Năm Ấy Hoa Phượng NởCh.21 / 40
Chapter 21

Tết Và Những Bản Nháp

Mùi hương trầm bài ngày mùng hai Tết bảng lảng khắp căn phòng khách nhỏ trong con ngõ sâu phố Cửa Nam, chen chúc cùng làn khói thuốc lá Du Lịch và tiếng chúc tụng rổn rảng của họ hàng nội ngoại về chuyện thi cử của đứa cháu gái năm nay bước vào ngưỡng cửa đại học.

Khói trầm hương bài cuốn tàn cong vút trên đỉnh chiếc lư đồng hoa sòi hoen ố vệt thời gian, phả vào không gian ẩm lạnh của tiết trời mưa phùn đầu xuân một vẻ trang nghiêm, ấm cúng hiếm hoi giữa nếp nhà tập thể cũ. Căn nhà một tầng xây từ những năm cuối thập niên tám mươi, trần vôi rơm đã loang lổ vài vệt ố vàng hình chân chim vì nước mưa ngấm qua mái ngói ba mươi sáu viên mỗi mùa bão gió. Giữa gian nhà ngoài, hai chiếc bàn gỗ tạp ghép cập kênh vào nhau, phủ lên bằng tấm khăn trải bàn nilông in hoa thược dược đỏ rực đã sờn rách ở các góc gập, chật ních người lớn ngồi quây quần. Họ hàng bên nội từ mạn Hải Hậu lên, bên ngoại dưới mạn Ý Yên ra tề tựu đông đủ sau một năm dài bươn bải mưu sinh nơi ruộng đồng và xưởng máy. Mâm cỗ ngày Tết ở vùng đất dệt vẫn đẫm đà phong vị cổ truyền mộc mạc: đĩa thịt gà sống thiến luộc vàng ươm rắc lá chanh thái chỉ mỏng như sợi tơ, bát măng nứa khô ninh móng giò bốc khói nghi ngút nghiêng tràn ánh váng mỡ, đĩa giò thủ tai mũi giòn sần sật điểm những hạt tiêu đen xay dập, và đĩa xôi gấc đỏ au điểm vài hạt sen bùi ngậy lóng lánh mỡ gà.

Tiếng chạm ly lách cách của những chiếc chén mắt trâu viền xanh kiểu cổ, tiếng cười ha hả khoái hoạt của bác Cả xen lẫn tiếng rít thuốc lào sòng sọc từ chiếc điếu bát men ngọc đặt dưới chân sập gụ khảm ốc. Khói thuốc lào Tiên Lãng đặc quánh cuộn tròn rồi bốc lên, quyện lấy làn mưa bụi lất phất tạt qua khung cửa sổ chấn song gỗ sơn màu xanh công nhân đã bong tróc từng mảng lớn.

Nguyễn Hạ Miên ngồi nép mình ở mép chiếc ghế đẩu phụ phía góc trong, sát cạnh vách tường vôi quét ve xanh nhạt đã rộp vỏ. Ngay bên cạnh cô, ba đứa em họ trạc tuổi cấp một, cấp hai đang mải mê tranh nhau mấy khoanh giò lụa chấm tương ớt cay nồng, chốc chốc lại đưa tay quệt ngang ống tay áo bông dày cộp. Cô gái nhỏ diện chiếc áo len cổ lọ dệt kim màu hạt dẻ quen thuộc—chiếc áo đã sờn hai bên khuỷu tay mà cô vẫn thường mặc suốt những buổi học thêm giá buốt ở trường chuyên—bên ngoài khoác thêm chiếc áo dạ lửng màu ghi sáng do chính tay mẹ Lan chắt chiu dẫn đi sắm từ phiên chợ Rồng giáp Tết. Mái tóc đen dài ngang lưng của Miên được chải mượt mà, túm gọn bằng chiếc cặp ba lá giản dị sau gáy, để lộ bờ vai gầy guộc hơi so lại vì gió bấc luồn qua khe cửa liếp. Hai bàn tay Miên đan chặt vào nhau, đặt ngay ngắn trên đùi, những đầu ngón tay hơi tái đi vì cái rét ngọt đầu năm.

Chuyện đồng áng mất mùa, chuyện giá sợi cotton của Tổng công ty Dệt dạo này trượt giá thảm hại, chuyện khoán sản phẩm và lương thưởng ba cọc ba đồng dưới các xí nghiệp vệ tinh trôi qua chừng dăm ba tuần rượu nếp cái hoa vàng cay nồng. Khi men rượu bắt đầu làm đỏ gay gắt những gương mặt sạm đen vì sương gió và những nụ cười thêm phần bỗ bã, thì như một thông lệ bất biến của mọi gia đình có con em học năm cuối cấp ba, mũi dùi của sự quan tâm, soi xét bỗng chốc quay ngoắt, chĩa thẳng về phía cô cháu gái lớn trầm lặng nhất nhà.

Bác Cả buông chiếc chén mắt trâu xuống mặt bàn nghe một tiếng *cạch* dứt khoát, dùng đôi đũa tre gắp một miếng mề gà luộc giòn sần sật bỏ tọt vào miệng, đoạn nheo đôi mắt kèm nhèm đầy nếp nhăn nhìn xoáy vào Miên, cất giọng vang rền sang sảng át cả tiếng mưa ngoài mái hiên:

—“Ấy chết, suýt nữa thì cánh già này quên khuấy mất con bé Miên! Thoắt cái mà đã lớp mười hai rồi đấy nhỉ? Hôm nọ bác đi họp hội đồng hương ngoài phố, nghe người ta kháo rầm rĩ trường Trần Văn Lan nhà cô dạo này thi học sinh giỏi các thứ rôm rả lắm. Thế con bé tính thi trường gì trên Hà Nội chưa cháu? Bác nói thật lòng, thời buổi mở cửa kinh tế thị trường này rồi, người ta chỉ chuộng Kinh tế Quốc dân, Ngoại thương, Ngân hàng hay Tài chính thôi, ra trường cái là doanh nghiệp nước ngoài nó trải thảm đỏ đón rước, kiếm tiền đô tiền triệu nhẹ tênh! Chứ cứ ôm mấy cái môn xã hội văn thơ bay bướm thì sau này mài chữ ra mà ăn à con?”

Chú Ba ngồi bên cạnh, tay vân vê bao thuốc lá Thăng Long bao mềm, nhấp thêm một ngụm nước chè Thái Nguyên đặc quánh sánh vàng như mật ong rừng, cũng chép miệng gật gù phụ họa:

—“Bác Cả nói chí phải đấy, anh chị Thành ạ. Con gái học Văn thì tính tình lãng mạn, nhạy cảm thật đấy, nhưng thời buổi này cơm áo gạo tiền nó khốc liệt, thực tế lắm. Đất thủ đô tuy mở mang tầm mắt, cơ hội nhiều thật, nhưng cũng đầy rẫy cám dỗ, cạm bẫy lọc lừa khôn lường. Nhà mình thì gốc gác thuần nông với thợ thuyền lao động chân lấm tay bùn, trên Hà Nội làm gì có họ hàng thân thích nào vai vế để mà đỡ đầu, nâng đỡ lúc hoạn nạn? Cho cháu thi cái gì thì cũng phải tính đường dài, liệu cơm gắp mắm cho chắc cái chân chứ?”

Từng câu, từng chữ rơi xuống giữa gian nhà chật chội, tựa như những khối đá tảng vô hình nện thẳng xuống bầu không khí ngột ngạt. Miên khẽ giật mình, bờ môi mỏng mím chặt lại thành một đường chỉ trắng bệch. Lồng ngực cô thắt lại nghẹn ứ. Miên vừa hé miệng, toan cất lên tiếng thưa gửi rụt rè rằng mình đã ấp ủ nguyện vọng nộp hồ sơ vào khoa Báo chí của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội—ngôi trường danh giá với bề dày truyền thống mà bấy lâu nay cô hằng tôn sùng như một thánh đường, nơi cô gửi gắm trọn vẹn khao khát được cầm bút, được dấn thân viết về những phận đời lam lũ để bước ra khỏi cái bóng ảm đạm của xóm thợ nghèo.

Thế nhưng, những thanh âm non nớt ấy còn chưa kịp định hình nơi đầu lưỡi thì mẹ Lan đã thoăn thoắt đặt chiếc muôi múc canh bằng nhôm xuống mép chiếc bát ô tô chiết yêu, vội vã xua tay lia lịa, nở nụ cười xòa đầy vẻ thanh minh với các bậc trưởng thượng:

—“Ối dào ôi, các bác với chú cứ khéo lo xa! Nhà em với bố cháu đã bàn tính đâu vào đấy hết cả từ dạo trong năm rồi ạ. Con bé Miên nhà em là con gái út ít, từ tấm bé tính tình đã nhút nhát, hiền lành như củ khoai củ sắn luộc, ra đường gặp người lạ còn không dám nhìn thẳng, em nào dám cả gan thả nó lên cái đất Hà Nội phồn hoa đô hội, trăm người bán vạn người mua ấy cho trôi sông lạc chợ! Chúng em đã định hướng, răn bảo cháu cẩn thận rồi: Cứ nộp hồ sơ vào khoa Sư phạm Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm tỉnh nhà ngay đầu cầu Đò Quan này thôi. Sáng dắt cái xe đạp đi học, chiều tối về ăn cơm nhà, mọi bề sinh hoạt có bố mẹ đỡ đần, quản lý. Với lại học Sư phạm thì nhà nước bao cấp toàn bộ tiền học phí suốt bốn năm ròng, ra trường lại được Sở Giáo dục phân công về mấy trường cấp hai, cấp ba dưới huyện dạy học cho ổn định, chẳng phải lo thất nghiệp bơ vơ. Đỡ tốn kém tiền triệu tiền thuê trọ, tiền ăn đắt đỏ của gia đình, vừa an toàn trọn vẹn cho thân con gái, lại vừa giữ được cái gốc rễ ở quê nhà!”

Bố Thành đang ngồi tiếp rượu bác Cả ở đầu bàn bên kia, nghe vợ dõng dạc tuyên bố như đinh đóng cột thì bàn tay đang cầm chai rượu nếp khẽ khựng lại một nhịp. Ông chầm chậm đặt chiếc chai thủy tinh màu xanh lá xuống mép chiếu hoa. Gương mặt người thợ điện xí nghiệp dệt sạm đen vì mưa nắng dãi dầu, những nếp nhăn nơi đuôi mắt hằn sâu vệt chân chim của tuổi ngoài năm mươi khẽ giãn ra một thoáng, nhưng giọng điệu cất lên lại mang theo sự dứt khoát, trầm ổn của một người trụ cột gia đình đã quen gánh vác mọi nhọc nhằn giông bão:

—“Bà nó nói thế là hoàn toàn đúng với tâm nguyện của tôi đấy các bác ạ. Đời mình phận thợ thuyền quèn, cả một đời thanh xuân quần quật bên mớ dây cáp cao thế, tủ bảng điện xí nghiệp dầu mỡ bám đen kịt móng tay, cũng chỉ mong sao đời con đời cái nó được nhàn cái thân xác, có được cái biên chế nhà nước ổn định cho đỡ vất vả, long đong. Con gái con lứa học xa nhà tốn kém bạc triệu là một chuyện, mà cha mẹ ở nhà ruột gan thắt lại, thắc thỏm lo âu từng bữa ăn giấc ngủ là mười. Cứ Sư phạm tỉnh nhà mà thi, an toàn bền vững là trên hết. Con bé Miên nó cũng ngoan ngoãn từ bé, cha mẹ bảo sao nghe vậy, chẳng bao giờ đòi hỏi đua đòi son phấn áo quần với chúng bạn cùng lứa đâu.”

Mấy người cô, người thím ngồi cạnh bàn bên nghe vậy thì thi nhau gật đầu tấm tắc khen ngợi, tiếng đũa bát va vào nhau lách cách hòa cùng tiếng xuýt xoa đồng tình:

—“Đấy, anh chị Thành tính toán đường đi nước bước như thế mới là thức thời, là biết liệu cơm gắp mắm! Con gái cứ làm cô giáo trường làng, sớm hôm đi về gần gũi phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già bóng xế, sau này kiếm tấm chồng công chức hay thợ bậc cao tử tế gần nhà là ấm êm, viên mãn cả một đời người!”

Miên ngồi chết lặng giữa luồng gió bấc rít qua khe cửa gỗ. Từng lời nhận xét dứt khoát, từng lời tán dương rôm rả và sự an bài êm thấm của người lớn cứ thế dội thẳng vào màng nhĩ cô như những đợt sóng ngầm buốt giá giữa mùa đông sông Đào. Cô lặng lẽ cầm đôi đũa tre, gắp một miếng giò lụa đã nguội ngắt bỏ vào bát cơm có ngọn của mình, rồi chầm chậm nhai. Miếng thịt nguội lạnh, khô khốc và nhạt thẽo tựa như rơm rạ, nhưng Miên vẫn cố gắng nuốt trôi cùng khối nghẹn ngào buốt rát đang dâng ứ lên nơi cổ họng. Đĩa dưa hành củ muối chua cay nồng đặt sát cạnh phả lên sống mũi cô một mùi hăng hắc làm khóe mắt cay xè, rơm rớm. Thế nhưng Miên tuyệt nhiên không dám chớp mắt, cố gồng mình ngăn không cho một giọt nước mắt yếu mềm nào kịp ứa ra lăn trên gò má trước mặt họ hàng.

Giữa mâm cỗ Tết linh đình đông đủ nội ngoại, giữa những tràng cười rổn rảng chúc tụng nhau một năm mới an khang và sự đồng thuận tuyệt đối của các bậc bề trên dành cho cái vỏ bọc mang tên “tương lai an toàn”, tiếng nói của một đứa con gái mười bảy tuổi bỗng nhiên trở nên vô hình, câm lặng và cô độc đến thảm hại. Cô không có quyền lên tiếng, không dám cất lời phản bác, và càng không đủ dũng khí kiên cường để đứng phắt dậy dõng dạc tuyên bố ước mơ theo đuổi nghề báo chí như cái cách mà Đông Quân từng kiên định gạt phăng sự áp đặt độc đoán của bố cậu trong phòng thí nghiệm trường chuyên dạo nọ. Miên chỉ biết ngồi thu lu, cúi gằm mặt xuống bát cơm trắng, bàn tay trái giấu kín dưới gầm bàn lén túm chặt lấy vạt áo len dệt kim, siết chặt đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đến tê dại, rỉ máu.

Dưới đáy lòng cô gái nhỏ, một nỗi xót xa âm ỉ cào xé từng khúc ruột. Mới chỉ chiều ba mươi Tết vừa rồi thôi, cô còn đứng lặng trước khung cửa sổ lớp 12 Văn phủ đầy bụi phấn, ngắm nhìn tờ lịch đếm ngược ngày thi đại học mà Quân đã cẩn thận dùng từng mẩu băng dính trong suốt dán lành lại từng nếp rách góc mép. Lời hứa chắc nịch của Quân giữa buổi chiều mưa phùn lạnh giá bên thềm thư viện cũ: *“Tớ không đi đâu nữa cả. Tớ sẽ ở lại đây, thi cùng cậu”*, cùng bản kế hoạch phân tích chi tiết mục tiêu 24 điểm khối D1 với từng thang điểm thành phần môn Toán, Văn, Anh mà hai đứa đã chụm đầu tính toán tỉ mỉ, vẫn còn in hằn rõ mồn một trong tâm trí cô. Quân đã thắp lên trong cô một niềm tin mãnh liệt rằng cô hoàn toàn có quyền bước ra ngoài ánh sáng, có quyền chạm tay vào trang viết của chính cuộc đời mình mà không cần phải cúi đầu nép sau lưng người khác. Thế nhưng, chỉ cần bước qua bậc cửa trở về dưới mái nhà này, đối diện với hiện thực cơm áo gạo tiền nghiệt ngã và cái nhìn mòn mỏi của cha mẹ, bức tường thành định kiến về sự ổn định an phận lại sừng sững dựng lên, đè bẹp dí mọi mầm mống dũng khí non nớt vừa mới nhen nhóm trong tâm can cô.

Bữa cơm trưa kéo dài lê thê đến tận đầu giờ chiều. Khi mấy ấm chè xanh pha nước sôi sủi tăm đã nhạt dần vị chát, câu chuyện của cánh đàn ông dần chuyển sang những nỗi lo toan cơm áo thường nhật đầy trĩu nặng. Bác Cả tợp ngụm nước chè cuối cùng trong chiếc chén hạt mít, chép miệng thở dài thườn thượt:

—“Nghe đâu ra giêng này, xí nghiệp dệt bên khu Nam Định lại rục rịch cắt giảm thêm một ca kíp nữa đấy chú Thành nhỉ? Bên xưởng sợi với xưởng nhuộm bảo vật tư đầu vào đắt đỏ quá, đơn hàng gia công xuất khẩu sang Đông Âu thì đình trệ nằm chết gí ở cảng Hải Phòng. Chú mày bên tổ cơ điện bảo trì trạm biến áp liệu có bị trừ bớt phụ cấp hay chậm lương không đấy?”

Bố Thành bưng chén nước chè bằng hai bàn tay thô ráp, chai sần đầy những vết sẹo do bỏng mỏ hàn và những vết cắt chằng chịt của dây thép cao thế. Bàn tay người thợ điện khẽ run lên một thoáng rất khẽ, dường như chỉ có Miên đang ngồi đối diện mới nhận ra sự bất an kín đáo ấy. Ông đưa điếu cày lên, châm một đóm đóm nứa hút một hơi thuốc rê dài, cố giấu nét mệt mỏi trĩu nặng nơi hốc mắt sâu thẳm sau làn khói lam mờ mịt:

—“Thì khó khăn chung của toàn xí nghiệp mà bác, tránh sao cho khỏi. Ra Tết bên ban giám đốc giao thêm chỉ tiêu sửa chữa lưu động ngoài giờ không có phụ cấp tăng ca. Mấy hôm nay tranh thủ những ngày nghỉ Tết, tôi cũng phải lặn lội chạy vạy nhận thêm mấy mối lắp đặt đường dây điện dân dụng cho xóm thợ bên cầu sắt để kiếm thêm dăm ba đồng ra đồng vào. Thôi thì mình còn sức dài vai rộng, còn gõ được cái kìm, vặn được con ốc thì còn cày cuốc được bác ạ, miễn sao lo đủ tiền ăn học, sách vở cho con bé Miên nó thi cử trót lọt qua nốt năm nay cho bằng bạn bằng bè.”

Tiếng thở dài nén chặt của người cha rơi tõm vào khoảng không gian ẩm mốc của gian nhà, cứa vào lòng Miên như một nhát dao lam sắc lẹm. Cô cắn chặt bờ môi dưới đến bật máu, không dám ngẩng đầu lên nhìn vào đôi mắt trũng sâu thâm quầng vì những đêm thức trắng trực sự cố ca ba của bố. Cảm giác tội lỗi như một thứ chất độc gặm nhấm tâm can cô: Ước mơ bước chân lên giảng đường Hà Nội của cô, phải chăng chính là gánh nặng vô hình đang đè nghiến lên đôi vai còng gầy gò của người cha thợ điện?

***

Khoảng hơn ba giờ chiều, trời đổ thêm một đợt rét ngọt cắt da cắt thịt. Họ hàng nội ngoại lục tục đứng dậy chào nhau ra về. Tiếng còi xe máy Babetta, tiếng nổ pành pạch của những chiếc xe máy Simson, Honda Chaly cà tàng vang lên lách cách đầu ngõ rồi dần tan biến vào màn mưa bụi mịt mù đang giăng mắc trên những mái ngói rêu phong của ngõ Cửa Nam. Không khí nhộn nhịp, huyên náo tưng bừng của ngày Tết bỗng chốc rút đi nhanh chóng tựa như một đợt thủy triều, trả lại cho gian nhà cấp bốn nhỏ bé một sự tĩnh lặng đến lạnh lẽo, hoang hoải.

Miên phụ mẹ bưng chồng bát đĩa dính đầy váng mỡ gà đông kết và nước sốt nem chua ngọt xuống gian bếp ẩm thấp phía sau nhà. Mẹ Lan xắn cao hai ống tay áo len xù lông, ngồi xổm trên chiếc ghế con bằng nhựa, vừa dùng xơ mướp cọ rửa chiếc nồi đồng to tướng dùng luộc bánh chưng hôm ba mươi Tết, vừa thở hổn hển từng chặng ngắn vì chứng bệnh hen suyễn tái phát mỗi khi trời trở lạnh:

—“Miên này, con rửa xong cái khay ấm chén thì ra ngoài hiên dọn mấy cái chiếu cói trải ban trưa phơi sương đi con. Tiện thể gom luôn đống quần áo rét hôm qua giặt vào kẻo mưa phùn thế này nó ngấm ẩm hết cả lượt. Mà con nhớ coi chừng cái dây phơi sắt ngoài chái hiên đấy nhé, sáng nay bố con vội đi chúc Tết trên khối phố, kéo mạnh tay thế nào làm tuột mất một đầu móc néo vào cọc sắt rồi, dây nó chùng hẳn xuống tận đất kia kìa.”

—“Dạ vâng, để con ra xem rồi buộc lại cẩn thận cho mẹ.” — Miên khẽ đáp, thanh âm phát ra nơi cổ họng vẫn còn vướng víu một nỗi nghẹn ngào chưa thể tan biến.

Cô khoác vội chiếc áo dạ màu ghi, bước chân trần xỏ vào đôi dép lê tổ ong cũ mèm đi ra ngoài khoảng sân sau. Gió bấc từ mạn sông Đào thổi thốc qua rặng chuối tiêu sau vườn mang theo hơi nước buốt giá thấu xương. Chiếc dây phơi bằng thép bọc một lớp nhựa màu xanh lá quả nhiên đã bị tuột tung mối nối ở chiếc cọc sắt cắm sâu góc sân gạch, lòng thòng rũ rượi chạm xuống nền gạch Bát Tràng trơn trượt ướt nhẹp. Đống quần áo rét mùa đông nặng trịch trĩu xuống, dính đầy bụi nước mưa phùn lép bép.

Miên thử dùng hai bàn tay trần gầy guộc nắm lấy đầu mối dây kẽm gỉ sét định bẻ quặt vào chốt sắt, nhưng đoạn kim loại quá cứng và sắc nhọn, mép sắt cứa vào đốt ngón tay trỏ của cô nghe một tiếng *xoẹt* đau điếng. Một vệt máu đỏ tươi rỉ ra nơi kẽ da non. Miên khẽ xuýt xoa, đưa ngón tay lên miệng ngậm chặt một lát để ngăn dòng máu, rồi lẩm bẩm một mình giữa gió bấc: “Cái này phải lấy kìm sắt mỏ bằng vặn mới chặt được.”

Nghĩ đoạn, Miên quay trở vào góc chái nhà tiếp giáp giữa bếp và gian nhà trên. Nơi ấy, bố Thành vẫn kê một chiếc kệ gỗ thông ba tầng tự đóng đã cũ kỹ, chuyên dùng để cất giữ đồ nghề sửa chữa cơ điện của mình suốt mấy chục năm qua. Tầng trên cùng chất mấy cuộn dây điện súp pha đôi, mớ bóng đèn sợi đốt vonfram cháy tim và mỏ hàn nhiệt bám đầy muội chì; tầng dưới cùng là một chiếc hộp sắt đạn của Liên Xô cũ màu xanh quân đội đã tróc sơn nham nhở, bốn góc viền hoen gỉ vàng hoe—vật bất ly thân mà bố cô đã đeo bên hông suốt hơn hai mươi năm làm công nhân cơ điện xí nghiệp dệt, từ cái thuở nhà máy còn chạy máy dệt con thoi của Tiệp Khắc.

Miên quỳ một chân xuống nền gạch hoa cũ đã mòn hoa văn, đưa những ngón tay run rẩy gạt chiếc móc cài bằng đồng đã mòn vẹt của chiếc hộp sắt. Nắp hộp bật mở kêu lên một tiếng *két* khô khốc, rợn người.

Một mùi hương đặc trưng lập tức xộc thẳng vào cánh mũi Miên: mùi dầu máy công nghiệp khét nồng ngai ngái, mùi nhựa cháy khét lẹt của băng keo cách điện màu đen nham nhở, hòa lẫn với mùi ẩm mốc của sắt thép han gỉ lâu ngày—tất cả những thứ mùi thô ráp, lam lũ ấy tạo nên mùi vị thân thuộc của bố Thành, mùi của những giọt mồ hôi mặn chát nuôi cô khôn lớn từng ngày. Bên trong hộp, chiếc kìm cắt dây, chiếc kìm bấm cốt đa năng, mấy chiếc tuốc-nơ-vít cán nhựa màu vàng đục, chiếc đồng hồ vạn năng kim xoay của Trung Quốc và những cuộn băng dính đen dùng dở nằm chen chúc nhau trên chiếc khay nhôm mỏng ngăn cách.

Miên đưa tay nhấc chiếc kìm sắt mỏ bằng lên. Nhưng mũi kìm vô tình bị vướng chặt bởi một đầu dây đồng dài lòng thòng chọc sâu xuống tận đáy hộp. Sợ làm đứt dây hay rối đồ nghề của bố, cô bèn hai tay cẩn thận nhấc hẳn chiếc khay nhôm đựng dụng cụ bên trên ra ngoài, đặt sang một bên mặt sàn xi măng.

Phía dưới đáy hộp sắt sâu hun hút, nơi bố Thành thường lót một lớp bìa các-tông cứng cáp cắt từ thùng các-tông đựng mì tôm Miliket để chống ẩm cho đồ kim khí, Miên bất chợt nhìn thấy một vật thể lạ nằm ép sát đáy hộp, phẳng phiu một cách lạ thường giữa mớ sắt thép thô ráp.

Vật thể ấy được bọc cẩn thận bên trong một chiếc túi bóng kính dày dặn, miệng túi được gập mép ba lần và dán kín mít bằng hai đường băng dính bản to trong suốt, tuyệt đối không để lọt một giọt nước hay một hạt bụi dầu máy nào ngấm vào bên trong.

Miên thoáng ngơ ngác, đôi lông mày thanh tú khẽ nhíu lại vì ngạc nhiên. Hộp đồ nghề cơ điện của bố vốn là chốn bất khả xâm phạm, là nơi chỉ chứa toàn cờ-lê, mỏ-lết, ốc vít dầu mỡ đen đúa, xưa nay chưa từng có chỗ cho bất kỳ một thứ giấy tờ tinh tươm nào trú ngụ. Tính tò mò và một linh cảm mơ hồ thôi thúc, cô gái nhỏ đặt chiếc kìm sắt xuống đất, đưa hai bàn tay khẽ khàng nâng bọc túi bóng kính lên khỏi đáy hộp sắt lạnh buốt.

Bên trong lớp túi bóng kính trong suốt là một chiếc phong bì xi măng khổ A4 màu nâu nhạt—loại phong bì dày dặn chuyên dùng đựng hồ sơ kỹ thuật của xí nghiệp dệt. Bốn mép phong bì đã ngả màu ố vàng theo thời gian và vương vất vài vệt dầu mỡ mờ nhạt nơi góc mép, nhưng các góc cạnh thì phẳng phiu tuyệt đối, không hề bị quăn queo hay rách nát.

Trên mặt trước phong bì, bằng nét bút bi Thiên Long mực xanh đậm đã ngả màu đen, những con chữ in hoa nguệch ngoạc, thô ráp, cứng nhắc quen thuộc của một người thợ cơ khí cả đời chỉ quen cầm búa đục hiện lên rõ mồn một, khắc sâu vào từng thớ giấy xi măng:

*“BÀI CỦA CON”.*

Trái tim Miên khẽ thắt lại, đập lỗi một nhịp dồn dập. Bàn tay cô gái nhỏ bất giác run rẩy bần bật khi những đầu ngón tay lần theo mép băng dính, khéo léo gỡ lớp keo dán miệng túi bóng, rút tập tài liệu bên trong chiếc phong bì xi măng ra ngoài ánh sáng mờ đục của buổi chiều mưa phùn.

Một thế giới ký ức sâu kín, ngỡ như đã chìm sâu vào quên lãng bỗng chốc ùa về, hiển hiện vẹn nguyên và sống động đến từng chi tiết dưới đôi mắt rưng rưng của Miên.

Nằm ngay trên cùng của tập giấy là một tờ giấy thi bốn ô ly đã ố vàng màu thời gian, giấy mỏng tang và mực tím đã hơi nhạt nhòa từ năm cô học lớp tám trường huyện—đó là bài tập làm văn đạt điểm 9.5 với lời phê đỏ chói của cô giáo: “Bài viết giàu cảm xúc, chân thực và xúc động lay động lòng người”. Đề bài năm ấy là: “Hãy miêu tả một người lao động mà em yêu quý và kính trọng nhất”. Miên run run mở từng trang giấy học trò; những dòng chữ nắn nót ngày thơ bé hiện ra, nơi cô từng miêu tả tấm lưng áo xanh bảo hộ lao động đẫm ướt mồ hôi muối của người bố thợ điện, dũng cảm trèo lên cột biến thế cao vút giữa trưa hè tháng sáu nực nội như thiêu như đốt để nối lại nguồn điện cho cả xóm thợ nghèo.

Phía dưới bài tập làm văn ấy là từng tấm giấy khen học sinh giỏi Văn cấp trường, cấp thị xã, rồi cấp tỉnh qua từng năm học cấp hai, cấp ba của cô. Tất cả được bố sắp xếp theo thứ tự thời gian chuẩn xác, ngay ngắn đến kinh ngạc, không hề xô lệch một mi-li-mét nào.

Thế nhưng, điều khiến cổ họng Miên bỗng nhiên nghẹn đắng, hai mắt hoa lên vì bàng hoàng và xúc động tột cùng chính là những mẩu giấy báo nằm ép cẩn thận dưới đáy cùng của chiếc phong bì xi măng.

Đó là những mẩu báo được cắt tỉa vô cùng vuông vức, tỉ mỉ từ chuyên trang “Tuổi Hồng” của tờ báo địa phương Nam Định. Mẩu báo đầu tiên in bài tản văn ngắn mang tên “Những hạt cát thời gian rơi trên bậu cửa” — bài viết đầu tiên trong cuộc đời học sinh của Miên được chọn đăng báo, dưới bút danh bí mật: *Mộc Miên*.

Miên nhớ như in ngày bài báo ấy được xuất bản vào đầu năm lớp 11. Vì sợ bố mẹ mắng là tốn thời gian vào những trò viển vông vô bổ, chểnh mảng việc học hành thi cử, cô đã giấu nhẹm chuyện ấy với cả gia đình, chỉ dám lén lút mang tờ báo đến lớp chuyền tay cho tổ báo tường lớp 12 Văn đọc chung rồi kẹp chặt vào đáy cặp sách mang về giấu dưới gầm giường. Cô đinh ninh rằng ngoài mấy đứa bạn thân và thầy cô dạy Văn ra, chẳng một ai trong cái nhà này biết đến sự tồn tại của bài viết ấy.

Vậy mà giờ đây, mẩu báo ấy lại đang nằm ngay ngắn trước mắt cô!

Từng đường viền xung quanh mẩu báo không hề dùng kéo bấm nham nhở theo thói quen của người vội vã. Nhìn kỹ từng mép cắt thẳng tắp, Miên nhận ra bố đã kê chiếc thước kẻ sắt của xưởng cơ khí, dùng lưỡi dao rọc giấy sắc lẹm gọt cẩn thận từng mi-li-mét một để không làm lẹm vào một chữ nào của con gái.

Kỳ lạ và xúc động hơn cả, mẩu giấy báo in bằng chất liệu giấy bãi bằng mỏng manh vốn rất dễ quăn queo, ẩm mốc sau nhiều tháng ngày, nay lại phẳng phiu tuyệt đối, không còn lấy một nếp gấp hay vết nhăn nhúm nào. Miên đưa những đầu ngón tay run rẩy chạm nhẹ lên bề mặt thớ giấy báo nhẵn thín; một mùi thơm khen khét nhè nhẹ, quen thuộc phảng phất bay lên—mùi của mặt vải sợi bông được ủi phẳng bằng chiếc bàn là Liên Xô nặng trịch cắm điện dây may-so của gia đình.

Bố Thành đã dùng chính chiếc bàn là thô kệch ấy, cẩn thận lót một lớp khăn mùi xoa mỏng lên trên mặt báo ẩm, rồi tỉ mẩn là phẳng từng nếp gấp nhăn nheo cho từng bài viết của con gái trước khi cất giữ!

Phía dưới mẩu báo Tuổi Hồng là bản sao bài viết “Những hạt mầm trong bóng râm” — tác phẩm đoạt giải Nhì cuộc thi viết “Nét Đẹp Học Trò” toàn thành phố hồi cuối học kỳ một vừa qua, kèm theo tờ nhận xét viết tay bằng mực đỏ của cô giáo chủ nhiệm Đặng Thu Hà. Tờ nhận xét này vốn được nộp lưu chiểu ở văn phòng Đoàn trường cấp ba, vậy mà không hiểu bằng cách nào, người bố thợ điện ít nói ấy đã âm thầm đến trường xin lại từ các thầy cô giáo để mang về đây cất giữ.

Ở góc dưới cùng của tờ bản thảo bài tản văn đầu tiên, Miên nhìn thấy một dòng chữ viết bằng bút chì gỗ 2B rất nhỏ, nét chì run rẩy, vụng về của bố:

*“Nhặt được bản nháp trên bàn học con gái đêm 15/9. Bút danh Mộc Miên — đúng là con gái của bố rồi.”*

Nước mắt Miên bất thần trào ra, lăn dài trên gò má gầy guộc rồi rơi *tách* một tiếng buốt nhói, đọng thành một giọt nước tròn xoe trên lớp túi bóng kính trong suốt.

Hóa ra, bố biết. Bố đã biết tất cả từ rất lâu rồi!

Bố đã nhận ra bút danh “Mộc Miên” bí mật ấy từ những tờ giấy nháp vụn vặt vương vãi trên chiếc bàn học gỗ thông cũ kỹ của cô trong những đêm khuya thanh vắng, khi cô cặm cụi thức chong đèn dầu viết bài dự thi. Người bố quanh năm suốt tháng chỉ quen làm bạn với mỏ hàn, kìm búa, dầu máy và những con số khô khan vô hồn trên đồng hồ điện áp vạn năng... người bố chưa từng một lần nói lời khen ngợi con gái trước mặt bàn dân thiên hạ, hóa ra lại âm thầm gom nhặt từng con chữ, từng mảnh giấy vụn của đứa con gái nhỏ, cẩn thận cất giấu chúng vào nơi sâu kín nhất, tôn nghiêm và an toàn nhất trong thế giới thợ thuyền của mình: chiếc hộp đồ nghề sinh nhai.

Bố không hề vứt bỏ những trang viết ấy như rác rưởi. Bố không mắng mỏ cô tốn công tốn sức vào những điều mộng mơ hão huyền. Bố trân trọng từng con chữ, là phẳng phiu từng nếp nhăn của mặt báo như cái cách ông nâng niu những gì quý giá, thiêng liêng nhất của cuộc đời mình.

Miên quỳ sụp cả hai đầu gối xuống nền gạch lạnh buốt. Hai cánh tay cô ôm chặt chiếc phong bì xi măng vào lồng ngực đang run lên từng chặp nghẹn ngào. Tiếng mưa phùn rả rích rơi trên mái hiên, tiếng gió bấc rít từng cơn qua khe liếp bỗng chốc như lùi xa vào một cõi mông lung vô tận. Nỗi ấm ức, tủi thân nghẹn ngào trong bữa cơm ban trưa bỗng chốc tan biến sạch trơn, nhường chỗ cho một cơn sóng trào dâng mãnh liệt của sự ngỡ ngàng, thương xót và day dứt tột cùng.

—“Miên ơi! Tìm thấy cái kìm sắt chưa con gái? Mưa bắt đầu nặng hạt rồi đấy, vào nhà kẻo cảm lạnh bây giờ!”

Tiếng gọi với đầy lo lắng của mẹ Lan từ gian bếp dưới vọng lên giật đứt dòng suy nghĩ miên man của Miên. Cô giật mình, vội vàng đưa mu bàn tay quệt ngang dòng nước mắt ướt đẫm gò má. Hít một hơi thật sâu để nén chặt tiếng nấc nơi lồng ngực, cô cẩn thận đặt từng mẩu báo phẳng phiu, từng bài thi gấp mép ngay ngắn trở lại vào chiếc phong bì xi măng, lồng vào túi bóng kính dán chặt mép băng keo, rồi nhẹ nhàng đặt nó về đúng vị trí sâu nhất dưới đáy chiếc hộp sắt Liên Xô.

Miên đặt chiếc khay nhôm đựng dụng cụ trở lại, cầm chiếc kìm sắt mỏ bằng đứng dậy. Cô hắng giọng, cố giữ cho thanh âm của mình thật bình thản, trong trẻo:

—“Con tìm thấy kìm rồi mẹ ơi! Con ra vặn lại cái cọc sắt cho mẹ ngay đây ạ!”

***

Bữa cơm tối ngày mùng hai Tết diễn ra trong không khí đìu hiu, lặng lẽ hơn hẳn sự ồn ã náo nhiệt của ban trưa. Mâm cỗ linh đình ban trưa chỉ còn lại một đĩa thịt đông xám xịt đóng váng mỡ trắng quanh viền, bát canh măng hâm đi hâm lại đến lần thứ ba nước đã sẫm màu, và đĩa dưa hành chua cay nồng. Bố Thành có vẻ mệt lử sau một ngày dài tiếp khách, uống rượu và đối đáp với họ hàng. Ông ăn vội hai bát cơm nguội chan nước canh măng, rồi lẳng lặng khoác lên mình chiếc áo khoác thợ điện màu xanh công nhân đã bạc phếch hai bên vai, đội chiếc mũ cối cũ mèm lên đầu, lạch cạch dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng khung ngang ra khỏi ngõ để đi kiểm tra trạm biến áp trực Tết cho xí nghiệp dệt ca đêm.

Mẹ Lan ngồi dọn dẹp nốt mấy chiếc chén mắt trâu ở gian ngoài, lúi húi lau chùi chiếc bàn thờ gia tiên rồi cũng tắt bớt bóng đèn, đi nằm sớm trong buồng trong vì chứng đau lưng và nhức mỏi xương khớp hành hạ.

Đến khoảng chín giờ tối, căn nhà tập thể cấp bốn chìm hẳn vào bóng đêm tĩnh mịch. Cả gian phòng chỉ còn lại ánh sáng leo lét, đỏ quạch hắt ra từ ngọn đèn ngủ quả ớt đặt trên bàn thờ tổ tiên và tiếng đồng hồ quả lắc treo tường điểm từng nhịp *tích tắc... tích tắc* khô khốc, rờn rợn giữa đêm đông giá buốt.

Miên ngồi vào chiếc bàn học gỗ thông nhỏ hẹp kê sát cửa sổ của mình. Cô mở cuốn vở bài tập Hình học không gian mà Đông Quân đã cẩn thận ghi chép, giao cho cô làm trong mấy ngày nghỉ Tết trước khi hai đứa tạm chia tay nhau. Thế nhưng, cây bút bi trong tay cô cứ nằm bất động trên trang giấy trắng tinh. Tâm trí Miên hoàn toàn không thể dung nạp nổi những khái niệm về thiết diện, góc giữa hai mặt phẳng hay khoảng cách giữa hai đường thẳng chéo nhau. Hình ảnh chiếc phong bì xi măng màu nâu nhạt mang dòng chữ “BÀI CỦA CON” dưới đáy hộp đồ nghề đầy dầu mỡ của bố cứ chập chờn, hiển hiện trước mắt cô tựa như một câu hỏi nhức nhối chưa tìm được lời giải đáp trọn vẹn.

Cảm thấy cổ họng khô khốc và buốt rát, Miên buông bút xuống mặt bàn, rón rén bước chân trần xuống gian nhà dưới để rót một cốc nước ấm từ chiếc phích Rạng Đông bọc sắt.

Khi bước ngang qua chiếc bàn ăn ở gian giữa—chiếc bàn ban ngày phủ khăn nilông tiếp khách họ hàng, ban đêm là nơi mẹ Lan vẫn thường tranh thủ ngồi kiểm tra sổ sách chứng từ thu chi của cửa hàng vật liệu xây dựng tư nhân mà mẹ làm thuê ngoài giờ—Miên chợt khựng lại. Một vệt sáng yếu ớt, vàng vọt hắt ra từ ngọn đèn học bóng sợi đốt 40W đặt ở góc chiếc bàn gỗ. Chiếc đèn chưa được tắt hẳn, dường như mẹ vừa mới rời khỏi bàn cách đây ít phút để vào buồng nằm vì cơn đau lưng ập đến.

Nghĩ rằng mẹ mệt quá nên đãng trí quên tắt điện, Miên bước lại gần, định đưa ngón tay gạt chiếc công tắc quả nhót bằng nhựa để tiết kiệm điện cho gia đình. Thế nhưng, ánh mắt cô bất thần bị giữ chặt lại bởi những trang giấy A4 kẻ ô ly tận dụng từ mặt sau của những tờ hóa đơn xuất kho đã hết hạn, nằm ngổn ngang dưới ánh đèn vàng.

Đó là nét chữ tròn trịa, hơi nghiêng đều về bên phải rất mực quen thuộc của mẹ Lan—nét chữ cẩn trọng, tỉ mẩn đến từng dấu phẩy của một người phụ nữ làm nghề kế toán sổ sách suốt mấy chục năm ròng rã.

Miên nín thở, cúi thấp người xuống mép bàn, đôi mắt mở to dán chặt vào từng dòng chữ viết tay chằng chịt trên mặt giấy.

Ở đầu trang giấy nháp, mẹ Lan nắn nót ghi một dòng tiêu đề to bản, được gạch chân hai lần bằng mực bút bi đỏ:

*“TÍNH TOÁN CHI PHÍ HỌC ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI (DỰ TÍNH CHO CON GÁI — GIAI ĐOẠN 2009 - 2013)”*

Phía dưới tiêu đề ấy là một bảng dự toán chi tiết, cụ thể đến từng hạng mục chi tiêu sinh hoạt thường nhật, những thứ chi phí thực tế mà một đứa học trò cấp ba quanh năm chỉ biết vùi đầu vào sách vở như Miên chưa từng bao giờ mảy may hình dung hết được:

*1. Học phí: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (Khoa Báo chí):* * Dự kiến khoảng 1.800.000đ – 2.200.000đ / một học kỳ (Mỗi năm 2 học kỳ chính = khoảng 4.000.000đ).* * Tiền giáo trình, tài liệu chuyên ngành báo chí, lệ phí thi học phần: ~500.000đ / năm.*

*2. Tiền ở và sinh hoạt phí nơi trọ:* * Phương án 1: Xin vào ở Ký túc xá Mễ Trì (~150.000đ – 200.000đ/tháng).* *(Kèm theo dòng ghi chú viết chì nét run rẩy đầy lo âu của mẹ ở bên lề: “Đã gọi điện hỏi thăm chị Nga cùng phòng kế toán cũ: Ký túc xá Mễ Trì đông người phức tạp lắm, trộm cắp vặt như rươi, liệu con bé Miên có tự bảo quản được đồ đạc cá nhân không? Tính nó từ bé nhút nhát, sợ đám đông, lỡ bị chúng bạn bắt nạt, ốm đau nửa đêm thì biết bấu víu kêu ai???”)* * Phương án 2: Thuê phòng trọ ngoài cùng bạn học cấp ba (~600.000đ – 800.000đ/tháng/người chưa tính tiền điện nước sinh hoạt).* *(Ghi chú bên cạnh bằng mực đỏ: “Quá đắt đỏ! Chủ trọ Hà Nội tính giá điện nước kinh doanh cắt cổ, mùa hè nóng nực dùng quạt máy với nước máy thì tốn kém không xuể!”)*

*3. Tiền ăn uống và sinh hoạt tối thiểu một tháng tại Hà Nội:* * Cơm bụi sinh viên bình dân: 12.000đ – 15.000đ/suất x 2 bữa chính = ~800.000đ/tháng.* * Tiền ăn sáng (xôi xéo, bánh mì): 5.000đ x 30 ngày = 150.000đ/tháng.* * Tiền xe buýt vé tháng liên tuyến sinh viên: 50.000đ/tháng.* * Chi phí thuốc men dự phòng ốm đau, xà phòng giặt, kem đánh răng, mắm muối lặt vặt: ~200.000đ/tháng.* * Tổng cộng tiền ăn uống + sinh hoạt tối thiểu: ~1.200.000đ/tháng.*

Phía dưới cùng của bảng tính toán chi li ấy là một con số tổng kết được đóng khung bằng mực đỏ hai lần, kèm theo những dấu gạch hỏi to tướng, run rẩy và đầy bế tắc:

*“TỔNG CỘNG MỖI THÁNG BẮT BUỘC PHẢI GỬI CHO MIÊN: Ít nhất 1.800.000đ – 2.000.000đ.* *Mỗi năm 10 tháng học = khoảng 20.000.000đ – 24.000.000đ (Chưa tính khoản tiền nhập học ban đầu sắm sửa đồ đạc, chăn màn, xe đạp cũ).*

*CÂN ĐỐI NGUỒN THU NHẬP THỰC TẾ CỦA GIA ĐÌNH:* * Lương thợ điện xí nghiệp dệt của bố: 1.600.000đ/tháng (Thường xuyên bị chậm lương tháng Tết, nguy cơ xí nghiệp giảm biên chế ca kíp sau quý 1???).* * Thu nhập kế toán cửa hàng vật liệu xây dựng của mẹ: 1.400.000đ/tháng (Phụ thuộc vào người ta bán được hàng xi măng, sắt thép hay không).* * Tổng thu nhập cả nhà: ~3.000.000đ/tháng.* * Tiền ăn uống sinh hoạt tối thiểu của 3 miệng ăn ở Nam Định + tiền thuốc khớp định kỳ của bố + tiền điện nước: Tối thiểu 1.800.000đ/tháng.* * Khoản tiền dư dôi tối đa hàng tháng: 1.200.000đ/tháng.*

*KHOẢN THIẾU HỤT MỖI THÁNG NẾU CHO MIÊN LÊN HÀ NỘI HỌC: Từ 600.000đ đến 800.000đ??? Lấy ở đâu ra để bù vào??? Vay mượn ngân hàng chính sách diện hộ nghèo có được không? Thủ tục thế nào, lãi suất hàng tháng trả ra sao???*

*NẾU THI VÀO SƯ PHẠM NGỮ VĂN NAM ĐỊNH:* * Miễn 100% tiền học phí suốt 4 năm đại học theo chính sách nhà nước.* * Tiền ăn ở: Ăn cơm nhà cùng bố mẹ, không tốn thêm một đồng thuê trọ.* * Chi phí đi lại: Xe đạp cá nhân, không phát sinh chi phí.* * ĐỠ ĐƯỢC CHO KINH TẾ GIA ĐÌNH GẦN 100 TRIỆU ĐỒNG TRONG SUỐT 4 NĂM ĐẠI HỌC!”*

Từng con số lạnh lùng, từng phép tính cộng trừ chuẩn xác đến từng nghìn đồng, cùng những dấu chấm hỏi xoáy sâu màu mực đỏ chen chúc nhau trên trang giấy nháp kế toán đập thẳng vào mắt Miên, tựa như những nhát búa vô hình nện liên hồi vào lồng ngực cô gái nhỏ.

Một giọt nước mắt nóng hổi bất thần rơi xuống, phát ra một tiếng *cộp* khẽ khàng trên mặt giấy, làm nhòe nhoẹt đi con số “100 triệu đồng” mà mẹ Lan đã nắn nót khoanh tròn nhiều vòng bằng mực đỏ.

Miên run rẩy đưa cả hai bàn tay lên bặm chặt lấy miệng để ngăn không cho tiếng khóc nấc nghẹn ngào bật thốt ra ngoài. Toàn thân cô run lên bần bật giữa gian phòng khách mờ ảo ánh đèn đỏ quả ớt. Đôi chân cô như nhũn ra, không còn đủ sức đứng vững trên nền gạch hoa giá lạnh.

Mọi khúc mắc, mọi nỗi oán hờn, ấm ức và tủi nhục mà cô đã cất giữ sâu kín trong lòng suốt bao tháng ngày qua... bỗng chốc vỡ òa thành trăm ngàn mảnh vụn xót xa.

Bấy lâu nay, cô cứ ngỡ bố mẹ bảo thủ, gia trưởng. Cô cứ ngỡ bố mẹ cổ hủ, mang nặng định kiến phong kiến, coi thường năng lực viết lách của cô, nghĩ rằng đứa con gái học Văn thì chỉ biết mơ mộng hão huyền, viển vông, nên mới nhẫn tâm dập tắt ước mơ Báo chí cháy bỏng của con mình, ép cô phải co cụm lại trong cái vỏ ốc an toàn, tù túng mang tên Sư phạm tỉnh nhà. Cô từng oán trách bữa cơm sum họp trưa nay, từng cảm thấy nghẹt thở và cô độc đến cùng cực khi người lớn thản nhiên định đoạt số phận của mình như một món đồ chơi mà không thèm đoái hoài hỏi han lấy một lời về cảm xúc của cô.

Nhưng sự thật nghiệt ngã, trần trụi phơi bày trên trang giấy nháp kế toán này lại không hề chứa đựng bất kỳ một sự ghét bỏ hay định kiến khắt khe nào cả!

Đằng sau bức tường thành ngăn cấm kiên cố ấy, là gánh nặng mưu sinh nhọc nhằn, mòn mỏi của đôi vai người cha thợ điện đang ngày đêm trèo cột điện cao thế giữa mùa đông cắt da cắt thịt để kiếm từng đồng bạc lẻ; là những đêm thức trắng chong đèn bên bàn tính của người mẹ kế toán tảo tần, đau đáu đắn đo từng bữa ăn manh áo cho cả gia đình.

Mẹ Lan không hề cấm cô ước mơ. Mẹ chỉ sợ... gia đình nghèo này không đủ sức gánh vác nổi giấc mơ lớn lao ấy của cô con gái nhỏ! Mẹ sợ đứa con gái út ít, nhút nhát, sợ đám đông, đi chợ còn chưa dám mở lời trả giá mớ rau con cá của mẹ sẽ bơ vơ, lạc lõng giữa một thủ đô Hà Nội xa hoa, đắt đỏ và đầy rẫy lọc lừa. Mẹ sợ một ngày nào đó giữa chừng bốn năm giảng đường đại học, xí nghiệp của bố cắt giảm biên chế, cửa hàng của mẹ phá sản ế ẩm, họ sẽ không thể gửi nổi tiền ăn, tiền trọ cho con, để đứa con gái yêu quý duy nhất phải chịu cảnh đói rét, thiếu thốn, dang dở việc học hành nơi đất khách quê người.

Và bố Thành... người bố thợ điện cục mịch, kiệm lời, thô ráp ấy... cả đời chưa từng biết nói một lời dịu dàng hay khen ngợi con gái trước mặt họ hàng, nhưng lại âm thầm gom nhặt từng mẩu báo cắt tỉa cẩn thận, dùng chiếc bàn là Liên Xô là phẳng từng nếp nhăn trên trang văn của con, rồi giấu kín dưới đáy chiếc hộp đồ nghề sinh nhai như báu vật vô giá nhất của cuộc đời mình. Bố trân trọng ngòi bút của cô, tự hào về tài năng văn chương của đứa con gái nhỏ hơn bất kỳ ai trên cõi đời này, nhưng sự bất lực cay đắng của một người trụ cột gia đình nghèo trước bài toán cơm áo gạo tiền nghiệt ngã đã buộc ông phải chọn cách tàn nhẫn nhất để bảo vệ cô: ghìm giữ cô lại trong vòng tay bảo bọc an toàn của gia đình.

Nước mắt Miên giàn giụa, tuôn rơi lã chã, chảy tràn qua từng kẽ ngón tay, mặn chát và cay xè nơi đầu môi.

Trong tâm trí cô gái nhỏ, câu nói của Đông Quân trong buổi chiều mưa bên thềm thư viện cũ bỗng nhiên vang vọng lại, rõ mồn một như một tiếng chuông ngân: *“Đừng bao giờ sống nháp cuộc đời mình chỉ để làm vừa lòng người khác.”*

Thế nhưng, lúc này đây, đứng trước những con số thiếu hụt chi phí chênh vênh của mẹ, nhìn vào vết dầu máy công nghiệp còn vương lại trên góc chiếc bàn gỗ của bố, Miên thấu hiểu sâu sắc rằng, ước mơ của cô không thể và không bao giờ được phép xây dựng trên sự kiệt quệ, cơ cực và hy sinh đến cùng kiệt của cha mẹ mình!

Cô muốn thi vào khoa Báo chí. Cô muốn trở thành một nhà báo chân chính, muốn dùng ngòi bút chân thực của mình để cất lên tiếng nói bênh vực cho những số phận bình dị, lam lũ, bé nhỏ như bố, như mẹ, như bác bảo vệ trường học hay những người công nhân xí nghiệp dệt. Nhưng cô không thể bước chân lên thủ đô bằng cách dẫm đạp lên những giọt mồ hôi mặn chát và nỗi âu lo bạc trắng mái đầu của đấng sinh thành.

Bàn tay Miên khẽ chạm vào trang giấy nháp kế toán còn ấm hơi đèn. Cô cẩn thận gập đôi tờ biểu mẫu tính toán chi phí lại theo đúng nếp gấp ban đầu, rồi khẽ khàng đặt nó về đúng vị trí góc bàn mà mẹ Lan đã để quên lúc đi nằm, tuyệt đối không làm xáo trộn hay để lại một vết gấp mới nào.

Một luồng dũng khí mới mẻ, trầm tĩnh và kiên định chưa từng có bỗng chốc len lỏi, chảy râm ran qua từng mạch máu trong cơ thể Miên.

Mục tiêu 24 điểm khối D1 mà Đông Quân đã vạch ra cho cô... giờ đây không còn đơn thuần là một con số để chứng minh năng lực học tập, càng không phải là thứ công cụ để đánh bại sự kiêu hãnh ngút trời của Đỗ Minh Trang nơi lớp chuyên nữa. Nó phải là một con số tuyệt đối, một kết quả thi cử rực rỡ và xuất sắc nhất, đủ để cô giành được suất học bổng tuyển sinh toàn phần của trường đại học, đủ để cô tự tin tự nuôi sống bản thân bằng chính ngòi bút, sức lao động và khối óc của mình nơi thủ đô hoa lệ mà không phải xin của bố mẹ một đồng sinh hoạt phí nào.

Gấp lại tập tài liệu học phí mẹ để quên trên bàn, Miên tự nhủ cô phải giành được học bổng để không đè nặng lên vai bố.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories