Ly Cà Phê Đầu TiênCh.5 / 45
Chapter 5

Số liệu không biết nói dối

Trần Quốc Lâm bước xuống từ chuyến xe buýt sớm nối tuyến từ ngã ba Quốc lộ 14 vào liên xã Cư M’Rao. Chiếc xe cọc cạch nhả lại một luồng khói đen kịt quyện cùng bụi đường đỏ quạch rồi gầm rú bò tiếp lên dốc, để lại Lâm đứng trơ trọi giữa ngã ba đường đất lở loét những vệt bánh máy cày. Một tay anh xách chiếc cặp đựng máy tính xách tay bọc da công nghiệp dày cộp, tay kia kéo lại quai chiếc ba lô du lịch thô ráp. Áo sơ mi cộc tay màu ghi xám của dân văn phòng miền Đông đã nhăn nhúm sau bảy tiếng đồng hồ lắc lư qua những khúc cua tay áo và ổ gà liên tiếp; dưới nách và dọc sống lưng bết lại từng mảng mồ hôi khô đóng cặn muối trắng nhờ nhợ.

Lâm dừng lại ở đầu con dốc dẫn xuống cổng rẫy nhà Khôi. Anh tháo cặp kính cận gọng kim loại mỏng, rút vạt áo lau vội lớp bụi bazan mịn như phấn rôm đang phủ một màng đỏ mờ lên tròng kính, rồi nheo mắt nhìn xuống.

Khuôn viên căn nhà cấp bốn xây bằng gạch ba banh không trát vữa hiện ra trơ trọi giữa thung lũng hứng gió. Phía trước hiên, mảnh sân đất nện bị cày xới nham nhở bởi những vệt nước rửa quả nhớp nhúa chưa kịp rút hết vào lòng đất, loang lổ từng mảng váng bọt màu xám xịt của nhớt cà phê lên men dở. Ở góc rào dâm bụt cằn cỗi sát mép vườn, một đống vỏ quả cà phê thối rữa từ mẻ thử nghiệm đầu tiên bị hắt đổ đống vội vã đang bốc lên một thứ mùi chua nồng, gay gắt, xộc thẳng vào mũi như mùi hèm rượu ôi thiu lâu ngày trong chum vỡ. Ruồi nhặng xanh bay vo ve thành từng đám đặc quánh trên lớp bã quả thâm sì.

Và ngay giữa bối cảnh rệu rã ấy, Khôi đang ngồi bệt trên bậc thềm đá chẻ trước cửa gian chính. Hai đầu gối co lên sát ngực, hai bàn tay thâm sì nhựa vỏ cà phê và đất bẩn đan chặt vào nhau sau gáy, mái tóc rễ tre bù xù phủ một lớp bụi mờ như thể vừa bò ra từ một hầm than sau cơn địa chấn. Đôi mắt Khôi trũng sâu hoắm, viền mắt đỏ hoe và dại đi vì ít nhất ba đêm liền gần như không chợp mắt, chằm chằm dán chặt vào một vũng nước bùn đọng lại ngay trước mũi chiếc ủng cao su rách mép.

Lâm thở hắt ra một hơi khô khốc, cái thở dài trĩu nặng của một gã kiểm toán viên vừa nhìn thấy một bản cân đối kế toán nát bét trước giờ thanh tra. Anh không bước chậm rãi thăm dò mà sải những bước dài dứt khoát qua khoảng sân nhão nhoét, đế giày tây gõ lép bép trên nền đất thịt lẫn sỏi son.

"Tao bảo mày gửi mẫu lên thị xã cho bên thẩm định độc lập để lấy ý kiến khách quan, để biết mình đứng ở đâu trên cái bản đồ cà phê này," Lâm cất giọng, tiếng nói đều đều, lạnh tanh và dứt khoát như tiếng búa gõ niêm phong tài sản, "chứ tao không bảo mày vác thân lên đó làm vật tế thần cho người ta lột da xẻ thịt rồi mang cái xác không hồn này về đây ngồi rên rỉ như chó cụp đuôi. Đứng dậy."

Lâm vỗ mu bàn tay cộc cộc lên nắp chiếc ba lô đeo chéo, âm thanh khô khốc xé tan sự tĩnh mịch ngột ngạt của buổi sớm cao nguyên.

"Vào trong nhà. Đem toàn bộ mớ giấy nháp, biên lai mua vật tư với cuốn sổ ghi chép dòng tiền từ hôm mày bắt đầu bày trò ra đây cho tao. Ngay lập tức."

Khôi ngước mặt lên. Cơ hàm anh bạnh ra, đôi môi nứt nẻ khô khốc mấp máy vài lần nhưng không bật thành tiếng. Vị đắng chát từ những lời thẩm định sắc nhọn như dao cạo của Bảo Ngọc trong căn phòng lab vô trùng hôm qua dường như vẫn còn đọng nguyên vẹn trên đầu lưỡi anh. Mỗi câu từ của cô gái đó không đơn thuần là lời chê bai; nó là một đòn búa tạ giáng thẳng vào toàn bộ nền tảng học thuật mà Khôi đã tích lũy suốt bốn năm trên giảng đường đại học nông lâm và hai năm làm kỹ thuật viên tại tập đoàn Khang Thịnh. Sự kiêu hãnh của một đứa con đất đỏ mang danh kỹ sư nông nghiệp loại giỏi đã bị nghiền nát dưới sáu mươi điểm cupping tệ hại. Đầu óc anh trống rỗng, tê dại như vừa trúng độc.

Khôi lảo đảo đứng dậy. Khớp gối kêu rắc một tiếng khô khốc sau hàng giờ ngồi bất động. Anh đưa mu bàn tay áo lau vội quầng thâm dưới mắt, phủi qua loa lớp bụi bazan bám chặt trên hai ống quần jean đã sờn rách ở đầu gối, rồi lầm lũi bước theo sau Lâm vào gian nhà chính.

Bên trong căn nhà cấp bốn, không khí im ắng đến ngột ngạt. Bố mẹ Khôi — ông Hậu và bà Hạnh — đã rời nhà từ lúc gà chưa gáy rộ để đi cắt cỏ dại ở lô cà xô bên đồi phía Tây. Họ chọn cách rời đi sớm, không phải vì công việc gấp gáp, mà là để tránh mặt đứa con trai duy nhất đang cắm đầu vào một canh bạc mà trong mắt họ chẳng khác gì trò phá gia chi tử điên rồ. Mùi khói bếp củi ngoi ngóp còn sót lại quyện với mùi ẩm mốc của vách ván ép cũ kỹ tạo nên một thứ bầu không khí quánh đặc, tù túng.

Lâm không đợi chủ nhà mời nước. Anh kéo phắt chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp lại gần chiếc bàn mộc mạc kê sát góc vách, rút phích cắm sạc máy tính cắm thẳng vào ổ điện lỏng lẻo gắn tạm bợ trên tường ván, rồi bật nắp chiếc ThinkPad đen bóng của mình lên. Tiếng quạt tản nhiệt của máy tính xách tay rít khẽ một hồi ngắn, màn hình chống chói sáng lóa bừng lên giữa gian phòng lờ mờ tối.

"Ngồi xuống đó," Lâm dùng đầu bút bi bấm gõ cộc cộc xuống mặt bàn gỗ có những vết nứt nẻ sâu hoắm, mắt vẫn không rời khỏi màn hình đang hiển thị màn hình khởi động của hệ điều hành. "Bỏ hết mấy thứ cảm xúc thù vặt, tự ái nghề nghiệp hay nỗi nhục nhã cá nhân sang một bên. Tao không ngồi xe đò bảy tiếng đồng hồ từ Biên Hòa lết lên cái xó xỉnh này chỉ để nghe mày thở dài rồi nhìn mày đóng vai kẻ tử vì đạo. Mở mồm ra và đọc từng con số cho tao. Tao cần dữ kiện thật, tiền thật đã chi ra, lượng hàng thật đã mất đi. Tao không cần mấy thứ viễn cảnh trong mơ của mày."

Khôi nuốt khan một ngụm nước bọt đặc quánh, lồng ngực co thắt lại. Anh kéo lê chiếc ghế gỗ đối diện, ngồi xuống một cách máy móc. Đôi bàn tay run rẩy thò vào túi quần sau, rút ra một cuốn sổ tay nhỏ bìa bọc nylon đã quăn mép, nhăn nhúm vì mồ hôi và dính đầy những vệt đất đỏ bazan khô két. Đó là nơi anh vội vã ghi lại từng đồng tiền mặt đã rút ra khỏi túi trong suốt năm ngày vừa qua, kể từ lúc anh quyết định dốc toàn bộ vốn liếng tự có để làm mẻ thử nghiệm đầu tiên trên khoảnh đất một sào của gia đình.

Trên màn hình máy tính của Lâm, một bảng tính Excel trống trơn vừa được mở ra. Lâm nhanh thoăn thoắt gõ định dạng tiêu đề từng cột mục một cách lạnh lùng, vô cảm và sắc lẹm: *Khoản mục chi phí*, *Đơn vị tính*, *Số lượng*, *Đơn giá*, *Thành tiền thực tế*, và *Cột ghi chú rủi ro / Hao hụt*.

"Khoản đầu tiên," Lâm nhấn phím Tab dứt khoát, âm thanh bàn phím cơ gõ tanh tách như máy đếm tiền. "Tiền công hái lựa quả chín. Mày thuê mấy người? Hái trong bao nhiêu ngày? Năng suất thu hái thực tế ngoài rẫy ra sao?"

Khôi nhìn vào trang sổ chi chít những dòng chữ viết vội, giọng anh khàn đặc, vỡ ra từng chặng:

"Hai người thợ quen do anh Tư chọn trong xóm... Hái ròng rã trong ba ngày trên khoảnh một sào cà phê sẻ phía triền đồi phía Đông. Tao trả hai trăm bốn mươi ngàn một ngày công cho mỗi người."

"Hai người, làm việc ba ngày, hai trăm bốn mươi ngàn một công. Hai nhân ba nhân hai trăm bốn mươi, bằng một triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng," ngón tay Lâm lướt thoăn thoắt trên hàng phím số bên phải bàn phím. Con số 1.440.000 ngay lập tức hiện lên bằng mực đỏ chói lọi trong cột chi phí nhân công trực tiếp. "Thu về được bao nhiêu ký quả tươi chín mọng trên cây?"

"Ba trăm sáu mươi ký."

Lâm ngón tay khựng lại trên phím Enter. Anh ngẩng đầu lên khỏi màn hình, ánh mắt sau tròng kính cận lóe lên một tia sáng sắc bén, nhìn thẳng vào gò má hốc hác của Khôi:

"Ba trăm sáu mươi ký trong tổng cộng sáu công thợ? Tức là tính bình quân, mỗi người thợ hái lựa của mày chỉ thu được sáu mươi ký quả một ngày? Mày có biết ngoài mấy lô rẫy cà xô kia, một người thợ tuốt cành bình thường mỗi ngày họ tuốt được bao nhiêu không? Ít nhất là hai tạ rưỡi đến ba tạ quả một ngày! Mày đang trả chi phí thu hái cao gấp đúng năm lần mặt bằng chung của cái huyện Cư M’Rao này chỉ để đổi lấy vỏn vẹn ba trăm sáu mươi ký quả tươi."

"Nhưng đó là hái lựa từng quả chín!" Khôi buột miệng cãi lại, một chút tự ái kỹ thuật trỗi dậy trong lồng ngực như ngọn lửa tàn gặp gió. "Độ chín đồng đều của mẻ đó tao kiểm soát trên cành đạt chín mươi lăm phần trăm! Hàm lượng đường đo bằng khúc xạ kế đạt trên hai mươi độ Brix! Nếu không hái lựa kỹ như thế thì làm sao có được nguyên liệu đạt chuẩn cà phê đặc sản theo tiêu chuẩn quốc tế? Mày làm tài chính mày không hiểu được giá trị của nguyên liệu đầu vào..."

"Tao chưa bàn đến chuyện đặc sản hay rác thải ở đây," Lâm lạnh lùng ngắt lời, ngón trỏ gõ mạnh xuống mặt bàn gỗ phát ra một tiếng *cộc* đanh gọn. "Tao đang đứng ở góc độ một thằng kiểm soát dòng tiền để tính chi phí trên từng ký nguyên liệu đầu vào cho mày thấy. Một triệu bốn trăm bốn mươi ngàn tiền công chia cho ba trăm sáu mươi ký quả tươi, nghĩa là mày chưa làm cái gì hết, hạt cà phê còn nằm nguyên trong quả thì giá vốn của nó đã cõng thêm bốn ngàn đồng tiền công hái trên mỗi ký quả tươi rồi! Tiếp tục đi. Dụng cụ, máy móc và vật tư sơ chế mày mua những cái gì?"

Khôi cắn môi, cúi gằm mặt xuống trang sổ tiếp theo, những con số anh tự tay ghi giờ đây như những cái móc sắt móc vào cổ họng anh:

"Hai cuộn bạt dứa xanh cam loại dày, khổ bốn mét nhân mười mét để trải phơi tạm và lót sân sơ chế... bảy trăm hai mươi ngàn đồng. Mười thùng nhựa composite loại một trăm hai mươi lít có gioăng cao su đệm kín và van xả khí một chiều dùng để ủ kỵ khí lên men... ba trăm tám mươi ngàn một thùng, tổng cộng ba triệu tám trăm ngàn. Mua ống nhựa Tiền Phong, cút nối ren, keo dán, van khóa xả đáy để chế hệ thống thoát nước chua... hết bốn trăm năm mươi ngàn. Tiền dầu diesel chạy máy bơm rửa quả trong ba ngày... hai trăm mười ngàn. Cước xe ôm chở mớ thùng với bạt từ bến xe thị xã về rẫy... một trăm năm mươi ngàn."

Tiếng gõ phím của Lâm vẫn đều đặn, khô khốc và tàn nhẫn như tiếng máy đo điện tim trong phòng cấp cứu hồi sức. Từng dòng số, từng khoản tiền mặt tích cóp nhảy múa trên bảng tính, cộng dồn lại thành một gánh nặng vô hình bóp nghẹt lồng ngực Khôi.

"Mười cái thùng composite đó bây giờ đang ở đâu?" Lâm đột ngột dừng tay, hỏi một câu cộc lốc.

Khôi ngập ngừng, lồng ngực thắt lại thành một khối nghẹn ứ khi ký ức về buổi trưa kinh hoàng hôm thứ ba ùa về trong tâm trí:

"Hỏng mất sáu cái... Lúc nhiệt độ khối ủ bùng phát lên quá nhanh ngoài tầm kiểm soát, vi sinh hoạt động quá mức làm khối quả trương phềnh lên. Khí CO2 sinh ra dồn dập trong khi van một chiều tự chế bị nghẹt do vỏ quả bít kín lỗ thoát, áp suất trong thùng tăng vọt làm nứt bung đáy ba cái, nắp bật tung văng cả chục mét. Ba cái khác thì bị đám vi khuẩn axetic xâm lấn ăn mòn bề mặt lớp nhựa composite bên trong. Mùi giấm thối chua nồng ngấm sâu vào từng thớ sợi thủy tinh của thành thùng, tao đã dùng xà phòng đặc với nước sôi cọ rửa suốt một ngày trời nhưng không tài nào tẩy sạch được cái mùi chua ủng ấy. Nếu dùng lại cho mẻ sau chắc chắn sẽ làm nhiễm khuẩn chéo toàn bộ... coi như vứt."

"Vậy là mất trắng hai triệu hai trăm tám mươi ngàn tiền thùng ngay trong mẻ đầu tiên," Lâm không một chút do dự, nhập thẳng con số đó vào cột *Tổn thất vật tư không thể thu hồi*. "Còn hai cuộn bạt dứa?"

"Bạt trải sát mặt đất ẩm ướt ở khoảnh sân sau... Đất bazan mùa này ban đêm bốc hơi ẩm kinh khủng, nấm mốc đất với rêu bám đen sì toàn bộ mặt dưới. Còn mặt trên thì dịch nhớt cà phê lên men chua dính chặt vào, khô lại bết thành từng mảng đen thui bốc mùi chua ủng. Hôm qua tao kéo ra bờ suối cọ rửa bằng bàn chải sắt thì bay hết lớp tráng nhựa chống thấm, giờ nó mục nát và rách lỗ chỗ khắp nơi rồi..."

"Vứt nốt bảy trăm hai mươi ngàn," Lâm nhấp chuột, bôi đen toàn bộ một dải ô tính rồi kéo công thức tính tổng xuống dòng cuối cùng. "Tổng chi phí tiền mặt thực tế mày đã móc từ trong túi ra để ném vào mẻ thử nghiệm này trong vòng năm ngày qua là sáu triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng. Bây giờ đến phần quan trọng nhất, phần quyết định mày sống hay mày chết: sản lượng đầu ra thu được bao nhiêu ký cà phê thương phẩm?"

Khôi siết chặt hai bàn tay vào mép bàn gỗ tạp, các đầu ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực quá mạnh. Từng thớ thịt trên gò má anh co giật từng chặp.

"Không có ký nào cả..." Khôi thì thầm, giọng nói vỡ vụn ra trong cổ họng, nghẹn đắng như ngậm phải quả cà phê thối. "Bảo Ngọc chấm mẫu đó dưới sáu mươi điểm... Mẫu hạt nhân xanh sau khi xát vỏ trấu bị thâm kim toàn bộ, phôi hạt chết đen sì. Thử nếm trên bàn cupping thì dính lỗi chua thối do axetic quá mức, hậu vị chát đắng gắt và nhiễm mùi mốc đất nặng nề. Cô ấy bảo... mẫu này không thể dùng để thương mại, không thể bán cho bất kỳ một quán cà phê rang mộc nào trên thị trường, dù là bán rẻ như cho. Toàn bộ mẻ hạt đó... sáng nay tao đã bảo anh Tư đào hố đem chôn xuống gốc mấy cây bơ sau nhà làm phân bón rồi."

Lâm ngả người ra lưng ghế, hai tay rời khỏi bàn phím, nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu của Khôi. Giọng điệu của anh không có lấy một chút thương hại, chỉ có sự bình thản đến tàn nhẫn của một kẻ làm việc thuần túy với những quy luật khắc nghiệt của thương trường:

"Nói cách khác, mày vừa ném thẳng sáu triệu bảy trăm bảy mươi ngàn tiền mặt xuống cống chỉ trong vòng chưa đầy một tuần lễ. Để đổi lấy một đống phân bón hữu cơ đắt đỏ nhất cái tỉnh Đắk Lắk này."

Căn phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc. Bên ngoài liếp vách gỗ mục, gió từ sườn đồi Cư M’Rao bắt đầu thổi mạnh dần lên, rít qua những khe hở mang theo hơi nóng hầm hập của đất bazan đang bốc khói dưới ánh mặt trời ban trưa.

"Mày nghĩ mày mất chừng đó là xong rồi đúng không?" Lâm gõ đầu bút bi lên mép màn hình laptop, xoay nhẹ góc máy để toàn bộ bảng tính Excel rực màu đỏ đập thẳng vào mắt Khôi. "Khôi, cái con số sáu triệu bảy trăm bảy mươi ngàn này mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm mà một đứa mù tịt về quản trị tài chính như mày nhìn thấy được. Mày tốt nghiệp loại giỏi, mày nắm van xả khí, mày đo độ Brix, mày phân tích chủng men vi sinh nghe như một nhà bác học. Nhưng mày làm kinh tế như một đứa con nít lên ba đang chơi trò bán đồ hàng dưới gốc cây bàng!"

Ngón tay Lâm trỏ thẳng vào một ô tính đang nhấp nháy một công thức nhân chia phức tạp:

"Lỗ hổng chết người thứ nhất: Tỷ lệ hao hụt chuyển đổi từ quả tươi sang nhân xanh. Mày hái ba trăm sáu mươi ký quả chín. Với giống Robusta sẻ quả nhỏ, vỏ dày, hạt chắc nhưng ruột mọng nước, tỷ lệ chuyển đổi tiêu chuẩn của phương pháp chế biến tự nhiên hoặc mật ong ít nhất cũng phải là năm ký quả tươi mới cho ra được một ký nhân xanh đạt độ ẩm chuẩn mười hai phần trăm. Nghĩa là ba trăm sáu mươi ký quả mộng của mày, giả sử quy trình của mày hoàn hảo không hỏng một hạt nào, mày chỉ có thể thu về tối đa là bảy mươi hai ký cà phê nhân!"

Lâm rê chuột qua một cột tính khác bên cạnh:

"Bây giờ mày lấy tổng chi phí tiền mặt sáu triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đó, chia cho bảy mươi hai ký nhân đó xem ra con số bao nhiêu? Ra chín mươi tư ngàn đồng một ký! Chín mươi tư ngàn đồng tiền giá thành sản xuất cho một ký cà phê nhân xanh! Trong khi đó, mày bước chân ra đầu dốc kia xem đại lý của lão Phạm Đức Sang đang thu mua cà xô xát vỏ với giá bao nhiêu? Ba mươi mốt ngàn, cao lắm là ba mươi hai ngàn một ký! Mày tự đặt mình vào thế phải bán cái đống cà phê đó với giá ít nhất một trăm hai mươi ngàn đến một trăm ba mươi ngàn một ký thì mày mới có một chút tiền lời còm cõi để bù vào công sức thức trắng ba đêm của chính mày. Nhưng kết quả thực tế là gì? Dưới sáu mươi điểm! Giá trị thương phẩm bằng con số không tròn trĩnh!"

Từng lời Lâm thốt ra như những nhát búa nện thẳng vào màng nhĩ Khôi. Mồ hôi lạnh bắt đầu túa ra ướt đẫm trán anh, chảy dài xuống thái dương cay xè. Những con số trên màn hình không có thanh âm, không có cảm xúc, nhưng chúng có sức công phá tàn khốc hơn bất kỳ lời thóa mạ nào.

"Lỗ hổng chết người thứ hai," Lâm tiếp tục dồn dập, giọng điệu sắc bén không để cho Khôi kịp trấn tĩnh. "Chi phí khấu hao công cụ dụng cụ và tài sản cố định. Mày đi mua mười cái thùng nhựa composite, mua hai cuộn bạt dứa, mua van xả, mày hạch toán thẳng toàn bộ chi phí mua sắm đó vào chi phí của một mẻ duy nhất như một kẻ phá gia chi tử thừa tiền. Một người làm kinh doanh có đầu óc, khi đầu tư vào giàn phơi, nhà màng hay thùng ủ chuyên dụng, người ta phải tính toán phân bổ khấu hao của nó trên ít nhất ba đến năm vụ thu hoạch, chia nhỏ ra cho hàng trăm mẻ chế biến. Nhưng vì mày làm ẩu, mày nôn nóng, mày ép nhiệt độ lên men bậy bạ làm nứt vỡ thùng, mày kéo bạt rách nát ngay từ mẻ đầu tiên. Toàn bộ chi phí tài sản cố định đó biến thành chi phí tổn thất trực tiếp, ăn cụt thẳng vào vốn lưu động của mày. Đó là sự lãng phí vốn vô tội vạ của một kẻ làm nông nghiệp trên bàn giấy!"

Lâm dừng lại một nhịp, nhìn xoáy vào gương mặt đang cúi gằm của bạn mình, rồi hạ thấp giọng nhưng sức nặng lại tăng lên gấp bội:

"Và lỗ hổng thứ ba — cái lỗ hổng sẽ giết chết gia đình mày trong vòng mười mấy ngày tới nếu mày không tỉnh ngộ: Chi phí cơ hội của việc chiếm dụng đất rẫy."

Lâm rê chuột, bôi đỏ một vùng dữ liệu ở góc dưới bảng tính:

"Mày xin ba mày giữ lại một sào Robusta sẻ chín rộ để làm thí nghiệm đặc sản. Một sào đó có khoảng một trăm ba mươi gốc cà phê đang vào độ thu hoạch sung sức nhất. Nếu như ngay từ đầu tuần trước, ông Hậu và bà Hạnh cứ tuốt cành bán quả xô tươi cho đại lý của lão Phạm Đức Sang như mọi năm, gia đình mày đã cầm chắc trong tay ít nhất mười hai triệu đồng tiền mặt tươi rói. Mười hai triệu đó đủ để trả bớt một phần nợ lãi nóng đang réo rắt từng ngày bên tai mẹ mày, làm giảm bớt áp lực siết nợ nghẹt thở của lão Sang. Nhưng mày đã làm gì? Mày tước đi nguồn tiền mặt tức thì và hợp pháp duy nhất đó của cha mẹ mày, ôm lấy mảnh rẫy, rồi mày móc nốt tiền túi của chính mày ra đốt sạch vào đống bã thối ngoài hàng rào kia."

Lâm gập một nửa nắp chiếc laptop ThinkPad lại, ngả hẳn lưng ra chiếc ghế đẩu, hai tay khoanh trước ngực:

"Khôi này, số dư tài khoản trợ cấp thôi việc của mày từ Công ty Khang Thịnh ban đầu được chuyển vào là sáu mươi tám triệu bốn trăm ngàn đồng. Trừ đi tiền mày đưa mẹ trả bớt nợ phân bón dạo trước, trừ đi tiền mua sắm lặt vặt lúc mới xách ba lô về đây, rồi trừ tiếp sáu triệu bảy trăm bảy mươi ngàn của mẻ thử nghiệm thảm họa này... hiện tại trong tài khoản ngân hàng của mày còn chính xác bao nhiêu tiền? Mở điện thoại ra xem."

Khôi run rẩy thò tay vào túi áo ngực, rút chiếc điện thoại thông minh cũ kỹ đã nứt toác một góc màn hình. Bàn tay anh run lẩy bẩy đến mức phải bấm ba lần mới nhập đúng mật khẩu mở khóa. Ngón tay anh như đông cứng lại khi nhìn vào dòng chữ số hiển thị dưới mục thông báo số dư khả dụng của ứng dụng ngân hàng.

"Năm mươi mốt triệu... hai trăm ba mươi ngàn đồng," Khôi thì thào, âm thanh yếu ớt như tiếng gió lọt qua kẽ nứt của vách ván ép.

"Năm mươi mốt triệu hai trăm ba mươi ngàn," Lâm lặp lại từng con số, rành rọt, đanh thép và lạnh băng. "Trong khi đó, mày còn đúng mười lăm ngày trước khi chạm vào hạn chót của bức tối hậu thư mà lão chủ nợ Phạm Đức Sang và chính cha mày đã ấn định. Để làm lại một mẻ mới trên diện tích một sào đó, mày cần bao nhiêu tiền thuê thợ hái lựa lại từ đầu? Cần bao nhiêu tiền mua bạt mới, đóng giàn phơi mới thay cho mớ bạt rách nát kia? Cần bao nhiêu tiền thuê nhân công cào đảo hạt liên tục suốt hai mươi ngày phơi? Mỗi một buổi sáng mở mắt ra, mày phải ăn, gia đình mày phải thở, chiếc xe máy của mày phải đổ xăng, chiếc máy bơm nước phải có dầu chạy. Bảng dự báo dòng tiền lưu động của tao cho thấy: với tốc độ chi tiêu mù quáng, làm việc theo cảm tính và tỷ lệ hao hụt không kiểm soát như hiện tại, dòng tiền cá nhân của mày sẽ chạm đáy âm trong vòng đúng mười bốn ngày tới!"

Lâm chống hai tay xuống mặt bàn, chồm toàn bộ thân người về phía trước, ánh mắt sau tròng kính cận như muốn xuyên thủng sự suy sụp của người bạn cùng phòng thời đại học:

"Mày có hiểu cạn sạch tiền mặt nghĩa là gì không? Nghĩa là đến ngày thứ mười lăm, trong túi mày không còn nổi hai mươi ngàn đồng để đổ một lít xăng chạy xe máy ra ngã ba đón xe đò trốn nợ. Nghĩa là ông Hậu sẽ phải gạt nước mắt, run rẩy quỳ xuống ký vào cái văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng ba hécta đất rẫy hương hỏa của gia đình cho lão Phạm Đức Sang với giá rẻ mạt như cho không, chỉ để cứu mày khỏi cảnh bị mấy tay đòi nợ thuê trên thị xã xuống lột da! Khôi, cái chết của một dự án khởi nghiệp hay một cơ sở kinh doanh chưa bao giờ đến từ việc thiếu thốn lý tưởng cao đẹp. Nó luôn luôn chết vì một lý do tầm thường và tàn nhẫn nhất: cạn kiệt tiền mặt trước khi kịp nhìn thấy ánh bình minh!"

Những lời cảnh báo trần trụi, đầy mùi vị thực dụng và khắc nghiệt của Lâm như một gáo nước đá buốt giá dội thẳng vào đống tro tàn ảo tưởng cuối cùng đang âm ỉ trong đầu Khôi. Nó đập nát hoàn toàn cái vỏ bọc duy ý chí, đập nát cái thói kiêu ngạo ngấm ngầm của một trí thức trẻ từng ảo tưởng rằng chỉ cần nắm vững mấy bài báo khoa học quốc tế về enzyme, vi sinh vật học và động học lên men là có thể dễ dàng xoay chuyển cả một thực tại khốc liệt trên mảnh đất bazan này.

Khôi ngồi chết lặng. Anh nhìn chằm chằm xuống đôi bàn tay mình — những ngón tay gầy guộc dính đầy nhựa chát đen sì, móng tay bám chặt đất đỏ không tài nào cọ sạch, những vết xước rướm máu do gai cà phê cào rách trong đêm thu hoạch vẫn còn tấy đỏ.

Anh đã sai lầm một cách thảm hại. Anh đã quá ấu trĩ khi tách rời kỹ thuật nông học cao siêu ra khỏi bài toán sinh tồn kinh tế nghiệt ngã. Một quy trình chế biến dù có tân tiến đến đâu, có tạo ra hương hoa quả nhiệt đới ngào ngạt đến đâu trong các phòng thí nghiệm ở châu Âu hay châu Mỹ, nhưng nếu chi phí để làm ra nó vượt quá giá trị mà thị trường địa phương chấp nhận chi trả, nếu nó đốt sạch dòng tiền sinh tồn của người nông dân trước khi hạt cà phê kịp khô ráo trên giàn phơi, thì đó không phải là tiến bộ kỹ thuật. Đó là một sự phá hoại vô lương tâm núp bóng danh nghĩa khoa học.

"Tao... tao không thể một mình gánh hết được nữa," Khôi gục đầu xuống hai bàn tay, bờ vai anh khẽ run lên từng chặp. Lời thừa nhận thốt ra khó khăn như thể anh vừa phải tự tay dùng dao rạch một đường vào lòng kiêu hãnh của chính mình. "Lâm, tao dốt về kinh tế, tao dốt về quản trị dòng tiền... Tao chỉ cắm đầu nhìn vào cái đích làm sao để hạt cà phê sẻ đạt tám mươi lăm điểm cupping, tao không nhìn thấy cái bẫy chi phí nó giăng ra từng bước, từng ngày dưới chân tao..."

Lâm nhìn Khôi. Ánh mắt anh dịu lại đôi chút, vẻ gay gắt dần biến mất, chỉ còn lại sự thấu hiểu trầm lặng của một người bạn đã từng chia nhau từng gói mì tôm suốt bốn năm ròng rã trong ký túc xá. Anh thở dài một hơi dài, thò tay vào túi áo rút ra một điếu thuốc lá nhưng không châm lửa, chỉ kẹp nhẹ nơi đầu ngón tay trỏ.

"Mày có kiến thức chuyên môn vững, mày có đam mê thật lòng, nhưng mày mắc đúng cái căn bệnh ôm đồm chết người của mấy thằng làm kỹ thuật," Lâm hạ giọng, từng lời nói lúc này trầm xuống, thấm thía. "Mày sợ người khác không hiểu lý thuyết của mày nên làm sai, mày sợ người ta làm bẩn mẻ ủ của mày, thế là mày tự làm tất cả. Từ bốc vác từng bao quả tươi, kéo bạt, cọ rửa thùng phuy cho đến việc căn ke từng đồng bạc lẻ mua cái co ống nước. Kết quả là mày kiệt sức, đầu óc mày mụ mẫm vì thiếu ngủ, và khi cái đầu không còn tỉnh táo thì mày đưa ra toàn những quyết định sai lầm chết người. Mày muốn sống sót qua mười bốn ngày này không?"

Khôi ngẩng phắt đầu lên, trong đôi mắt đỏ ngầu lóe lên một tia khẩn thiết tột cùng:

"Bằng mọi giá. Tao không thể để mất mảnh rẫy này, Lâm à. Mày biết mà, ba hécta này là mồ hôi, là máu, là cả cuộc đời của ba mẹ tao..."

"Muốn sống thì việc đầu tiên là phải dẹp bỏ cái tôi kỹ sư bằng cấp của mày xuống đáy bùn đất bazan," Lâm đứng dậy, bước lại gần cửa sổ sau nhà, chỉ tay về phía những triền đồi cà phê bạt ngàn đang trải dài ngút tầm mắt dưới cái nắng chói chang. "Con nhỏ chuyên gia thử nếm hôm qua chê bai mày cái gì? Nó bảo hạt cà phê của mày bị thâm kim, bị thối phôi vì mày không hiểu vi khí hậu của cái đất Cư M’Rao này, đúng không?"

Khôi cắn chặt môi dưới, khẽ gật đầu.

"Vậy thì ai là người hiểu vi khí hậu của cái xó này nhất?" Lâm quay người lại, ánh mắt sắc lẹm găm thẳng vào Khôi. "Không phải mấy cuốn giáo trình nông học của các giáo sư ngồi phòng máy lạnh ở Sài Gòn. Càng không phải cái bảng tính Excel lạnh ngắt này của tao. Người hiểu mảnh đất này nhất đang ở ngoài rẫy kia kìa. Bước chân ra gặp ông Tư đi. Cúi cái đầu xuống mà học. Nếu mày không kéo được một người làm rẫy mười lăm năm như ông ấy về phe của mày, không tận dụng được kinh nghiệm thực tế của ông ấy để cắt giảm chi phí vật tư và giảm thiểu rủi ro thời tiết, thì cuốn gói theo tao về Sài Gòn nộp đơn xin việc lại từ đầu đi là vừa."

* * *

Nắng trưa Tây Nguyên bắt đầu đổ lửa xuống sườn đồi Cư M’Rao. Không khí quánh đặc lại, hầm hập như một lò nung khổng lồ ngoài trời, nồng nặc mùi lá cà phê khô rụng và mùi bụi đất bazan bị hun nóng bốc lên ngột ngạt qua từng cơn gió giật.

Khôi bước chầm chậm qua con mương cạn dẫn ra khoảnh rẫy phía sau nhà. Từng bước chân anh nặng trĩu, đế ủng cao su giẫm lạo xạo trên lớp lá khô mục nát và cành khô gãy vụn. Lòng tự ái bị vò nát sau hai đòn giáng liên tiếp từ Bảo Ngọc và Lâm khiến toàn bộ cơ thể anh rã rời như vừa trải qua một trận ốm thập tử nhất sinh. Nhưng kỳ lạ thay, sau cơn bẽ bàng và nhục nhã tột cùng ấy, tâm trí anh lại đạt đến một trạng thái tĩnh lặng đến kỳ dị. Không còn sự tự mãn của một kẻ mang mác kỹ sư về làng. Không còn những ảo tưởng viển vông về một mẻ cà phê kỳ tích đổi đời chỉ sau một đêm. Hiện thực giờ đây trần trụi và lạnh lùng: anh là một kẻ đang đứng bên bờ vực phá sản, và anh phải học lại từ con số không, từ những điều sơ đẳng nhất của mảnh đất này.

Ở góc rẫy phía Đông, dưới bóng râm thưa thớt của một hàng muồng đen cổ thụ trồng làm đai chắn gió, một bóng người gầy guộc, bờ vai hơi còng đang lặng lẽ cúi xuống bên một gốc cà phê sẻ già cỗi. Đó là anh Tư.

Khôi dừng bước ở khoảng cách chừng mười mét, không dám cất tiếng làm kinh động đến không gian tĩnh lặng của người thợ già. Anh nép mình bên cạnh một thân cây muồng, im lặng quan sát người đàn ông đã bán trọn mười lăm năm thanh xuân của mình cho từng gốc cà phê trên ngọn đồi này.

Anh Tư không mang ủng cao su bảo hộ như Khôi. Đôi bàn chân trần nứt nẻ những đường nứt sâu hoắm như vết nứt trên ruộng bùn mùa hạn, thâm sì màu đất bazan, bấm chặt từng ngón chân bè bè vào mặt đất dốc gồ ghề đầy sỏi vụn. Ông mặc một chiếc áo bộ đội cũ sờn rách cả hai bên vai, chiếc nón lá mê tơi đã thủng mất chóp vắt vẻo sau lưng bằng một sợi dây chuối khô.

Lúc này, anh Tư đang ngồi xổm bên một bồn cà phê Robusta sẻ. Ông không vội vã dùng kéo cắt cành hay dùng cuốc xới xáo đất như những người làm công nhật bình thường khác. Bàn tay thô ráp với những khớp xương to bè, móng tay đóng phèn đen cáu lại của ông khẽ gạt lớp lá khô mục trên bề mặt sang một bên, rồi nhẹ nhàng bốc lên một nắm đất đỏ từ độ sâu khoảng chừng một gang tay.

Anh Tư không cần đến chiếc máy đo độ ẩm đất điện tử có hai que kim loại dài ngoằng mà Khôi thường mang theo trong ba lô. Ông nhắm hờ hai mắt lại, dùng ngón tay cái và ngón trỏ vê thật chậm rãi nắm đất ấy. Từng hạt đất mịn vỡ vụn ra dưới lực ép đều đặn của ngón tay ông. Ông cảm nhận độ kết dính, độ tơi xốp, lượng ẩm còn sót lại trong lòng đất sau một đêm sương mù dày đặc buông xuống thung lũng, rồi từ từ đưa nắm đất ấy lên sát mũi, hít vào một hơi thật sâu và chậm rãi. Khôi đứng từ xa có thể nhìn thấy lồng ngực gầy guộc lộ rõ từng khung xương sườn của người thợ già phập phồng theo từng nhịp thở sâu của đất.

Sau đó, anh Tư đứng thẳng dậy. Ông không nhìn xuống đất nữa mà từ từ ngửa mặt lên nhìn vòm trời cao vời vợi không một gợn mây. Đôi mắt nheo lại giữa những nếp nhăn chằng chịt như mạng nhện nơi đuôi mắt, ông quay mặt thật chậm từ hướng Đông Bắc sang hướng Tây Nam, đón lấy từng đợt gió đồi đang ào ạt thổi qua tán lá muồng đen.

Cơn gió Tây Nguyên mùa này quái đản và khắc nghiệt vô cùng. Nó mang theo hơi ẩm rớt lại từ những cơn mưa rừng cuối mùa bên sườn Tây dãy Trường Sơn, nhưng khi vượt qua những đỉnh núi cao tràn xuống thung lũng Cư M’Rao, gặp cái nắng chang chang như thiêu như đốt của vùng bình nguyên, nó lập tức bị nung nóng, biến thành thứ gió khô khốc, rát bỏng như phả hơi lửa thẳng vào da thịt. Anh Tư giơ một bàn tay gầy guộc lên cao quá đầu, ngửa lòng bàn tay ra hứng lấy luồng gió, các ngón tay khẽ co duỗi nhẹ nhàng như đang đo đếm một thứ vô hình đang chuyển động trong không gian.

Ông lẩm bẩm điều gì đó trong miệng, rồi cúi xuống nhìn những chùm quả cà phê sẻ li ti đang ngả màu đỏ thẫm trên cành lá trĩu nặng. Chỉ bằng mắt thường, bằng da thịt trần trụi và sự nhạy cảm truyền đời của một người làm rẫy lâu năm, ông biết chính xác lúc nào nắng sẽ chuyển sang gắt gỏng, lúc nào gió sẽ đổi hướng lệch về phía triền đồi phía Nam, và độ ẩm không khí trong ba tiếng đồng hồ tới sẽ tụt dốc thảm hại ra sao. Đó là thứ tri thức sống động, được tôi luyện qua hàng ngàn ngày dãi nắng dầm sương, qua hàng chục mùa hoa cà phê nở trắng đồi rồi đậu trái, thứ tri thức bản địa mà không một cuốn giáo trình nông học hiện đại nào có thể đóng khung thành những công thức toán học khô cứng.

Khôi thấy sống mũi mình cay xè. Một cảm giác xấu hổ tột cùng dâng lên bóp nghẹt lấy tim anh. Anh nhớ lại sự ngạo mạn đáng khinh của mình bốn ngày trước, khi anh xua tay gạt phắt lời khuyên của anh Tư về việc không được ủ kín hạt cà phê trong thùng composite đóng nắp, khi anh ngấm ngầm coi thường những kinh nghiệm thực tế của ông chỉ là thói bảo thủ, lạc hậu của những người nông dân không có bằng cấp. Sự kiêu ngạo trí thức rỗng tuếch đó đã phải trả giá bằng sáu triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng tiền mồ hôi nước mắt và một bài học nhục nhã ê chề trước mặt đối tác.

Hít một hơi thật sâu để nén lại nỗi nghẹn ngào đang chực trào ra, Khôi bước ra khỏi lùm cây muồng đen, tiến lại gần gốc cà phê nơi người thợ già đang đứng.

Tiếng bước chân giẫm lạo xạo trên thảm lá khô khiến anh Tư giật mình quay lại. Nhìn thấy Khôi, gương mặt khắc khổ sạm đen vì nắng gió của người thợ già thoáng một nét đanh lại, ánh mắt ông lộ rõ vẻ cảnh giác, lạnh nhạt và có phần xa cách. Ông buông rơi nắm đất còn lại trong tay xuống gốc cây, rút chiếc khăn rằn cũ vắt ngang cổ lên lau vội những giọt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán, không nói một lời nào, toan quay người xách chiếc kéo cắt cành bước sang luống cây bên cạnh để tránh mặt.

"Anh Tư!" Khôi cất tiếng gọi, giọng anh run rẩy, lạc đi giữa tiếng gió rít.

Anh Tư khựng lại, nhưng không quay người lại. Lưng ông vẫn quay về phía Khôi, chiếc áo bộ đội sờn rách căng ra trên bờ vai gầy:

"Cậu Khôi ra rẫy tìm tôi làm gì? Mẻ cà phê đặc sản tiền triệu của cậu xong xuôi cả rồi chứ gì? Tôi nghe loáng thoáng người ta kháo nhau cậu mang hạt lên phố cho chuyên gia chấm điểm cao lắm mà? Giờ thì rẫy này giao lại cho cha cậu với tôi tuốt cành bán cà xô tươi cho lão Sang để lấy tiền trả nợ được chưa? Để lâu trên cây nắng táp rụng hết thì cả nhà cậu cạp đất mà ăn à?"

Từng lời nói mộc mạc, chua chát của người thợ già như xát muối ớt vào vết thương đang rỉ máu trong lòng Khôi. Nhưng lần này, Khôi không phản ứng. Anh không tìm bất kỳ một lý do kỹ thuật nào, không lôi vi sinh vật hay độ pH ra để bao biện cho thất bại nhục nhã của mình nữa.

Khôi bước nhanh vòng ra phía trước mặt anh Tư. Trước ánh mắt ngỡ ngàng, sững sờ của người đàn ông đứng tuổi, Khôi bất ngờ cúi gập toàn bộ thân người xuống một góc chín mươi độ.

"Anh Tư... em sai rồi," Khôi nói, từng chữ phát ra run rẩy nhưng rành rọt, đầu anh cúi thật thấp trước đôi chân trần nứt nẻ bám đầy đất đỏ bazan của người thợ làm thuê. "Em xin lỗi anh. Bốn ngày trước em đã quá tự cao, quá ngạo mạn không nghe lời anh dặn. Mẻ cà phê đó... hỏng hoàn toàn rồi anh ạ. Nó bị thâm kim, bị thối nhũn từ trong tim hột, đúng y như những gì anh đã cảnh báo em ngoài bờ rào hôm trước."

Không gian giữa vườn cà phê bỗng chốc rơi vào một sự im ắng đến kỳ lạ. Gió đồi vẫn rít qua những tán muồng đen cao vút, tiếng ve muộn râm ran trên những đọt cây cà phê trĩu quả, nhưng giữa hai người dường như chỉ còn lại nhịp thở nặng nề.

Anh Tư sững sờ buông thõng hai tay. Chiếc kéo cắt cành cầm ở tay phải khẽ trượt xuống bên hông. Trong suốt mười lăm năm làm thuê cuốc mướn trên mảnh đất này, ông đã chứng kiến biết bao đứa trẻ con của các chủ rẫy lớn lên, đi học ở Sài Gòn, ở Hà Nội rồi trở về với vẻ trịch thượng, coi thường những kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn như ông là những người dốt nát. Ông chưa từng thấy một kỹ sư nông nghiệp có bằng cử nhân đỏ chót, một người thuộc tầng lớp trí thức, lại chịu cúi gập lưng nhận sai một cách thành khẩn và trần trụi trước một người đi làm công nhật như thế này.

Nét mặt căng thẳng, cảnh giác của anh Tư chùng xuống. Cái nhìn lạnh nhạt nơi đuôi mắt biến mất, thay vào đó là một vẻ ngậm ngùi, xót xa khó tả. Ông thở dài một hơi thật khẽ, bước lên nửa bước, đưa bàn tay thô ráp đầy những vết chai sần vỗ nhẹ lên bả vai đang run rẩy của Khôi:

"Thôi... đứng thẳng người dậy đi cậu Khôi. Đàn ông con trai, cái đầu gối với cái sống lưng sinh ra là để đội trời đạp đất, để gánh vác nợ nần cho cha mẹ, chứ cúi gập xuống đất cát thế này làm cái gì cho hèn người đi."

Khôi từ từ ngẩng đầu lên. Đôi mắt anh đỏ hoe, ngấn nước, nhưng trong ánh nhìn đã rũ sạch hoàn toàn sự kiêu ngạo rỗng tuếch ngày trước, chỉ còn lại sự chân thành và khao khát học hỏi đến tột cùng:

"Anh Tư, em không muốn làm mất ba hécta rẫy này của cha mẹ em. Em cũng không muốn cả đời này nhìn thấy mồ hôi nước mắt của anh, của ba mẹ em bị những tay thương lái như lão Sang ép giá từng đồng một cách tàn nhẫn. Nhưng em biết một mình em với mấy cuốn sách vở chữ nghĩa không thể nào làm nổi chuyện này. Em cần anh giúp. Anh có thể chỉ cho em... làm sao để đón được ngọn gió của cái đồi Cư M’Rao này không? Làm sao để phơi hạt cà phê mà không bị hơi ẩm của đất bazan làm mốc hỏng, không bị cái nắng gắt ban trưa làm co rút chết phôi?"

Anh Tư nhìn sâu vào mắt Khôi một lúc thật lâu, như muốn xuyên thấu tâm can để kiểm tra xem sự hối lỗi này là thật lòng hay chỉ là sự bốc đồng nhất thời của một kẻ vừa chạm đáy thất bại. Cuối cùng, khóe môi nứt nẻ sạm đen của ông khẽ giật giật, tạo thành một nụ cười mỉm hiếm hoi làm giãn bớt những nếp nhăn nheo trên khuôn mặt khắc khổ.

"Cậu có học, nhưng cậu chỉ mới học trên trang giấy trắng mực đen, còn cái đất Tây Nguyên này nó viết sách bằng nắng với gió, bằng mồ hôi với cả máu nữa cậu à," anh Tư lắc lắc đầu, đưa tay chỉ thẳng về phía dải đồi lộng gió phía sau nhà. "Cái giống cà phê Robusta sẻ này, quả nó nhỏ xíu, hạt nó chắc nịch nhưng cái nội lực bên trong nó mạnh mẽ lắm. Cậu đem nêm chặt nó vào trong mấy cái thùng nhựa bịt kín nắp, khác nào cậu bóp cổ một đứa trẻ con cho nó ngạt thở đến chết tươi? Nó là vật sống, nó cần phải thở, nó cần gió trời, cậu có hiểu không? Gió Tây Nguyên mùa này thổi từ bên Lào vượt qua dãy Trường Sơn tràn về, đến cái thung lũng Cư M’Rao này thì vừa khô khốc vừa rát bỏng. Người yếu đi ngoài rẫy thì say nắng lăn đùng ra, nhưng nếu biết cách đón nó, luân chuyển nó qua từng lớp hạt, thì ngọn gió đó chính là cái máy sấy trời cho quý giá nhất trần đời này mà không một thứ máy móc nào của cậu sánh bằng."

Anh Tư dứt khoát quay người, bước những bước dài vững chãi về phía con đường mòn nhỏ dẫn ngược lại khu nhà sau:

"Đi theo tôi. Muốn làm giàn phơi đón gió mà không phải tốn cả chục triệu bạc tiền sắt thép hộp của cái cậu bạn thành phố mang kính cận kia, thì phải biết cách tận dụng những thứ mà cái rẫy này đang vứt xó."

Khôi vội vã rảo bước đi sát phía sau lưng người thợ già. Cảm giác bế tắc, tuyệt vọng đến nghẹt thở đè nặng lên ngực anh suốt từ sáng sớm dường như vừa được hé mở bởi một tia hy vọng mong manh — một tia sáng không đến từ những công thức sinh học xa vời, mà bắt rễ từ chính bàn chân trần đang bám chặt vào lòng đất đỏ bazan của anh Tư.

Đi vòng qua chuồng gà bỏ hoang đầy cỏ dại phía sau chái bếp, anh Tư dẫn Khôi bước vào góc kho nông cụ mục nát — một gian nhà kho cũ kỹ được dựng tạm bợ bằng những tấm ván bìa tạp đã bị mối mọt đục rỗng từng mảng lớn, mái tôn proximăng thủng lỗ chỗ để lộ những vệt nắng trưa xiên khoai rọi thẳng xuống nền đất ẩm thấp. Ông đưa tay đẩy cánh cửa gỗ ọp ẹp kêu lên những tiếng *cót két* rợn người, rồi tiện tay giật phăng một búi mạng nhện dày đặc giăng kín trước lối vào.

Bên trong góc tối tăm và ẩm mốc nhất của căn kho, dưới một lớp bụi đất dày hàng tấc, những tấm ván gỗ tạp cũ kỹ, những thanh tre lồ ô già đã lên nước vàng óng và những đoạn khung sắt rỉ sét từ thời làm lò sấy thủ công cũ của ông Hậu đang nằm chất đống ngổn ngang, im lìm chờ đợi một cơ hội tái sinh.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories