Người Giữ Bản Đồ MâyCh.27 / 44
Chapter 27

Mầm Gió Bị Thương

Tiếng gió rít qua tai nhức nhối khi bầu trời trắng xóa đảo lộn, sàn gỗ nghiêng dốc khiến mọi rương hòm và dụng cụ đo đạc trượt dồn về một góc buồng lái.

Thế giới quanh họ đã vỡ tan thành những vệt sương xám mù mịt cuộn xoáy với tốc độ kinh hoàng. Mạn trái con thuyền *Mầm Gió*, nơi vừa hứng trọn cú phụt nổ áp suất từ đáy vực Tầng Mù, đang trĩu nặng như bị một bàn tay vô hình ngàn cân ghì siết xuống đáy sâu tăm tối. Túi nâng tơ mây ba lớp bị xé toạc rách bươm, từng dải tơ dệt xen sợi đồng vi mảnh tước ra lơ thơ giữa làn dưỡng khí buốt cóng. Lớp khí hydro-khinh thạch ấm nóng tích trữ từ khoang nén trung tâm thoát ra xì xì buốt giá, tạo nên những dải khói trắng xóa vần vũ quanh thân tàu, bốc mùi khoáng thạch cháy khét lẹt hòa cùng mùi lưu huỳnh ngai ngái. Không còn lực nâng đối xứng để giữ thăng bằng, con thuyền chúc mũi xuống khoảng không vô định, xoay tròn theo trục thẳng đứng như một chiếc lá khô bị cuốn phăng vào miệng cống ngầm khổng lồ của bầu trời.

"Tứ Hải! Giữ lấy sống tàu!" Lam Nhi hét lên, tiếng của cô gần như bị nuốt chửng bởi tiếng rít xé màng nhĩ của luồng gió rơi tự do.

Gió thốc ngược từ đáy vực đập thình thịch vào lồng ngực cô, rát buốt như hàng ngàn mũi kim châm xuyên qua lớp áo khoác dạ dày cộp. Cô nép sát sàn tàu, dán chặt toàn bộ cơ thể mảnh dẻ xuống những thớ gỗ thông dát mỏng đang rên rỉ ken két dưới lực vặn xoắn. Một tay cô dùng toàn bộ sức tàn khóa chặt chiếc hộp thiếc đựng Bản Đồ Mây vào quai đai lưng bằng da cá đuối, tay còn lại ghì chặt chim Bông vào sâu trong vạt áo trước ngực. Con chim cánh mây nhỏ bé rúc đầu run lẩy bẩy, hai móng vuốt sắc nhọn quắp chặt lấy từng đường gân áo cô đến mức cào rách cả lớp vải lót, chiếc vòng đá bọt Canh Neo nơi cổ nó vẫn không ngừng lập lòe những đốm sáng đỏ yếu ớt—nhịp đập hoảng loạn sau cơn chấn động kinh hoàng vừa quét qua hẻm núi kim loại.

Bên cạnh cô, cô Tùng Lâm đang dùng hai chân quặp chặt lấy chiếc hòm gỗ cách điện ủ mẫu rễ ngân sương. Hai bàn tay thô ráp đầy vết chai sần của người phụ nữ dành cả đời nghiên cứu thực vật mây bấu chặt đến bật máu vào chiếc khoen sắt chốt sàn, mái tóc hoa râm xõa tung bay loạn xạ che lấp cả nửa khuôn mặt tái mét vì thiếu khí. Mỗi lần thân tàu nghiêng ngả, chiếc hòm nặng nề lại chực chồm lên, nhưng bà vẫn nghiến chặt răng, dùng sức nặng của cả tấm thân già nua đè nén nó xuống, kiên quyết không để bọc rễ quý giá bị va đập dù chỉ một li.

Phía đuôi tàu, tình cảnh còn nguy ngập gấp bội phần. Cần lái bằng gỗ sồi bọc đồng—bộ phận chịu trách nhiệm điều phối toàn bộ hướng gió cho vây đuôi—đã bị lực giật phản hồi từ cú nổ áp suất bẻ gãy tiện một nửa. Đầu gỗ tước ra lởm chởm như những chiếc răng cưa sắc nhọn, để lộ lõi đồng đỏ đã bị xoắn vặn đến mức biến dạng hoàn toàn. Tứ Hải bị hất văng đập mạnh lưng vào thành be tàu, chấn động dữ dội khiến lồng ngực cậu nghẹn ứ, khóe miệng rướm ra một vệt máu đỏ tươi, nhưng đôi mắt cậu trừng trừng ánh lên một vẻ quyết liệt đến điên cuồng.

Cậu hiểu rõ hơn ai hết cái giá của sự do dự vào lúc này: nếu chiếc buồm phụ rách tả tơi phía mũi tiếp tục đón gió nghịch trong tư thế cắm đầu, lực xoắn cực hạn của luồng đối lưu ngược sẽ vặn gãy đôi sống thuyền trước khi họ kịp chạm tới bất kỳ tầng khí đệm nào bên dưới. Chiếc thuyền sẽ vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh dăm bào, và cả ba người sẽ trở thành những hạt bụi trôi dạt vĩnh viễn không dấu vết.

"Không được buông... Tuyệt đối không được buông!" Tứ Hải gầm lên một tiếng khản đặc, thanh âm vỡ vụn giữa tiếng gầm gào của gió cuốn.

Cậu nhoài người tới trước, bất chấp sàn tàu đang dựng đứng gần như vuông góc với vực thẳm sâu hun hút. Đôi bàn tay tước da rách toác của cậu chộp lấy phần gốc cần lái gãy nát, cơ bắp cuộn lên dưới lớp áo thủy thủ ướt đẫm mồ hôi lạnh xen lẫn nước mưa tầng mây. Cậu khóa cứng khớp khuỷu tay, dùng cả sức nặng cơ thể và một bên bả vai trầy trụa chèn cứng chốt hãm bánh răng, cưỡng ép bộ vây lái còn lại ở mạn hữu chuyển hướng ngược chiều gió xoáy để triệt tiêu lực xoay tròn chết chóc. Mỗi một tấc xê dịch của trục lái lúc này đều nặng tựa ngàn cân, chà xát vào xương thịt cậu đau buốt như dao cứa.

"Lam Nhi! Quăng con dao đi biển cho tôi! Cắt buồm mũi! Mau lên!"

Lam Nhi không hề do dự lấy một phần mười cái chớp mắt. Giữa cơn hoảng loạn của trọng lực đang bị kéo giãn và đảo lộn không ngừng, cô áp dụng triệt để bài học vỡ lòng mà Đội trưởng Hạ Vũ từng rèn giũa bên bờ vực Đảo Lam Bến: thở vào ba nhịp thật sâu, nén khí lạnh sâu xuống đáy lồng ngực, dồn tâm trí vào điểm tựa duy nhất dưới mũi chân và mép gờ sàn gỗ. Bằng một động tác dứt khoát rèn luyện qua hàng trăm giờ huấn luyện hoa tiêu bão, cô rút phăng con dao găm vát mũi chuyên cắt dây chão cài chặt bên hông, nhắm hướng góc chân Tứ Hải đang kẹp trên sống sàn rồi quăng trượt theo mặt sàn gỗ bóng loáng phủ đầy nước sương.

Lưỡi thép quét qua mặt gỗ phát ra tiếng rít sắc lẹm. Tứ Hải chộp lấy chuôi dao bằng tay trái một cách chuẩn xác lạ kỳ, răng cậu cắn chặt dây đai giữ thắt lưng neo vào cọc bích, rồi nhoài nửa thân mình ra ngoài khoảng không lồng lộng gió buốt.

*Xoẹt! Xoẹt!*

Lưỡi thép tôi lạnh bén ngót cứa đứt phăng chùm dây néo buồm phụ đang căng như dây đàn. Tiếng dây đứt bật ra như tiếng roi quất xé không khí. Cánh buồm rách tả tơi lập tức bị gió bão bứt tung khỏi xà ngang, cuốn văng vào màn sương xám mịt mùng như một cánh bướm gãy vụn giữa cơn bão cát. Áp lực vặn xoắn giảm đi một nửa ngay tức khắc, thân tàu thôi chao đảo điên cuồng, trục xoay thẳng đứng bị bẻ gãy, nhưng tốc độ rơi tự do vẫn xé gió lao vun vút xuống đáy vực thẳm vô đáy.

"Dây tơ mây tám lõi!" Tứ Hải quay đầu gào lên, gió thốc ngược từ dưới lên làm méo mó cả khuôn mặt non choẹt nhưng đanh lại vì hiểm nguy tột cùng. "Của mẹ cậu dệt! Bung dù hãm khẩn cấp! Nhanh!"

Lam Nhi hiểu ngay ý định táo bạo nhưng duy nhất để cứu sống mạng họ. Cuộn dây an toàn tơ mây gia cường tám lõi do chính tay mẹ Mộc Miên trao cho cô trước ngày rời bến vẫn luôn được cô móc sẵn vào cọc bích chịu lực chính giữa boong tàu. Sợi dây bện từ tơ mùa thu thu hoạch trên những vách đá cao nhất của Đảo Lam Bến, luồn sợi kim loại rỗng dẻo dai và đan xen lông ngực của loài hải yến Tầng Sáng—thứ sợi duy nhất giữ được tính đàn hồi tối thượng, không bao giờ hóa giòn hay gãy đứt trước cái lạnh thấu xương của Tầng Mù.

Lam Nhi bò rạp trên mặt sàn trơn trượt, từng đốt ngón tay bấu chặt vào các kẽ hở giữa hai thanh gỗ lát. Cô phối hợp cùng cô Tùng Lâm, người vừa trườn tới hỗ trợ, dùng hết sức bình sinh mở chốt hãm của chiếc trống tời dự phòng, kéo bung ba dải tơ mây bản rộng được mẹ cô thiết kế riêng để làm hệ thống dù hãm phụ khi gặp nạn gió giật.

"Một, hai, ba... Thả!"

Ba dải tơ mây màu trắng bạc bung vút ra sau đuôi thuyền như những vệt sao băng xé toạc màn sương mù xám xịt. Dưới sức căng kinh hoàng của luồng gió quất ngược từ đáy vực, những dải tơ mây nở bung ra, uốn cong thành những cánh quạt xòe rộng, tạo thành một hệ thống dù hãm khí động học kỳ tài bám chặt vào tầng không khí đặc quánh bên dưới.

*Khực——!*

Một tiếng giật khô khốc và đanh gọn vang lên từ sâu thẳm sống tàu. Các dầm gỗ rên xiết tột độ, bu-lông đồng siết chặt kêu răng rắc. Con thuyền *Mầm Gió* rùng mình dữ dội như thể vừa đâm sầm vào một bức tường bông khổng lồ vô hình lơ lửng giữa trời. Tốc độ rơi thẳng đứng chậm lại trông thấy, mũi tàu từ từ ngẩng lên khỏi miệng vực đen ngòm, biến cú cắm đầu chết chóc thành một đường trượt nghiêng dài thoai thoải xé toạc màn sương mù đặc quánh đang bao phủ đáy tầng không.

***

Bầu không khí rít gào buốt lạnh đột ngột dịu đi một cách kỳ lạ, như thể họ vừa bước qua một ngưỡng cửa vô hình ngăn cách giữa hai thế giới.

Áp suất xung quanh bắt đầu tăng dần, ép nhẹ lên màng nhĩ tạo nên cảm giác trầm đục quen thuộc của những tầng khí trũng. Không khí không còn cái khô khốc buốt giá cắt da cắt thịt của Hẻm Ngân Chuông nữa, mà thay vào đó là một luồng hơi ẩm nồng nặc mùi khoáng thạch, mùi rêu ẩm mục và vị ngai ngái của nước đọng lâu ngày trên kim loại rỉ sét. Màn sương xám xịt của Tầng Mù từ từ mở ra, rẽ sang hai bên như một bức rèm nhung cũ kỹ, nhường chỗ cho một không gian u tịch, bảng lảng sắc chiều tà vĩnh cửu.

*Mầm Gió* không còn rơi nữa. Nó vừa trượt êm vào một luồng xoáy khí nâng chậm rì rì—một túi đối lưu tầng thấp khổng lồ đang xoay tròn lười biếng như một dòng sông lững lờ trôi giữa hư không bao la. Dòng khí ấm áp từ đáy bốc lên nhẹ nhàng nâng đỡ lấy phần đáy gỗ rách nát của con tàu, tạo nên một lớp đệm khí động học tự nhiên bù đắp tạm thời cho chiếc túi nâng đã xẹp lép hoàn toàn bên mạn tả.

"Nhìn kìa..." Cô Tùng Lâm buông lỏng hai bàn tay run rẩy khỏi khoen sắt, hơi thở hổn hển ngắt quãng, cánh tay gầy guộc chỉ qua mạn thuyền vừa gãy lan can.

Dưới đáy luồng xoáy, một khung cảnh kỳ vĩ mà hoang tàn đến nghẹt thở dần dần hiện rõ qua những lớp mây đệm bồng bềnh trôi lững lờ.

Đó không phải là một hòn đảo đất đá nguyên khối với cây cối xanh tươi và những ngọn hải đăng sừng sững như Đảo Lam Bến hay Thiên Phong, mà là một dải bãi nổi mênh mông trải dài hàng dặm, cấu thành từ hàng triệu khối xỉ đá xốp màu xám tro trôi dạt kết tụ lại với nhau qua năm tháng. Những tảng đá bọt nhẹ bẫng ấy nổi bồng bềnh trên lớp mây nghịch nhiệt dày đặc, va chạm vào nhau lạo xạo êm ái mà không hề vỡ vụn, tạo thành một bề mặt xốp phập phồng theo từng nhịp thở của luồng khí đáy.

Nhưng điều khiến tim Lam Nhi thắt lại, lồng ngực như nghẹn ứ chính là những thứ nằm rải rác, la liệt trên bãi xỉ đá bồng bềnh đó: hàng trăm, hàng nghìn xác thuyền buồm gió nằm gối lên nhau.

Có những chiến thuyền bọc đồng khổng lồ từ ba bốn thập kỷ trước đã mục ruỗng trơ ra những bộ khung xương sườn bằng gỗ lim đen đúa; có những chiếc thuyền buôn nhỏ bé của các phường gia vị gãy đôi cột buồm, dây chằng lòng thòng như mạng nhện giăng mắc; lại có cả những chiếc bè bay tự chế chắp vá từ đủ loại thùng phuy, tôn rỉ và khung dù rách nát. Xác thuyền này gối lên xác thuyền khác, chiếc nằm sấp, chiếc lật nghiêng, được kết nối với nhau bằng một mạng lưới chằng chịt những cây cầu treo đan bằng dây mây, xích sắt hoen ố và những tấm ván sàn cạy ra từ boong tàu đắm. Tất cả tạo thành một thị trấn nổi kỳ dị, ma quái và tịch mịch, trôi lơ lửng giữa lưng chừng trời đất.

Bãi Thuyền Lạc.

Vùng đất trũng của những kẻ lỡ độ cao, nơi mọi mảnh vụn thất lạc của Biển Mây cuối cùng đều trôi dạt về đây nhờ luồng xoáy chậm không bao giờ ngừng nghỉ. Nơi đây là điểm tận cùng của những hải trình dang dở, nghĩa địa của những cánh buồm kiêu hãnh từng một thời tung hoành trên Tầng Sáng và Tầng Hành Trình.

"Chuẩn bị va chạm đáy!" Tứ Hải hét lên, dùng chút tàn lực cuối cùng ghì chặt lấy đoạn cần lái gãy nát, cơ bắp cậu run lên bần bật khi hướng mũi thuyền đâm xiên vào một dải xỉ đá bọt mềm mại nhất nhô ra giữa bãi. "Bảo vệ đầu! Khom lưng xuống!"

*Rào... Rào rào rào——!*

Lườn thuyền *Mầm Gió* cày sâu vào bãi xỉ đá xốp xơ. Lực ma sát tạo ra những tiếng rào rào rền rĩ như thể con tàu đang lướt trên một bãi vỏ sò khổng lồ. Bụi đá màu tro bay mù mịt như một cơn bão cát xám, che khuất hoàn toàn tầm nhìn trước mũi lái. Con thuyền trượt dài hơn ba mươi trượng trên lớp đệm bồng bềnh, làm bắn tung tóe những viên đá bọt nhẹ như bấc sang hai bên mạn, trước khi chầm chậm giảm tốc và dừng hẳn lại, tựa nghiêng mạn tàu rách nát vào xác của một chiếc thuyền buôn ba cột buồm khổng lồ đã mất trắng lớp vỏ ngoài, chỉ còn trơ trọi giàn khung gỗ sồi mốc meo.

Sự tĩnh lặng lập tức bao trùm lấy không gian, nặng nề và đặc quánh.

Tiếng gầm rú xé gió của vực thẳm đã biến mất. Giờ đây, chỉ còn lại tiếng thở dốc nghẹn ngào của ba con người vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần và tiếng lách tách khô giòn của những hạt xỉ đá nhỏ rơi trở lại mặt boong gỗ. Gió ở đây không gầm rít hung hãn nữa, nó chỉ thổi liu riu, rười rượi mang theo vị mặn mòi ẩm ướt của sương đọng lâu ngày và mùi gỗ mục mục nồng nặc của hàng trăm năm tích tụ.

Lam Nhi chầm chậm mở mắt. Khắp thân thể cô ê ẩm như vừa bị một cối xay đá nghiền qua. Bả vai trái đau nhói buốt tận óc do cú va đập vào thành lan can lúc nãy, nhưng khi thử cử động các khớp ngón tay và mắt cá, cô biết ơn trời đất vì xương cốt mình vẫn còn nguyên vẹn. Cô vội vàng luồn tay vào vạt áo dạ, cẩn thận sờ nắn khắp cơ thể nhỏ bé của chim Bông. Chú chim cánh mây run rẩy ngẩng cái đầu lông xù ra khỏi nếp áo cô, đôi mắt tròn xoe màu hổ phách chớp chớp ngơ ngác giữa làn bụi tro xám xịt. Nó khẽ cọ cái mỏ nhọn mềm mại vào mu bàn tay dính đầy bụi của cô, phát ra một tiếng *chíp* khe khẽ, yếu ớt nhưng đầy sức sống, như muốn báo cho cô biết nó vẫn bình an vô sự.

"Mọi người... có ai gãy xương không?" Tứ Hải nằm vật ra sàn gỗ, hai cánh tay cậu buông thõng sang hai bên như hai nhánh cây gãy, run lẩy bẩy không ngừng vì kiệt sức sau nỗ lực ghì giữ tay lái. Khóe miệng cậu vẫn còn dính vệt máu khô, nhưng trên đôi môi nứt nẻ ấy lại cố nhếch lên một nụ cười méo mó quen thuộc.

"Tôi chưa chết..." Cô Tùng Lâm lồm cồm chống gối bò dậy từ góc sàn, đầu gối bà va đập tím bầm nhưng việc đầu tiên bà làm là đưa tay mở hé nắp chiếc hòm gỗ cách điện. Khi nhìn thấy mẫu rễ ngân sương bên trong vẫn phập phồng những xung ánh sáng hổ phách ấm áp, bà mới buông thõng hai vai, thở phào một hơi dài thườn thượt như trút đi được cả gánh nặng ngàn cân. "Nhưng nếu cậu còn thực hiện thêm một cú bổ nhào xé mây như thế lần nữa, Tứ Hải à, tim già này của tôi sẽ rụng xuống đáy Tầng Mù trước cả khi con thuyền này kịp chạm đất đấy."

Lam Nhi chống tay ngồi dậy, hít sâu một hơi luồng khí nồng ẩm để xua tan cảm giác choáng váng quay cuồng nơi màng tang. Cô lảo đảo bước tới bên cạnh Tứ Hải, quỳ xuống đỡ cậu ngồi tựa lưng vào một chiếc cọc bích còn nguyên vẹn. Cô rút chiếc khăn tay sạch trong túi áo, thấm nhẹ vết máu nơi khóe miệng cậu rồi dùng dải vải lanh quấn chặt lấy hai bàn tay trầy trượt da thịt, đang rỉ máu của người bạn hoa tiêu.

"Cậu đã làm được, Tứ Hải," Lam Nhi khẽ nói, thanh âm cô run lên vì xúc động và sự cảm kích chân thành từ tận đáy lòng. "Nếu không có cậu liều mình giữ lấy gốc cần lái và cắt buồm mũi kịp lúc, con thuyền này đã vỡ vụn thành từng mảnh gỗ vụn từ trước khi chúng ta nhìn thấy dải xỉ đá này."

Tứ Hải nhìn cô, đôi tai cậu đỏ ửng lên sau lớp bụi tro bám đầy trên gò má gầy guộc. Cậu hắng giọng một tiếng khô khốc, cố tỏ ra vẻ bất cần kiêu hãnh như thường lệ: "Hừm, chuyện nhỏ thôi mà... Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi, thuyền trưởng tập sự của con tàu này đâu phải hạng hoa tiêu tay mơ của mấy phường buôn gà mờ. Nhưng mà... này Lam Nhi, con thuyền của chúng ta..."

Giọng cậu nghẹn lại. Cậu ngập ngừng đưa ngón tay chỉ lên phía trên mạn trái. Nụ cười vừa chớm nở trên môi cậu vụt tắt ngấm, nhường chỗ cho một vẻ thẫn thờ bàng hoàng.

***

Cả ba người dìu nhau bước xuống khỏi boong tàu, đặt chân lên bề mặt bãi xỉ đá bồng bềnh. Mặt đất dưới chân họ xốp xộp và nhún nhảy nhẹ nhàng như đang bước đi trên một tấm nệm khổng lồ dệt từ rêu khô ngậm nước, mỗi bước chân lún sâu xuống vài phân đều làm xáo động những đám bụi xỉ lơ lửng xung quanh gót giày.

Khi quay đầu nhìn lại toàn cảnh con thuyền *Mầm Gió*, ruột gan Lam Nhi thắt lại vì xót xa.

Tình trạng thiệt hại thực tế còn tàn khốc hơn nhiều so với những gì họ cảm nhận được trong cơn hoảng loạn của cú rơi. Túi nâng tơ mây mạn tả—trái tim khí động học nâng đỡ toàn bộ con tàu—đã bị xé toạc một mảng lớn dài hơn một trượng, kéo dài từ khoang trung gian ra tận vách thoát khí đuôi. Lớp lót tơ mây ba lớp nát vụn như xơ mướp bị vò nát, để lộ cả những thanh gân chịu tải bằng gỗ thông dát mỏng đã nứt toác, gãy gập thành những góc nhọn hoắt. Toàn bộ lượng khí hydro sinh học quý giá và năng lượng cộng hưởng từ lượng bột khinh thạch nạp tại Cảng Cánh Diều đã hoàn toàn tiêu tán vào tầng không, không còn lại một chút hơi ấm nào.

Chưa dừng lại ở đó, cú va chạm với cột áp suất cực hạn trong hẻm núi ban nãy đã bẻ gãy lìa vây lái phụ mạn tả ngay tại khớp xoay đồng trục bằng đồng thau. Cánh vây lái thanh thoát bằng gỗ thông dát mỏng—thứ từng giúp họ lướt zíc-zắc điêu luyện qua những kẽ đá hẹp của Hẻm Ngân Chuông—giờ chỉ còn lại một mẩu cuống kim loại trơ trọi, xoắn vặn biến dạng thảm hại.

"Túi nâng rách toạc... Vây lái chính gãy lìa... Khớp xoay đồng trục vỡ vụn..." Tứ Hải run rẩy đưa bàn tay quấn băng sờ lên vết toác nham nhở trên thân tàu, giọng cậu nghẹn ứ lại như muốn khóc thành tiếng. "Nó... nó hoàn toàn tê liệt rồi. Chúng ta không thể nào cất cánh được nữa. Đừng nói là bay tới Tầng Sáng hay vượt qua dải lặng gió Cửa Gió Ngủ... ngay cả việc nhấc nó lên khỏi bãi đá này nửa trượng lúc này cũng là một điều không tưởng!"

Lam Nhi cắn chặt môi dưới đến rướm máu. Những ngón tay cô lướt chầm chậm qua từng thớ gỗ nứt nẻ, cảm nhận sự lạnh ngắt vô hồn của *Mầm Gió*. Con thuyền đã mất đi "nhịp thở" khí áp vốn có, nó nằm im lìm như một xác gỗ trôi dạt vô tri. Nhưng cô biết mình không được phép gục ngã. Là hoa tiêu giữ bản đồ, cô là linh hồn định hướng cho cả nhóm. Cô xoay người lại, đặt hai tay lên vai Tứ Hải, nhìn thẳng vào mắt cậu bằng ánh nhìn cương nghị.

"Thuyền hỏng thì sửa, Tứ Hải. Chúng ta còn sống nguyên vẹn ở đây, Bản Đồ Mây vẫn an toàn trong hộp thiếc, mẫu rễ ngân sương của cô Tùng Lâm và tráp hạt chuông gió của chúng ta vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ cần người còn, con đường đi vẫn còn. Đó mới là điều quan trọng nhất."

"Nói thì dễ lắm, cô bé," một giọng nói khàn khục, đặc quánh như tiếng hai tảng đá mài cọ vào nhau bất thần vang lên từ phía sau những gờ xỉ đá cao ngất bên cạnh xác con tàu buôn. "Nhưng ở cái xó Bãi Thuyền Lạc này, muốn vá được một tấm túi nâng tơ mây ba lớp chịu áp suất cao và tìm được một thanh gỗ thông chịu tải nguyên khối... đôi khi người ta phải trả giá bằng cả nửa đời người đấy."

Lam Nhi, Tứ Hải và cô Tùng Lâm giật mình quay phắt lại. Chim Bông lập tức nhảy tót lên vai Lam Nhi, toàn bộ lông vũ trên mình xù đứng lên, đôi mắt cảnh giác trừng trừng nhìn vào bóng tối mịt mờ.

Từ phía sau xác con tàu buôn mục nát và những gờ đá xốp xung quanh, hàng chục bóng người lục tục bước ra, bước chân họ nhẹ nhàng và uyển chuyển trên bề mặt bãi xỉ xốp như những bóng ma trôi dạt.

Họ không mang vẻ mặt hung tợn, bặm trợn của những toán cướp mây chuyên cướp bóc vùng biên thùy, cũng không có vẻ lạnh lùng kiêu sa, xa cách của các thương nhân quyền quý thuộc Hội Kim Phong. Đó là những con người có làn da sạm đen, khô ráp vì gió bão tầng thấp, y phục chắp vá chằng chịt từ đủ loại vải buồm rách, da thú thuộc vội và dây thừng gai tước sợi. Trên thắt lưng ai nấy đều lủng lẳng cờ-lê, đục sắt, búa tán đinh, kìm rút chốt và những cuộn dây đo mớn mây cũ kỹ đã mòn vẹt chữ số. Ánh mắt họ nhìn con tàu *Mầm Gió* vừa mang vẻ xót xa, thương hại, lại vừa đầy vẻ thấu hiểu sâu sắc—ánh mắt của những kẻ cũng từng nếm trải cảm giác rơi tự do tuyệt vọng từ đỉnh cao bầu trời xuống đáy vực sâu này.

Một người đàn ông trung niên vạm vỡ, dáng đi vững chãi như một cây cột buồm lim, một bên mắt được che kín bằng miếng da thuộc màu xám tro, hai tay bưng một chiếc ấm đồng bốc khói nghi ngút bước lên phía trước. Theo sau ông là hai thiếu niên trạc tuổi Tứ Hải, mang theo những tấm chăn dạ dày cộp bốc mùi khói nhựa thông và một chiếc hòm gỗ đựng nẹp xương bằng tre cùng các lọ dầu xoa bóp thảo mộc.

"Uống đi," người đàn ông một mắt cất giọng trầm đục, đặt chiếc ấm đồng nặng trịch xuống một tảng đá bọt bằng phẳng rồi thoăn thoắt rót ra bốn chiếc bát gốm sứt mẻ thứ nước trà màu nâu đậm, tỏa ra mùi gừng cay nồng và rễ cây rừng ấm áp. "Trà rễ bách mù pha gừng gió đấy. Uống một hơi cho ấm cuống họng và lồng ngực, tống hết cái khí lạnh ẩm chết tiệt của Tầng Mù ra ngoài. Các người vừa từ Hẻm Ngân Chuông rơi xuống đây đúng không? Nghe tiếng nổ áp suất rung chuyển cả bãi đá từ nửa khắc trước, lão già này đã biết thể nào cũng có kẻ rớt đài."

Tứ Hải ngơ ngác nhìn bát trà bốc khói nghi ngút, cổ họng khô khốc của cậu bất giác nuốt nước bọt ừng ực, nhưng tính cảnh giác của một kẻ từng lăn lộn ở các bến cảng khiến cậu vẫn chần chừ lùi lại nửa bước: "Các ông... các ông là ai? Nơi này rốt cuộc là đâu?"

"Bãi Thuyền Lạc chứ đâu nữa," một người thợ sửa tàu lớn tuổi đứng tựa lưng vào mạn gỗ mục phía sau cười khà khà, phả ra một làn khói thuốc lá cây thơm hắc vào không khí ẩm ướt. "Nơi hội tụ của những cánh chim gãy cánh. Chúng ta là những hoa tiêu trôi dạt mất tàu, thợ mộc đáy tàu hết thời, thợ khâu buồm không còn bến đỗ... Tóm lại là những kẻ bị bầu trời ruồng bỏ nhưng mặt đất Tầng Mù lại chê không thèm nuốt trọn."

Lam Nhi bước lên một bước, cô cúi người đón lấy bát trà nóng bằng cả hai bàn tay trần. Hơi nóng bỏng rẫy từ lớp gốm nung mộc mạc lan tỏa qua da thịt lạnh buốt, làm cho các đầu ngón tay đang tê dại của cô dần lấy lại cảm giác sống động. Cô cúi đầu cung kính theo nghi lễ truyền thống của những người đi biển: "Cháu cảm ơn chú. Cháu là Lam Nhi, đây là Tứ Hải và cô Tùng Lâm. Con thuyền của chúng cháu gặp nạn khi vượt qua chấn động áp suất cực hạn..."

"Ta thấy rồi, không cần giải thích dài dòng," người đàn ông một mắt ngắt lời, ánh mắt sắc lẹm duy nhất của ông quét một lượt từ vết toác hoác trên túi nâng cho đến đoạn cần lái gãy nát và bộ khung sườn của *Mầm Gió*. "Ta là Thiết, thợ cả của khu xưởng phía Đông bãi thuyền này. Con thuyền của các người đóng bằng gỗ thông dát mỏng rất khéo, khung xương chịu lực uốn cong theo kỹ thuật ghép mộng giấu đinh cực kỳ tinh xảo, nhưng túi nâng thì nát bét rồi. Không có vải tơ mây thượng hạng dệt khóa ba lớp và ít nhất hai khối khinh thạch loại ba để cân bằng lại thể tích khoang nâng, con thuyền này vĩnh viễn chỉ là một đống củi khô làm tổ cho lũ chim mây mà thôi."

Tứ Hải nghe vậy liền lập tức thò tay vào túi áo trong, lôi ra một chiếc túi vải lanh nhỏ kêu leng keng những tiếng kim loại giòn giã: "Bác Thiết, chúng cháu có tiền! Đây là bạc nén chuẩn của Chợ Gió Bốn Phương, còn có cả thẻ thông hành thương mại bảo chứng bởi các thương hội lớn nữa. Xin bác bán cho chúng cháu vật liệu tốt nhất, bao nhiêu tiền chúng cháu cũng xin trả đủ!"

Thợ cả Thiết nhìn chiếc túi bạc nặng trĩu trên tay Tứ Hải, khóe môi dưới chòm râu quai nón khẽ giật giật rồi bật ra một tràng cười khô khốc, chua chát. Những người thợ sửa tàu xung quanh cũng đưa mắt nhìn nhau, rồi đồng loạt lắc đầu cười ngao ngán, nụ cười của những kẻ đã quá hiểu lẽ đời nơi đáy vực.

"Cất cái thứ kim loại nặng nề và vô dụng đó đi, cậu nhóc," Thợ cả Thiết gõ mạnh tẩu thuốc vào đế giày da, tiếng gõ đanh gọn vang lên giữa không gian u tịch, giọng nói ông trở nên nghiêm nghị lạ thường. "Ở cái xứ Bãi Thuyền Lạc này, bạc của Chợ Gió hay vàng ròng của Hội Kim Phong cũng chẳng nhẹ hơn một viên đá cuội ven đường là bao. Ở đây, tiền tệ không có lực nâng. Ngươi có quẳng một rương vàng mười xuống vực thẳm, nó cũng chỉ kéo ngươi chìm nhanh hơn vào cõi chết mà thôi."

Lam Nhi chăm chú nhìn từng cử chỉ của người thợ cả, trí óc nhạy bén của một người học việc vẽ bản đồ giúp cô nhận ra ngay quy tắc sinh tồn đặc thù của cộng đồng kỳ lạ này. Cô đặt nhẹ tay lên cổ tay Tứ Hải, ra hiệu cho cậu cất túi bạc đi, rồi ngẩng đầu hỏi: "Vậy thưa bác, ở đây mọi người trao đổi và duy trì cuộc sống bằng thứ gì?"

"Bằng mồ hôi và kỹ nghệ," Thợ cả Thiết khoanh hai cánh tay vạm vỡ trước ngực, từng lời ông thốt ra đều rành rọt, dứt khoát như những nhát búa nện trên đe sắt. "Đó là nguyên tắc bất di bất dịch của Bãi Thuyền Lạc từ trăm năm qua: Tương trợ không tiền tệ. Muốn có gỗ sồi thay thế dầm lái gãy? Muốn có tơ mây chuẩn để vá kín túi nâng? Muốn có mảnh khinh thạch phục hồi lại lực nổi đã mất? Được thôi, kho phế liệu không thiếu. Nhưng các người tuyệt đối không thể mua nó bằng bạc hay vàng. Các người phải bước chân vào xưởng mộc, cầm cưa, cầm đục, đổ mồ hôi góp công sức sửa chữa những con thuyền gặp nạn của những người đã đến trước các người. Giúp thuyền người khác cất cánh bay lên, thì thuyền của mình mới có ngày được rời khỏi bãi đá này."

Tứ Hải trố tròn mắt nhìn người thợ cả, rồi lại cúi xuống nhìn đôi bàn tay rách da đang quấn băng trắng toát của mình, cậu lẩm bẩm trong sự hoang mang: "Nghĩa là... chúng cháu phải làm công nhật không công?"

"Không phải làm công nhật cho riêng ta hay cho bất kỳ ai," Thợ cả Thiết đanh giọng lại, ánh mắt rực lên vẻ kiên định của một người đứng đầu. "Mà là làm việc cho chính cơ hội sống sót của các người và của toàn bộ cộng đồng này. Cứ mỗi chiếc thuyền được các người góp sức sửa xong để đưa những người đồng cảnh ngộ trở về được Tầng Hành Trình, các người sẽ được nhận lại số vật liệu và giờ công tương đương từ kho dự trữ chung. Đó là cách duy nhất để tồn tại ở đáy vực, nơi bầu trời không ban phát sự thương hại cho bất kỳ kẻ lười biếng nào."

Lam Nhi không hề do dự lấy một giây. Cô uống cạn bát trà gừng ấm nóng, đặt chiếc bát rỗng xuống tảng đá bọt, rồi bước thẳng tới đứng đối diện trước mặt Thợ cả Thiết: "Chúng cháu đồng ý tuân theo luật của Bãi Thuyền Lạc. Cháu biết đo đạc mớn mây và tính toán dung tích áp suất buồng khí, cô Tùng Lâm am hiểu tường tận về các thớ gỗ chịu lực và keo nhựa thực vật kết dính, còn Tứ Hải là thợ máy kiêm hoa tiêu khéo léo nhất mà cháu từng biết. Chúng cháu sẵn sàng bắt tay vào làm việc ngay bây giờ."

Thợ cả Thiết nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo nhưng kiên định phi thường của cô gái nhỏ. Trong ánh mắt một bên của người thợ cả dạn dày sương gió thoáng qua một tia ngạc nhiên và thán phục trước sự dứt khoát không chút đắn đo ấy. Ông khẽ gật đầu, nét mặt giãn ra đôi chút: "Tốt. Rất có khí phách của con nhà đi biển. Nhưng trước hết, cứ ngồi xuống uống hết bát trà, ăn miếng bánh khô cho ráo mồ hôi và định thần lại đã. Đầu giờ chiều nay ra bãi gỗ phía Tây, có ba chiếc thuyền vận tải đang chờ thay toàn bộ dàn xà dọc."

***

Trong lúc Thợ cả Thiết đang quay sang căn dặn hai thiếu niên mang thêm thuốc mỡ thảo dược và lương khô cá mây tới cho nhóm người mới đến, một vài người thợ già khâu buồm với dáng vẻ chậm chạp, lững thững tiến lại gần mép buồm rách tả tơi của *Mầm Gió*.

Một ông lão râu tóc bạc phơ như cước, lưng còng rạp xuống gần như song song với mặt sàn tàu, tay cầm một chiếc kính lúp mài từ đá thạch anh cũ mòn đã sứt một góc, run rẩy cúi xuống xem xét vết toạc trên dải tơ mây gia cường tám lõi mà Tứ Hải vừa dùng làm dù hãm khẩn cấp ban nãy. Đôi bàn tay gầy guộc, nổi đầy những đường gân xanh của ông lão vuốt ve từng thớ chỉ tơ bạc, ánh mắt đục ngầu bỗng nhiên mở to, sáng rực lên một vẻ kinh ngạc tột độ như thể vừa nhìn thấy một kho báu thất lạc từ thời cổ đại.

"Này... lão Sáu! Lão Sáu đâu rồi, bỏ cái tẩu thuốc xuống mà lại đây xem cái này mau!" Ông lão run giọng gọi với ra phía sau, thanh âm run rẩy đến nghẹn ngào.

Một người thợ già khác đang khập khiễng bước đi với chiếc chân gỗ lập tức bước tới, ghé sát mắt vào đường viền mép buồm nơi dải tơ mây được gia cố.

"Trời đất quỷ thần ơi... Mũi khâu ba ngạnh khóa đối xứng! Mỗi một đốt chỉ tơ mây đều được bện lồng một sợi đồng vi mảnh rồi thắt nút giấu mối bên trong thớ vải..." Người thợ già tên Sáu thốt lên, từng ngón tay thô ráp của ông khẽ run rẩy lướt trên đường chỉ, giọng nghẹn lại như không thể tin vào mắt mình. "Đường kim mũi chỉ này... trên khắp cõi Biển Mây, từ Tầng Sáng rực rỡ xuống tận đáy Tầng Mù tăm tối này, ngoài một người duy nhất ra thì tuyệt đối không thể có người thứ hai đủ kiên nhẫn, hoa tay và bí thuật để làm được!"

"Ai thế hai bác?" Tứ Hải tò mò ghé đầu lại gần, quên cả cơn đau ở lưng và bàn tay.

Ông lão lưng còng ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt xuyên qua chiếc kính lúp thạch anh nhìn trừng trừng vào Lam Nhi: "Cháu gái nhỏ, nói cho lão già này biết, ai... ai là người đã khâu gia cường cho cánh buồm này và tự tay bện cuộn dây tơ mây tám lõi này cho các cháu?"

Lam Nhi khẽ mỉm cười, trong lồng ngực cô bỗng dâng lên một niềm tự hào ấm áp vô bờ bến: "Dạ thưa hai bác, đó là mẹ cháu ạ. Mẹ cháu tên là Mộc Miên, thợ dệt buồm ở xưởng dệt Đảo Lam Bến."

"Mộc Miên! Đúng là con bé Mộc Miên rồi!" Cả hai người thợ già đồng thanh reo lên, gương mặt nhăn nheo như vỏ cây thông già bỗng bừng sáng rạng rỡ như trẻ lại cả chục tuổi.

Thợ cả Thiết nghe thấy tiếng ồn ào bất thường cũng quay người lại, sải bước nhanh tới mép mạn thuyền. Khi nhìn thấy những đường chỉ khâu uốn lượn hình sóng nước đan xen tinh xảo đến từng phần mười li trên mép buồm rách, con mắt duy nhất của ông mở to hết cỡ:

"Hóa ra... cháu là con gái của Mộc Miên sao? Mộc Miên 'Tay Kim Vàng' lừng danh của con tàu khảo sát *Hải Âu Xám* năm xưa!"

Lam Nhi ngỡ ngàng nhìn người thợ cả: "Bác... bác cũng biết mẹ cháu ư?"

"Sao lại không biết! Cả cái bãi thuyền này, những kẻ già nua còn sống sót ở đây làm sao có thể quên được cái tên đó!" Thợ cả Thiết bật cười lớn, một tràng cười sảng khoái và vang dội đầu tiên kể từ khi họ chạm mặt nhau dưới đáy vực, rồi ông đưa bàn tay hộ pháp vỗ thật mạnh lên vai Lam Nhi khiến cô hơi lảo đảo. "Hai mươi năm trước, chính mẹ cháu chứ còn ai vào đây nữa, đã một mình ngồi trên sàn treo đu đưa giữa cơn bão tuyết Tầng Mù suốt hai ngày hai đêm ròng rã, ngón tay tê cóng đến bật máu để vá lại toàn bộ cánh buồm chính của con tàu *Hải Âu Xám*, cứu sống cả đoàn khảo sát ba mươi sáu mạng người thoát khỏi miệng vực tử thần! Bác khi đó mới chỉ là một tên thợ phụ học việc lăng xăng xách hòm đinh trên tàu mà thôi. Sau này nghe tin con bé giải nghệ, rời bỏ các đoàn thám hiểm để về Đảo Lam Bến lấy chồng sinh con, cánh thợ già chúng ta cứ ngỡ tuyệt kỹ khâu buồm khóa áp suất đỉnh cao đó đã vĩnh viễn thất truyền rồi... Không ngờ, thật không ngờ hôm nay lại được tận mắt nhìn thấy đường kim của con bé ở ngay tại nơi này!"

Những người thợ sửa tàu xung quanh lập tức xôn xao hẳn lên, tiếng bàn tán râm ran lan rộng khắp bãi xỉ đá. Sự dè dặt, cảnh giác ban đầu biến mất hoàn toàn không còn một dấu vết, thay vào đó là những ánh nhìn đầy vẻ thân tình, ấm áp và kính trọng sâu sắc dành cho Lam Nhi. Đối với những người thợ trôi dạt cả đời gắn bó với gió bão ở Bãi Thuyền Lạc, tên tuổi của một bậc thầy vá buồm từng xả thân cứu người giữa lằn ranh sinh tử còn có sức nặng và uy tín hơn bất kỳ chức danh Bản đồ trưởng hay Hội chủ tối cao nào của các đại phường buôn trên Tầng Hành Trình.

"Tốt! Tốt lắm!" Thợ cả Thiết đưa tay vuốt chòm râu quai nón, mắt ánh lên vẻ hào sảng và trân trọng. "Đã là người nhà của Mộc Miên 'Tay Kim Vàng' thì tuyệt đối không phải là người ngoài đối với Bãi Thuyền Lạc này. Nhưng luật của bãi thuyền là luật chung khắc trên đá, ta không thể vì tình riêng mà phá lệ miễn lao động cho các cháu được, làm như vậy chỉ tổ làm bẽ mặt và hoen ố danh tiếng của mẹ cháu mà thôi. Các cháu vẫn phải góp công sửa thuyền như mọi hoa tiêu khác. Nhưng đổi lại, đích thân lão Thiết này sẽ đứng ra giám sát việc phục hồi toàn bộ khoang túi nâng cho *Mầm Gió*. Ta bảo đảm từng thớ tơ mây thay thế, từng khớp vây lái và chốt mộng sẽ được ráp nối bằng những vật liệu tốt nhất đang nằm trong kho dự trữ của bãi thuyền này!"

"Cháu cảm ơn bác Thiết! Cảm ơn các bác!" Lam Nhi nở một nụ cười rạng rỡ, cúi đầu tạ ơn trong sự ấm lòng khôn tả. Giữa nơi đáy vực hoang tàn và lạnh lẽo này, bóng hình và di sản của người mẹ dịu hiền nơi quê nhà lại một lần nữa chở che, mở ra cho cô một con đường sống.

***

Đầu giờ chiều, sau khi nuốt vội vài miếng lương khô hạt dẻ bùi bùi và uống thêm một bát trà rễ bách mù ấm nóng do những người thợ mang tới, cả nhóm bắt tay ngay vào công việc tại xưởng mộc trung tâm nằm ở mạn Tây bãi thuyền.

Nhiệm vụ của họ trong buổi chiều hôm nay là cùng một nhóm thợ địa phương dỡ bỏ những phần khung gỗ đã mục nát của một con tàu chở khách cỡ trung bị rơi xuống đây cách đây ba tháng, đồng thời vận chuyển những súc gỗ sồi già và gỗ thông chịu lực từ bãi tập kết phế liệu sâu bên trong về xưởng xẻ để chuẩn bị chế tác dàn dầm dọc mới.

Không khí lao động tại Bãi Thuyền Lạc nhộn nhịp và hối hả một cách lạ thường, hoàn toàn trái ngược với vẻ tĩnh mịch ma quái ban đầu của nó. Dù ở đây không có tiếng còi hiệu cơ khí inh ỏi hay những guồng máy hơi nước khổng lồ gầm rú như ở các xưởng đóng tàu tráng lệ tại Cảng Cánh Diều, nhưng tiếng búa tán đinh vang lên *chát... chát* đều đặn, tiếng cưa xẻ gỗ *xoẹt... xoẹt* dứt khoát hòa cùng tiếng hò dô kéo cáp nhịp nhàng của những người hoa tiêu trôi dạt đã tạo nên một bản hòa âm tràn đầy sức sống mãnh liệt. Giữa cõi chết tưởng chừng như bất tận của những xác thuyền mục nát, con người ở đây vẫn đang kiên trì, bền bỉ chắp vá lại từng cơ hội nhỏ nhoi nhất để tìm đường trở về với bầu trời tự do.

Tứ Hải dù hai bàn tay vẫn còn quấn băng trắng toát nhưng lại là người hăng hái nhất. Cậu không thể cầm búa nặng hay kéo cưa lớn, nhưng với đôi mắt tinh tường và sự nhạy bén bẩm sinh của một thợ máy xuất sắc, cậu được phân công phụ trách việc kiểm tra độ rơ của các trục bánh răng truyền động và hướng dẫn hai cậu bé thợ phụ địa phương cách tinh lọc và tra mỡ cá voi vào các khớp xoay vây lái. Sự tháo vát, nhanh nhẹn cùng những mẹo vặt cơ khí thực chiến dạn dày mà cậu tích lũy được trong những chuyến đi lậu vé nhanh chóng khiến những người thợ già xung quanh phải gật gù tán thưởng.

Trong khi đó, Lam Nhi và cô Tùng Lâm được phân công sang khu vực phân loại và vận chuyển gỗ dầm chịu lực.

Bãi phế liệu nằm sâu trong lòng xác của một con tàu bọc thép khổng lồ đã rỉ sét gần hết, phần đáy tàu cắm sâu vào lớp xỉ đá như một hang động nhân tạo tối tăm. Hàng trăm khúc dầm gỗ, nan buồm, trục quay và vách ngăn được xếp chồng chất lên nhau ngổn ngang, bề mặt bám đầy một lớp rêu xám phát quang nhàn nhạt—thứ thực vật đặc trưng chỉ sinh trưởng ở những tầng ẩm thấp và thiếu ánh sáng mặt trời của Biển Mây.

"Cẩn thận từng bước chân đấy, Lam Nhi," cô Tùng Lâm dùng một chiếc đòn bẩy gỗ kích một khúc dầm lớn ra khỏi đống đổ nát, giọng bà dặn dò cẩn thận. "Gỗ ở tầng thấp này tuy ngậm hơi sương quanh năm nhưng nhờ có khí khinh thạch thẩm thấu liên tục vào các thớ thịt nên không hề bị mục ruỗng từ bên trong. Có điều, trọng lượng của nó nặng gấp đôi so với gỗ thông thường chúng ta hay dùng trên Tầng Hành Trình đấy."

"Cháu đỡ được mà, cô đừng lo," Lam Nhi đáp lời, cô thuần thục luồn chiếc móc dây kéo bằng sắt qua bên dưới khúc gỗ, rồi gồng mình cùng cô Tùng Lâm khiêng một đầu súc gỗ sồi dài hơn một trượng ra khỏi gầm xác tàu tối tăm.

Khúc dầm này có màu nâu sẫm đặc trưng của gỗ sồi già trăm năm tuổi, bề mặt phủ một lớp bụi xỉ đá dày cộp và rêu mốc bám chặt thành từng mảng lớn. Khi hai cô cháu kéo lê được khúc gỗ ra ngoài khoảng sáng lờ mờ của bãi xỉ đá, Lam Nhi dừng lại quệt những giọt mồ hôi đang chảy dài trên trán. Cô cúi người, đưa bàn tay trần gạt bớt lớp rêu phong bám dày trên thân dầm để tìm kiếm điểm móc cáp kéo phụ.

Bỗng nhiên, đầu ngón tay trỏ của cô chạm phải một vết lõm sâu hoắm có góc cạnh vô cùng kỳ lạ ẩn giấu bên dưới lớp rêu dày.

Là một người học việc vẽ bản đồ được rèn luyện từ nhỏ về độ nhạy cảm xúc giác của đôi bàn tay—nơi từng milimét sai lệch trên giấy vẽ đều có thể dẫn một con tàu vào chỗ chết—ngón tay Lam Nhi lập tức khựng lại. Đó tuyệt đối không phải là một vết nứt nẻ tự nhiên do thời tiết ẩm lạnh gây ra, cũng không phải là vết cưa đục ngẫu nhiên, cẩu thả của những người thợ phá dỡ tàu. Những đường rãnh ấy được khắc cực kỳ tỉ mỉ bằng mũi đục chữ V chuyên dụng, sâu đúng hai phân, nét khắc dứt khoát, thẳng tắp và chuẩn xác theo đúng quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của các kỹ sư hàng hải thuộc viện hàn lâm.

"Cô Tùng Lâm... đợi một chút, dừng lại đã cô!" Lam Nhi khẽ gọi, giọng cô run lên khe khẽ, và lồng ngực cô bỗng nhiên đập thình thịch một cách vô cớ, như có một luồng điện chạy dọc sống lưng.

Cô vội vàng rút chiếc khăn tay trong túi áo, tẩm một chút dầu thông lau chùi mang theo bên hông rồi bắt đầu cạo mạnh lớp rêu xám phát quang và lớp bụi xỉ đóng tảng trên bề mặt khúc gỗ sồi già.

Từng mảng rêu tróc dần ra dưới lớp vải ráp, để lộ thớ gỗ sồi vân thẳng tuyệt đẹp màu nâu cánh gián bên dưới. Và rồi, một hình khắc chìm sắc sảo hiện rõ mồn một trước mắt hai người.

Đó là biểu tượng một chiếc mỏ neo đặt chéo trên một chiếc compa phân độ góc nhọn—huy hiệu chính thức, bất di bất dịch của Phường Giữ Bản Đồ!

Nhưng điều khiến toàn thân Lam Nhi run rẩy dữ dội, hơi thở nghẽn ứ lại nơi cuống họng chính là dòng ký tự được khắc sâu bằng thứ mực phong vũ pha khoáng chất đỏ thắm ngay bên dưới biểu tượng chiếc mỏ neo chéo:

*Tàu Khảo Sát Thâm Tầng "Hải Âu Xám" — Đội Khảo Sát Độc Lập* *Trưởng đoàn: Vân Kính — Niên hiệu Gió Nồm Cao thứ 14.*

"Ông nội..." Lam Nhi thốt lên một tiếng nghẹn ngào, hai đầu gối cô mềm nhũn ra, suýt chút nữa thì quỵ ngã hoàn toàn xuống lớp xỉ đá xốp bồng bềnh.

Cô Tùng Lâm cũng sững sờ đến mức đánh rơi chiếc đòn bẩy gỗ trên tay xuống đất, phát ra một tiếng *bịch* khô khốc. Bà vội vàng quỳ sụp xuống bên cạnh Lam Nhi, dùng bàn tay run rẩy sờ nắn từng nét khắc trên dòng chữ: "Trời đất quỷ thần ơi... Khúc dầm gỗ này... đây chính là dầm chịu lực sống tàu của *Hải Âu Xám*! Con tàu khảo sát thâm tầng huyền thoại năm xưa của ông Vân Kính!"

Lam Nhi run rẩy áp cả hai bàn tay trần lên dòng chữ khắc. Mực phong vũ màu đỏ dù đã trải qua hơn mười năm ngâm mình trong sương gió ẩm lạnh của tầng sâu nhưng dưới lớp dầu thông vừa lau sạch vẫn ánh lên một sắc đỏ kiên cường, bất khuất. Từng nét đục dứt khoát, chiếc móc vòng rộng đặc trưng của số "4", dấu gạch ngang hơi chếch lên trên của chữ "Kính"... tất cả đều quen thuộc đến xé lòng. Đó chính là nét chữ, nét khắc của ông nội cô—người đàn ông có chòm râu bạc ấm áp đã từng ngồi bên bàn vẽ gỗ gụ nắn nót từng ngón tay non nớt dạy cô cách cầm bút đo góc và kẻ đường kinh tuyến đầu tiên năm cô vừa tròn bảy tuổi.

"Nó... tại sao nó lại nằm ở đây?" Lam Nhi ngẩng đầu lên, nước mắt lưng tròng nhìn cô Tùng Lâm, giọng cô vỡ vụn trong sự bàng hoàng tột độ. "Chẳng lẽ... mười mấy năm trước, ông nội cũng từng bị rơi xuống Bãi Thuyền Lạc này sao? Con tàu của ông... rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?"

"Không phải rơi xuống," một giọng nói trầm ngâm, chậm rãi vang lên từ phía sau lưng hai người.

Thợ cả Thiết đã bước tới từ lúc nào. Ông đứng lặng lẽ tựa người vào một tảng đá xốp, con mắt duy nhất nhìn đăm đăm vào khúc dầm gỗ sồi già, ánh mắt đượm vẻ hoài niệm xa xăm dường như đang lần giở lại từng trang ký ức phủ đầy bụi thời gian của mười năm về trước.

"Mười năm trước, chiếc *Hải Âu Xám* vĩ đại đó không hề bị rơi," Thợ cả Thiết chậm rãi cất lời, thanh âm ông trầm xuống như tiếng gió thì thào qua kẽ đá đêm đông. "Chính ông Vân Kính đã chủ động điều khiển nó đáp xuống bãi xỉ này trong một chuyến khảo sát bí mật ranh giới Tầng Mù. Khi đó, con tàu đã bị hư hại rất nặng nề sau khi chạm trán một cơn bão im nén khí cực mạnh ở vùng giáp ranh. Ông ấy đã quyết định ở lại bãi thuyền này suốt mười ngày ròng rã cùng chúng ta để sửa chữa và hoán cải lại toàn bộ cấu trúc tàu."

Lam Nhi vội vàng đứng bật dậy, không màng đến vết thương đau nhói ở bả vai, cô chạy tới túm chặt lấy tay áo người thợ cả: "Bác Thiết! Bác đã từng gặp ông nội cháu ở ngay tại đây sao? Ông cháu đã nói những gì với bác? Ông cháu đã đi đâu sau mười ngày đó?"

Thợ cả Thiết cúi nhìn thiếu nữ trước mặt, nhìn thấy ngọn lửa rực cháy trong đôi mắt ngấn lệ của cô, ánh mắt ông ngập tràn sự xót xa và cảm phục sâu sắc. Ông khẽ thở dài một tiếng dài:

"Ông nội của cháu là một người phi thường nhưng cũng là kẻ kỳ lạ nhất mà lão già này từng gặp trong suốt nửa đời người lênh đênh trên mây. Ở cái nơi Bãi Thuyền Lạc này, nơi mà bất kỳ kẻ rơi đài nào cũng ngày đêm tìm mọi cách chắp vá tàu để bay ngược trở lên Tầng Hành Trình ấm áp và an toàn, thì ông Vân Kính lại làm một điều hoàn toàn ngược lại. Ông ấy chủ động tháo dỡ toàn bộ dàn vũ khí bọc thép nặng nề của *Hải Âu Xám*, tháo bỏ cả những khoang hàng tiện nghi, và để lại chính khúc dầm gỗ sồi chịu lực này cho chúng ta làm trụ đỡ kiên cố cho quán trọ nổi trung tâm. Sau đó, ông ấy hoán cải con tàu thành một chiếc vỏ cói nhẹ nhất có thể, chỉ mang theo các thiết bị đo đạc khí áp tinh vi và một ít lương khô dự trữ."

"Để làm gì cơ chứ?" Tứ Hải từ đằng xa cũng đã chạy lại từ lúc nào, hai bàn tay quấn băng nắm chặt lại, nghe thấy câu chuyện liền cất tiếng hỏi dồn dập trong sự ngỡ ngàng.

"Để lặn sâu hơn nữa," Thợ cả Thiết giơ cánh tay thô ráp chỉ thẳng về phía tây nam, nơi dải mây xám xịt dày đặc đang cuộn sóng âm thầm dưới ánh hoàng hôn le lói cuối chân trời. "Ông ấy nói với ta rằng trên tất cả các tấm hải đồ hiện hành của Vân Quốc có một vết rách khổng lồ đầy dối trá cần phải được vá lại bằng chính sự thật mắt thấy tai nghe. Ông ấy muốn vượt qua dải lặng gió chết chóc Cửa Gió Ngủ để đi tìm cái rốn của toàn bộ bầu trời... nơi mà những truyền thuyết cổ xưa nhất của người đi biển gọi là Đảo Neo."

Trời chiều buông xuống nhanh chóng trên Bãi Thuyền Lạc. Ánh sáng vàng vọt, yếu ớt cuối ngày tắt ngấm sau những rặng mây tầng thấp, nhường chỗ cho bóng tối lạnh lẽo và đặc quánh bao trùm lấy không gian.

Những người thợ sửa tàu bắt đầu thu dọn đục, cưa, búa và dây thừng, lục tục kéo nhau trở về khu vực bến ghép trung tâm. Giữa những xác thuyền mục nát ngổn ngang, những đống lửa sưởi ấm áp được nhóm lên bằng các thanh gỗ thuyền phế liệu tẩm đầy hắc ín. Ánh lửa bập bùng màu cam đỏ nhảy múa trên những vách gỗ sồi xám xịt, tỏa ra những làn khói thơm nồng mùi nhựa thông cháy, xua tan đi phần nào cái rét buốt thấu xương của màn đêm Tầng Mù.

Mọi người quây quần thành từng nhóm quanh một đống lửa lớn dựng giữa sàn của một chiếc sà lan mục nát. Một chiếc nồi gang khổng lồ bắc trên kiềng sắt, bên trong là món súp cá khô nấu với rêu mây đang sôi lục bục, bốc khói nghi ngút mang theo mùi thơm mộc mạc làm ấm lòng những kẻ tha hương. Lam Nhi ngồi lặng lẽ bên cạnh Tứ Hải và cô Tùng Lâm, một tay cô ôm chặt chiếc hộp thiếc đựng Bản Đồ Mây trước ngực, đôi mắt đăm đăm nhìn vào những tàn lửa đỏ lơ lửng bay lên rồi tan biến vào màn đêm sâu thẳm.

Khúc dầm gỗ của ông nội vẫn nằm đó nơi bãi xỉ, như một cột mốc định mệnh khắc sâu vào tâm khảm cô, khẳng định chắc nịch rằng cô không hề lạc lối—cô đang bước đi trên chính con đường đầy chông gai mà người ông kính yêu đã từng dấn thân mở lối. Nhưng Đảo Neo thực sự là cái gì? Nó là một hòn đảo đất đá vững chãi neo giữ bầu trời, một xoáy nước hủy diệt nuốt chửng vạn vật, hay chỉ là một ảo ảnh hoang đường được thêu dệt nên bởi những kẻ hoa tiêu phát điên vì cô độc giữa biển mây?

Bên đống lửa sưởi từ gỗ thuyền mục, những người thủy thủ già bắt đầu kể những câu chuyện hoàn toàn trái ngược nhau về Đảo Neo.

"Đó không phải là một hòn đảo đâu, con bé ạ," lão Sáu, người thợ già với chiếc chân gỗ khẽ cời đống than đỏ rực, tẩu thuốc lập lòe trên khóe môi nhăn nheo, cất giọng thì thầm như sợ bầu trời nghe thấy. "Mấy chục năm trước, tàu của phường săn mây chúng ta từng đuổi theo một đàn cá kình khổng lồ lạc xuống tận rìa Cửa Gió Ngủ. Ở đó không có lấy một gợn gió, mây nằm im như một mặt gương thủy ngân chết chóc. Nhưng ngay giữa cái tĩnh lặng rợn người ấy, biển mây đột nhiên sụt xuống tạo thành một cái hố sâu vạn trượng. Đảo Neo... thực chất là một chiếc phễu ngầm khổng lồ! Nó nuốt chửng mọi luồng khí, hút cạn mọi lực nổi của khinh thạch. Bất kỳ con thuyền nào lọt vào tầm hút của nó đều sẽ bị bẻ gãy sống tàu, rơi tuột xuống đáy cùng của thế giới mà không bao giờ có thể ngóc đầu lên được!"

"Lão già này lại nói xằng nói bậy dọa dẫm con nít rồi!" Một người thợ khác, vóc dáng gầy gò với vết sẹo dài vắt ngang sống mũi lập tức xua tay gạt phắt đi, giọng ông ta gay gắt nhưng đầy vẻ mê muội. "Chiếc phễu cái nỗi gì! Cha ta ngày xưa từng phục vụ trên một kỳ hạm tuần thám của triều đình. Chính mắt ông cụ đã nhìn thấy qua kính viễn vọng ba tròng: Đảo Neo là một ngọn núi đá thiêng trôi lơ lửng, đỉnh của nó cắm thẳng lên Tầng Sáng, còn chân của nó đâm sâu xuống tận đáy Tầng Mù! Trên đỉnh ngọn núi đó có một chiếc mỏ neo khổng lồ đúc bằng thứ kim loại cổ xưa không bao giờ rỉ sét, xích sắt của nó to bằng cả thân tàu chiến, buông thẳng xuống vực thẳm để giữ cho cả cái Biển Mây này không bị gió bão xé toạc ra! Ai tìm được Đảo Neo và chạm tay vào sợi xích thiêng đó sẽ thấu suốt được toàn bộ quy luật của các dòng khí, trở thành chúa tể thực sự của bầu trời!"

"Hai người các ông đều nói nhảm cả!" Một giọng nói thứ ba cất lên từ góc tối của sàn sà lan. Đó là một thủy thủ già có đôi mắt mù lòa vì bụi lưu huỳnh, ông ngồi bó gối bên đống lửa, giọng trầm buồn như tiếng chuông chùa vọng giữa đêm sương. "Không có chiếc phễu nào, cũng chẳng có ngọn núi đá thiêng nào hết. Đảo Neo... là một bãi tha ma. Đó là nơi an nghỉ cuối cùng của hàng ngàn con tàu từ thời lập quốc, bị giam cầm vĩnh viễn trong một vùng lặng gió tuyệt đối. Ở đó không có thời gian, không có sự sống, chỉ có những cánh buồm trắng bất động và những bộ xương khô ngồi bất tử bên bánh lái... Bất kỳ ai đi tìm Đảo Neo đều chỉ mang về cái chết và sự lãng quên."

Những câu chuyện mâu thuẫn, kỳ ảo và nhuốm màu huyền hoặc cứ thế tiếp nối nhau, đan xen vào tiếng nổ lách tách của nhựa thông cháy. Mỗi người một lời, mỗi người một ký ức chắp vá, biến Đảo Neo thành một bí ẩn khổng lồ vừa quyến rũ vừa đáng sợ, lơ lửng giữa lằn ranh của sự thật và ảo ảnh. Lam Nhi khẽ siết chặt chiếc hộp thiếc trong lòng, cảm nhận hơi lạnh của kim loại truyền qua lớp vải áo. Dù Đảo Neo có là chiếc phễu nuốt chửng bầu trời, ngọn núi đá thiêng hay bãi tha ma của những cánh buồm lạc lối, cô biết chắc chắn một điều: mười năm trước, ông nội Vân Kính của cô đã lái con thuyền *Hải Âu Xám* nhẹ như cánh ve lao thẳng về phía đó. Và cô, người nắm giữ tấm bản đồ dang dở của ông, sẽ không bao giờ quay đầu lùi bước.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories