột của nhóm Lam Nhi chỉ là một ảo ảnh sinh ra từ cơn kiệt sức tột cùng. Ánh mắt cô quét qua vẻ cảnh giác của Tứ Hải, dừng lại rất lâu trên gương mặt trầm tĩnh nhưng kiên định của Lam Nhi, rồi khóe môi nứt nẻ của cô khẽ giật giật, nở ra một nụ cười méo mó, cay đắng đến nghẹn lòng: "Các cậu... bằng cách nào... lại có thể mò tới tận đây? Bằng một con thuyền dân sự chắp vá... vượt qua cả Hẻm Ngân Chuông gầm thét và vực sâu Tầng Mù sao?"

"Này, thuyền *Mầm Gió* của chúng tôi được đóng bằng gỗ tốt và kỹ thuật gia truyền đàng hoàng, đừng có mở mồm ra là chắp vá!" Tứ Hải không kìm được tính khí bộc trực, lập tức cự nại. Nhưng khi ánh mắt cậu chạm vào những ngón tay đang run bần bật vì cóng và bộ dạng thảm hại của Mai Khuê, giọng cậu bất giác dịu xuống, mang theo vẻ bối rối lẫn thương hại: "Mà này... rốt cuộc cô đã chôn chân ở cái nơi quỷ quái không có một bóng người này bao lâu rồi? Đội quân hộ tống danh giá của Phường đâu? Chiếc soái hạm Bạch Ưng bọc thép to đùng ngã ngửa của viện hàn lâm đâu rồi?"

Mai Khuê buông thõng hai cánh tay gầy guộc xuống hai bên hông. Một hơi thở dài buốt giá thoát ra từ lồng ngực lép kẹp của cô, hóa thành làn sương mỏng manh bay vút lên bầu trời chàm thẫm:

"Tôi đã hạ lệnh cho thuyền trưởng tàu Bạch Ưng nhổ neo, đưa toàn bộ đoàn tùy tùng quay về Thiên Phong từ ba tuần trước rồi. Tôi ở lại đây một mình. Tự nguyện ở lại. Bởi vì... nếu cứ để đám lính thanh tra, các quan chức giám sát và các học giả thủ cựu của viện hàn lâm kè kè bên cạnh, tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ có cơ hội tìm ra thứ mình cần. Bọn họ... bọn họ lên đây chỉ để làm một việc duy nhất: ghi chép những con số sao cho trùng khít từng ly từng tí với cuốn Lịch Thiên Văn quy chuẩn đã được in sẵn hàng vạn bản của Phường. Họ không cần biết bầu trời thực tế đang quay như thế nào. Họ chỉ cần những con số 'đúng quy chuẩn' để bảo vệ vị thế của mình... Họ không muốn, và không bao giờ dám đối diện với sự thật."

Lam Nhi bước từng bước chậm rãi lại gần bệ máy ba chân. Ánh mắt cô lướt qua mặt đĩa chia độ bằng đồng thau được khắc vạch tinh xảo. Trên chiếc đĩa tròn ấy, kim chỉ góc bằng thép mảnh đang dừng lại ở một vị trí lệch hẳn so với đường kinh tuyến trung tâm. Ngay cạnh chân đế, cuốn sổ tay bìa cứng của Mai Khuê mở toang, bên trong đặc kín những cột số liệu đối chiếu thiên văn, những phép tính vi phân quỹ đạo dài dằng dặc, và hầu hết chúng đều bị gạch bỏ bằng những nét mực đỏ run rẩy, tuyệt vọng.

"Cậu đã tìm ra nguyên nhân của sự sai lệch rồi, có phải không?" Lam Nhi hỏi, thanh âm của cô cất lên rất khẽ, dịu dàng và tĩnh lặng, hoàn toàn không mang một chút ý niệm chất vấn hay hả hê của kẻ chiến thắng.

Mai Khuê ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Lam Nhi. Trong đôi mắt thâm quầng của thiên tài trắc đạc ánh lên một sự xáo trộn mãnh liệt—nơi đó có sự bẽ bàng, nỗi tủi hổ của một kẻ vừa nhận ra bức tường thành kiêu hãnh của đời mình xây trên cát, nhưng đồng thời cũng lấp lánh sự giải thoát thanh thản của một người vừa bước ra khỏi bóng tối ngột ngạt.

"Tìm ra rồi," Mai Khuê cay đắng thừa nhận, từng từ thốt ra như rút cạn chút sinh lực cuối cùng còn sót lại trong cơ thể cô. "Nhưng phát hiện này... nó tàn nhẫn lắm, Lam Nhi. Nó làm sụp đổ toàn bộ nền móng học thuật, toàn bộ những tín điều thiêng liêng mà tôi từng tôn thờ và được nhồi nhét suốt mười mấy năm qua tại viện hàn lâm... Đi theo tôi. Cỗ kính chính nằm ở bên trong tháp. Các cậu phải tận mắt chứng kiến nó."

Nói đoạn, Mai Khuê lảo đảo quay người, bước đi xiêu vẹo như một kẻ mộng du dẫn đường tiến về phía cánh cửa gỗ sồi bọc đồng dẫn vào lòng tháp trung tâm. Nhóm Lam Nhi im lặng nhìn nhau rồi cất bước bám sát phía sau.

Bước qua ngưỡng cửa dày nặng, cánh cửa khép lại sau lưng họ, ngăn cách hoàn toàn với những luồng gió lướt của Tầng Sáng. Nhiệt độ bên trong lòng tháp thậm chí còn thấp hơn bên ngoài sân đá, buốt giá và ẩm mốc, nhưng không gian tuyệt đối lặng gió. Không khí ở đây ngập tràn mùi hương đặc trưng của những cỗ máy cổ xưa: mùi dầu tra máy bằng mỡ cá voi thượng hạng đã đông đặc lại thành lớp mỡ xám, mùi kim loại lạnh ngắt và mùi đá hoa cương ẩm ướt.

Chiếm trọn vẹn khoảng không gian khổng lồ của tòa tháp bát giác là cỗ kính viễn vọng sao Dẫn Lộ huyền thoại—một kỳ quan quang học cơ khí vượt xa sức tưởng tượng của thời hiện đại. Thân kính dài hơn năm trượng, to lớn như một thân cây cổ thụ, được chế tác từ những tấm đồng thau dày dặn ghép mộng tinh xảo, bên ngoài chạm khắc nổi những đồ hình thiên hà, các chòm sao hộ mệnh và những ký tự cổ xưa của nền văn minh tiền kiếp. Cỗ kính vĩ đại ấy được đặt tựa trên một bệ xoay bằng đá hoa cương đen nguyên khối hình bán cầu. Chung quanh bệ đá là một hệ thống bánh răng đối trọng tầng tầng lớp lớp, các trục truyền động bằng thép tôi ăn khớp khít khao với nhau, vươn thẳng ống kính khổng lồ qua khe hở của mái vòm hướng thẳng lên trời cao.

Mai Khuê không dẫn họ lên sàn quan sát phía trên, mà đi thẳng tới chân bệ đá trung tâm. Cô quỳ sụp một gối xuống nền đá lạnh buốt, hai bàn tay run rẩy nắm lấy mép một tấm bạt thô phủ đầy bụi, giật mạnh ra.

Bên dưới tấm bạt là một hốc bảo trì cơ khí ngầm, nằm sâu dưới chân bệ đỡ chịu lực chính của toàn bộ cỗ kính.

"Các cậu hãy nhìn vào đây," giọng Mai Khuê run lên bần bật, cô chỉ ngón tay khẳng khiu vào khớp xoay trục chính bằng đồng thau chịu lực đang nằm sâu trong hốc máy. "Đây là trục kinh tuyến trời của cỗ kính sao Dẫn Lộ. Toàn bộ trọng lượng của thân kính, toàn bộ hệ thống thấu kính quang học thạch anh ba tầng phía trên, và toàn bộ các đĩa chia độ của viện hàn lâm... đều lấy điểm tựa thăng bằng từ duy nhất một chiếc trục đồng này. Suốt một trăm năm qua, mọi tấm hải đồ thương mại, mọi bảng quy chuẩn tọa độ hàng hải của Phường Giữ Bản Đồ ban hành cho toàn bộ tàu thuyền Vân Quốc đều dựa trên góc ngắm của cỗ kính này, coi nó là thước đo của chân lý tối cao, bất khả xâm phạm."

Lam Nhi, Tứ Hải và cô Tùng Lâm cùng cúi rạp người xuống, nín thở nhìn theo hướng chỉ tay của Mai Khuê.

Dưới luồng ánh sáng chàm lạnh lẽo rọi xuống từ khe hở mái vòm, chi tiết cơ khí cốt lõi hiện ra rõ mồn một. Trên thân trục đồng thau chịu lực—một khối kim loại đúc đặc có đường kính dày bằng cả bắp đùi người lớn—xuất hiện một vết rạn nứt cơ học hình chữ V ăn sâu hoắm vào tận ngàm then định vị. Vết nứt đen ngòm, sắc ngọt, tuy chưa làm gãy rời hoàn toàn khối kim loại nhưng lực vặn xoắn khủng khiếp đã khiến toàn bộ vòng bi đỡ bằng ngọc bích và các bánh răng truyền động ăn khớp xung quanh bị cưỡng bức xô lệch, nghiêng hẳn khỏi mặt phẳng thăng bằng nằm ngang.

"Trục chính bằng đồng thau này đã bị lệch," Mai Khuê cất lời, từng âm tiết nặng trĩu như những tảng đá đè nén lồng ngực cô bấy lâu nay được trút ra: "Nó bị cong vênh một góc nghiêng cơ học chừng một phần sáu độ. Chính xác là mười phút cung. Vết nứt này hoàn toàn không phải do sự mài mòn hay biến dạng kim loại tự nhiên qua thời gian. Đây là vết nứt do lực xung chấn cực mạnh gây ra... vết tích của một cơn địa chấn chấn động Mạch Neo tầng sâu dội thẳng từ dưới đáy thế giới lên đài quan trắc này... từ mười năm trước."

"Mười năm trước..." Đôi mắt sau gọng kính của cô Tùng Lâm khẽ co rút lại, bàn tay cô siết chặt lấy chiếc hộp gỗ bách: "Đúng vào thời điểm các tập đoàn thương thuyền bắt đầu khai thác ồ ạt các mỏ khinh thạch tầng đáy, và Mạch Neo của toàn bộ quần đảo bắt đầu xuất hiện những nhịp co thắt, trồi sụt dữ dội đầu tiên!"

"Chính là nó," Mai Khuê cay đắng gật đầu: "Cú rung chấn kinh hoàng mười năm trước đã bẻ gãy ngàm định vị ngầm của bệ kính. Một phần sáu độ! Các cậu có hiểu một phần sáu độ nghĩa là gì không? Đối với mắt thường của người phàm, một phần sáu độ cơ học là thứ hoàn toàn vô hình, nó chỉ mỏng manh bằng độ dày của một sợi tơ nhện khi nhìn qua thước ngắm thô sơ. Nhưng khi góc nghiêng cơ học ấy truyền lên thân kính dài năm trượng, phóng đại qua hệ thống thấu kính thạch anh ba tầng để định vị các chòm sao cố định cách xa hàng triệu dặm... một phần sáu độ đó lập tức biến thành một độ lệch khổng lồ trên bầu trời!"

Tứ Hải nghe đến đây bèn đập mạnh bàn tay vào đùi một cái *chét*, đôi mắt hoa tiêu của cậu mở to trừng trừng:

"Thảo nào! Tôi hiểu rồi! Trời đất ơi, khi phóng chiếu một góc lệch một phần sáu độ từ trên đài thiên văn này xuống mặt đất và các tầng mây, khoảng cách càng xa thì góc mở càng rộng ra! Nhân theo cự ly hải lý của Vân Quốc, góc lệch một phần sáu độ ấy sẽ biến thành sai số đúng hai phẩy bốn hải lý về hướng đông bắc trên mọi tấm hải đồ quy chuẩn! Hèn chi... hèn chi từ bãi đá Tiêu Sa cho tới tận cửa gió Thiên Phong, tất cả mọi luồng gió và tọa độ đảo mà tàu thuyền đi theo hải đồ của Phường đều bị lệch y chang một khoảng cách đó!"

"Chưa hết đâu..." Lam Nhi thì thầm, giọng cô run lên khe khẽ. Tim cô đập thình thịch từng hồi dữ dội trong lồng ngực, một luồng cảm xúc nghẹn ngào từ đáy sâu tâm thức cuộn trào lên làm cay xè sống mũi. Cô quỳ hẳn cả hai đầu gối xuống nền đá lạnh ngắt bên cạnh Mai Khuê, những ngón tay run rẩy mở khóa chiếc túi da cá voi bên hông.

Từ ngăn sâu nhất của cuốn nhật ký hải trình, Lam Nhi cẩn trọng rút ra một tờ giấy đã ngả sang màu vàng ố của thời gian. Mép giấy đã sờn rách, những nếp gấp hằn sâu dấu vết của hàng trăm lần mở ra rồi gấp lại trong những đêm dài dằn vặt và tự trách. Đó chính là tờ bản nháp bài tập trắc đạc thực địa mà cô đã tự tay đo đạc trên đỉnh tháp ngắm sao của Đảo Lam Bến vào mùa Gió Nảy Mầm năm mười bốn tuổi.

Trên mặt giấy thô ráp, con số đo vĩ độ sao nguyên thủy được ghi bằng nét mực phong vũ sắc nét của cô bé năm ấy vẫn còn nguyên vẹn: *34 độ 18 phút*.

Và ngay sát bên cạnh nó, một vệt mực gạch xóa nguệch ngoạc, run rẩy đè lên, kèm theo con số sửa lại đầy sợ hãi: *34 độ 36 phút*.

"Mai Khuê, cậu hãy nhìn cái này đi," Lam Nhi đặt tờ giấy nháp phẳng phiu lên bệ đá hoa cương, ngay cạnh chiếc thước kẹp vi phân bằng đồng của Mai Khuê. "Năm mười bốn tuổi, tớ đã đứng trên đỉnh tháp cao nhất của Lam Bến. Tớ không dùng kính thiên văn của Phường, mà dùng ống ngắm thạch anh độc lập do chính ông nội mài gọt, kết hợp với quả dọi trọng lực tự nhiên thả dọc theo tim tháp để đo góc ngắm của sao Dẫn Lộ. Con số tớ tự tay đo được vào đêm hôm ấy là ba mươi tư độ mười tám phút. Nhưng khi đối chiếu với cuốn Lịch Thiên Văn quy chuẩn mới nhất mà Phường gửi về cho xưởng vẽ bản đồ, con số in trong sách lại bắt buộc phải là ba mươi tư độ ba mươi sáu phút."

Mai Khuê trố trố mắt nhìn chằm chằm vào tờ giấy nháp ố vàng. Bàn tay nứt nẻ của cô vội vã chộp lấy chiếc thước đo góc vi phân và tập bảng số liệu thiên văn thực nghiệm mà cô đã miệt mài ghi chép suốt ba tuần cô độc vừa qua trên đỉnh tháp này.

Bàn tay của hai cô gái chạm vào nhau trên mặt giấy lạnh ngắt. Cả hai cùng cúi sát đầu xuống, những lọn tóc vương bụi sương chạm vào nhau, tỉ mỉ soi từng con số, từng vạch chia độ vi phân qua từng chu kỳ xuân phân, hạ chí, thu phân và đông chí được lưu trữ trong máy.

Khoảng cách giữa *34 độ 18 phút* và *34 độ 36 phút* chính xác bằng mười tám phút cung—tức ba phần mười độ góc ngắm thiên văn thực địa!

Và khi đem ba phần mười độ góc ngắm quang học đó trừ đi hệ số khúc xạ khí quyển tầng cao của hệ thống thấu kính thạch anh ba tầng... con số cơ học thuần túy còn lại chính xác đến kinh ngạc: mười phút cung!

Đúng bằng một phần sáu độ!

Sai số một phần sáu độ lặp lại y hệt, chuẩn xác đến từng tích tắc cung, qua tất cả các chu kỳ đo đạc được khắc trên các vành bánh răng của cỗ kính viễn vọng suốt mười năm qua!

"Trời cao đất dày ơi..." Mai Khuê lẩm bẩm, hơi thở cô nghẹn tắc lại nơi lồng ngực. Đôi mắt cô dán chặt vào con số *34 độ 18 phút* bị gạch xóa của Lam Nhi, ngón tay run rẩy miết nhẹ lên vệt mực cũ: "Cậu đo bằng quả dọi trọng lực tự nhiên và ống ngắm trực tiếp... Nghĩa là phương đo của cậu bám theo phương thẳng đứng tuyệt đối của lực hút tâm thế giới, hoàn toàn không thông qua hệ thống bánh răng cơ học bị biến dạng của cỗ kính này! Con số ba mươi tư độ mười tám phút của cậu năm mười bốn tuổi... chưa từng sai một li nào cả! Nó là số liệu thực tế tuyệt đối chính xác!"

Một giọt nước mắt nóng hổi bất giác trào ra khỏi khóe mi Lam Nhi, lăn dài trên đôi má giá lạnh rồi khẽ nhỏ xuống mặt giấy da ố vàng, làm nhòe đi một góc của con số sửa lại run rẩy năm nào.

Suốt ngần ấy năm trời, cô đã luôn mang trong mình một mặc cảm tội lỗi sâu sắc. Cô đã từng tự nguyền rủa bản thân là một kẻ hèn nhát, một đứa học việc dối trá đã bóp méo số liệu đo đạc thực tế chỉ vì sợ bị coi là kém cỏi, sợ làm tổn hại đến danh dự gia đình, sợ ánh mắt thất vọng của ông nội. Cô đã từng đau đớn tin rằng chính sự dao động và lời phàn nàn nông nổi của cô về sự sai lệch tọa độ trong đêm hôm ấy đã xua đuổi ông nội dấn thân vào chuyến hải trình định mệnh xuống Tầng Mù để rồi mất tích. Nhưng giờ đây, giữa trời sao vằng vặc của Tầng Sáng, sự thật hiển hiện sáng rõ và rực rỡ như một ánh chớp xé toạc màn đêm u tối: cô bé mười bốn tuổi năm ấy không hề sai lầm! Đôi mắt của cô, trực giác của cô, và phép đo thực địa chân chính của cô hoàn toàn chuẩn xác!

"Không chỉ có một mình cậu chịu đựng nỗi oan ức này đâu, Lam Nhi..."

Giọng Mai Khuê chùng xuống, nghẹn ngào một nỗi xót xa muộn màng. Cô run rẩy vươn tay kéo từ gầm bàn trắc đạc ra một chiếc tráp da bò dày cộp đã mòn vẹt bốn góc. Mở chiếc khóa đồng hoen gỉ, cô trân trọng nâng ra một cuốn sổ tay dày cộp bọc da thuộc màu nâu sẫm. Trên bìa cuốn sổ, con dấu sáp niêm phong của Viện Khảo sát Trung tâm vẫn còn hằn rõ, bên dưới là dòng chữ mạ vàng đã phai nhạt: *Sổ Nhật trình Lưu trữ Thẩm định Tọa độ — Niên khóa 40 đến 50*.

"Khi tôi nhận lệnh thanh tra của Hội đồng để tới thu hồi Bản Đồ Mây ở Thiên Phong, trong lòng tôi đã dấy lên mối hoài nghi," Mai Khuê vừa nói, vừa lật từng trang giấy dày nẹp chỉ đỏ đã ố màu. "Tôi đã lén đột nhập vào kho lưu trữ mật của Phường để sao chép cuốn sổ này. Mười năm trước, sau trận địa chấn ngầm, người đầu tiên phát hiện ra sự bất thường của các hải đồ quy chuẩn... chính là bậc thầy bản đồ Vân Kính. Ông nội của cậu."

Lam Nhi nín thở nhìn vào những trang giấy. Trên từng nét mực phong vũ sắc sảo, gãy gọn và quen thuộc đến thắt lòng của ông nội, hiện ra những bản vẽ hải đồ đối chiếu tỉ mỉ. Từng đường kinh tuyến, vĩ tuyến được ông hiệu chỉnh bằng tay với những ghi chú cẩn trọng đến từng chi tiết nhỏ.

Mai Khuê lật tiếp những trang sau, chỉ ngón tay vào những con dấu triện màu đỏ chói đóng đè lên chữ ký của Vân Kính:

"Cậu nhìn đi. Mười năm trước, Vân Kính đã liên tiếp gửi tới bảy bản tường trình khẩn cấp lên Hội đồng Giữ Bản Đồ. Ông khẳng định cỗ kính sao Dẫn Lộ đã bị lệch trục sau chấn động tầng sâu, và cảnh báo rằng nếu tiếp tục dùng nó để in ấn hải đồ, toàn bộ tàu thuyền của Vân Quốc sẽ bị dẫn thẳng vào các bãi đá ngầm và các vùng gió xoáy nguy hiểm. Nhưng Hội đồng đã đáp lại ông bằng những gì? Hãy đọc những dòng này: 'Bác bỏ do không khớp với quy chuẩn kính sao Dẫn Lộ'. 'Nghi vấn ngụy tạo số liệu trắc đạc nhằm mục đích trục lợi'. 'Cảnh cáo học thuật cấp ba'... Các trưởng lão của Phường, dưới sức ép kinh tế nặng nề từ các thương đoàn của Hội Kim Phong, và trên hết là vì lòng kiêu ngạo mù quáng của một viện hàn lâm chưa từng thừa nhận thất bại, đã thẳng thừng chối bỏ sự thật. Họ từ chối thừa nhận cỗ kính thiêng liêng ngự trên đỉnh thế giới của họ đã bị hỏng!"

Mai Khuê ngước khuôn mặt đẫm lệ lên nhìn Lam Nhi, giọng cô run rẩy trong sự phẫn uất tột cùng:

"Bởi vì thừa nhận chiếc kính bị lệch trục đồng nghĩa với việc họ phải thừa nhận hàng vạn tấm hải đồ thương mại đắt đỏ đã bán ra suốt một thập kỷ qua là phế phẩm! Thừa nhận sự bất lực của cả một hệ thống học thuật hàn lâm! Thừa nhận rằng toàn bộ mạng lưới định vị của cả một quốc gia phải đập đi xây lại từ con số không! Để bảo vệ chiếc ghế và quyền lực của mình, họ đã chọn một con đường đê hèn và dễ dàng hơn: bôi nhọ danh dự của Vân Kính. Họ gán cho ông cái danh 'kẻ lập dị hoang tưởng', cô lập ông khỏi giới đo đạc, tước bỏ quyền thẩm định của ông, và biến ông thành một kẻ tội đồ trong mắt công chúng. Trong khi sự thật là... mọi con số, mọi nét vẽ của ông nội cậu đều hoàn toàn chính xác theo góc nhìn thực địa! Ông không hề sai lệch dù chỉ là một phần ngàn hải lý! Chính cỗ kính sao này—chính sự mù quáng, giáo điều của Phường Giữ Bản Đồ—mới là thứ đã bị lệch trục hoàn toàn!"

Những lời khẳng định đanh thép của Mai Khuê vang vọng giữa không gian vòm đồng thau tĩnh mịch, dội vào các vách đá hoa cương như một bản tuyên ngôn giải thoát. Nó như một nhát búa tạ giáng xuống, đập tan xiềng xích của sự hoài nghi và nỗi hàm oan nghiệt ngã đã đè nặng lên thanh danh của bậc thầy bản đồ Vân Kính suốt mười năm ròng rã, đồng thời gột rửa sạch sẽ nỗi đau giằng xé trong tâm hồn cô cháu gái nhỏ bé của ông.

Tứ Hải đứng chôn chân tại chỗ, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm đến trắng bệch các khớp ngón, hai hốc mắt cậu đỏ hoe vì một cơn giận dữ sôi trào hòa lẫn niềm thương cảm vô hạn. Cô Tùng Lâm khẽ tiến lại gần, đặt bàn tay ấm áp của mình lên bờ vai đang run lên khe khẽ của Lam Nhi, siết nhẹ như muốn san sẻ tất cả sức mạnh tinh thần cho cô học trò nhỏ.

Bỗng nhiên, chim cánh mây Bông vỗ cánh bay vụt lên khỏi vai Lam Nhi. Nó lượn một vòng trên không gian bao la của lòng tháp rồi đáp xuống đỉnh chiếc thước đo góc vi phân gắn trên bệ kính chính. Chú chim nhỏ ngước chiếc mỏ nhọn lên vòm trời, cất tiếng hót véo von, trong trẻo và vang lừng như tiếng chuông bạc gõ vào không gian vô tận. Chiếc vòng đá bọt Canh Neo nơi cổ Bông bừng sáng rực rỡ, phát ra một luồng hào quang màu xanh biếc thuần khiết, rọi sáng bừng từng đường vân đá hoa cương và từng chi tiết máy móc rỉ sét trong góc tối.

Dưới vòm ánh sáng thanh sạch ấy, Mai Khuê hít một hơi thật sâu, chậm rãi đứng thẳng dậy. Cô đưa tay vuốt lại những nếp áo choàng xám viền chỉ bạc đã rách tươm của mình, khẽ phủi đi lớp bụi đá vôi bám trên ngực áo. Sau đó, cô lùi lại một bước dài, đứng đối diện với Lam Nhi.

Trước sự chứng kiến của những vì sao ban ngày lấp lánh qua khe vòm đồng, trước cỗ kính thiên văn cổ kính và hồn thiêng của những người vẽ bản đồ chân chính qua muôn thế hệ, Mai Khuê—người học viên xuất sắc nhất, niềm kiêu hãnh tuyệt đối của Viện Hàn lâm Thiên Phong—chậm rãi gập người xuống. Cô đặt bàn tay phải áp chặt lên ngực trái, cúi đầu một góc chín mươi độ hoàn hảo theo nghi lễ tối cao của giới trắc đạc cổ xưa:

"Tôi, Mai Khuê, trắc đạc viên cấp cao của Phường Giữ Bản Đồ, xin nhân danh danh dự của một người đo đạc bầu trời, cúi đầu nhận lỗi trước cậu, và trước linh hồn của bậc thầy Vân Kính. Chúng tôi đã phạm phải một tội ác tày đình: tôn sùng công cụ nhân tạo hơn chân lý tự nhiên. Chúng tôi đã để sự giáo điều, tính kiêu ngạo và nỗi sợ hãi làm mù mắt, bóp nghẹt tiếng nói của những người bám sát thực địa. Nỗi oan khuất mười năm của ông nội cậu... bắt đầu từ giây phút này, phải được xóa sạch hoàn toàn."

Lam Nhi nghẹn ngào không thốt nên lời. Cô bước vội tới một bước, đưa cả hai bàn tay đỡ lấy đôi cánh tay gầy guộc, lạnh ngắt của Mai Khuê, nhẹ nhàng nâng cô ấy dậy:

"Cậu không cần phải cúi đầu trước tớ, Mai Khuê. Cậu đã một mình ở lại nơi giá buốt này suốt ba tuần qua để tìm kiếm vết nứt này. Cậu đã dám từ bỏ sự bảo bọc an toàn của viện hàn lâm để đi tìm sự thật trần trụi. Nếu ông nội tớ còn ở đây... ông nhất định sẽ mỉm cười và gọi cậu là một người giữ bản đồ chân chính."

Mai Khuê ngẩng đầu lên, hai hàng lệ làm trôi đi những vệt sáp nến trên gò má hốc hác, nhưng trong đôi mắt cô, lần đầu tiên ánh lên một sự thanh thản và kiên định chưa từng thấy. Mọi khoảng cách ngăn cách, mọi sự thù địch, ganh đua và định kiến giữa hai trường phái—một bên là hàn lâm kinh viện quy chuẩn, một bên là thực nghiệm dân gian kiên cường—đều đã tan biến hoàn toàn thành tro bụi giữa bầu không khí tinh khiết của Tầng Sáng, chỉ còn lại sự gắn kết thiêng liêng của những tâm hồn cùng phụng sự cho sự thật của bầu trời.

"Nhưng... chúng ta vẫn còn một việc tối quan trọng phải làm," Mai Khuê gạt nhanh những giọt nước mắt trên má, giọng cô lấy lại vẻ đanh thép, quả quyết quen thuộc của một nhà khoa học. "Sự thật về vết nứt cơ học một phần sáu độ này mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm mà thôi. Lý do thực sự khiến các trưởng lão của Phường và Hội đồng Tối cao phải dùng mọi thủ đoạn hèn hạ nhất để bưng bít sai số này suốt mười năm... và lý do tối hậu khiến bậc thầy Vân Kính phải bất chấp tính mạng dấn thân xuống Tầng Mù để tìm kiếm Đảo Neo... tất cả đều nằm ở đây."

Mai Khuê dứt khoát xoay người, bước nhanh về phía chiếc bàn đá hoa cương đen bóng loáng nằm ngay chính giữa tâm đối trọng của cỗ kính thiên văn.

Lam Nhi bước song song bên cạnh cô. Hai cô gái trẻ—hai đại diện ưu tú nhất của thế hệ hoa tiêu và trắc đạc mới của Vân Quốc—cùng dừng bước trước mặt bàn đá lạnh ngắt.

Ngay tại trung tâm mặt bàn, một chiếc tráp kim loại hình chữ nhật bằng hợp kim đồng-thép nạm đá phong vũ đang nằm sừng sững. Khối kim loại nặng nề toát ra vẻ bí ẩn và cấm kỵ. Miệng tráp được dán chặt bởi một dải niêm phong bằng sáp phong vũ ngũ sắc dày cộp, trên mặt sáp in chìm con dấu biểu tượng hoa tiêu la bàn mười sáu hướng cổ xưa—ấn tín tối cao chỉ thuộc về Hội đồng Trưởng lão Phường Giữ Bản Đồ.

Dưới áp suất cực kỳ ổn định của Tầng Sáng, lớp sáp phong vũ ngũ sắc ánh lên những tia sáng màu tím sẫm huyền bí, phong kín những bí mật đen tối nhất của lịch sử trắc đạc suốt một thập kỷ qua.

Mai Khuê hít sâu một luồng không khí băng giá vào căng tràn lồng ngực, bàn tay cô dứt khoát rút từ bao da bên thắt lưng ra một chiếc dao trắc đạc bằng thép tôi cán ngà sắc lẹm. Cô quay sang nhìn thẳng vào mắt Lam Nhi, và bắt gặp một ánh nhìn kiên định, không hề dao động từ người bạn đồng hành.

Lưỡi dao thép lạnh lẽo hạ xuống, rạch một đường dứt khoát và sắc ngọt qua dải sáp phong vũ ngũ sắc. Tiếng sáp cổ vỡ vụn vang lên một tiếng *tách* giòn tan, thanh thoát giữa sự tĩnh lặng trang nghiêm của đài thiên văn.

Mai Khuê mở chiếc tráp kim loại của Phường Giữ Bản Đồ, lấy ra một tập hồ sơ mật từng bị niêm phong nhiều năm.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories