Mùa Mưa Ở Đà LạtCh.20 / 36
Chapter 20

Kỷ Vật Dưới Mái Ngói Cũ

Căn nhà nhỏ phủ đầy rêu phong của dì Hạnh nằm sâu dưới đáy một con hẻm dốc đứng, nơi sương chiều Đà Lạt thường tụ lại sớm nhất, đặc quánh như một lớp bông gòn ẩm ướt trườn qua những bờ giậu hoa dại. Mùi hoa lài nở muộn ngấm nước mưa phảng phất trong không gian, nồng nặc và buốt lạnh, lẫn vào hương khói trà ô long sao củi bảng lảng bay ra từ chái bếp phía sau.

Con dốc lát đá chẻ dẫn xuống sân nhà trơn tuột sau một chuỗi ngày dài dầm dề mưa ngâu không dứt. Từng bậc đá xám thẫm màu đất bazan ken dày những vạt rêu xanh ngắt, trơn nhẫy dưới đế giày, nằm nép mình bên bờ rào dâm bụt già cỗi cành nhánh khẳng khiu. Mấy đóa hoa dâm bụt đỏ thẫm rũ rượi, trĩu nặng vì ngậm nước, thỉnh thoảng lại buông mình rơi đánh *bộp* xuống thảm cỏ mục bên dưới. Xung quanh tĩnh mịch đến độ dường như mọi chuyển động của trần gian đều ngưng bặt; chỉ còn lại tiếng giọt gianh gõ nhịp đều đặn, nhẫn nại xuống dãy chum sành da lươn hứng nước mưa đặt dưới mái ngói âm dương đã mòn vẹt mép, và tiếng cành thông già trên triền dốc sau đồi cọ xát vào nhau kẽo kẹt theo từng đợt gió thốc ngược từ lòng thung lũng sâu hoắm lên đỉnh đèo.

Nguyên ngồi bất động bên chiếc bàn gỗ mít mộc mạc kê sát khung cửa sổ bằng gỗ thông chớp lá sách mở hé một cánh. Hai bàn tay cô thu lu, vùi sâu vào đáy túi chiếc áo khoác len dày sực đan bằng sợi lông cừu thô, nhưng mười đầu ngón tay vẫn tê dại, lạnh buốt như thể vừa vớt từ đáy một hồ băng tuyết.

Tâm trí cô vẫn còn mắc kẹt trong cơn chấn động buổi ban sáng tại ngôi nhà cổ Mộc Miên. Cảnh tượng căn phòng khách tan hoang, tiếng gào thét căm hờn xé toạc không gian tĩnh mịch của mẹ, cùng cái cách bà Minh Châu vung tay ném xấp giấy đòi nợ nhàu nát và bản hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng nhà đất xuống mặt bàn gỗ trước khi dằn gót bước thẳng ra chiếc taxi chờ sẵn ngoài cổng... tất cả vẫn đang dội vào màng nhĩ cô từng cơn nhức nhối. Sự tàn nhẫn sắc nhọn của bà Châu như lưỡi dao cạo cứa đứt từng thớ cơ trong lồng ngực Nguyên, rút cạn toàn bộ dưỡng khí mà cô có thể hít thở.

Và tệ hơn cả sự cay độc của mẹ chính là dáng đứng chôn chân của Phong giữa gian phòng khách sặc mùi ẩm mốc. Anh đứng đó, câm lặng như một thân cây khô bị sét đánh gãy nửa, đầu cúi gằm, bờ vai vạm vỡ nhưng co rúm lại trong nỗi mặc cảm tội lỗi trĩu nặng khôn cùng. Khoảng trống hoang hoải, lạnh ngắt mở toang ra giữa căn nhà tổ đang rệu rã ấy đã xô cô rơi tõm vào một trạng thái tê liệt kỳ dị. Nguyên không rơi nổi một giọt nước mắt nào suốt chặng đường cuốc bộ từ Mộc Miên về căn nhà này của dì Hạnh. Đôi mắt sưng mọng sau chuỗi ngày mất ngủ chỉ còn lại cảm giác cay xè, rát bỏng và khô khốc như thể nước mắt đã bốc hơi sạch sẽ sau cơn hỏa hoạn tinh thần vừa càn quét qua đời cô.

Từ phía gian buồng trong mờ tối, tiếng dép cói khẽ khẹt đều đặn trên nền gạch tàu đỏ au kéo Nguyên trở về với thực tại. Dì Hạnh bước ra. Trên khuôn mặt đầy những nếp nhăn xếp tầng theo năm tháng của bà đọng lại một vẻ trang nghiêm, trầm mặc đến nghẹt thở. Ngón tay trỏ và ngón cái của bà kẹp một que diêm bằng gỗ thông đang cháy dở, đốm lửa vàng le lói tỏa ra mùi lưu huỳnh khen khét.

Bà bước lại gần bàn, bàn tay gầy guộc run rẩy nhấc chiếc chụp thủy tinh hình hoa loa kèn của ngọn đèn dầu hỏa cổ kính đặt ngay ngắn giữa bàn gỗ mít. Dì ghé que diêm vào sợi bấc vải đã thấm đẫm dầu bóng nhẫy. Phụt một tiếng, ngọn lửa bùng lên, soi rõ những đường gân xanh xao chằng chịt và những đốm đồi mồi nâu sẫm trên mu bàn tay người đàn bà đã chứng kiến hơn bảy mươi năm dâu bể, thịnh suy của chốn cao nguyên sương phủ này. Mùi dầu hỏa ngai ngái, ấm nồng quen thuộc lập tức lan tỏa, phủ một lớp hơi ấm mỏng manh lên gian phòng khách ẩm lạnh, xua đi phần nào cảm giác hiu quạnh đang bủa vây hai người như một tấm lưới vô hình.

Dì Hạnh cẩn trọng đặt chụp đèn thủy tinh lại chỗ cũ. Bà khẽ xoay núm đồng nhỏ bên hông thân đèn, vặn cho ngọn lửa thu nhỏ lại vừa vặn, tỏa ra một quầng sáng tròn trịa màu hổ phách ấm áp trên mặt gỗ mít ngả màu vàng sáp ong. Sau đó, bà không nói một lời nào, khẽ xoay người đi về phía góc tối nhất của gian phòng, nơi kê chiếc sập gụ khảm xà cừ cổ lỗ sĩ đã sứt mẻ đôi chỗ quanh diềm chạm trổ hoa cúc.

Bà cúi rạp người xuống, lần tay vào khoảng không gian tối om dưới gầm sập. Tiếng kim loại cọ vào nhau rổn rảng, tiếp theo là âm thanh nặng nề của một vật bằng gỗ đặc trượt trên nền gạch tàu. Dì Hạnh kéo ra một chiếc hòm gỗ long não màu nâu thẫm, bốn góc bịt đồng tấm đã hoen rỉ và đóng một lớp ten xanh mốc thếch vì thời gian và độ ẩm tích tụ qua hàng chục mùa mưa bão.

Dì rút từ trong túi áo bà ba ra một chùm chìa khóa gắn trên khoen đồng hoen ố. Tiếng then sắt kêu *lách cách* khô khốc vang lên giữa không gian tĩnh mịch khi chiếc chìa khóa tra đúng vào ổ khóa cổ. Chiếc nắp hòm nặng trịch mở toang ra, phát ra tiếng cọt kẹt trầm đục của bản lề lâu ngày không tra dầu. Lập tức, một mùi gỗ long não cay nồng xộc thẳng lên cánh mũi, hòa lẫn với mùi giấy mủn, mùi mực in lưu cữu và hơi ẩm mốc của những đồ vật bị chôn vùi trong bóng tối suốt hàng thập kỷ.

Dì Hạnh thò cả hai cánh tay run rẩy vào đáy hòm, cẩn thận nhấc ra một bọc tài liệu khá dày. Bọc giấy ấy được gói ghém vô cùng cẩn trọng trong rất nhiều lớp giấy báo cũ ố vàng, mép giấy đã giòn rụm, sẫm lại màu cánh gián vì thời gian, được buộc chằng chịt bằng một sợi dây gai màu nâu đất thắt nút số tám chắc nịch.

Bà ôm bọc tài liệu bước lại gần bàn trà, đặt nó xuống ngay trước mặt Nguyên. Tiếng bọc giấy thô ráp tiếp xúc với mặt gỗ mít phát ra một âm thanh trầm đục, dội thẳng vào màng nhĩ Nguyên như một tiếng gõ cửa từ cõi quá khứ xa xăm.

"Uống ngụm trà nóng đi con," dì Hạnh đẩy chiếc chén sứ hoa lam bốc khói nghi ngút về phía cô, giọng bà trầm buồn nhưng rành rọt từng tiếng một, không hề có chút ngập ngừng nào. "Uống cho ấm lại buồng phổi đã. Rồi tự tay con mở nó ra mà xem. Suốt mười năm nay, dì giữ những thứ này giùm cho cả hai nhà. Mẹ con thì chỉ chực muốn đốt sạch toàn bộ để chôn vùi cái quá khứ nhục nhằn mà bà ấy căm ghét, còn ba con thì chỉ biết cắn răng nuốt nghẹn mọi chuyện vào trong lòng, chịu đựng một mình cho đến tận ngày tàn tạ. Nhưng hôm nay, khi con bé Châu đã đích thân quay về và làm bung bét mọi chuyện đến mức này, thì dì không thể giữ im lặng thêm một ngày nào nữa. Sự im lặng kéo dài mười năm qua đã làm khổ con quá đủ rồi."

Nguyên chầm chậm đưa hai bàn tay run rẩy ra khỏi túi áo khoác. Những vết xước rướm máu do đêm qua cô phải dùng tay trần níu dây cáp ghìm các tấm bạt che mái nhà Mộc Miên trong cơn giông lốc vẫn còn đỏ ửng, nhức nhối dưới lớp da non rát buốt. Cô nhìn chăm chú vào bọc giấy báo cũ kỹ trước mặt, tim đập thình thịch từng nhịp dồn dập, mạnh đến mức cô nghe rõ tiếng máu rần rật chảy qua thái dương. Ngón tay cô chạm vào nút thắt của sợi dây gai. Sợi dây thô nháp ráp vào da thịt, lạnh lẽo như một sợi xích sắt vừa vớt lên từ lòng giếng sâu.

Bằng sự cẩn trọng đến tôn kính, Nguyên gỡ từng nút thắt, lật giở từng lớp giấy báo đã mục nát quanh mép. Tiếng giấy xào xạc vang lên giữa gian phòng vắng, khô khốc và rợn ngợp như tiếng những chiếc lá thông rụng xuống lớp thảm mục trong rừng sâu khi có bước chân thú hoang dẫm qua. Từng mẩu tin tức vụn vặt, từng dòng tít in đậm trên các tờ báo *Lâm Đồng* phát hành từ mùa thu mười năm trước dần lộ ra dưới ánh đèn dầu leo lét, đưa cô quay ngược thời gian về cái mùa mưa định mệnh năm 2014 — năm mà toàn bộ cuộc đời cô, tình yêu của cô và số phận của gia đình cô vĩnh viễn bị bẻ gãy khỏi quỹ đạo tươi đẹp ban đầu.

Bên trong lớp vỏ bọc bảo vệ bằng báo cũ là hai tập hồ sơ bằng bìa các-tông kẹp ghim sắt hoen gỉ, nằm ép cạnh một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc da màu đen đã sờn rách bốn góc.

Nguyên run rẩy mở tập hồ sơ đầu tiên nằm trên cùng. Ngay trên trang bìa lót bằng giấy bóng kính mờ đục, dòng chữ in hoa bằng khuôn chữ cơ khí đậm nét đập thẳng vào đáy mắt cô: **BIÊN BẢN KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ** lập vào hồi mười sáu giờ ba mươi phút ngày 14 tháng 8 mười năm trước, tại Km 217+400, khúc cua tay áo hiểm trở gần thác Datanla trên con dốc đèo Prenn.

Hơi thở của Nguyên nghẹn ứ lại nơi cuống họng. Lồng ngực cô thắt lại như bị một sợi dây thừng siết chặt. Đôi mắt cô dán chặt vào từng con chữ đánh máy lờ mờ bằng ruy-băng mực xanh đen đã phai màu trên nền giấy pơ-lu-a mỏng tang, giòn rụm:

Chiếc xe tải hạng trung mang biển số 49C-018... do tài xế Lê Đức Thành điều khiển, đang lưu thông theo hướng từ ngã ba Liên Khương đổ đèo Prenn về trung tâm thành phố Đà Lạt. Biên bản điều tra kỹ thuật an toàn phương tiện kết luận rõ ràng: hệ thống phanh thủy lực trợ lực khí nén của xe đã bị suy giảm áp suất nghiêm trọng do mòn vẹt má phanh và hiện tượng trơ trượt vì nhiệt lượng quá tải tích tụ trên đoạn dốc dài quanh co.

Nhưng dòng kết luận nhân trắc học và nguyên nhân chủ quan phía dưới mới thực sự là một nhát búa giáng thẳng vào hệ thần kinh mỏng manh của Nguyên:

*“Người điều khiển phương tiện, ông Lê Đức Thành, có dấu hiệu suy kiệt thể lực nghiêm trọng, thị lực giảm sút và phản xạ chậm do đã làm việc liên tục tăng ca ba ca đêm và sáng không nghỉ. Phương tiện mất kiểm soát tốc độ khi vào khúc cua hẹp có bán kính cong nhỏ trong điều kiện thời tiết mưa to, mặt đường trơn trượt do bùn đất tràn từ sườn đồi, đã lấn hoàn toàn sang làn đường đối diện và va chạm trực diện với xe mô tô hai bánh mang biển kiểm soát 49B-052... do ông Vũ Quốc Nam điều khiển theo chiều ngược lại.”*

Chiếc mô tô hai bánh ấy là của ba cô. Chiếc xe Dream màu mận chín cũ kỹ mà ngày ngày ông Nam vẫn nổ máy giòn giã chở cô đi học qua những con dốc ngút ngàn thông reo, chiếc xe ba vẫn thường lau chùi từng chiếc nan hoa cẩn thận mỗi chiều thứ Bảy.

Kèm theo biên bản hiện trường là sơ đồ phác thảo chi tiết hiện trường vụ va chạm vẽ tay bằng hai màu mực bi xanh và đỏ, những nét vẽ đã nhòe đi vì hơi ẩm cao nguyên thấm qua bao mùa mưa. Vệt phanh dài mười tám mét cháy đen trên mặt đường nhựa ngoằn ngoèo cày nát dải taluy âm, và điểm va chạm định mệnh nằm trọn vẹn bên phần đường dành cho xe gắn máy của ba cô.

Lật tiếp phía dưới là tập hồ sơ bệnh án chuyển viện dày cộp của Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng và Bệnh viện Chợ Rẫy tại Sài Gòn. Từng thuật ngữ y khoa lạnh lùng như những bản án khắc nghiệt dội vào mắt cô: *Vỡ nát xương bánh chè phức tạp hai bên, gãy hở độ III một phần ba dưới xương đùi phải, dập nát bó mạch khoeo và tổn thương đứt đoạn một phần tủy sống vùng thắt lưng L4-L5... Tiên lượng phục hồi vận động: kém. Tỷ lệ tổn thương cơ thể vĩnh viễn: 68%.*

Mười năm trước, vào đúng cái mùa thu ẩm ướt ấy, khi Nguyên hân hoan cầm trên tay tờ giấy báo trúng tuyển thủ khoa ngành Kiến trúc Công trình của Đại học Kiến trúc Sài Gòn, thì ba cô đang nằm bất động, mê man trong phòng hồi sức cấp cứu với những ống truyền dịch, bình oxy và ống dẫn lưu dịch chằng chịt cắm vào thân thể. Khi ấy, cô chỉ biết một nửa sự thật tàn khốc: ba gặp tai nạn xe tải thảm khốc khi đang trên đường đi thẩm định một cánh rừng trồng ở Bảo Lộc trở về. Cô chỉ thấy mẹ cô — bà Minh Châu — ngày ngày mắt đỏ hoe, gào khóc, vừa chạy vạy vay mượn khắp hang cùng ngõ hẻm để lo tiền phẫu thuật, vừa chửi rủa số phận nghiệt ngã.

Và cũng chính vào thời điểm tăm tối nhất của gia đình cô, Phong — người con trai cô đã yêu bằng tất cả sự trong trẻo, tôn thờ và thánh thiện của tuổi mười chín mộng mơ — đã đột ngột biến mất không một dấu vết vào đúng chiều ngày 28 tháng Tám tại trạm xe buýt Cầu Đất, không một lá thư từ biệt, không một lời trăn trối, chỉ để lại một khoảng trống hoác vô tận cùng nỗi hoang mang kinh hoàng.

Suốt một thập kỷ đằng đẵng trôi qua nơi phố thị ồn ã, cô đã mang vết thương bị người yêu ruồng bỏ như một cái dằm mưng mủ cắm sâu trong tim. Đêm nào cô cũng dằn vặt tự hỏi mình đã làm gì sai, tình yêu của cô có điều gì thiếu sót, để anh có thể nhẫn tâm quay lưng, xóa sạch mọi dấu vết của bản thân giữa lúc gia đình cô tan hoang, kiệt quệ nhất.

Hóa ra... người đàn ông ngồi sau tay lái chiếc xe tải chở gỗ thuê định mệnh ấy, kẻ đã trực tiếp đâm nát đôi chân của ba cô, cướp đi vĩnh viễn sự nghiệp của một kỹ thuật viên lâm nghiệp đầy kiêu hãnh và yêu nghề, chính là ba của Phong. Chiếc xe tải cọc cạch cõng từng chuyến gỗ thuê chạy đôn chạy đáo kiếm từng đồng bạc cắc trả nợ lãi ngày của xưởng mộc đổ vỡ đã nghiền nát tương lai của cả hai gia đình chỉ trong một khoảnh khắc trượt bánh trên khúc cua đèo mù sương.

"Ba của Phong... chính là người lái chiếc xe tải đó sao dì?" Giọng Nguyên run bần bật, từng từ thoát ra nghẹn ngào trong cổ họng như muốn vỡ vụn thành từng mảnh thủy tinh sắc nhọn. Cô ngẩng phắt đầu lên nhìn dì Hạnh, đôi mắt mở to bàng hoàng, kinh hãi, kiếm tìm trong vô vọng một cái lắc đầu hay một sự phủ nhận dù là mong manh nhất từ người phụ nữ già.

Dì Hạnh nhấp một ngụm trà ô long nguội, khóe mắt nhăn nheo giần giật một cách đau đớn. Bà đặt chiếc chén sứ hoa lam xuống đĩa nghe một tiếng *cạch* khẽ khàng, khô khốc:

"Phải. Chính là ông Lê Đức Thành. Năm đó xưởng mộc thủ công mỹ nghệ của ông ấy ở Trại Hầm bị bạn bè làm ăn lừa gạt, ôm toàn bộ tiền vốn lẫn gỗ quý bỏ trốn, để lại cho ông ấy một đống nợ ngập đầu ngập cổ. Chủ nợ giang hồ kéo đến bao vây, xiết nhà, đập phá tan hoang xưởng cưa, dọa dẫm sẽ bắt cóc và chặt đứt gân tay thằng Phong nếu không nôn tiền lãi ra mỗi tuần. Ông Thành hoảng loạn quá, ban ngày thì cắm mặt làm thuê ở các xưởng ván ép, ban đêm lại liều mạng nhận lái xe tải cọc cạch chở rau củ, chở gỗ tạp thuê cho cánh buôn lậu qua đèo để kiếm từng đồng tiền cắc trả lãi ngày. Người ta sức cùng lực kiệt, ba đêm liền không được chợp mắt quá hai tiếng đồng hồ. Đến cái khúc cua chết tiệt gần thác Datanla trên đèo Prenn thì mắt ông ấy díp lại, đầu óc mụ mẫm, phanh lại mất hơi... và rồi tai họa kinh hoàng ập xuống đầu ba con."

Nguyên siết chặt hai mép bàn gỗ mít, các đốt ngón tay cô gồ lên, trắng bệch không còn một giọt máu. Cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng, lan tỏa khắp các mạch máu như chất độc.

Cô run rẩy lật giở sang tập tài liệu thứ hai dày cộp: Hồ sơ bồi thường trách nhiệm dân sự và các giấy tờ cam kết tài chính có công chứng.

Kẹp chặt bên trong tập hồ sơ ấy là cuốn sổ tay bìa da đen sờn rách góc. Đó chính là cuốn sổ nhật ký chi tiêu và theo dõi công nợ được viết tay tỉ mỉ bằng nét mực tím ngả màu của chính dì Hạnh. Nhưng xen kẽ giữa từng trang giấy kẻ dòng màu vàng ố là hàng chục, hàng trăm tờ giấy biên nhận tiền mặt, phiếu chuyển tiền qua đường bưu điện và biên lai thu viện phí, viện trợ kéo dài suốt nhiều năm trời.

Trang đầu tiên là bản cam kết bồi thường dân sự lập ngày 22 tháng 8 năm ấy, chỉ vỏn vẹn đúng một tuần sau vụ tai nạn thảm khốc. Nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy và run rẩy của ông Lê Đức Thành in hằn sâu trên mặt giấy pơ-lu-a:

*“Tôi tên là Lê Đức Thành, xin hoàn toàn thừa nhận toàn bộ lỗi lầm và trách nhiệm trong vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng đã gây ra thương tật tàn phế cho anh Vũ Quốc Nam. Dù gia đình tôi hiện nay hoàn cảnh đã khánh kiệt hoàn toàn, xưởng mộc đã bị niêm phong để phát mại trả nợ ngân hàng, tôi xin cam kết bằng cả tính mạng, danh dự và phần đời còn lại của mình sẽ chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ viện phí, tiền phẫu thuật ghép xương, điều trị phục hồi chức năng và thuốc men cho anh Nam đến đồng bạc cuối cùng, cho dù tôi có phải đi làm thuê làm mướn, tha phương cầu thực suốt phần đời còn lại...”*

Phía dưới chữ ký run rẩy của ông Thành là chữ ký người làm chứng của dì Hạnh và chữ ký nghuệch ngoạc của ông Vũ Quốc Nam khi còn nằm trên giường bệnh. Tuyệt nhiên không có chữ ký của mẹ cô — bà Vũ Minh Châu.

Nguyên tiếp tục lật giở từng trang sau, lồng ngực cô như bị một tảng đá hoa cương nghìn cân đè nát, mỗi nhịp thở đều nhói buốt tận tâm can.

Những tờ biên lai chuyển tiền bưu điện gửi từ các bưu cục xa xôi: Dĩ An, Biên Hòa, Quy Nhơn, rồi Quảng Nam, Đà Nẵng... Mỗi tháng một lần, hoặc đôi khi hai tuần một lần, đều đặn như một chiếc đồng hồ định mệnh. Số tiền gửi về không bao giờ là những con số tròn trịa hay lớn lao: khi thì một triệu tám trăm ngàn đồng, khi thì hai triệu tư, lúc túng quẫn, ốm đau chỉ gom góp được tám trăm năm mươi ngàn đồng tiền lẻ. Nhưng chúng xuất hiện đều đặn đến gai người, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, ròng rã suốt từ cuối mùa thu mười năm trước kéo dài mãi cho đến tận ba năm về trước mới bắt đầu thưa dần.

Kẹp kèm theo những tờ phiếu chuyển tiền nhăn nhúm ấy là những bản sao bệnh án của chính ông Lê Đức Thành do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương cấp: *Di chứng xuất huyết não diện rộng, liệt nửa người bên trái sau tai biến mạch máu não do lao động kiệt sức và stress tâm lý kéo dài... Mất khả năng lao động hoàn toàn.*

"Con có thấy không?" Tiếng dì Hạnh vang lên chầm chậm, chất chứa nỗi xót xa ngút ngàn của một người đã chứng kiến bi kịch từ đầu đến cuối. "Sau cái đêm tai nạn kinh hoàng đó, toàn bộ nhà cửa, xưởng mộc của nhà thằng Phong bị ngân hàng và chủ nợ xông vào niêm phong, siết sạch sành sanh. Nhưng ông Thành không trốn tránh trách nhiệm. Vừa bước chân ra khỏi đồn công an sau khi được bảo lãnh tại ngoại, ông ấy đã lảo đảo sang quỳ lạy trước cổng nhà mình suốt ba tiếng đồng hồ dưới trời mưa tầm tã. Nhưng mẹ con... mẹ con hận đến tận xương tủy. Bà ấy xách cả một xô nước lạnh tạt thẳng vào mặt người ta rồi cầm chổi đuổi đánh, nguyền rủa dòng họ nhà người ta tuyệt tử tuyệt tôn."

Dì Hạnh thở dài một hơi thật dài, ánh mắt đùng đục nhìn đăm đắm vào quầng sáng lung linh của ngọn đèn dầu:

"Sau bữa đó, ông Thành dắt díu thằng Phong trốn chui trốn lủi xuống Bình Dương làm thuê kiếm cơm qua ngày. Nhưng chưa đầy ba tháng sau ngày xuống xứ nóng, ông ấy gục ngã ngay bên cạnh bệ máy cưa vì đột quỵ não. Người ta bị liệt hoàn toàn nửa thân mình, nằm liệt giường một chỗ không cử động được, ăn uống phải có người bón. Toàn bộ gánh nặng kinh hoàng ấy — từ tiền thuốc men duy trì sự sống cho cha, món nợ giang hồ còn sót lại của xưởng mộc cũ bị đe dọa hàng ngày, cho đến từng đồng tiền viện phí phẫu thuật lắp nẹp inox, tiền thuốc chống hoại tử cho ba con gửi về đây hàng tháng — tất cả đều trút sạch lên đôi vai của một thằng nhóc vừa tròn mười chín tuổi. Là thằng Phong đó, Nguyên à."

Một giọt nước mắt nóng hổi bất giác rơi xuống mặt kính chiếc đồng hồ đeo tay cũ của Nguyên, vỡ tan thành những hạt nước li ti phản chiếu ánh lửa đèn dầu.

Trong tâm trí cô bỗng hiện lên mồn một vết sẹo lồi dài hơn mười lăm phân biến dạng, co rút dữ tợn vắt ngang qua cổ tay phải của Phong — vết sẹo mà khi gặp lại ở Mộc Miên, mỗi lần cô nhìn vào, anh đều vội vã kéo tay áo xuống che giấu. Cô nhớ lại lời mắng chửi lôi đình, giận dữ của nghệ nhân lão thành Phạm Văn Tâm vọng qua loa điện thoại vào buổi trưa nay: *“Mười năm trời mày bán mạng ở các xưởng xẻ Dĩ An, chui rúc ngoài bãi gỗ miền Trung đến mức đứt cả gân tay, suýt nữa thành thằng phế nhân tàn tật chỉ để cày tiền trả nợ cho người ta!”*

Hóa ra, từng vết chai sần thô ráp trên đôi bàn tay anh, từng vết sẹo chằng chịt trên thân thể anh, từng khớp mộng gỗ mà anh cặm cụi đục đẽo thâu đêm suốt sáng với giá nhân công rẻ mạt hoặc không đồng, không phải là sự ban ơn trịch thượng, không phải là lòng trắc ẩn ngạo mạn của một kẻ bề trên muốn bố thí. Đó là máu, là mồ hôi mặn chát, là sự chuộc tội trong câm lặng, cùng cực và tuyệt vọng của một đứa con trai gánh thay món nợ máu định mệnh của cha mình. Anh đã biến bản thân thành một cỗ máy lao động khổ sai suốt mười năm thanh xuân rực rỡ nhất của đời người, vắt kiệt từng giọt sinh lực, chỉ để đều đặn gửi về Đà Lạt từng cọc tiền lẻ nhăn nhúm đẫm mùi mồ hôi và mùn cưa, đắp vào đôi chân tàn phế của ba cô, đắp vào cảm giác tội lỗi ngút trời đang gặm nhấm linh hồn anh từng giây từng phút.

"Ba con... ba con biết rõ những khoản tiền này là do anh Phong gửi về chứ dì?" Nguyên nghẹn ngào hỏi, giọng cô lạc hẳn đi, vỡ vụn giữa gian phòng tĩnh mịch.

"Biết chứ. Ba con là người trực tiếp nhận từng tờ phiếu chuyển tiền đó từ tay dì," dì Hạnh khẽ gật đầu, khóe mắt bà rưng rưng. "Nam hiền lành, nhân hậu lắm con à. Năm đó sau đợt phẫu thuật thứ ba ở Sài Gòn trở về, chân chống nạng gỗ tập tễnh từng bước quanh sân, ba con đã nắm lấy tay dì mà khóc: 'Thôi chị Hạnh ơi, nhà người ta cũng mạt vận tán gia bại sản rồi. Ông Thành thì tai biến nằm một chỗ, thằng Phong nó còn quá trẻ, tương lai còn dài dằng dặc phía trước, bắt một thằng bé mười chín tuổi phải cõng món nợ khổng lồ thế này thì tội nghiệp nó quá, mình thất đức lắm.' Ba con đã đích thân nhờ người viết thư gửi vào địa chỉ xưởng gỗ ở Bình Dương, khuyên thằng Phong dừng gửi tiền lại, nói rằng gia đình mình dứt khoát không đòi thêm một đồng bạc nào nữa. Nhưng con có biết thằng Phong nó đã viết thư tay trả lời ba con thế nào không?"

Dì Hạnh run rẩy rút từ trong kẹp tài liệu ra một mẩu giấy ô li học sinh đã ngả màu vàng sẫm, mép giấy bị sờn rách và nhăn nheo như thể từng bị vò nát rồi vuốt phẳng lại nhiều lần. Nét chữ viết bằng bút bi xanh cứng cáp, góc cạnh nhưng lại run rẩy vì những giọt nước mắt đã khô:

*“Thưa chú Nam. Con biết chú thương con, chú không nỡ nhìn con khổ nên mới bảo con dừng lại. Nhưng tội lỗi của ba con đã cướp đi đôi chân và toàn bộ sự nghiệp cả đời của chú, phá nát gia đình chú. Con là phận làm con, nếu con trốn tránh, nếu con không trả khoản viện phí và tiền tổn thất này đến cùng, thì cả đời này con không bao giờ có thể ngẩng cao đầu làm một con người tử tế được nữa. Chú đừng từ chối con, xin chú hãy cho con được tiếp tục làm việc để trả nợ, để ba con nằm trên giường bệnh những ngày cuối đời bớt cắn rứt lương tâm mà thanh thản nhắm mắt...”*

Nguyên áp chặt hai bàn tay lạnh ngắt lên ngực mình. Trái tim cô nhói buốt từng cơn dữ dội như có ai đang cầm kìm bóp nghẹt. Cô nhớ lại dáng vẻ của Phong đứng sừng sững giữa sân nhà Mộc Miên lúc sáng, khi mẹ cô sỉ vả anh thậm tệ là con của kẻ thù, khi bà ném vào mặt anh những lời lẽ cay độc, nhục mạ nhất về sự hèn hạ và dối trá. Anh chỉ đứng đó, lặng lẽ cúi đầu, bàn tay rách toác rướm máu vì kéo bạt siết chặt vào nhau đến mức run bần bật, không một lời thanh minh, không một câu oán thán. Anh nhận hết mọi sự nhục nhã, cay đắng ấy về mình, như thể đó là một bản án chung thân mà anh đã tình nguyện mang trên lưng từ mười năm trước và vĩnh viễn không bao giờ có ý định tháo bỏ.

Dì Hạnh khẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay lạnh như đá của cô, truyền sang một chút hơi ấm cằn cỗi. Rồi từ trong chiếc tráp gỗ hương nhỏ đặt ngay ngắn trên mặt sập gụ cạnh bàn, bà lấy ra một phong bì thư hình chữ nhật bằng giấy điều màu nâu nhạt đã ngả màu thời gian.

"Đây mới là thứ quan trọng nhất mà trước lúc lâm chung, bà ngoại con đã nắm chặt tay dì, dặn đi dặn lại rằng phải trao tận tay cho con khi thời điểm đến," dì Hạnh nói, giọng run rẩy xúc động. "Lá thư này do chính tay bà ngoại con viết gửi lại cho con, chỉ đúng ba tuần trước khi bà trút hơi thở cuối cùng để về với đất mẹ."

Nguyên run rẩy đón lấy phong bì thư. Trên mặt giấy nâu nhạt ấy, dòng chữ nắn nót, mềm mại quen thuộc của bà ngoại Lê Thị Mai hiện lên rõ mồn một: *“Gửi cháu gái Thảo Nguyên của bà.”*

Mùi hương trầm ngâm tẩm trong nếp giấy bao năm qua thoang thoảng bay ra, làm sống mũi Nguyên cay xè. Ký ức về người bà phúc hậu với mái tóc bạc phơ như mây trời, người luôn ngồi bên bậu cửa sổ phòng khách Mộc Miên cặm cụi khâu từng đường kim mũi chỉ trên những tấm rèm hoa cúc, bỗng chốc ùa về dữ dội, làm nhòe đi toàn bộ tầm nhìn của cô. Nguyên cẩn thận dùng đầu móng tay tách lớp keo dán đã khô giòn từ lâu, rút ra hai tờ giấy kẻ ô li học trò phủ kín nét bút mực xanh thân thương mà cô đã thuộc nằm lòng từ thuở ấu thơ.

*“Nguyên thương của bà,*

*Khi con đọc được những dòng chữ này, có lẽ bà đã về bên cạnh ông ngoại con dưới chân đồi thông xanh ngát rồi.*

*Bà biết, ngày con trở về căn nhà Mộc Miên này và nhìn thấy thằng Phong đứng đó với chiếc cưa, chiếc đục, cõi lòng con sẽ dậy sóng, sẽ đau đớn, giằng xé và hoang mang nhiều lắm. Bà viết những lời ruột gan này không phải để thanh minh cho bản thân, càng không phải để ép buộc con phải làm bất cứ điều gì trái với lòng mình, mà chỉ để con hiểu thấu tấm lòng của bà trước lúc đi xa.*

*Việc bà cất công tìm kiếm tung tích thằng Phong suốt mấy năm trời, rồi đích thân ký bản hợp đồng thuê nó về phục chế, sửa chữa lại căn nhà Mộc Miên hoàn toàn xuất phát từ sự tín nhiệm sâu sắc của bà đối với tay nghề và cái tâm làm nghề của nó, tuyệt nhiên không hề có một chút toan tính cá nhân hay sự sắp đặt vụ lợi nào khác. Suốt mười năm bôn ba làm thợ mộc ở xứ người, nó đã học được cái gốc rễ sâu xa nhất của nghề mộc cổ truyền, biết trân trọng từng thớ gỗ mục, biết nâng niu từng đường mộng then nêm. Căn nhà gỗ này là mồ hôi, nước mắt và máu thịt của ông bà gây dựng nên, bà không thể nhắm mắt trao nó vào tay những kẻ thầu xây dựng chỉ chực chờ san phẳng quả đồi thông để đổ bê tông làm khách sạn, nhà nghỉ. Bà cần một người thợ mộc thực thụ có tâm, có sự nhẫn nại phi thường và thật thà với từng thớ gỗ để giữ lại cái hồn cốt cho Mộc Miên. Và ở cái đất Đà Lạt này, không ai có thể làm việc đó một cách cẩn trọng, kính cẩn và thấu hiểu căn nhà bằng thằng Phong.*

*Bà biết rất rõ giữa hai đứa con có một vết thương quá sâu, một khúc mắc quá lớn do thế hệ trước để lại. Nhưng Nguyên à, bà chưa bao giờ có ý định dùng di nguyện của mình hay ngôi nhà Mộc Miên này làm cái bẫy đạo đức để trói buộc hai đứa lại với nhau, càng không bao giờ muốn ép con phải tha thứ hay nối lại duyên xưa với nó chỉ để trả món nợ ân oán của người lớn. Duyên nợ của đời người như dòng nước suối chảy qua những khe đá gập ghềnh, ép dầu ép mỡ chứ ai nỡ ép duyên. Con có toàn quyền tha thứ hoặc không tha thứ. Con có quyền giữ lại căn nhà này để sống tiếp hoặc bán đi để bước tiếp con đường của riêng con mà không cần phải mang bất kỳ mặc cảm tội lỗi nào. Bà chỉ mong cháu gái của bà hãy nhìn nhận mọi chuyện bằng đôi mắt sáng suốt, công bằng của một người trưởng thành, đừng để sự hận thù mù quáng của người khác biến thành xiềng xích giam cầm phần đời còn lại của chính mình.*

*Mộc Miên là của con. Hãy làm bất cứ điều gì con cảm thấy thanh thản và bình yên nhất với lương tâm của mình...”*

Những giọt nước mắt kìm nén suốt từ buổi sáng rốt cuộc vỡ òa, tuôn rơi lã chã xuống mặt giấy, làm nhòe đi những nét mực xanh của người bà đã khuất.

Nguyên gục đầu xuống hai cánh tay đặt trên bàn, bờ vai gầy rung lên từng cơn bần bật. Tiếng khóc nấc nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực cô, xé toạc không gian tĩnh mịch của căn nhà nhỏ. Bà ngoại hiểu hết. Bà đã nhìn thấu toàn bộ những vết thương rỉ máu trong tâm hồn cô, hiểu thấu sự giằng xé nghiệt ngã giữa hai gia đình, và bà đã dùng những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời hữu hạn để dọn sẵn cho cô một lối đi minh bạch, công bằng nhất. Bà không bắt cô phải gánh vác món nợ của người lớn, không bắt cô phải hy sinh thanh xuân, không ép cô phải mở lòng tha thứ cho kẻ đã làm khổ mình. Bà chỉ trả lại cho cô toàn bộ sự thật trần trụi và trao cho cô quyền tự quyết định số phận mình.

"Dì ơi..." Nguyên nấc nghẹn, hai bàn tay run rẩy ôm chặt lá thư của bà ngoại vào ngực, như muốn tìm kiếm một chút hơi ấm từ người đã khuất. "Tại sao... tại sao mười năm trước mẹ con lại có thể cay nghiệt, tàn nhẫn đến mức độ ấy? Và tại sao... tại sao anh Phong lại không nói với con lấy một lời? Tại sao anh ấy lại chọn cách biến mất như một kẻ phản bội hèn nhát?"

Dì Hạnh khẽ thở dài một tiếng thật sâu, ánh mắt trĩu nặng nhìn ra màn sương chiều đang cuồn cuộn tràn qua khe cửa sổ, nuốt chửng toàn bộ rặng thông bên sườn đồi:

"Mẹ con... con bé Châu cả đời này luôn là một người đàn bà sống trong nỗi sợ hãi, ích kỷ và toan tính danh giá. Năm đó ba con bị tai nạn thảm khốc, bao nhiêu vốn liếng trong nhà đội nón ra đi, nợ nần bủa vây, con thì lại vừa nhận giấy báo đỗ thủ khoa đại học. Mẹ con hoảng loạn tột cùng. Bà ấy sợ con sẽ vì tình yêu sâu đậm với thằng Phong mà dùng dằng ở lại Đà Lạt, sợ con sẽ bị kéo tụt xuống vũng bùn nợ nần, tai tiếng của gia đình họ Lê. Trong cơn hoảng loạn và uất ức cay đắng, mẹ con đã lén tìm đến tận căn phòng trọ ẩm thấp ở Trại Mát, nơi hai cha con thằng Phong đang trốn nợ trước khi bỏ trốn xuống Bình Dương. Bà ấy chỉ thẳng vào mặt thằng Phong mà mắng nhiếc thậm tệ: 'Mày muốn con gái tao cả đời này mang tiếng là vợ của kẻ thù đã tông què chân ba nó sao? Mày muốn tương lai xán lạn của một thủ khoa kiến trúc bị chôn vùi trong cái xưởng mộc phá sản ngập ngụa nợ nần này à? Nếu mày còn một chút liêm sỉ và lương tâm của một con người, hãy cút đi thật xa, biến mất khỏi cuộc đời nó vĩnh viễn, đừng bao giờ vác mặt xuất hiện trước mắt con Nguyên nữa!'."

Dì Hạnh dừng lại một nhịp, giọng bà chùng xuống, đượm một nỗi xót xa buốt giá:

"Nhưng Nguyên à, con bé Châu tàn nhẫn chỉ là một phần nguyên do thôi. Cái lỗi lầm lớn nhất, cái sai lầm tày đình và đau đớn nhất của thằng Phong chính là sự tự ti bệnh hoạn và mặc cảm tội lỗi quá sâu sắc của bản thân nó. Thằng bé năm ấy mới mười chín tuổi, quá non nớt trước sóng gió cuộc đời nhưng lại quá kiêu hãnh và cứng đầu. Nó nhìn ba nó nằm liệt giường liệt chiếu vì đột quỵ, nhìn cảnh chủ nợ đập phá tan hoang xưởng mộc, rồi nhìn sang tờ giấy báo trúng tuyển thủ khoa sáng chói của con... Nó tự cho rằng sự biến mất tuyệt đối của mình là cách duy nhất để bảo vệ con, để con có thể ngẩng cao đầu bước vào giảng đường đại học mà không phải mang trên lưng vết nhơ nhục nhã của một gia đình tội lỗi gây tai nạn vỡ nợ."

Dì Hạnh lắc đầu cay đắng, khóe môi khẽ run rẩy:

"Nó nghĩ rằng nó hy sinh cao cả vì con, nhưng thực chất đó chỉ là sự độc đoán tàn nhẫn của một thằng con trai mới lớn. Nó tự tiện tước đoạt đi của con quyền được biết sự thật, tước đoạt quyền được cùng nó đối mặt và lựa chọn số phận. Nó biến con thành một kẻ ngơ ngác bị bỏ rơi giữa ngã ba đường. Chính cái sự im lặng bỏ đi tuyệt đối của nó mới là nhát dao chí mạng biến mọi chuyện thành một vết thương sâu hoắm, mưng mủ suốt mười năm trời trong tim con, khiến con không thể mở lòng với bất kỳ ai khác."

Gian phòng khách lại chìm vào một sự im lặng đặc quánh như màn sương đêm ngoài cửa sổ.

Gió lạnh từ thung lũng thốc từng cơn rít qua những kẽ lá thông, thổi ngọn lửa đèn dầu chao nghiêng dữ dội, hắt bóng hai người phụ nữ lên vách ván gỗ thông già thành những mảng đen run rẩy, chập chờn. Nguyên ngồi lặng ngắt, ngực phập phồng theo từng nhịp thở ngắt quãng và đau đớn. Những lời nói gan ruột của dì Hạnh như một tia chớp xé toang màn đêm tăm tối bủa vây tâm trí cô suốt một thập kỷ qua, soi tỏ rành rọt từng góc khuất u uẩn, từng nỗi oan khiên mà cô đã phải gánh chịu.

Cô cay đắng và giận mẹ. Sự can thiệp tàn bạo, thô bạo và độc đoán của bà Châu nhân danh tình thương của một người mẹ đã trực tiếp bóp chết tình yêu đầu đời trong sáng của cô, biến cô thành một nạn nhân ngơ ngác giữa một tấn bi kịch được che giấu kỹ lưỡng. Nhưng cô cũng đau đớn nhận ra, vết thương sâu hoắm nhất, nỗi hận âm ỉ nhất mà Phong gây ra cho cô không phải vì ba anh đã hủy hoại đôi chân của ba cô. Bi kịch tai nạn là thứ rủi ro nghiệt ngã của số phận mà không ai mong muốn. Nỗi đau lớn nhất chính là sự hèn nhát bỏ chạy của anh dưới chiếc mặt nạ lộng lẫy mang tên 'hy sinh vì người mình yêu'.

Anh đã tự cho mình cái quyền phán xét và định đoạt tương lai của cô. Anh đã chọn cách biến mất trong bóng tối, để lại cô bơ vơ giữa trạm xe buýt Cầu Đất lộng gió vào cái chiều cuối tháng Tám năm ấy, tay nắm chặt chiếc vé xe khách đi Sài Gòn thừa thãi, với một trái tim tan nát và nỗi hoang mang tột cùng về sự phản bội không lời giải đáp. Anh đã trừng phạt cô bằng chính sự im lặng tàn nhẫn của mình suốt ba ngàn sáu trăm ngày đằng đẵng.

Dì Hạnh chậm rãi đứng dậy, bước lại gần chiếc sập gụ, với hai tay kéo chiếc hòm gỗ long não lại gần bàn trà hơn một chút nữa.

"Còn một thứ này nữa," dì Hạnh chỉ ngón tay gầy guộc xuống tận đáy sâu của chiếc hòm gỗ, giọng bà trầm hẳn lại, như thể đang nói về một di vật của người đã chết. "Cái hôm nó quay trở lại Đà Lạt vào đầu mùa mưa năm nay để nhận lời phục chế căn nhà Mộc Miên theo di nguyện của bà ngoại con, việc đầu tiên nó làm là tìm đến căn nhà này của dì. Nó đã trả lại cho dì những tờ biên nhận tiền bồi thường cuối cùng sau khi gom góp đủ số tiền còn lại. Và nó đã để lại thứ này trong hòm, bảo dì giữ lấy giùm nó. Nó dặn dì rằng: chỉ khi nào con thật sự biết hết mọi chuyện, khi nào con đã nghe hết những u uẩn của quá khứ mà vẫn giữ được sự bình tâm, thì hãy trao nó lại cho con."

Nguyên ngập ngừng, lồng ngực cô thắt lại khi cúi người nhìn xuống đáy hòm.

Dưới đáy chiếc hòm gỗ long não thẫm màu, nằm lẻ loi bên cạnh những cuộn chỉ thêu hoa ngũ sắc đã cũ mòn của bà ngoại, là một phong bì thư bằng giấy trắng ngà bình thường, mép giấy đã ố vàng loang lổ theo năm tháng. Bốn góc phong bì hơi quăn queo lại vì ngấm hơi ẩm của vùng cao nguyên. Mặt trước phong bì không dán tem thư bưu điện, cũng không hề có bất kỳ dấu mộc tròn nào của bưu cục đóng đè lên.

Chỉ có một dòng chữ viết tay duy nhất bằng mực bút máy màu xanh đen nắn nót, góc cạnh ở chính giữa — nét chữ run rẩy nhưng thân thuộc đến mức chỉ cần nhìn lướt qua, trái tim Nguyên đã nhói lên một cơn đau buốt nhói: nét chữ mà mười năm trước từng cặm cụi ngồi bên cô nắn nót ghi từng dòng chú thích trên những bản vẽ đồ án kiến trúc đầu đời của cô thời cấp ba:

*“Gửi Thảo Nguyên — Mùa hè năm 2014.”*

Bàn tay Nguyên run rẩy dữ dội khi những đầu ngón tay buốt giá của cô chạm vào mép phong bì giấy lạnh ngắt. Bức thư ấy chưa từng một lần được gửi đi qua bất kỳ hòm thư công cộng nào. Nó đã nằm im lìm, cô độc dưới đáy chiếc hòm gỗ long não tối tăm này suốt ba ngàn sáu trăm ngày đêm, mang theo toàn bộ những giằng xé, đau đớn, tuyệt vọng và bế tắc cùng cực của một chàng trai mười chín tuổi trước ngưỡng cửa phân ly đầy nghiệt ngã.

Cô hít một hơi thật sâu, đón lấy luồng không khí buốt giá đặc trưng của cao nguyên đang tràn qua khung cửa sổ vào tận đáy phổi để trấn tĩnh lại nhịp đập loạn xạ, điên cuồng trong lồng ngực. Bằng tất cả sự cẩn trọng, run rẩy và kính cẩn, ngón tay cô nhẹ nhàng luồn vào mép gấp chưa từng một lần được dán kín của chiếc phong bì màu trắng ngà.

Một tờ giấy kẻ ngang xé từ cuốn sổ tay bìa cứng gấp làm tư rơi nhẹ ra, trượt êm ái trên mặt bàn gỗ mít thô ráp, dừng lại ngay dưới quầng sáng vàng cam ấm áp, bập bùng của ngọn đèn dầu.

Nếp gấp giấy bung mở chầm chậm. Dưới ánh lửa bập bùng soi rọi từng đường vân gỗ, đập thẳng vào mắt Nguyên là dòng chữ đầu tiên được viết bằng tất cả nỗi tuyệt vọng câm nín của mùa hè năm ấy:

*“Nếu anh ở lại, cả đời này em sẽ phải gánh món nợ của nhà anh.”*

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories