Kiếm Tâm Vấn ĐạoCh.33 / 40
Chapter 33

Khói Lò Trấn Thanh Khê

Mùi than củi nồng đượm quyện trong gió sớm chào đón Lục Thanh khi cậu đặt chân lên con đường đá quen thuộc dẫn vào lò rèn cũ ở Trấn Thanh Khê.

Dưới chân núi Vân Phong, thị trấn nhỏ vẫn thức dậy bằng những thanh âm mộc mạc không hề đổi khác theo năm tháng. Đó là tiếng đòn gánh kẽo kẹt của những người gánh rau sớm ra chợ phiên, tiếng lục lạc lanh canh trên cổ bầy lừa thồ quặng, và hơn tất cả, là tiếng bễ thụt phì phò quen thuộc đến mức đã khắc sâu vào từng mạch máu của Lục Thanh từ thuở còn ấu thơ. Màn sương mỏng manh còn vương trên những mái ngói rêu phong, phản chiếu ánh bình minh đỏ ửng như một thỏi sắt vừa được nung vừa tới lửa trong lò.

Lục Thanh dừng bước ở đầu con ngõ nhỏ lát đá xanh bóng nhẵn. Cậu khẽ buông một hơi thở dài, làn hơi trắng mỏng manh tan nhanh vào không khí buổi sớm mai se lạnh. Đôi bàn chân quen thuộc với từng phiến đá lồi lõm, từng khe hở mọc đầy rêu xanh của con ngõ này bỗng thấy trĩu nặng lạ thường. Cậu siết nhẹ quai nải bọc vải chàm trên vai. Bên hông, đoạn kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết được bọc kín ghìm chặt bên sườn, khẽ truyền đến một dao động ấm áp, phẳng lặng như nhịp thở của chính cậu sau khi trải qua chuyến khảo nghiệm tại Kính Hồ.

Sau bao ngày tháng ở Thanh Vân Kiếm Tông, giữa những luồng kiếm khí sắc lạnh, những lời bàn tán ganh đua và những tầng mây cao vợi che khuất tầm mắt phàm nhân, mùi than củi đượm khói này giống như một chiếc neo vô hình kéo Lục Thanh trở về với mặt đất. Khí tức Thổ dưới chân cậu như bừng tỉnh, dịu dàng len qua đế giày cỏ mỏng manh, hòa vào từng đường kinh mạch nơi hai bàn chân. Mọi căng thẳng, cảnh giác thầm kín tích tụ trong những ngày khảo hạch căng như dây đàn bỗng chốc buông lơi.

Phía trước, gian nhà nhỏ ba gian lợp ngói âm dương của lò rèn Lục Ký vẫn đứng đó. Tấm biển gỗ khảm ba chữ "Lục Ký Rèn" đã phai màu sương gió, một góc biển còn vương vết bồ hóng đen nhánh do những đợt khói lò ngày đông năm trước bốc lên bám chặt vào từng thớ gỗ. Bức tường đất trát rơm đã có vài mảng vôi tróc lở, để lộ lớp gạch nung đỏ sậm bên trong, mộc mạc và nhẫn nại như chính con người nơi đây.

Lục Thanh đứng lặng trước cửa lò rèn gia đình, nhìn thấy bóng dáng gầy guộc nhưng tháo vát của mẹ Lâm Tú Nương đang cặm cụi gõ búa sửa lưỡi cày cho một bác nông dân.

Bà mặc chiếc áo chẽn vải thô màu nâu sẫm, vạt áo vén cao gài bên hông, mái tóc hoa râm búi gọn gàng sau gáy bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc. Dưới ánh lửa bập bùng từ lò than tổ ong, gương mặt xương gầy in hằn những vết chân chim của người đàn bà cả đời gắn liền với khói lửa phàm trần. Đôi bàn tay chai sần, gân guốc của bà cầm chiếc kẹp sắt dài giữ chặt lưỡi cày đã mẻ một mảng lớn trên mặt đe. Tay kia, bà vung chiếc búa con chừng mười lăm cân, nhịp búa gõ xuống không quá mạnh bạo nhưng vô cùng đều đặn, chuẩn xác.

"Coong... coong... cắc..."

Mỗi nhát búa hạ xuống đều nương theo độ dẻo của sắt nung, ép phẳng những đường răng cưa lởm chởm. Tiếng sắt chạm nhau vang lên giòn tan, dội vào bức tường đất rồi lan ra khoảng sân nhỏ rải đầy xỉ than đen nhánh. Ánh than hồng hắt lên gò má gầy guộc của bà, làm nổi bật những giọt mồ hôi li ti đang lấm tấm rịn ra nơi thái dương, rồi chậm rãi chảy dọc theo gò má xương xương.

Đứng đối diện bên kia đe là bác Trương đầu xóm, tay ôm chiếc nón rách, vẻ mặt đầy sốt ruột. Vạt áo nâu của ông còn ướt đẫm sương đêm từ những ngọn cỏ ngoài đồng, đôi ống quần xắn cao để lộ đôi bắp chân phủ đầy bùn khô:

"Thím Lục à, vụ chiêm này đồng cằn lắm, đất pha đá sỏi quáng gà thế này mà cái lưỡi cày cứ bổ xuống ba tấc lại mẻ một miếng. Chiều nay ta phải cày xong vạt ruộng mé đồi, thím ráng gõ cho nó đanh lại giùm ta một chút, kẻo giữa buổi lại long chốt nêm thì khổ."

Lâm Tú Nương không ngẩng đầu lên, hơi thở phả ra quyện cùng khói than, giọng nói trầm tĩnh, chắc nịch:

"Bác Trương cứ yên tâm. Sắt này là sắt non pha gang, người ta đúc ẩu nên bọt khí còn dồn ở sống lưỡi. Tôi nung lại hai lần than củi, đập dồn thớ thép vào sống chịu lực, lại tôi qua nước tro bếp thì có cày vào đá tảng cũng chỉ mòn mũi chứ tuyệt đối không vỡ nứt. Bác ra phản ngồi uống bát nước vối, độ nửa tuần hương là xong."

Từng lời bà nói, từng động tác bà gõ búa đều toát lên sự thấu hiểu sâu sắc với sắt thép đời thường. Không có linh lực cuộn trào, không có những thủ ấn hoa mỹ của các bậc luyện khí sư chốn tông môn danh giá, chỉ có sự nhẫn nại, chân chất của một người thợ thấu hiểu nỗi vất vả của xóm giềng. Đôi mắt bà chăm chú nhìn theo vệt đỏ dần dịu đi trên thân lưỡi cày, chiếc kẹp sắt khẽ xoay trở nhịp nhàng, đón đầu từng điểm chịu lực yếu nhất của thỏi kim loại mà dùng búa nắn lại.

Lục Thanh đứng nơi ngạch cửa, khóe mắt bỗng cay xè.

Mấy tháng ròng rã trên núi Vân Phong, trải qua bao nhiêu kỳ khảo hạch gay cấn, đối mặt với sự khinh miệt của Trần Chấp Ngôn, cùng Tạ Vân Khê tranh đoạt từng tấc kiếm ý, vượt qua ảo ảnh muôn trùng nơi Kính Hồ... nhưng khi trở về đứng trước khung cảnh này, mọi sự ồn ào của thế giới tu chân bỗng chốc lùi xa tít tắp. Những đường kiếm hào nhoáng, những đạo bào thêu chỉ vàng lộng lẫy, những tiếng hô phong hoán vũ vang vọng trên đỉnh mây... tất cả chẳng thể sánh bằng một góc bình yên nơi góc lò rèn vương mùi khói củi này. Cậu chỉ là đứa con trai của người thợ rèn lam lũ, trở về bên mái nhà xưa.

"Mẹ..."

Tiếng gọi khẽ khàng thốt ra từ cuống họng Lục Thanh, run rẩy và nghẹn ngào.

Chiếc búa trên tay Lâm Tú Nương khựng lại giữa không trung. Lưỡi cày đỏ rực trên đe phát ra tiếng xèo xèo nhè nhẹ khi tiếp xúc với không khí lạnh. Đôi vai gầy guộc của người mẹ khẽ run lên. Bà chầm chậm quay người lại. Ánh mắt người mẹ quét qua vóc dáng cao ráo hơn trước một chút của con trai, nhìn bộ đạo bào màu lam giản dị của đệ tử tạp dịch Thanh Vân Kiếm Tông còn vương chút bụi đường, rồi dừng lại trên gương mặt phong trần nhưng đôi mắt đã thêm phần sáng rõ, kiên định.

Bác Trương nông dân thấy có người vào thì quay lại, vừa nhìn thấy Lục Thanh liền tròn mắt kêu lên:

"Ủa, Thanh đó hả cháu? Nghe người ta đồn cháu trúng tuyển ở lại trên núi làm tiên nhân, sao nay lại về thế này? Có phải đã học được thuật hô phong hoán vũ rồi không?"

Hai mẹ con hội ngộ trong niềm xúc động bình dị; không hỏi han về thứ hạng hay cảnh giới tu tiên, Lâm Tú Nương chỉ buông kẹp sắt xuống máng nước bên cạnh, khẽ mỉm cười xoa trán con trai rồi nấu một bữa cơm ấm nóng mùi quê nhà.

"Xèo..."

Máng nước tro bốc lên một làn khói trắng mang theo mùi hăng nồng quen thuộc khi lưỡi cày vừa tôi xong hạ nhiệt. Lâm Tú Nương bước vòng qua chiếc đe sắt, gạt phắt chiếc kẹp sang một bên. Bà không hề nhìn vào thanh bảo kiếm bên hông con trai, cũng không để tâm đến ngọc bài đệ tử lủng lẳng nơi thắt lưng.

Bà đưa bàn tay ấm nóng, vương mùi bồ hóng và gỉ sắt vuốt nhẹ lên vầng trán Lục Thanh, gạt đi mấy lọn tóc mai lòa xòa:

"Về là tốt rồi. Đứa nhỏ này, gầy đi một chút, nhưng mắt sáng lắm. Đói bụng chưa con?"

Không một lời gặng hỏi xem con trai đạt thứ hạng bao nhiêu trong kỳ đại khảo hạch, không nhắc đến chuyện cậu đang ở Dẫn Khí hay Luyện Thể, cũng chẳng màng tới việc thanh danh của cậu dưới chân núi Vân Phong đang được đồn thổi ra sao. Trong mắt người mẹ, cậu chỉ đơn giản là đứa con đi xa vừa trở về nhà sau những ngày dãi dầu sương gió.

"Dạ, con đói rồi mẹ," Lục Thanh mỉm cười, cảm nhận hơi ấm từ bàn tay mẹ lan tỏa khắp da thịt, xua tan mọi nỗi mỏi mệt tích tụ suốt chặng đường dài đi bộ từ đỉnh núi xuống. Cảm giác ấm áp này, dù có ngâm mình trong linh tuyền quý giá nhất của tông môn cũng không thể nào tìm thấy được.

"Bác Trương chờ tôi lát nhé, tôi đập dập thêm ba nhát búa cho xong mối hàn rồi vào nấu cơm cho thằng bé." Lâm Tú Nương quay lại, nhát búa giáng xuống dứt khoát, tiếng sắt thép vang lên giòn giã.

Những nhát gõ cuối cùng vang lên dứt khoát, đưa lưỡi cày vào trạng thái vững chắc nhất. Chỉ một lát sau, chiếc lưỡi cày đã được tôi xong trong máng nước tro, bốc lên một làn khói trắng thơm mùi gỗ mục. Bác Trương mừng rỡ trả mười đồng tiền đồng rồi rối rít cảm ơn, cắp lưỡi cày ra về, không quên vỗ vai Lục Thanh khen ngợi mấy câu mộc mạc của người làng xóm.

Căn bếp nhỏ phía sau gian lò rèn bốc lên làn khói lam chiều ấm áp. Gian bếp đơn sơ với chiếc chạn bát bằng tre đực đã lên nước bóng loáng, góc tường xếp ngay ngắn những bó củi dẻ khô ráo do chính tay Lục Thanh chặt từ mùa thu năm ngoái trước khi lên núi. Lâm Tú Nương thoăn thoắt nhóm lửa vào chiếc kiềng sắt ba chân. Những thanh củi khô bén lửa lách tách reo vui, soi sáng khoảng tường bếp nhuốm màu bồ hóng đen kịt.

Lục Thanh ngồi xuống chiếc ghế đẩu con bên cạnh mẹ, giành lấy chiếc que cời lửa để tiếp củi vào bếp:

"Mẹ để con thổi lửa cho."

"Khéo lại làm cay mắt," Lâm Tú Nương cười hiền, nhưng vẫn nhường chiếc que sắt cho con trai. Bà đứng dậy, thoăn thoắt rửa rau, bắc âu đồng lên kiềng.

Bữa cơm trưa dọn ra trên chiếc chõng tre kê giữa sân sau, nơi có bóng râm mát rượi của giàn mướp hương đang trổ hoa vàng rực. Những chú ong vò vẽ bay vo ve quanh những chùm hoa đẫm mật, gió xào xạc thổi qua khóm chuối tiêu sau bờ rào đá.

Bữa cơm chẳng có sơn hào hải vị, không có linh ngư hay linh mễ tẩm bổ linh lực như ở thiện phòng của tông môn. Trên mâm chỉ là một bát canh rau tập tàng nấu với tôm đồng ngọt lịm, một đĩa đậu phụ rán giòn chấm tương bần, và một âu cơm gạo mới thơm phức, dẻo quánh do chính tay mẹ xới ra bát sứ mẻ miệng.

Lục Thanh bưng bát cơm nóng hổi, húp một ngụm canh rau. Vị ngọt thanh của cọng rau dền gai, rau sam hái ngoài bờ rào quyện với vị mặn mòi của đồng bãi quê nhà khiến sống mũi cậu cay cay. Mấy tháng ở trên núi, thức ăn của đệ tử ngoại môn dẫu có linh khí tẩm bổ, đan dược dẫu có bồi hoàn nguyên khí tinh thuần, nhưng tuyệt nhiên không thể nào có được cái phong vị đượm tình người, ấm áp tình mẫu tử như bát canh đạm bạc nơi góc bếp quê nghèo này.

Lâm Tú Nương ngồi bên cạnh gắp cho con miếng đậu phụ vàng ươm, ánh mắt nhìn cậu chan chứa yêu thương nhưng cũng đầy trầm tĩnh:

"Ở trên núi mệt lắm phải không con?"

"Dạ, lúc đầu có chút bỡ ngỡ, nhưng con quen rồi mẹ. Sư phụ coi các và bạn bè ở Hội Đồng Hành đều đối xử với con rất tốt," Lục Thanh vừa nhai cơm vừa đáp, giọng điềm đạm. Cậu gắp một miếng đậu chấm vào đĩa tương bần sánh đậm, hương vị thân thuộc ngập tràn khoang miệng.

Lâm Tú Nương khẽ thở dài, ánh mắt lướt qua những vết chai mới hằn sâu thêm trên ngón trỏ và lòng bàn tay con trai. Bà hiểu, để có được những vết chai ấy ở chốn tông môn, đứa trẻ này đã phải trả giá bằng biết bao mồ hôi và cả máu huyết.

"Mẹ không hiểu đạo lý tu tiên cao siêu của các vị trưởng lão," bà chậm rãi nói, tay vân vê mép chiếc tạp dề cũ. "Nhưng mẹ hiểu đạo lý của lò than. Miếng thép muốn thành hình thì phải chịu nghìn vạn nhát búa, nhưng nếu búa giáng xuống chỉ vì nóng vội muốn phô trương hoa văn bên ngoài, thỏi thép bên trong sẽ sinh rạn ngầm. Con ở trên núi, chỉ cần mỗi bước đi đều thấy vững chân, tối ngủ không thẹn với lòng mình, thế là mẹ an lòng rồi."

Từng câu, từng chữ của mẹ như những giọt nước mát lành tưới vào tâm khảm Lục Thanh. Đạo của người phàm, đạo của người thợ rèn lam lũ, ngẫm cho cùng lại chẳng hề khác biệt với chí lý tu hành tối thượng mà cậu đã ngộ ra ở Kính Hồ: không tham lam, không vội vã, biết dừng lại đúng lúc để giữ vẹn tròn sơ tâm.

Lục Thanh gật đầu thật mạnh, nuốt miếng cơm nóng vào bụng, cảm thấy đan điền ngũ hành như được một dòng suối ấm tưới mát, hoàn toàn bình ổn và thư thái. Không cần vận chuyển bất kỳ công pháp huyền diệu nào, năm luồng linh khí trong Khí Hải của cậu lúc này tự động lưu chuyển nhẹ nhàng, bền bỉ và thuận hòa như dòng nước êm đềm chảy quanh con rạch sau nhà.

***

Chiều hôm ấy, bầu trời Trấn Thanh Khê trong vắt. Gió từ cánh đồng thổi vào mang theo hơi ẩm của dòng suối mát và mùi ngai ngái của bùn non.

Tin tức Lục Thanh trở về từ núi Vân Phong nhanh chóng lan khắp xóm trên ngõ dưới. Người dân trong trấn nghe tin cậu về thăm nhà, lại nghe bác Trương khoe chiếc lưỡi cày được thím Lục và Lục Thanh sửa lại vừa bén vừa đanh, liền lục tục rủ nhau mang nông cụ sang nhờ giúp đỡ. Mùa vụ đang tới gần, những chiếc cuốc chim mòn vẹt, những chiếc liềm gặt cùn rỉ, những lưỡi dao phát hoang bị rạn nứt vì va phải rễ cây cổ thụ... chất thành từng đống nhỏ bên góc tường đá của lò rèn.

Nhìn đống nông cụ chất đống, Lâm Tú Nương khẽ chau mày lo lắng, sợ con trai vừa đi đường xa về mệt mỏi:

"Thanh nhi, để đó mẹ làm dần, con vào buồng nghỉ ngơi đi."

"Mẹ, con là con trai của thợ rèn mà," Lục Thanh cười rạng rỡ. "Mấy tháng nay trên núi chỉ biết quét dọn và luyện kiếm, tay chân con đang ngứa ngáy muốn cầm búa đây."

Lục Thanh cởi bỏ chiếc áo dài vải thô của đệ tử tông môn, thay vào chiếc áo cộc tay bằng vải gai đã bạc màu. Cậu quấn quanh hông chiếc tạp dề da trâu dày dặn mà cha để lại, xắn cao tay áo để lộ đôi cánh tay săn chắc, nổi rõ những đường cơ bắp rắn rỏi sau thời gian dài quét dọn Sân Lá Rụng và rèn giũa tại Hỏa Mạch Phường.

Chiều hôm ấy, Lục Thanh xắn tay áo nhóm lại bễ than, cùng mẹ sửa chữa hàng chục chiếc cuốc, dao rạn nứt bằng cách nương theo mạch kim loại và điều hòa lực búa ngũ hành.

"Phì phò... phì phò..."

Đôi tay Lục Thanh cầm lấy cần bễ bằng gỗ nghiến. Cậu không dùng sức mạnh cơ bắp thô thiển để kéo đẩy, mà bắt đầu vận chuyển nhịp thở "ba chẵn một lẻ" quen thuộc. Khí tức Thổ từ lòng bàn chân thẩm thấu qua huyệt Dũng Tuyền, mượn sức nặng của đất mẹ nâng đỡ thân thể; Mộc khí lưu chuyển qua lồng ngực làm mềm mại từng đường gân; Hỏa khí được ý niệm khơi gợi từ sâu trong Khí Hải, truyền dọc theo cánh tay rót thẳng vào bầu than.

Ngọn lửa trong lò rèn Lục Ký bùng lên một sắc đỏ cam thuần khiết, không hề có khói đen mù mịt như thường lệ. Nhiệt lượng tỏa ra êm dịu, bao bọc lấy từng thanh nông cụ mà không làm cháy xém bề mặt. Than củi đỏ hồng lách tách, ánh sáng ấm áp lan tỏa khắp gian xưởng nhỏ, xua tan cái lạnh ẩm ướt của vách đất mùa thu.

"Keng... keng... cắc..."

Lục Thanh nhấc chiếc búa tạ ba mươi cân bằng tay phải, tay trái dùng kẹp sắt giữ chặt một chiếc lưỡi cuốc bị nứt dọc một đường dài ba tấc. Đôi mắt cậu sáng lên, thính giác thợ rèn cực kỳ nhạy bén lắng nghe tiếng kim loại cất lên khi than hồng tôi luyện nó.

Cậu không vội vã đập mạnh để ép hai mép nứt dính vào nhau. Trong mắt Lục Thanh lúc này, cấu trúc bên trong của thanh sắt hiện lên vô cùng rõ ràng thông qua rung động của âm thanh: chỗ nào kim loại bị xơ cứng, chỗ nào bọt khí dồn ứ tạo thành điểm nghẽn áp lực.

Trước đây, khi chưa tu luyện ngũ hành, cậu chỉ biết dùng sức dồn đập mù quáng, khiến sắt thép dù liền lại bề ngoài nhưng bên trong thớ thép đã gãy vụn. Giờ đây, sau khi vượt qua khảo nghiệm Kính Hồ, tâm cậu phẳng lặng như gương nước mùa thu, hoàn toàn thấu suốt từng đường gân thớ thịt của vật liệu.

"Ba chẵn một lẻ, đặt búa góc ba mươi độ."

Mỗi nhát búa hạ xuống, Lục Thanh khéo léo dẫn một luồng Canh Kim nhu hòa dung hợp với Thổ linh khí, nương theo mạch thớ kim loại tự nhiên mà nắn chỉnh. Nhát thứ nhất ép phẳng gờ nứt; nhát thứ hai khai thông dòng chảy của tạp chất; nhát thứ ba dàn đều ứng lực sang hai bên rìa; và nhát búa thứ tư khẽ nghiêng một góc vát, tán lực xung chấn triệt tiêu hoàn toàn đường nứt ngầm bên trong.

"Coong... coong... coong... cắc!"

Tiếng búa ngân vang trầm bổng như một khúc nhạc lao động nhịp nhàng. Không hề có tia lửa bắn tung tóe mù mịt làm hư hại mặt thép, chỉ có một vầng sáng đỏ nhạt lan tỏa đều đặn dọc theo sống cuốc.

Đứng bên kia đe, Lâm Tú Nương thoạt đầu định cầm búa phụ gõ nhịp dẫn đường cho con, nhưng khi nhìn thấy từng nhát búa của Lục Thanh giáng xuống, bàn tay bà khẽ buông lỏng chiếc búa nhỏ. Đôi mắt người mẹ ánh lên sự kinh ngạc lẫn xúc động khôn nguôi.

Bà là người cả đời sống bên đe búa, dù không tu luyện linh lực nhưng bà hiểu nghề hơn bất kỳ ai. Nhịp búa của Lục Thanh lúc này vừa mang nét trầm hậu, kiên trì của cha cậu năm xưa, lại vừa có sự linh hoạt, khoáng đạt và chuẩn xác đến kỳ lạ. Đó không phải là nhịp búa đè nén sắt thép bằng sức mạnh hung bạo, mà là nhịp búa lắng nghe, nâng đỡ và chữa lành cho từng thỏi sắt.

Bà nhận ra con trai mình không đơn thuần là đang sửa chữa đồ vật; cậu đang dùng tấm lòng bao dung và sự thấu hiểu sâu sắc để hòa giải những xung đột bên trong từng thớ kim loại thô ráp.

Bác Ba thợ mộc đứng xem bên ngoài ngạc nhiên thốt lên:

"Kỳ lạ thật đấy! Con dao rựa của tôi mẻ đến tận sống dao, đem qua lò rèn phố đông người ta bảo phải vứt đi đúc lại, thế mà thằng Thanh chỉ gõ có mươi búa, tra vào chậu nước tro một cái là lưỡi dao lại liền khít như chưa từng nứt vỡ! Thép còn xanh biếc như mắt mèo nữa chứ!"

"Chẳng những liền lại mà cầm lên nhẹ bẫng, vung thử nghe tiếng gió rít êm ru!" Một người thợ săn trong làng cầm lấy chiếc mũi giáo vừa được Lục Thanh sửa lại, ngắm nghía dưới ánh chiều tà, không ngớt lời trầm trồ thán phục.

Lục Thanh mỉm cười, lau mồ hôi lấm tấm trên trán. Cậu cảm nhận rõ ràng năm luồng linh khí trong cơ thể mình đang chuyển động vô cùng hài hòa. Việc sửa chữa những nông cụ rỉ sét cho bà con lối xóm không hề làm hao tổn linh lực, ngược lại, mỗi lần cứu vãn một vật dụng khỏi cảnh vứt bỏ, mỗi lần dung hòa ngũ hành để phục vụ cho đời sống lao động chân chính, đạo tâm của cậu lại càng thêm sáng rõ, vững vàng.

Những mối hàn kim loại gắn kết lại cũng giống như những khúc mắc trong lòng người được tháo gỡ. Cậu nhận ra kiếm đạo hay khí đạo, rốt cuộc cũng không tách rời khỏi cuộc sống trần thế này.

Mặt trời lặn sau rặng tre đằng tây, rải xuống mặt đất những vệt ráng đỏ rực rỡ. Hơn ba mươi món nông cụ đều đã được sửa chữa hoàn tất, xếp ngay ngắn thành từng hàng dài bóng loáng bên hiên nhà. Bà con trong trấn rối rít cảm ơn, người gửi biếu nải chuối tiêu chín thơm, người mang cho rổ trứng gà mới đẻ, người lại dúi vào tay mẹ con mấy củ khoai mật nướng thơm lừng. Góc sân nhỏ rộn rã tiếng cười nói chân tình, ấm áp tình làng nghĩa xóm cho tới khi bóng tối buông xuống.

***

Đêm xuống, Trấn Thanh Khê chìm vào tĩnh mịch. Tiếng dế mèn rỉ rả dưới chân bờ tường đá hoa cương hòa cùng tiếng gió xào xạc qua tán lá giàn mướp bên ngoài hiên. Dòng suối nhỏ chảy qua mé đồi rì rào khúc ca muôn thuở của núi rừng.

Trong gian nhà chính, ngọn đèn dầu lạc tỏa ra ánh sáng vàng vọt, ấm áp, hắt bóng hai mẹ con lên vách đất trát rơm. Lâm Tú Nương ngồi trên phản gỗ, nhìn Lục Thanh đang cẩn thận dùng giẻ mềm lau chùi từng chiếc đục, chiếc búa cũ của cha treo trên vách.

Ánh mắt bà nhìn vào bóng lưng của con trai, trong lòng cuộn trào biết bao suy nghĩ. Đứa trẻ ngày nào còn lẫm chẫm đi theo cha nhặt từng mẩu quặng vụn dưới gầm lò, nay đã sừng sững trưởng thành, phong thái điềm tĩnh vững chãi như một cây tùng mọc trên vách đá. Đã đến lúc bà phải làm trọn lời hứa năm xưa với người đã khuất.

Đêm xuống bên ngọn đèn dầu, Lâm Tú Nương mang ra chiếc hòm gỗ khóa kín dưới gậm phản, trao tận tay Lục Thanh cuốn sổ tay bọc da trâu đã ố vàng của Lục Viễn Sơn.

Bà cúi người xuống gậm phản, lôi ra một chiếc hòm gỗ nghiến đã lên nước đen bóng, bốn góc bọc đồng hoen rỉ. Lớp bụi mỏng phủ trên nắp hòm bay lên nhè nhẹ trong ánh đèn dầu. Chiếc hòm được khóa bằng một ổ khóa đồng trơn nhẵn mang hình chiếc búa đan cành trúc—biểu tượng quen thuộc của thợ rèn Lục Ký.

"Cạch."

Tiếng then khóa bật mở giòn giã trong đêm vắng. Lâm Tú Nương chậm rãi mở nắp hòm. Bên trong không có vàng bạc châu báu, chỉ có vài bộ quần áo cũ sờn gấp ngay ngắn, một chiếc túi vải thô đựng những mảnh đá quặng đủ màu sắc, và đặt trang trọng ở vị trí trên cùng là một cuốn sổ tay dày cộp.

Bìa cuốn sổ bọc bằng da trâu rừng thuộc kỹ, mép da đã sờn rách và ố vàng theo năm tháng, vương vất mùi dầu trẩu và bụi than đặc trưng.

Lâm Tú Nương nâng cuốn sổ bằng cả hai tay, ánh mắt nhìn nó đầy phức tạp—có nỗi đau xót, có sự hoài niệm, và cả sự giải thoát sau bao năm tháng kìm nén:

"Thanh nhi, cầm lấy đi con."

Lục Thanh bước lại gần, hai tay cung kính đón lấy cuốn sổ từ tay mẹ. Cậu cảm nhận được sức nặng vô hình từ vật phẩm này. Bìa da trâu thô ráp chạm vào đầu ngón tay cậu, lạnh buốt nhưng lại khiến nửa đoạn kiếm Tâm Minh Thiết bên hông cậu khẽ rùng mình một nhịp trầm buồn. Một sợi dây liên kết mỏng manh dường như vừa được nối lại giữa quá khứ và hiện tại.

"Năm xưa, trước khi nhắm mắt xuôi tay," giọng Lâm Tú Nương chùng xuống, nghẹn ngào như tiếng thở dài từ quá khứ vọng về, "cha con nắm chặt tay mẹ, dặn rằng chỉ khi nào con thực sự hiểu được thế nào là cầm búa, hiểu được giá trị của việc dừng đòn và không còn mơ mộng viển vông về những điều vượt quá tâm tính của mình, mẹ mới được phép trao cuốn sổ này cho con. Mẹ đã giữ nó suốt sáu năm qua dưới đáy hòm này... Hôm nay, nhìn con gõ búa ngoài sân, mẹ biết, con đã trưởng thành hơn cả cha con năm ấy rồi."

Lục Thanh ngồi xuống mép phản, dưới ánh đèn dầu leo lét, ngón tay cậu khẽ run lên khi lật mở trang bìa đầu tiên. Mùi giấy mục quyện với mùi mực nho xông vào cánh mũi, mang theo toàn bộ hơi thở của một thời dĩ vãng bi tráng.

Nét chữ quen thuộc hiện ra trước mắt. Đó là nét chữ góc cạnh, cứng cáp như vết đục sắt của người cha mà cậu luôn tôn kính và tôn sùng như một tượng đài bất khả chiến bại. Trong ký ức tuổi thơ của Lục Thanh, Lục Viễn Sơn luôn là người thợ rèn vĩ đại nhất, một bóng hình cao lớn không bao giờ gục ngã, người có thể thuần hóa bất kỳ thỏi kim loại cứng đầu nào trên cõi đời này.

Lật từng trang nhật ký của người cha quá cố, Lục Thanh bàng hoàng nhận ra sự thật: năm xưa Lục Viễn Sơn từng vì ham muốn chế tác một thanh thần binh vang danh thiên hạ mà dồn hết chấp niệm vào Tâm Minh Thiết, dẫn khí sai cách khiến căn cơ suy sụp.

Từng dòng chữ, từng trang giấy như tái hiện lại toàn bộ tấn bi kịch của một thiên tài luyện khí hai mươi năm về trước:

*"Ngày mười lăm tháng bảy...* *Tông môn Kiếm Đường lại gửi trả bản vẽ lò ngũ hành. Bọn họ bảo kẻ mang ngũ hành tạp linh căn như ta chỉ xứng làm thợ rèn quặng vụn, vĩnh viễn không thể chạm tới đỉnh cao của Đạo luyện khí. Bọn họ cười nhạo tạp linh căn là phế vật, bảo rằng không có linh căn tinh thuần thì không thể ngự hỏa, không thể dẫn khí thuần khiết.* *Ta không phục! Ta nhất định phải đúc nên một thanh thần binh có một không hai. Ta muốn dùng Tâm Minh Thiết—thứ kim loại thần kỳ nhất thế gian—để chứng minh cho toàn thể giới tu chân thấy rằng ngũ hành tạp linh căn có thể dung hòa vạn vật, có thể tạo ra kỳ tích vượt xa đơn linh căn của đám đệ tử thế gia kiêu ngạo!"*

Ánh mắt Lục Thanh run rẩy dán chặt vào trang giấy. Từng câu chữ tràn ngập phẫn uất và kiêu hãnh ngút trời. Cậu như nhìn thấy hình ảnh người cha trẻ tuổi năm xưa đang nghiến răng đứng trước cửa Kiếm Đường, hai tay siết chặt bản vẽ bị vò nát dưới chân những kẻ quyền thế.

Cậu nín thở đọc tiếp. Những trang sau, nét mực bắt đầu trở nên run rẩy, nguệch ngoạc và hỗn loạn:

*"Ngày mùng chín tháng chín...* *Thất bại lần thứ mười bảy. Ngũ hành linh khí trong lò xung khắc dữ dội. Canh Kim quá sắc làm đứt Thổ mạch, Ly Hỏa quá vãng thiêu cháy chân Mộc. Tâm Minh Thiết cự tuyệt tiếp nhận linh lực hỗn loạn của ta.* *Không được, thời gian không còn nhiều. Kỳ đại hội Bách Luyện sắp diễn ra, ta không thể để bọn họ tiếp tục coi thường Lục Viễn Sơn này! Nếu trận pháp địa hỏa không đủ mạnh, ta sẽ dùng chính cơ thể này làm vật dẫn khí. Dẫn trực tiếp ngũ hành địa mạch qua huyệt Khí Hải, ép chúng dung hợp trên thân kiếm..."*

Đọc đến đây, bàn tay Lục Thanh run bần bật. Cậu nhớ lại lời Hàn Dung từng nói trong đêm mưa ở Hỏa Mạch Phường, nhớ lại vết thương kinh mạch rách toác tại huyệt Đản Trung của chính mình cách đây không lâu khi cố gắng ép buộc ngũ hành vận chuyển. Thì ra người cha mà cậu hằng tôn thờ, người mà cậu luôn cho rằng bị bệnh phong hàn qua đời, thực chất đã tự hủy hoại bản thân trong cơn cuồng nộ của lòng hiếu thắng!

*"Ngày hai mươi mốt tháng mười...* *Kinh mạch toàn thân ta rách toác. Huyệt Đản Trung sụp đổ, linh lực ngũ hành cắn trả điên cuồng như lũ dữ phá đê. Máu... máu tràn ngập đan điền. Ta ho ra máu đen, tu vi Trúc Cơ tiêu tán trong chớp mắt.* *Nhưng kiếm... kiếm đã thành hình! Thanh kiếm ngũ sắc rực rỡ, tỏa ra ánh sáng chói lòa cả gian xưởng Bách Luyện. Mọi người đều kinh ngạc thán phục, gọi nó là thần binh nghịch thiên..."*

Lục Thanh lật vội sang trang tiếp theo. Bức tranh huy hoàng về thanh thần binh bỗng nhiên đứt đoạn bằng một vệt máu khô đen thẫm loang lổ trên mặt giấy ráp.

Khi nhận ra thanh kiếm đang phản chiếu chính tham vọng mù quáng của mình, Lục Viễn Sơn đã tự tay bẻ gãy nó và dặn dò trong trang cuối: tuyệt đối không được phục chế hình dạng cũ, bởi kẻ kế thừa thực sự phải biết buông bỏ chấp niệm của tiền nhân.

Những dòng nhật ký cuối cùng được viết bằng nét bút chậm rãi, nặng trĩu nỗi đau đớn nhưng lại toát lên sự tỉnh ngộ muộn màng đến thắt lòng:

*"Ta đã sai rồi.* *Khi ta cầm thanh kiếm vừa hoàn thành lên tay, Tâm Minh Thiết không hề phát ra tiếng kiếm ngân ấm áp như trong truyền thuyết. Nó bốc cháy! Ngọn lửa vô hình thiêu đốt linh hồn ta, truyền vào tâm trí ta toàn là sự oán hận, cay đắng, lòng đố kỵ và khát vọng hư danh điên cuồng.* *Thanh kiếm không phải là thần binh hộ đạo. Nó chỉ là một chiếc gương quỷ quái phản chiếu toàn bộ tâm ma xấu xí, mục ruỗng của ta. Ta rèn nó không phải để bảo vệ ai, không phải để thấu hiểu vạn vật, mà chỉ để thỏa mãn thói kiêu ngạo muốn giẫm đạp lên định kiến của người khác.* *Một thanh kiếm đúc từ chấp niệm và lòng hận thù, một khi xuất thế, sẽ chỉ mang lại tai ương và hủy diệt cho người cầm nó.* *Ta đã tự tay vung chiếc búa tạ bách luyện, đập gãy thanh kiếm làm đôi ngay trên đe rèn của Công Hội Bách Luyện trước sự bàng hoàng của tất cả mọi người. Mũi kiếm gãy rơi xuống, ta xin niêm phong nó lại nơi kho tối.* *Thanh nhi, con trai của ta...* *Nếu một ngày nào đó con cầm nửa đoạn kiếm còn lại và đọc được cuốn sổ này, hãy nhớ kỹ lời trăn trối của một người cha thất bại: Tuyệt đối không bao giờ được phục chế lại hình dạng cũ của nó! Tuyệt đối không được cố gắng chắp vá lại thanh kiếm mang đầy chấp niệm sai lầm này! Kẻ kế thừa thực sự của Lục gia không phải là kẻ đi nhặt lại đống tro tàn của quá khứ, mà phải là người biết buông bỏ chấp niệm của tiền nhân để tự rèn nên con đường của chính mình..."*

Căn phòng chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn tiếng tim đập thình thịch trong lồng ngực Lục Thanh và tiếng bấc đèn thỉnh thoảng nổ lép bép.

Lục Thanh lật đến trang cuối cùng của cuốn sổ.

Đập vào mắt cậu là một bản vẽ chi tiết đến từng thớ thép. Đó là hình vẽ cấu tạo của thanh kiếm Tâm Minh Thiết nguyên bản, nhưng trên thân kiếm có đánh dấu một đường cắt chéo sắc lẹm kèm theo ghi chú: *"Vị trí xả áp lực ngũ hành — Điểm gãy tất yếu khi tâm ma bùng phát"*.

Đầu ngón tay Lục Thanh khẽ run lên. Cậu rút nửa đoạn kiếm gãy bên hông ra khỏi lớp vải bố thô, đặt cạnh trang giấy.

Vết rạn nứt lởm chởm trên sống kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết trùng khớp hoàn toàn, không sai một ly một hào với sơ đồ giải tỏa áp lực mà cha cậu đã vẽ trong sổ tay!

Năm xưa, Lục Viễn Sơn không phải vô tình đập gãy kiếm trong cơn điên loạn, mà ông đã tính toán chính xác điểm nút chịu lực yếu nhất để giáng nhát búa dứt khoát giải thoát cho thanh kiếm, dập tắt ngọn lửa tâm ma trước khi nó kịp nuốt chửng bản thân và gia đình. Nhát búa ấy không phải là sự hủy diệt trong tuyệt vọng, mà là hành động cứu chuộc vĩ đại nhất của một người thợ rèn chân chính!

Bức màn bí ẩn bao năm tan biến; Lục Thanh rơi nước mắt nhưng trong lòng nhẹ nhõm vô cùng, hoàn toàn thoát khỏi cái bóng lý tưởng hóa về người cha.

Những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má Lục Thanh, rơi tí tách xuống trang giấy ố vàng của cuốn sổ da trâu.

Bao năm qua, từ khi còn là một đứa trẻ mồ côi cha ở Trấn Thanh Khê, cậu luôn mang trong mình một gánh nặng vô hình: Cậu phải tu tiên, phải chứng minh linh căn tạp loại của mình không thua kém ai, phải tìm lại mảnh kiếm thất lạc để phục dựng lại vinh quang cho người cha vĩ đại đã khuất. Cậu đã vô thức biến Lục Viễn Sơn thành một tượng đài hoàn mỹ không tì vết, và tự biến bản thân thành một cái bóng tội nghiệp cố gắng đuổi theo ảo ảnh ấy. Cậu từng nghĩ rằng sứ mệnh cả đời mình là phải hàn gắn lại thanh kiếm ngũ sắc kia để rửa sạch mối nhục năm xưa cho dòng họ.

Nhưng giờ đây, sự thật trần trụi đã phơi bày.

Cha cậu không phải thần thánh. Ông chỉ là một con người bằng xương bằng thịt, mang trong mình những ước mơ cháy bỏng nhưng cũng từng vấp ngã thảm hại trước lòng tham và chấp niệm hư danh. Và hành động vĩ đại nhất, dũng cảm nhất trong cuộc đời của Lục Viễn Sơn không phải là việc rèn nên thanh thần binh ngũ sắc, mà chính là khoảnh khắc ông biết dừng búa, tự tay đập gãy thành quả cả đời mình để không biến nó thành một thanh tà kiếm gieo rắc tai ương.

Một tiếng thở phào nhẹ nhõm từ sâu thẳm linh hồn Lục Thanh trút ra. Cậu cảm thấy toàn bộ những xiềng xích vô hình trói buộc tâm trí mình bấy lâu nay bỗng chốc tan biến thành mây khói. Tảng đá ngàn cân đè nặng trên ngực cậu từ thuở ấu thơ nay đã hoàn toàn hóa thành cát bụi. Cậu không còn phải sống vì chấp niệm của cha, không còn phải gồng mình để trở thành bản sao của một quá khứ đầy bi kịch.

"Ong..."

Trên mặt bàn gỗ, nửa đoạn kiếm gãy bằng Tâm Minh Thiết bỗng phát ra một tiếng kiếm ngân trong trẻo, trầm hùng và êm ả lạ thường.

Không còn ngọn lửa thiêu đốt rát bỏng của sự phẫn uất, không còn hàn khí cự tuyệt băng giá của nỗi cô độc, vầng sáng hoàng kim thuần khiết từ thân kiếm tỏa ra, dịu dàng bao bọc lấy hai bàn tay của Lục Thanh. Ánh sáng ấy ấm áp như hơi thở của đất mẹ, hòa hợp hoàn toàn với nhịp đập từ Khí Hải của cậu. Đoạn kiếm gãy dường như cũng đang thở phào nhẹ nhõm, vui mừng vì cuối cùng đã tìm thấy một người chủ nhân thấu hiểu nó chứ không phải muốn lợi dụng nó để tranh danh đoạt lợi.

Lâm Tú Nương ngồi bên cạnh, nhìn thấy ánh sáng ấy, khẽ đưa tay áo lau giọt nước mắt nơi khóe mắt, mỉm cười dịu dàng:

"Cha con năm xưa trước khi rời khỏi Công Hội Bách Luyện, đã gửi gắm nửa mảnh kiếm còn lại tại kho lưu trữ của phân đà Bách Luyện ngay dưới phiên trấn này. Ông ấy bảo, nếu có một ngày con trai ông ấy có thể bình thản đối diện với sai lầm của cha mình mà không oán trách, không mù quáng noi theo, thì lúc đó con mới đủ tư cách bước vào cánh cổng ấy để nhận lại nó."

Lục Thanh ngẩng đầu lên, ánh mắt trong veo như làn nước suối mùa thu, nhìn mẹ rồi nhìn ra khung cửa sổ mở rộng, nơi vầng trăng rằm đang tỏa ánh sáng vằng vặc xuống mái ngói lò rèn cũ:

"Con hiểu rồi mẹ. Con sẽ không bao giờ hàn gắn lại thanh kiếm cũ của cha nữa."

Cậu nâng nửa đoạn kiếm gãy lên, ngón tay nhẹ nhàng vuốt dọc theo vết đứt gãy gồ ghề, giọng nói tuy nhỏ nhưng kiên định như đá tảng ngàn năm:

"Con sẽ dùng kiếm tâm của chính mình, rèn nên một thanh kiếm hoàn toàn mới—một thanh kiếm biết dừng lại để chở che, biết mở đường sống cho những người đồng hành, chứ tuyệt đối không phải một thanh kiếm để tranh đoạt hư danh thiên hạ."

Lâm Tú Nương gật đầu, nụ cười trên môi bà rạng rỡ và an lòng hơn bao giờ hết. Bà với tay gạt tàn bấc đèn, để ngọn lửa cháy êm dịu soi sáng hai mẹ con.

Đêm ấy, Lục Thanh ngủ một giấc thật sâu bên gian buồng cũ. Mùi rơm rạ khô ráo, mùi chiếu cói thân thuộc và tiếng thở đều đặn của mẹ ở gian ngoài đưa cậu vào giấc ngủ bình yên nhất kể từ ngày bước chân lên núi Vân Phong. Không mộng mị, không tâm ma quấy rầy, không còn ảo ảnh của Kính Hồ hay tiếng kiếm kích gầm rú. Tiếng bễ lò rèn trong tâm tưởng của cậu đã hoàn toàn hòa làm một với nhịp thở của trời đất bao la.

***

Sáng hôm sau, khi những tia nắng ấm áp đầu tiên chiếu rọi qua màn sương sớm của Trấn Thanh Khê, Lục Thanh đứng trước gương chỉnh đốn lại y phục.

Bộ đạo bào màu lam giản dị của đệ tử tạp dịch được giặt sạch sẽ, phảng phất hương thơm ngai ngái của nắng sớm. Cậu buộc lại dải tóc bằng dây vải gai mộc mạc, chỉnh lại đai lưng ngay ngắn. Bên trong túi áo ngực của cậu, phong thư niêm phong sáp đỏ tùng bách mà Tạ Minh Uyên trao tặng nằm ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ da trâu của cha. Nửa đoạn kiếm Tâm Minh Thiết được cậu thắt cẩn thận bên hông, lặng lẽ và trầm tĩnh như một người bạn tri kỷ đồng hành.

Từ biệt mẹ bên hiên lò rèn Lục Ký, Lục Thanh sải từng bước chân vững chãi hướng về phía trung tâm thị trấn, nơi dòng người buôn bán đang tấp nập đổ về phiên chợ sáng.

Lâm Tú Nương đứng tựa cửa nhìn theo bóng con trai khuất dần sau khúc quanh ngõ đá. Lần này, trong mắt bà không còn sự lo lắng thấp thỏm của ngày tiễn con lên núi thi tuyển, mà chỉ có niềm tin tưởng tuyệt đối vào người con trai đã thực sự làm chủ được tâm tính của chính mình.

Con đường đá dẫn ra chợ phiên ngập tràn sức sống buổi bình minh. Những gánh hàng hoa tươi còn đọng sương mai, những sạp bán gạo nếp mới thơm lừng, tiếng ngã giá râm ran của các bà, các chị hòa cùng tiếng bước chân rộn rã. Lục Thanh bước đi khoan thai giữa dòng người tấp nập. Cậu không hề tỏa ra chút uy áp tu sĩ nào, nhưng dáng điệu ung dung, ánh mắt trong sáng và khí tức tường hòa khiến người đi đường bất giác dạt sang hai bên nhường lối với vẻ kính trọng tự nhiên.

Qua khỏi ngã tư sầm uất ngập tràn tiếng rao hàng của các quầy dược thảo và tiệm nông cụ, Cánh cổng đồng của phân đà Công Hội Bách Luyện hiện ra sừng sững ở khu chợ đông đúc dưới chân trấn.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories