Mùa Mưa Ở Đà LạtCh.36 / 36
Chapter 36

Khi Mùa Mưa Đi Qua

Buổi sáng cuối tháng Mười mở ra bằng vạt nắng hanh vàng rực rỡ len qua vòm thông xanh ngắt, hong khô những giọt sương đêm cuối cùng trên biển gỗ “Homestay & Vườn Mưa Mộc Miên” vừa được treo ngay ngắn trước cổng đón khách. Tấm biển làm bằng một tấm bìa gỗ dổi dại dày dặn, những đường vân uốn lượn như dải mây thung lũng, mặt chữ được người thợ dùng đục lòng máng khoét sâu rồi miết một lớp sáp ong pha muội than thông, mộc mạc mà sắc nét, không chút bóng bẩy phô trương nhưng lại có cái đĩnh đạc trầm tĩnh của thứ vật liệu đã can qua giông gió. Nắng chiếu xiên qua kẽ lá, rọi thẳng vào thớ gỗ còn ngậm chút hơi ẩm ban mai, làm bốc lên một mùi hương ngai ngái, nồng ấm, thứ mùi quen thuộc của rừng già sau những ngày dài ngâm mình trong mưa bão.

Không còn những đợt dông mù mịt quất rát rạt vào sườn đồi Trại Mát, cũng chẳng còn tiếng nước xối xả đe dọa chân móng hay bờ taluy đất đỏ. Chuỗi ngày dầm dề kéo dài suốt mùa mưa bão dường như đã lùi xa chỉ sau một đêm trở gió. Bầu trời cao nguyên sau bao ngày oằn mình hứng chịu những khối mây đen nặng trĩu nay như được gột rửa tinh tươm, trải ra một sắc lam ngọc trong vắt, mênh mông và kiêu hãnh. Từ trên đỉnh dốc nhìn xuống, thung lũng Trại Mát mở ra như một bức tranh lụa vừa hong khô, những luống bắp cải xanh mướt, những giàn su su đọng sương lấp lánh và từng nếp nhà lợp tôn xám nằm nép mình bên triền đồi đều ngập trong ánh sáng trong trẻo. Gió thổi qua triền thung lũng, không còn mang theo hơi lạnh buốt thấu xương của những cơn mưa dầm dai dẳng, mà là cái lạnh ngọt ngào, se sắt của mùa khô chớm ghé, hòa cùng mùi nhựa thông thơm ngát đặc trưng xao động khắp không gian.

Dưới tầng trệt Mộc Miên, không khí rộn rã, tất bật mà ngăn nắp bắt đầu từ rất sớm. Bốn căn phòng tiêu chuẩn khép kín—từng là nỗi trăn trở kéo dài suốt những tháng ngày giằng co giữa sụp đổ và hồi sinh, giữa những hóa đơn vật liệu quá hạn và nỗi sợ hãi sạt lở từng đêm thức trắng—nay bừng sáng trong diện mạo mộc mạc và vững chãi. Từng cánh cửa chớp gỗ thông đỏ cổ tháo dỡ từ bưu điện Cầu Đất khẽ lách cách mở ra đón nắng sớm, để lộ lớp sơn dầu lanh bóng mờ tiệp màu thời gian. Lớp dầu lanh được quét tỉ mỉ từng ngóc ngách không chỉ bảo vệ thớ gỗ trước độ ẩm cao nguyên mà còn giữ lại trọn vẹn những vết xước mờ của năm tháng, biến mỗi cánh cửa thành một chứng tích thầm lặng của ký ức. Mùi gỗ thông sấy nhiệt quyện hòa cùng hương tinh dầu sả chanh thoang thoảng từ những góc phòng được Lâm Thu Yến và Đặng Mai Anh chăm chút kỹ lưỡng, xua tan hoàn toàn cảm giác ngột ngạt hay ẩm mốc của những góc nhà từng dột nước.

Năm đoàn khách lưu trú—gồm nhóm kiến trúc sư trẻ đến từ Sài Gòn và hai cặp vợ chồng làm nghề viết lách—đang thong thả tản bộ dọc hành lang lát ván thông cũ dẫn ra khoảng sân sỏi bazan. Những bước chân chậm rãi trên nền gỗ khô ráo phát ra những tiếng kêu trầm ấm, êm ả, như nhịp đập của chính ngôi nhà đang sống lại trọn vẹn. Tiếng nói cười nhỏ nhẹ, tiếng hít hà khoan khoái làn không khí trong lành buổi sớm xua tan hoàn toàn cảm giác hoang lạnh của nếp nhà từng dột nát vài tháng trước. Người ta dừng lại ngắm nhìn những mộng gỗ được ghép khít khao, những đường chỉ chạy dọc chân tường bằng gỗ tạp tái chế được bào nhẵn thín, và cả những chậu dương xỉ rừng nhỏ treo lơ lửng bên khung cửa sổ ngập tràn ánh nắng.

Ở góc sân giáp hiên sau, quầy phục vụ của gói trải nghiệm “Hương Sáng Mộc Miên” do Mai Anh phụ trách nghi ngút khói. Chiếc ấm đồng cổ reo sôi lục bục trên bếp than hồng nhỏ, tàn lửa thỉnh thoảng nổ lách tách làm bừng lên những đốm sáng li ti trong làn sương mỏng vừa tan. Mai Anh trong chiếc tạp dề vải thô màu nâu đất, mái tóc buộc gọn gàng sau gáy, đôi tay thoăn thoắt rót từng dòng nước sôi chín mươi độ C theo hình xoắn ốc lên phễu gốm Trại Hầm chứa bột cà phê Arabica Cầu Đất vừa xay mịn. Bột cà phê gặp nước sôi lập tức nở phồng, sủi bọt khí mịn màng như nhung, giải phóng thứ hương thơm ngào ngạt, đậm đà với hậu vị ngọt sâu lắng của cà phê mộc lan tỏa khắp không gian, quyện cùng mùi bánh mì nướng giòn rụm trên vỉ sắt và khoai lang mật nướng than béo bùi đặt bên cạnh.

“Mời mọi người dùng bữa sáng bản địa ạ,” Mai Anh tươi cười đặt những chiếc khay gỗ mộc lên bàn dài bằng cử chỉ thuần thục và chu đáo. “Cà phê Arabica được hái chín cây từ vườn Cầu Đất, lựa chọn từng trái đỏ mọng và sơ chế ướt kỹ lưỡng, kết hợp cùng mứt dâu tây thủ công dưới dốc Trại Hầm nấu với đường phèn thanh nhẹ và sữa tươi nguyên kem từ trang trại Đơn Dương. Rau củ quả ăn kèm đều do các cô chú xóm đồi hái lúc năm giờ sáng, khi sương còn đọng trên bẹ lá đấy ạ.”

Một vị khách lớn tuổi trong nhóm kiến trúc sư nâng tách cà phê còn bốc khói nghi ngút, hít sâu hương thơm nồng nàn rồi nhấp một ngụm nhỏ. Ông dừng lại vài giây để cảm nhận trọn vẹn vị giác nơi đầu lưỡi rồi khẽ gật đầu tán thưởng:

“Vị chua thanh rất thanh lịch, không hề gắt gỏng, hậu vị ngọt kéo dài và lớp crema dày, thơm ngát. Sáng Đà Lạt tạnh ráo thế này, ngồi trên chiếc ghế gỗ thông mộc mạc nghe tiếng thông reo ngoài triền dốc quả thực đáng giá từng phút chờ đợi sau mấy ngày dông bão. Không gian này giữ được cái hồn cốt chân thật nhất của kiến trúc bản địa, không lai tạp, không hào nhoáng mà vô cùng vững chãi.”

Ngay khi bữa sáng nhẹ nhàng khép lại, chuông đồng nhỏ treo ở góc chái xưởng mộc phía sau vang lên ba tiếng giòn giã, ngân dài trong thung lũng tĩnh lặng. Thu Yến xuất hiện với nụ cười niềm nở, chiếc bảng kẹp tài liệu cầm trên tay ghi rõ danh sách khách đã đăng ký trải nghiệm sáng nay:

“Đến giờ xưởng mộc bắt đầu rồi ạ. Xin mời tám vị khách đã đăng ký workshop sáng nay di chuyển sang chái đông. Bác Tâm và anh Phong đã chuẩn bị sẵn bàn thao tác cho mọi người.”

Khoảng sân rộng sáu mươi mét vuông nối giữa hiên sau và xưởng Gió Thông ngập tràn ánh nắng ấm áp. Hai dãy bàn thao tác mộc dài làm từ gỗ dổi dại tái chế được xếp ngay ngắn, mặt bàn bằng phẳng để lộ những vết sẹo tự nhiên của thớ gỗ qua bao năm tháng sử dụng. Trên mặt bàn, từng bộ dụng cụ cầm tay an toàn được bày biện chỉn chu: cưa tay Nhật Bản lưỡi mỏng sắc lẹm, đục bạt có cữ chặn bằng da bò để tránh trượt tay, giũa sắt mịn, giấy nhám ba cấp độ từ thô đến mịn, và những thỏi sáp ong vàng ươm nguyên chất để đánh bóng bề mặt. Tuyệt nhiên không có tiếng gầm rú của máy cưa bàn hay máy phay công nghiệp; không gian chỉ tràn ngập sự tĩnh tại, nhịp nhàng của lao động thủ công truyền thống, nơi từng thao tác đòi hỏi sự tập trung trọn vẹn của thân tâm.

Nghệ nhân Phạm Văn Tâm đứng bên chiếc bàn đầu dãy. Mái tóc bạc phơ được cột gọn sau gáy bằng một dải dây gai thô, đôi mắt sắc sảo nhưng hiền từ nhìn quanh nhóm bạn trẻ đang háo hức xỏ găng tay bảo hộ bằng vải bạt. Bên cạnh ông, Phong mặc chiếc áo sơ mi bạc màu xắn cao quá khuỷu tay, để lộ cẳng tay săn chắc với những vết sẹo lao động đã lành miệng thành những vệt mờ rắn rỏi. Bả vai trái của anh—từng trải qua đợt trật khớp nghiêm trọng trong đêm mưa bão kinh hoàng khi anh liều mình ghì giữ thanh xà ngang pơ mu cứu lấy giàn mái—nay đã hồi phục hoàn toàn, cử động linh hoạt, dứt khoát và thuần thục.

“Hôm nay chúng ta không làm những món đồ to tát,” giọng bác Tâm trầm đục, vang ấm trong xưởng nhỏ, át đi tiếng xào xạc của vòm cây bên ngoài. “Các cháu sẽ tự tay chuốt một chiếc thìa ăn cơm từ những mẩu gỗ thông vụn này. Gỗ này là phần cắt thừa khi gia cố chân cột cho Mộc Miên, đã qua xử lý nhiệt hai trăm độ C và ngâm dầu lanh chống ẩm kỹ lưỡng. Đừng coi thường những mẩu gỗ vụn. Làm mộc không phải là dùng sức bẻ gãy thớ gỗ, mà là nương theo chiều vân của nó. Vân xuôi thì đưa lưỡi đục nhẹ nhàng, vân ngược thì đổi góc giũa. Người thuận theo gỗ, gỗ mới thành hình vuông tròn nâng niu miếng ăn cho mình. Càng vội vàng, gỗ càng xơ xước; càng nhẫn nại, mặt gỗ càng bóng mịn tự nhiên.”

Phong mỉm cười nhẹ nhõm, cầm lấy một phôi gỗ thô ráp và chiếc đục nhỏ có cữ da, bắt đầu thị phạm thao tác nạo lòng thìa. Từng đường nạo dứt khoát, chuẩn xác đến từng mi-li-mét khiến những dải phoi gỗ mỏng như cánh ve uốn lượn rơi lả tả xuống sàn sân, tỏa ra mùi hương thông dịu ngọt và đầm ấm.

“Mọi người cầm cán đục bằng tay thuận, ngón cái tựa vào mép gỗ làm điểm tì như thế này,” Phong từ tốn giải thích, giọng nói trầm tĩnh, ánh mắt chân thành và kiên nhẫn nhìn từng học viên. “Đừng vội vã dùng sức ấn mũi đục xuống sâu. Cứ nạo từng lớp mỏng, cảm nhận độ đàn hồi của thớ gỗ dưới lòng bàn tay. Chỗ nào có mắt gỗ cứng thì báo tôi hoặc bác Tâm hỗ trợ, không được cố ghì kẻo trượt mũi đục làm hỏng phôi gỗ.”

Những vị khách hào hứng bắt tay vào việc. Tiếng cưa lách cách nhịp nhàng cắt bớt những phần gỗ thừa, tiếng giũa gỗ sột soạt hòa cùng tiếng cười đùa rộn rã khi một chiếc thìa dần thành hình dưới đôi bàn tay còn vụng về. Bác Tâm đi quanh từng bàn, thỉnh thoảng dừng lại chỉnh lại góc cầm đục cho một bạn gái, hay chỉ cho một cậu thanh niên cách nhìn ánh sáng rọi qua mép thìa để nhận biết chỗ nào còn gồ ghề. Phong cúi người sát bên một vị khách đang lúng túng trước một mắt gỗ thông đỏ cứng cáp, kiên nhẫn cầm tay người đó nương lưỡi đục theo vòng cung của vân gỗ, từng chút một gọt phẳng mắt gỗ mà không làm toác thớ.

Một nữ du khách trẻ nhìn chiếc thìa thông đỏ bóng loáng sau khi được chuốt mịn qua ba lớp giấy nhám và miết một lớp sáp ong ấm sực, reo lên thích thú:

“Em chưa bao giờ nghĩ một mẩu gỗ vụn tưởng như bỏ đi lại có thể biến thành chiếc thìa ấm áp thế này. Cầm vào thấy vân gỗ mịn màng như da em bé, lại thơm mùi thông thoang thoảng nữa!”

Đứng bên khung cửa sổ phòng khách tầng trệt nhìn ra xưởng mộc, Thảo Nguyên khẽ mỉm cười. Nắng vàng dệt thành những vệt sáng lấp lánh trên tóc cô, phản chiếu trong đôi mắt sâu thẳm một niềm bình yên trọn vẹn. Nhìn Phong kiên nhẫn cúi người chỉ dẫn cho từng vị khách cách mài nhẵn đuôi thìa, ánh mắt anh sáng ngời sự tự tin đĩnh đạc của một người thợ chân chính, trái tim cô dâng lên một niềm xúc động khó tả. Anh đã không còn là người thanh niên mang nặng mặc cảm, tự đày đọa mình bằng sự im lặng hay những hy sinh mù quáng vì bóng ma của quá khứ. Anh đang đứng đó, sống bằng nghề, bằng sự tử tế của đôi bàn tay mình một cách tự hào và độc lập.

***

Trong khi xưởng mộc rộn rã tiếng cưa đục và tiếng cười vui vẻ của những người trẻ, chái hiên sau của Mộc Miên lại chìm trong một cõi bình yên sâu lắng.

Hiên sau quay mặt về phía vạt đồi Trại Mát, nơi thung lũng trải dài những luống bắp cải xanh ngắt và những rặng thông ba lá vươn thẳng lên nền trời biếc. Nắng sớm hong ấm những thanh nan lan can gỗ dổi được phục chế nhẵn thín, từng mối ghép mộng thắt đuôi én phẳng phiu không một vết hở. Trên chiếc bàn trà tròn đóng bằng gỗ thông luộc dầu lanh, ấm trà atiso nóng hổi đang tỏa làn khói mỏng manh trong không gian se lạnh. Hương thơm ngai ngái, thanh tao đặc trưng của rễ atiso phơi khô quyện cùng vị ngọt hậu của cam thảo và vài lát gừng già lan nhẹ, làm dịu đi cái hanh hao của gió chớm mùa khô.

Ngồi đối diện nhau bên bàn trà là hai người đàn ông mái đầu đã điểm hoa râm: ông Vũ Quốc Nam và ông Lê Đức Thành.

Ông Nam gác chiếc gậy gỗ mun bên cạnh chiếc ghế tựa bọc đệm lanh êm ái. Đôi chân từng trải qua chấn thương nặng nề mười năm trước được đặt ngay ngắn trên tấm thảm cói dệt thô. Gương mặt ông thư thái, những nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra trong ánh nắng ban mai rực rỡ, không còn nét âu lo hay sự căng thẳng thường trực của những ngày tháng canh cánh nỗi lo nợ nần và bệnh tật.

Bên kia bàn, ông Thành chống hai tay lên đầu gối, lưng hơi còng xuống theo năm tháng nhưng đôi mắt không còn sự trốn tránh hay hoảng loạn của kẻ mang tội. Chiếc gậy mun của ông đặt song song với gậy của ông Nam trên sàn gỗ, như hai nhân chứng già nua của một đoạn đời giông bão đã lùi xa vào quá khứ.

“Nước trà atiso của vùng Trại Mát này vẫn đậm vị nhất anh Nam nhỉ,” ông Thành khẽ lên tiếng, giọng trầm và chậm rãi, bàn tay hơi run vì tuổi tác nâng chén gốm mộc lên nhấp một ngụm nhỏ. “Ngọt từ đầu lưỡi, nhưng cái ngọt sâu nhất lại nằm ở cuống họng sau khi nuốt. Uống vào thấy ấm cả lồng ngực.”

Ông Nam mỉm cười, với tay châm thêm nước sôi từ chiếc bình ủ ấm bọc mây vào ấm trà:

“Đất bazan pha đá phiến sét ở triền đồi này giữ khoáng chất tốt lắm anh Thành. Cây atiso hay cây thông rừng trồng ở đây rễ đều phải ăn sâu vào kẽ đá mới tìm được mạch nước ngọt. Rễ càng bấm sâu, cây càng đứng vững qua mùa mưa dầm bão lớn. Người ta cứ sợ đất cằn, nhưng chính cái cằn cỗi và khắc nghiệt ấy lại ép cái cây phải tôi rèn nội lực bên trong.”

Ông Thành nhìn ra thảm xanh của thung lũng, nơi những ngọn thông non đang tắm mình trong nắng, khẽ gật đầu đồng tình:

“Mấy hôm trước ở trung tâm dưỡng lão Bảo Lộc, tôi có mượn được mấy cuốn tài liệu kỹ thuật lâm nghiệp của trạm thực nghiệm cũ. Đọc về phương pháp chiết cành thông ba lá mới thấy công phu. Hóa ra không phải cành nào cũng chiết được, phải chọn cành bánh tẻ, nằm ở tầng tán đón nắng hướng đông, và vết khấc vỏ phải dứt khoát thì nhựa mới không bị nghẽn mạch, mô sẹo mới nhanh hình thành.”

“Đúng đấy anh,” ông Nam gật đầu, ánh mắt ánh lên niềm say mê của một kỹ thuật viên lâm nghiệp cả đời gắn bó với cây rừng cao nguyên. “Thông ba lá cao nguyên vốn nhạy cảm với nấm rễ. Nhưng nếu biết lấy đất mùn tự nhiên dưới gốc cây mẹ, trộn với tro trấu và một chút xỉ than tổ ong đập nhỏ để tạo độ thoáng khí, thì tỷ lệ ra rễ đạt trên tám mươi phần trăm. Khí hậu Đà Lạt những năm gần đây tuy có thất thường, mùa mưa dồn dập hơn, nhưng chu kỳ mùa khô vẫn giữ được cái hanh hao cần thiết để mầm cây cứng cáp. Chỉ cần giữ cho rễ thở được, thì không sợ gì úng ngập.”

Hai người cha già cứ thế điềm đạm trò chuyện. Họ nói về kỹ thuật ươm giống, về độ ẩm tầng đất, về những biến chuyển của thời tiết cao nguyên từ thời họ còn là những thanh niên trai tráng băng rừng lội suối cho đến tận bây giờ. Không một lời cay đắng. Không một sự né tránh gượng gạo. Biến cố mười năm trước trên khúc cua ngặt nghèo của đèo Prenn, những tháng ngày nằm viện cơ cực, món nợ ba trăm hai mươi triệu đồng kéo dài suốt một trăm hai mươi tháng bồi thường đằng đẵng… tất cả không hề bị xóa nhòa, nhưng đã được đặt xuống một cách đàng hoàng, minh bạch và trọn vẹn.

Bóng ma của mặc cảm tội lỗi từng giam cầm hai gia đình trong vòng xoáy dằn vặt nay đã tan biến như làn sương sớm trước ánh mặt trời. Họ ngồi bên nhau không phải để giả vờ quên đi vết thương, mà để minh chứng rằng vết thương ấy đã thực sự lên da non, nhường chỗ cho sự bình thản và tôn trọng lẫn nhau giữa hai con người từng đi qua tận cùng của mất mát và đổ vỡ.

“Thằng Phong dạo này chững chạc hẳn ra anh Nam ạ,” ông Thành khẽ thở dài nhẹ nhõm, ánh mắt ấm áp hướng về phía xưởng mộc sau nhà, nơi bóng dáng Phong đang thoăn thoắt qua lại giữa các dãy bàn. “Nhìn nó đứng chỉ vẽ cho khách, tôi thấy lòng mình nhẹ bẫng. Mười năm tôi để nó gánh vác thay mình món nợ ấy, cứ ngỡ là bảo bọc nó, che chở cho nó, hóa ra lại trói buộc và làm khổ thanh xuân của hai đứa trẻ. Bây giờ thấy nó tự lập, biết giữ ranh giới và sống vì đam mê của nó, tôi mới thực sự an tâm an dưỡng tuổi già. Tôi nợ anh, nợ gia đình anh một lời tạ ơn sâu sắc vì đã mở lòng bao dung cho cha con tôi.”

Ông Nam với tay, đặt bàn tay ấm áp vỗ nhẹ lên mu bàn tay gầy gò nổi gân xanh của người bạn già:

“Chúng nó đã lớn rồi anh Thành. Chuyện cũ đã qua như một đoạn đường dằn xóc, trách nhiệm đã hoàn thành, ân nghĩa đã phân minh. Cây non qua giông bão mà không gãy thì sẽ thành cổ thụ che chở cho mảnh đất này. Anh và tôi đã làm trọn bổn phận của thế hệ đi trước rồi, giờ là lúc để tụi nhỏ tự tay vun đắp tương lai của chúng bằng chính đôi chân độc lập.”

Hai ông nhấp chén trà ấm, mắt cùng nhìn về dải đồi ngút ngàn phía xa, nơi những ngọn thông xanh rì rào trong gió sớm như tấu khúc nhạc bình yên không dứt.

***

Bên trong gian phòng sinh hoạt chung ngập tràn hương gỗ mới của Mộc Miên, một bầu không khí khác cũng đang diễn ra với sự nghiêm túc và trật tự của những con số.

Ánh sáng ban mai rọi qua khung cửa sổ kính lớn làm bừng sáng chiếc bàn làm việc bằng gỗ dổi dài. Trên mặt bàn phẳng phiu, những tập hồ sơ kế toán, sổ thu chi nội bộ và bảng sao kê tài khoản ngân hàng được xếp gọn gàng theo từng danh mục có dán nhãn cẩn thận. Lâm Thu Yến ngồi cạnh bà Vũ Minh Châu, tay cầm chiếc bút chì cẩn thận rà soát từng dòng số liệu hiển thị trên màn hình máy tính bảng.

Bà Châu đeo chiếc kính lão gọng đồi mồi trễ xuống sống mũi, ngón tay thon thả nhưng rắn rỏi lướt nhanh trên các hóa đơn chứng từ có đóng dấu đỏ. Với kinh nghiệm hàng chục năm làm kế toán trưởng của một doanh nghiệp lớn, ánh mắt bà sắc bén rà từng khoản chi phí phát sinh nhỏ nhất, từ tiền mua sáp ong nguyên chất, đinh ốc bằng đồng thau chống rỉ sét, cho đến tiền điện nước sinh hoạt và hóa đơn mua nông sản tươi từ hợp tác xã rau Trại Mát.

“Cô xem này,” Yến chỉ vào biểu đồ tròn hiển thị trên màn hình, giọng nói trong trẻo nhưng đầy sức thuyết phục của một nhà quản lý dịch vụ chuyên nghiệp. “Kể từ khi chúng ta chính thức kích hoạt cổng đăng ký lưu trú thử nghiệm kết hợp thông tin minh bạch trên trang Dốc Sương, tỷ lệ lấp đầy của bốn phòng tầng trệt trong ba tuần tới đã đạt tối đa một trăm phần trăm công suất. Khách đặt phòng phần lớn đều đánh giá cao câu chuyện bảo tồn gỗ cũ và mô hình vườn mưa sinh thái. Đặc biệt, đoàn khách thiết kế sáu người bao trọn năm ngày giữa tuần đã chuyển đủ một trăm phần trăm tiền phòng vào tài khoản quản lý chung.”

Bà Châu dừng ngón tay lại ở cột dòng tiền khả dụng, khẽ nhướn đôi mày thanh mảnh:

“Tổng nguồn tiền cọc hiện tại sau khi trừ chi phí vận hành thường nhật là bao nhiêu?”

“Dạ, tổng tiền cọc thực nhận hiện có trong tài khoản chuyên dùng của Mộc Miên là tám mươi tư triệu đồng,” Yến điềm tĩnh đáp, lật giở trang bảng cân đối dòng tiền chi tiết đã được lập trình công thức tự động. “Theo kế hoạch tài chính đã thống nhất giữa các bên, chúng ta trích ngay hai mươi lăm triệu đồng để thanh toán kỳ nợ quý đầu tiên cho xưởng đá Trịnh ở Đồng Nai vào đúng hạn ngày hai mươi tháng mười hai, theo đúng cam kết giãn nợ không phát sinh lãi phạt mà chị Nguyên đã đàm phán thành công. Đồng thời, nguồn thu dự kiến từ các buổi workshop mộc cuối tuần—ước tính đạt mười hai đến mười lăm triệu đồng mỗi tháng sau khi trừ mười lăm phần trăm chi phí vật tư và hao mòn dụng cụ—sẽ được dồn trực tiếp vào quỹ dự phòng bảo dưỡng và thanh toán khoản nợ vay nội bộ mười lăm triệu mỗi quý cho bác Nam.”

Bà Châu cầm chiếc máy tính cầm tay bấm tanh tách vài phép tính kiểm tra chéo. Từng con số khớp nhau đến từng nghìn đồng, không có sự sai lệch nào dù là nhỏ nhất. Không có những khoản chi cảm tính, không có sự lãng mạn hóa dòng tiền, cũng không còn sự mập mờ giấu giếm từng khiến gia đình rơi vào cảnh hoảng loạn và chia rẽ vài tháng trước. Mọi khoản thu chi đều được bóc tách rành mạch, có hóa đơn đỏ, biên nhận ký tay và chữ ký xác nhận của người phụ trách.

Bà Châu tháo kính lão xuống, đặt chiếc bút chì lên mặt bàn gỗ thông. Bà nhìn cô gái trẻ trước mặt, rồi đưa mắt nhìn quanh gian phòng sinh hoạt chung—nơi từng bức tường ván ép mục rữa ngày nào nay được thay bằng gỗ thông sấy nhiệt đanh chắc, ấm áp và thơm tho. Trên chiếc kệ gỗ áp tường, những cuốn sổ tay lưu niệm bọc vải thô đang chờ những dòng lưu bút đầu tiên của du khách thập phương.

Một nụ cười hiếm hoi, dịu dàng và đầy vẻ tự hào khẽ nở trên gương mặt vốn luôn nghiêm nghị của người mẹ.

“Con bé Nguyên… nó tính toán phương án phân kỳ này rất khôn ngoan,” bà Châu khẽ nói, giọng bà chùng xuống, chất chứa bao nỗi niềm trăn trở bấy lâu nay được cởi bỏ hoàn toàn. “Ngày trước ở Sài Gòn, tôi chỉ sợ nó kiệt sức vì những dự án viển vông, sợ nó vì sĩ diện mà lao vào nợ nần không lối thoát. Tôi đã nghĩ giữ căn nhà này là một gánh nặng, là sự cố chấp dại dột của tuổi trẻ… Nhưng nhìn cách nó cùng cháu và mọi người vận hành mấy tuần qua, đối diện với từng con số bằng sự trung thực và kỷ luật, tôi biết mình đã lo lắng thái quá rồi. Nó đã thực sự trưởng thành.”

Yến mỉm cười, ánh mắt đầy sự cảm phục dành cho người bạn, người đồng hành của mình:

“Chị Nguyên có bản lĩnh của một kiến trúc sư cảnh quan thực thụ bác ạ. Chị ấy không chỉ biết vẽ nên những không gian đẹp trên bản vẽ, mà quan trọng nhất là chị ấy dám đối diện với thực tế địa hình, dám chấp nhận sai số và tuân thủ kỷ luật tài chính khắt khe. Hơn nữa, chị ấy luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến chuyên môn của từng người trong đội ngũ, từ bác Tâm, anh Bảo cho đến chúng cháu.”

Bà Châu gật đầu, đưa bàn tay thon thả vuốt phẳng mép cuốn sổ kế toán:

“Được rồi. Bản báo cáo tài chính đợt một này cô duyệt. Nhưng nhớ nhắc con Nguyên, sau kỳ nghỉ lễ cuối năm, lượng khách có thể biến động theo mùa. Ngày mùng năm hàng tháng, cô vẫn sẽ kiểm tra sao kê tài khoản và đối chiếu chứng từ như hợp đồng đã ký. Độc lập và tự chủ phải đi kèm với sự tỉnh táo lâu dài, cháu hiểu chứ?”

“Dạ cháu nhớ rõ ạ! Tụi cháu sẽ duy trì báo cáo định kỳ đúng hạn,” Yến đáp, đôi mắt lấp lánh niềm vui.

Vừa lúc đó, Nguyên bước vào phòng mang theo một bình gốm cắm đầy hoa dã quỳ vàng rực rỡ vừa hái ngoài bờ rào quanh xưởng. Nắng chiếu vào những cánh hoa vàng óng ả làm bừng sáng cả góc phòng. Nhìn thấy mẹ và Yến đang ngồi bên nhau với nụ cười nhẹ nhõm trên môi, Nguyên khựng lại một nhịp ở bậu cửa, rồi khẽ mỉm cười bước lại gần bàn:

“Mẹ và Yến nghiệm thu sổ sách xong chưa ạ? Bữa trưa bên ngoài đã chuẩn bị gần xong rồi đấy mẹ.”

Bà Châu ngước lên nhìn con gái. Ánh mắt bà không còn sự phán xét hay căng thẳng ngày nào, chỉ còn lại sự ấm áp bao dung và tin cậy của tình mẫu tử:

“Xong cả rồi. Sổ sách của con và Yến làm rất rành mạch, đâu ra đấy. Mau ra phụ mọi người một tay đi, hôm nay đông đủ cả nhà, không được để dì Hạnh với Mai Anh làm một mình đâu đấy.”

Nguyên bước tới, đặt bình hoa xuống bàn rồi ôm nhẹ lấy vai mẹ từ phía sau. Đôi vai gầy của người mẹ từng gánh bao âu lo nay thả lỏng trong vòng tay con gái. Cái ôm siết chặt thay cho muôn vàn lời cảm ơn không thể thốt nên lời.

***

Đúng mười hai giờ trưa, khoảng sân sau rợp bóng cây của Mộc Miên trở thành nơi hội tụ của sự ấm áp và sum vầy.

Một chiếc bàn dài ghép từ ba tấm phản gỗ thông mộc mạc được kê ngay ngắn dưới bóng mát xum xuê của cây ngọc lan cổ thụ. Gió trưa đưa hương hoa ngọc lan thoang thoảng hòa quyện cùng làn khói thơm phức của bữa cơm gia đình. Trên bàn, mâm cơm trưa đậm chất núi rừng Đà Lạt được bày biện tươm tất: một nồi lẩu atiso hầm sườn heo nghi ngút khói, nước dùng trong vắt tỏa hương thơm ngọt lành đặc trưng; những xiên rau củ nướng gồm ớt chuông Đà Lạt đỏ rực, ngô ngọt nướng mỡ hành vàng óng, nấm đùi gà ướp sốt tiêu rừng thơm lừng; đĩa cá bống kho tiêu đậm đà ánh màu cánh gián, và một đĩa salad rau mầm tươi giòn trộn dầu giấm thơm nồng với cà chua bi mọng nước.

Mười con người quây quần quanh mâm cơm nhỏ. Dì Hạnh ngồi ở đầu bàn, nụ cười hiền hậu làm sáng bừng gương mặt nhiều nếp nhăn in hằn dấu vết thời gian, tay thoăn thoắt xới cơm nóng từ chiếc nồi đất vào từng chiếc bát gốm tráng men màu mộc. Kế bên là bà Châu và ông Nam, ông Thành, nghệ nhân Phạm Văn Tâm, kỹ sư Trần Gia Bảo, Mai Anh, Thu Yến, cùng Nguyên và Phong.

Kỹ sư Bảo nâng ly rượu vang sim rừng lên, gương mặt rám nắng bừng sáng nụ cười hào sảng, phá tan bầu không khí trang trọng ban đầu:

“Hôm nay tôi xin phép đại diện cho khối kỹ thuật nâng ly trước! Mười tám mét kè rọ đá và hàng cọc cừ thông luộc dầu sâu ba mét của chúng ta đã vượt qua hai đợt dông bão mà biến dạng bằng không, độ nghiêng móng chái sau giữ vững tuyệt đối ở mức an toàn. Hệ thống thoát nước ngầm hoạt động trơn tru, không một giọt nước ứ đọng chân móng. Đó là minh chứng rõ nhất cho việc: nương theo tự nhiên và kỷ luật kỹ thuật thì công trình mới trường tồn được. Chúc mừng Mộc Miên, chúc mừng sự hồi sinh xứng đáng của nếp nhà gỗ này!”

Tiếng chạm ly lách cách rộn rã hòa cùng tiếng vỗ tay tán thưởng giòn giã.

Bác Tâm gắp một miếng nấm nướng thơm phức đặt vào bát của Phong, rồi quay sang nhìn Nguyên với ánh mắt trìu mến:

“Hôm nay thấy mấy đứa trẻ đến chuốt thìa gỗ, nâng niu từng mẩu thông vụn mà lão già này thấy ấm lòng. Giữ nhà cũ không phải là biến nó thành viện bảo tàng đóng bụi, mà là làm cho nó tiếp tục thở, tiếp tục phục vụ đời sống con người một cách tử tế. Cháu Nguyên và cháu Phong đã làm được điều đó, đã biết kết hợp sự khéo léo của nghề mộc với tinh thần của một không gian sống chan hòa.”

“Con cảm ơn bác Tâm, cảm ơn anh Bảo và mọi người nhiều lắm,” Nguyên xúc động nói, hai má ửng hồng dưới ánh nắng ban trưa rọi qua tán lá ngọc lan. “Nếu không có sự nghiêm khắc của bác Tâm về chuẩn mực mộc, sự chắc chắn về kết cấu của anh Bảo, sự tháo vát của Yến và Mai Anh, cùng sự bao dung của ba mẹ hai bên… một mình con chắc chắn không thể đi qua được những ngày giông bão vừa rồi. Mộc Miên đứng vững được hôm nay là nhờ bàn tay và tấm lòng của tất cả mọi người.”

Dì Hạnh mỉm cười hiền hậu, với tay gắp một miếng cá kho cho ông Thành rồi lại gắp một miếng sườn hầm mềm rục cho ông Nam:

“Thôi, cơm canh nóng sốt thế này thì ăn đi các cháu. Mười năm trước hay mấy tháng trước giông bão thế nào thì hôm nay cũng qua cả rồi. Nhìn mâm cơm đông đủ, hòa thuận thế này, tôi tin bà ngoại Mai dưới suối vàng cũng đang mỉm cười an lòng đấy. Người tốt gặp nhau, cùng nhau vun vén thì đất cằn mấy cũng nở hoa thôi.”

Tiếng cười nói rộn rã vang lên suốt bữa trưa. Mai Anh hóm hỉnh kể lại những tình huống hài hước khi hướng dẫn du khách thưởng thức cà phê phin đúng điệu, có vị khách sốt ruột định lấy thìa khuấy phin làm bột cà phê trào ra ngoài; Yến chia sẻ những phản hồi xúc động của khách khi được nghỉ ngơi trong những căn phòng thơm mùi gỗ mới, lắng nghe tiếng thông reo mà ngủ một giấc thật sâu sau chuỗi ngày làm việc căng thẳng ở thành phố; còn ông Nam và ông Thành thỉnh thoảng lại gắp thức ăn cho nhau, bàn luận thêm về mùa hoa anh đào sắp nở bên sườn đồi Trại Mát vào tháng Chạp tới.

Sự hòa hợp bình yên giữa hai thế hệ, giữa những con người từng mang trong lòng những tổn thương sâu hoắm và mạng lưới cộng sự địa phương chân thành đã biến bữa cơm đạm bạc thành một dấu mốc thiêng liêng. Đó không chỉ là sự tái sinh của một homestay nhỏ, mà là sự chữa lành trọn vẹn của những phận người đã cùng nhau vượt qua giông bão cuộc đời.

***

Buổi chiều, sau khi những vị khách lưu trú đã tản bộ ra các triền đồi ngắm hoàng hôn và tận hưởng không khí trong lành của cao nguyên tạnh ráo, không gian quanh Mộc Miên trở lại với sự tĩnh lặng nguyên sơ.

Nắng hoàng hôn Đà Lạt vào cuối tháng Mười nhuộm một màu vàng mật ong sóng sánh lên khắp các ngọn đồi. Gió thổi nhè nhẹ, mang theo hơi sương mát rượi chớm sà xuống từ đỉnh núi xa xăm, báo hiệu màn đêm sắp buông xuống với cái rét ngọt ngào của mùa khô.

Nguyên và Phong sóng đôi bước ra trung tâm của khu vườn mưa sinh thái phía sau nhà.

Mấy tháng trước, nơi đây từng là một bãi trũng ngập ngụa cỏ dại, đất bùn đỏ nhão nhoét và những dòng nước ngầm đùn lên đe dọa chân móng sau mỗi trận mưa lớn. Giờ đây, hiện ra trước mắt họ là một cảnh quan sinh thái tầng bậc tuyệt mỹ và tràn đầy sức sống. Những bậc đá suối bazan được xếp đặt khéo léo theo đường đồng mức đang dẫn dòng nước trong vắt róc rách chảy êm ả về phía hồ sinh thái nhỏ. Dọc theo hai bờ rãnh thấm, thảm cỏ vetiver với bộ rễ cắm sâu nhiều mét đã đan kết thành một bức tường sinh học kiên cố, giữ chặt từng hạt đất đỏ; những khóm thạch thảo dại trổ hoa tím li ti, chen lẫn giữa những bụi dương xỉ núi xanh mướt và những rặng cỏ sậy nước mềm mại đung đưa trong gió.

Vườn mưa không chống lại nước, không cố đắp đê ngăn chặn sức mạnh của tự nhiên, mà dịu dàng dẫn nước đi qua từng tầng lọc cát sỏi, giữ lại độ ẩm cần thiết, lọc sạch tạp chất và trả lại sự ẩm mượt trù phú cho đất mẹ.

Phong đặt chiếc xẻng làm vườn và chiếc bình tưới nhỏ bằng thiếc xuống nền cỏ khô. Bên cạnh anh là một bầu cây non xanh biếc cao chừng bốn mươi phân, được bọc cẩn thận trong lớp xơ dừa ẩm buộc lạt tre. Đó là một mầm thông ba lá non do chính tay ông Nam chiết cành từ cây thông cổ thụ đầu đồi và chăm sóc ròng rã suốt mấy tháng qua, cành lá vươn thẳng, các nhánh tơ óng ả đầy sức sống, bộ rễ trắng muốt đã bắt đầu đâm xuyên qua lớp vỏ bọc.

“Ba bảo mầm cây này đã đủ ngày tuổi, rễ tơ đã bện chặt vào bầu mùn, trồng vào ngày nắng hanh này là hợp nhất,” Phong khẽ nói, ánh mắt ấm áp nhìn Nguyên. “Nó sẽ bén rễ nhanh và cứng cáp trước khi mùa mưa năm sau quay lại.”

Nguyên ngồi xuống bên mép đất mùn tơi xốp ngay điểm giao giữa hai bậc suối đá—vị trí trung tâm đón trọn ánh nắng sáng và được lớp thảm thực vật bản địa giữ ẩm tốt nhất. Cô xắn tay áo len, cùng Phong dùng chiếc bay nhỏ đào một hố sâu chừng ba mươi phân. Đất ở đây sau đợt bão lũ và nhờ tầng lọc sinh học đã trở nên tơi xốp, màu mỡ, thoang thoảng mùi đất rừng thanh sạch không chút tạp chất.

Cả hai cùng chung tay nhẹ nhàng bóc lớp vỏ xơ dừa, cẩn thận đặt bầu rễ của cây thông non vào lòng đất mẹ. Bàn tay thô ráp chai sần của người thợ mộc và bàn tay thanh mảnh, khéo léo của cô kiến trúc sư cùng nhau vun vén từng vốc đất mùn đỏ sẫm quanh gốc cây. Họ dùng lòng bàn tay nén nhẹ đất xung quanh để giữ cho cây đứng thẳng, cẩn thận cắm ba thanh nẹp tre nhỏ chéo góc, buộc dây gai cố định thân cây non trước những ngọn gió lộng của triền đồi.

Khi dòng nước suối mát lành từ chiếc bình tưới từ từ ngấm sâu vào gốc, đất ẩm khẽ xẹp xuống, ôm trọn lấy từng sợi rễ non. Mầm thông vươn lên kiêu hãnh giữa nền đất mới được thoát nước hoàn hảo, những giọt nước đọng trên đầu kim lá lấp lánh như những hạt ngọc dưới ráng chiều tà.

Phong đứng dậy, phủi nhẹ lớp đất đỏ bám trên đầu gối rồi đưa tay kéo Nguyên đứng lên cùng mình.

Giữa khoảng không gian khoáng đạt của đồi thông Trại Mát, ráng chiều buông xuống rực rỡ một màu đỏ cam pha tím thẫm, nhuộm thắm cả một góc trời cao nguyên. Gió thổi qua làm bay những sợi tóc mai mềm mại vương trên trán Nguyên, mang theo hương thông nồng đượm.

Phong không buông tay cô ra. Bàn tay anh ấm áp, vững chãi, từ từ đan chặt lấy những ngón tay cô, bao bọc trọn vẹn lấy bàn tay nhỏ bé trong lòng tay mình. Anh quay sang nhìn cô, ánh mắt sáng trong, điềm đạm và ngập tràn sự bình yên sâu kín—thứ ánh sáng chỉ có được sau khi con người ta đã dũng cảm đi qua bóng tối của lỗi lầm, đối diện với sự thật trần trụi và tìm thấy sự tự do trong tâm hồn.

Nguyên ngước lên nhìn anh, rồi khẽ nghiêng đầu tựa vào bờ vai vững chãi của Phong. Hơi ấm từ cơ thể anh truyền qua lớp áo len mỏng, xua tan hoàn toàn cái lạnh chớm đông của phố núi.

Từ góc vườn mưa nhìn lên, nếp nhà gỗ hai tầng của Mộc Miên hiện ra lung linh và ấm áp giữa màn sương chiều bảng lảng. Những ô cửa chớp thông đỏ tầng trệt đang tỏa ra ánh đèn vàng dịu ngọt, soi rõ từng đường gờ chỉ gỗ được phục chế cẩn thận. Khói bếp từ gian nhà sau khẽ lượn lờ bay lên nền trời hoàng hôn tím thẫm. Tiếng cười nói trầm ấm của ba mẹ, tiếng Mai Anh và Yến dọn dẹp chén đĩa bên quầy nước thoang thoảng vọng lại, hòa cùng tiếng thông reo rì rào ngoài triền đèo.

Nguyên nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu lồng ngực mùi nhựa thông và đất rừng ẩm ngọt.

Cô nhận ra rằng, quyết định ở lại Đà Lạt giờ đây không còn là sự chạy trốn thất bại ở Sài Gòn, cũng chẳng phải là sự cố chấp để bù đắp di nguyện của bà ngoại hay một món nợ quá khứ nào nữa. Ở lại nơi này là sự tự nguyện trọn vẹn của một người phụ nữ trưởng thành, tự tin vào đôi bàn tay và khối óc của chính mình, bên cạnh người đàn ông mà cô đã chọn yêu lại từ đầu bằng sự thấu hiểu và tôn trọng bình đẳng.

Họ sẽ cùng nhau gìn giữ nếp nhà gỗ này, cùng nhau phát triển xưởng mộc, chăm sóc vườn mưa và xây đắp một tương lai độc lập, bền bỉ như mầm thông non vừa cắm rễ sâu vào lòng đất mẹ.

Một làn gió nhẹ từ thung lũng thổi qua hiên nhà, làm chuyển động thanh gõ bằng gỗ thông khô treo dưới mái hiên.

Tiếng chuông gió gỗ reo vang bên hiên nhà Mộc Miên ngập tràn ánh nắng ấm áp, khép lại trọn vẹn một mùa mưa đã qua.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories