Kiếm Cốt Dưới Tro — Phần 1: Cửa Trời Không Có TiênCh.1 / 40
Chapter 1

Ngày người ta gọi là lành

Khói than đá nồng nặc quyện với mùi tro tanh xộc thẳng vào sống mũi Ninh Chiêu khi cô kéo bễ lò rèn lúc rạng đông, trong ngày mà khắp hang cùng ngõ hẻm của trấn Lò Khê đều giăng đèn kết hoa, rập rình chiêng trống gọi là ngày lành đại lễ.

Dưới mái hiên ám muội đen kịt như phủ hắc ín của xưởng Lò Ninh, những dải lụa đỏ treo đón mừng lễ phi thăng phất phơ trước từng đợt gió bấc khô khốc. Lụa mới giăng từ chập tối hôm qua, vậy mà đến canh năm đã phủ kín một lớp bụi xám mỏng mảnh, trơn nhẫy và bám chặt như vảy cá chết. Trời vẫn chưa chịu tỏ hẳn. Rặng núi Lạc Hạc phía xa chỉ là một vệt bóng đen trập trùng, nham nhở như hàm răng thú dữ ngoạm ngang bầu trời màu chì đục. Gió luồn qua các khe nứt của vách đá dựng đứng, mang theo tiếng rít trầm đục của hơi đất cằn cỗi và mùi kim khí khét lẹt quen thuộc của một thung lũng sống bằng nghề nung sắt, luyện phôi.

Nhưng từ lúc canh tư gõ điểm, khi sương mù còn quánh đặc trong các rãnh thoát nước ngập ngụa xỉ than, tiếng đe sắt của Ninh Chiêu đã gõ nhịp đều đặn. Âm thanh khô giòn vang dội khắp con ngõ đá lầy lội tro tàn, đập vào những vách tường đất nứt nẻ rồi dội ngược lại, trầm uất và dai dẳng.

*Cang. Cang. Cắc.*

Cổ tay Ninh Chiêu dẻo quẹt, chiếc búa tay nặng năm cân vung lên không bao giờ quá tầm mắt nhưng nhát hạ xuống lại đầm, dứt khoát và găm đúng tim lực vào thớ thép. Cô năm nay hai mươi tám tuổi, vóc người cao ráo, bờ vai nở nang vững chãi, hai cánh tay trần nổi rõ những sợi gân xanh chằng chịt dưới lớp da sạm đen vì lửa than, váng dầu tôi và bụi quặng. Chiếc tạp dề da bò dày cộp quấn ngang hông đã mòn vẹt ở mép đùi phải, trơ cả lớp da lộn nham nhở—đó là chỗ cô tì chiếc kìm sắt mỏ quạ mỗi khi gò chuôi kiếm.

Trước mặt cô, nằm ngay ngắn trên mặt đe thép đã bị xói lõm một góc tròn sau mấy mươi năm va đập, là lưỡi gươm hộ lễ thứ mười hai của đoàn nghi trượng thuộc Thanh Lư Tông. Thanh gươm dài ba thước hai tấc, lưỡi kiếm rèn bằng thép mạ bạc sáng loáng, trên sống gươm chạm trổ hoa văn phù vân cuộn sóng cầu kỳ đến mức diêm dúa. Nhưng phần gờ chắn ngang và họng chuôi lại rơ rạo rực, lỏng lẻo đến nực cười.

Đám đệ tử chấp sự ngoại viện của phủ Quan Tế chỉ thích những lưỡi gươm sáng rực rỡ để rước lễ qua các dãy phố đông người, chỉ cần ánh mặt trời hắt vào thân kiếm lóa mắt đám thị dân là đủ. Chẳng một ai trong số bọn họ bận tâm xem cây chốt sắt giấu bên trong lớp bọc dây thắt màu lam đã bị ẩm mốc ăn mòn, rỉ sét gặm rỗng sau ba tháng mùa mưa dầm dề. Cầm một thanh gươm như thế bước đi thì đẹp mắt, nhưng chỉ cần vung mạnh một đường kiếm hay va quẹt nhẹ vào thành xe ngựa, lưỡi thép sẽ lập tức văng khỏi chuôi gỗ.

Ninh Chiêu dùng kẹp nhấc thanh sắt tán nung đỏ chói khỏi lòng lò. Màu lửa lúc này đỏ tươi như ráng chiều, vừa độ ngấu. Cô đặt thanh chốt chuẩn xác vào lỗ mộng xuyên qua gờ chắn kiếm, không chần chừ nửa khắc, giáng búa ba nhịp ngắn ngủi nhưng nặng nghìn cân. Đầu chốt sắt bẹt dí, miết phẳng lì, ép chặt lá chắn bằng đồng thau vào sống thép đặc.

Một tiếng *xèo* chói tai bùng lên khi cô nhúng ngập phần chuôi gác chốt vào máng nước làm nguội bằng đá xanh kê sát vách lò. Hơi nước hăng nồng xộc thẳng lên xà nhà, đẩy lớp mồ hôi đọng trên vầng trán rộng của Ninh Chiêu rỉ ra, chảy tràn qua gò má gầy guộc rồi rớt xuống cằm.

Cô lấy mảnh giẻ lau khô mặt kim loại còn âm ấm, ngón tay cái thô ráp, chai sần miết nhẹ qua gờ chắn vừa được gia cố. Mối tán phẳng phiu, khít khao như mọc liền từ một khối thép nguyên vẹn, không còn một tiếng rơ rão lách cách dù là nhỏ nhất.

Đối với Ninh Chiêu, một thanh kiếm dù được đúc ra để lấy mạng người ở chiến trường hay chỉ để mấy gã công tử khoác áo gấm cầm đi diễu hành dưới chân đài tế, hễ chuôi lỏng thì cũng chỉ là một khúc phế sắt bọc vải màu, không hơn không kém. Sự cẩu thả trong cấu trúc là thứ sỉ nhục đối với ngọn lửa của lò rèn.

"Ninh cô nương! Mở cổng! Mau mở cái cổng xưởng ra!"

Tiếng đập huỳnh huỵch vào cánh cổng gỗ nghiến dày ba tấc cắt ngang dòng suy nghĩ của cô. Tiếng đập thô bạo, không phải nhịp gõ lễ độ của người tới đặt hàng, mà là cái nện chan chát bằng cán roi da bọc đồng của kẻ nắm đằng chuôi mối làm ăn.

Ninh Chiêu không vội buông kẹp. Cô thong thả gác thanh gươm hộ lễ đã hoàn thiện lên giá gỗ lim ám khói, bước tới vặn nhỏ van gió của bễ thổi để giữ lại nhiệt cho mẻ than kíp đang đỏ sậm trong lòng lò, đoạn mới với lấy chiếc khăn gai quàng cổ lau vội hai bàn tay dính muội rồi bước ra tháo then cài cổng.

*Kẹt... xoạt.*

Cánh cửa vừa hé mở một khoảng hẹp, ngọn gió bấc gắt gỏng đã lập tức ùa vào xưởng, cuốn theo một vốc tro núi lạo xạo cọ rát mặt da. Đứng choán lấy ngõ đá hẹp là gã cai xe họ Mã thuộc phường vận tải Nam Trụ. Gã quấn quanh cổ một chiếc khăn lông dê rách bươm đã ngả sang màu xám mốc, hai hốc mắt sâu hoắm lèm nhèm bồ hóng. Phía sau gã, hai con la gầy trơ xương sườn đang thở phì phò từng luồng khói trắng, bốn vó chôn chặt trong lớp bùn nhão nhoét đầy vụn than. Trên lưng chúng thồ bốn sọt than đá đen nhánh, phủ lớp bạt rách đọng đầy sương muối và tro lạnh.

"Than chuyến này ba mươi hai đồng một thúng," Mã cai xe hất hàm, quẹt mũi bằng ống tay áo bết bát mỡ bò, giọng khè khè như tiếng bễ rách da bò lâu năm không tra mỡ. "Lấy thì dỡ hàng ngay cho ta còn quay đầu xe. Bằng không lấy thì bảo một câu, ta đánh xe sang xưởng Vũ Kha bên phố Đông. Bên đó người ta đang chực sẵn tiền tươi để tôi ba chục bộ giáp sắt cho đội tuần thành của nha môn, chậm nửa khắc là họ mắng té tát."

Ninh Chiêu tựa một bên vai săn chắc vào khung cửa gỗ nứt nẻ, ánh mắt cô không nhìn vào mặt gã cai xe mà dừng lại thật lâu ở bốn sọt than đen sẫm trên lưng hai con thú:

"Giao kèo từ đầu tháng ghi rõ ràng, than kíp loại một mỏ Thiết Lĩnh là hai mươi lăm đồng một thúng. Giấy biên nhận của tiệm than Nam Trụ có chữ ký của quản sự còn nằm dưới đáy hòm tiền trong nhà tôi kia kìa."

"Giao kèo nào mà tính được cảnh đường cấm đò nghẽn?" Gã cười khẩy, phả ra một luồng hơi nồng nặc mùi rượu đế rẻ tiền ngâm với rễ phụ tử. "Quan Tế ra lệnh thiết quân luật ba ngày đêm quanh khu vực thung lũng để phục vụ đại lễ Huyền Khuyết. Toàn bộ xe tải nặng qua đèo Thiết Lĩnh đều bị chốt chặn quân binh bắt dừng lại hết, nhường đường cho đoàn kiệu hoa của các vị trưởng lão và khách quý Thanh Lư Tông. Bọn ta phải dắt la lội đường mòn qua thung lũng Mặc Thủy, sụt bùn rụng mất hai con la khỏe dưới hố than lầy. Giá chỉ tăng ba phần mười là phường Nam Trụ đã nể tình ông cụ Ninh Trác năm xưa để lại cho xưởng Lò Ninh này lắm rồi đấy."

Ninh Chiêu không cãi một lời. Sự dông dài với phường buôn chuyến ở Lò Khê chỉ tổ rước thêm bực dọc. Cô bước qua bậc cửa đá, đi thẳng tới bên sọt than thứ hai của con la đi đầu. Không cần găng tay, cô thọc sâu bàn tay trần đầy vết sẹo bỏng vào tận đáy sọt than đen bóng.

Bàn tay cô lục lọi, bốc lên một nắm than kíp cỡ quả cau, nắm chặt lại trong lòng bàn tay một lúc rồi từ từ xòe ra dưới ánh sáng đùng đục của rạng đông.

Những cục than màu đen ánh kim loại nằm im lìm, nhưng ở đáy lòng bàn tay cô, lớp bụi đọng lại không phải muội than mịn màng khô ráo, mà là một lớp bột xám nhờ nhờ, dính dính như đất sét ướt đẫm nước ngầm.

Ninh Chiêu dùng đầu ngón tay cái và ngón trỏ bóp mạnh một mẩu than nhỏ. Mẩu than vỡ vụn quá dễ dàng, không có tiếng giòn đanh của khoáng chất già tuổi, để lộ ra cái lõi đá phiến màu gan gà bở bục ở bên trong.

"Mã thúc," giọng Ninh Chiêu hạ xuống rất thấp, chậm rãi, đều đều nhưng sắc và lạnh như mép dũa thép non. "Than kíp đèo Thiết Lĩnh ruột chắc như gang, khi cháy không có khói xanh, tàn tạ rơi xuống màu trắng ngà và gõ hai hòn vào nhau kêu leng keng như đồ đồng. Mớ than này là than mặt tầng nông vét ở mé sườn núi Lạc Hạc sau cơn mưa rào tuần trước. Bọn thúc lại còn trộn thêm ba phần đá phiến vụn ngâm nước bùn để tăng cân nặng dối lừa bàn cân."

Cô hất nắm than vụn trở lại sọt, phủi tay:

"Loại than non độn đá này mà đổ vào lò rèn kiếm, lửa vừa nhóm lên là xỉ hàn đã trào ra như bọt cháo. Nhiệt lượng lò không cách nào vượt qua nổi tám trăm độ, xỉ lẫn vào thớ sắt chỉ tổ làm giòn thép của khách. Thúc định biến xưởng Lò Ninh thành bãi phế liệu đấy à?"

Mã cai xe thoáng biến sắc, đôi lông mày lấm lem giật giật. Gã toan vươn tay giật dây cương con la định lảng đi, nhưng Ninh Chiêu đã sải bước chắn ngang lối ngõ hẹp. Thân hình cao lớn và khí thế trầm mặc của người phụ nữ quanh năm đứng trước ngọn lửa ngàn độ khiến gã thối lui nửa bước.

"Đường đèo Thiết Lĩnh cấm xe tải nặng từ trưa hôm qua," Ninh Chiêu nhìn thẳng vào mắt gã, giọng không gắt gỏng nhưng từng lời ghim chặt vào không gian ẩm ướt. "Nhưng chuyến than tạp này thúc đã đánh xe vào bãi than Nam Trụ ở bờ sông từ ba hôm trước rồi. Thúc ém than non ở kho ẩm, chờ đúng ngày đại lễ Huyền Khuyết phong tỏa các nẻo đường mới đem đi ép giá các xưởng rèn nhỏ trong ngõ cụt. Có cần tôi gõ chiêng mời quản sự Đỗ Tuyên sang đây, cùng lật sổ đối chiếu xem mớ than bùn này xuất từ cái kho nào của phường không?"

Cái tên Đỗ Tuyên thốt ra như một gáo nước lạnh tạt vào mặt gã cai xe.

Ở cái trấn Lò Khê ngột ngạt này, ai mà chẳng biết quản sự Đỗ Tuyên là cháu ruột của Quan Tế Đỗ Kính—người nắm giữ quyền sinh sát tối cao đối với toàn bộ huyết mạch vận tải than đá, quặng sắt và phân phối vật tư của cả vùng Hạ Lĩnh. Bớt xén hay tuồn than vụn cho thợ rèn nhỏ vốn là ngón nghề kiếm chác của đám cai xe mạt hạng, nhưng nếu để chuyện gian lận chủng loại than vỡ lở, làm chậm trễ tiến độ tu bổ nghi trượng hay vũ bị ngay trước giờ đại lễ khai mở cửa trời, Đỗ Tuyên sẽ chẳng ngại ngần lột da gã để làm gương cho phường thợ.

Mã cai xe nghiến răng ken két, quai hàm bạnh ra, ánh mắt hậm hực trừng trừng nhìn người nữ thợ rèn:

"Được... coi như con nha đầu nhà họ Ninh mắt cú vọ! Hai mươi lăm đồng. Tự dỡ lấy mà dùng! Ta không rảnh tay hầu cô!"

"Trừ thêm hai đồng tiền hao hụt đá vụn và công ngồi sàng than," Ninh Chiêu thọc tay vào túi tạp dề, móc ra một chuỗi tiền đồng xỏ bằng sợi dây gai đã sờn, đập gọn ghẽ vào lòng bàn tay dính đầy muội than của gã. "Còn hai mươi ba đồng. Đặt hai sọt vào góc buồng thổi, hai sọt để ngoài hiên che bạt cẩn thận cho tôi. Rơi vãi một hòn đá phiến ra ngõ, tôi trừ tiếp tiền vào chuyến than tháng sau."

Nhìn cái bóng còng queo của gã cai xe hậm hực khuân từng sọt than nặng trịch vào góc xưởng, khóe môi Ninh Chiêu không hề gợn một nét cười đắc thắng.

Cô quay lưng nhìn đống phôi thép nằm chỏng chơ trong góc tối. Sự sòng phẳng cay đắng này thực chất chỉ mua được một mẻ than tạm bợ, chứa đầy rủi ro. Ách thống trị của mạng lưới vận tải Nam Trụ và bàn tay sắt của phủ Quan Tế đang siết chặt từng ngày lên cổ họng những người thợ rèn độc lập như cô. Từng thúng than đá, từng cân phôi thép, thậm chí từng gáo nước suối dẫn từ khe núi xuống máng rèn đều bị đong đếm, áp thuế và kiểm soát đến nghẹt thở. Nếu không có những chuyến hàng sửa chữa vụn vặt cho đám đệ tử ngoại môn, xưởng Lò Ninh có lẽ đã phải tắt lửa như hàng chục xưởng rèn khác ở ven sông.

Sau khi gã cai xe dắt la đi khuất, để lại những vệt bánh xe lầy lội tro than trên nền ngõ hẹp, Ninh Chiêu cài chặt then cổng lại. Cô bước đến bên chậu nước bằng gốm thô, rửa qua bàn tay đen nhẻm vào dòng nước lạnh buốt thấu xương. Lau khô tay vào vạt áo, cô vén tấm rèm vải gai rách, bước sang gian chái nhỏ nằm nép mình phía sau buồng lò chính.

Căn phòng chật chội, thiếu ánh sáng mặt trời quánh đặc một mùi lá thuốc khô héo quyện với mùi tro ẩm mốc bốc lên từ các kẽ vách đất. Trên chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách gỗ mục, một bóng người gầy guộc như que củi cuộn tròn dưới lớp chăn bông chắp vá nhiều mảnh. Tiếng ho rũ rượi, khùng khục như có mảnh sành cứa nát trong cuống họng phát ra từng chặp ngắn ngủi, nghe nghẹn ứ và đau đớn.

Đó là Lão Cát. Người thợ cả duy nhất còn sót lại từ thời cha cô—Ninh Trác—còn cai quản và làm rạng danh cái tên Lò Ninh khắp vùng Hạ Lĩnh. Bốn mươi năm hít thở thứ tro khoáng sắc lẹm và khói than đá độc địa của Lò Khê đã biến hai lá phổi của ông lão thành hai bọc xơ cứng quắt queo. Người ta gọi đó là bệnh ho tro—bản án tử hình vô hình nhưng chuẩn xác như thước đo, treo lơ lửng trên đầu mọi thợ rèn, phu mỏ quặng và những kẻ quét dọn xỉ than ở cái thung lũng chết tiệt này.

Ninh Chiêu ngồi xuống mép chõng tre kêu cót két, luồn tay vào ngực áo lấy ra một gói giấy dầu nhỏ. Cô mở gói thuốc, để lộ thứ bột màu nâu nhạt mịn màng, tỏa ra mùi the mát dìu dịu của bạc hà và vị đắng ngọt của rễ bách hợp phơi sương.

"Cát thúc, dậy uống thuốc đã."

Lão Cát khó nhọc chống hai cánh tay khẳng khiu xuống mặt chõng để gượng ngồi dậy. Đôi mắt lão đục ngầu, mờ đục như mắt cá ươn, hai hốc mắt hõm sâu hoắm vào khung xương sọ. Mu bàn tay lão chằng chịt những vết sẹo bỏng do xỉ thép bắn vào—những vết sẹo cũ chuyển sang màu xám ngoét, vết sẹo mới đỏ ửng như da non. Lão run rẩy đón lấy bát nước ấm Ninh Chiêu đưa sang, hớp từng ngụm nhỏ đầy nhọc nhằn cùng với bột thuốc.

Thứ bột thanh phế này là thuốc do chính kiếm tu Tạ Vân tài trợ thông qua y xá Lò Khê suốt nhiều năm qua để cứu vãn phần nào sinh mạng của đám thợ già tàn tạ. Không có những thang thuốc quý đó làm dịu đi những cơn co thắt ngực xé da xé thịt mỗi đêm đông, có lẽ lão Cát đã xuôi tay nằm dưới bãi tha ma Đồi Xỉ Than từ mùa đông năm ngoái.

"Thuốc này... ngoài y xá lại tăng giá nữa rồi phải không con?" Lão Cát thở dốc sau khi nuốt trôi ngụm nước, giọng lão the thé, run rẩy như tiếng gió lùa qua ống trúc nứt.

"Vẫn giá cũ thôi thúc, đừng bận tâm chuyện tiền nong," Ninh Chiêu nói dối không chớp mắt, đưa bàn tay ấm áp vỗ nhẹ đều đặn lên lưng cho lão thợ già dịu cơn khó thở. "Tạ tiên sinh hôm nay phi thăng rồi. Ngài trước khi đi đã trích quỹ của y xá, trợ giá tiền thuốc cho toàn bộ thợ lò thêm một quý nữa."

Lão Cát nghe nhắc đến cái tên Tạ Vân thì dừng cơn ho, đôi mắt đục mờ ngước nhìn về phía vách gỗ phía bắc gian phòng. Ở đó có treo một bức tranh khắc gỗ đã ố vàng vì muội khói, vẽ hình cửa trời Huyền Khuyết mở ra giữa những đám mây lành:

"Phi thăng... Người tốt lành, trọng nghĩa khí như ngài Tạ mà đi rồi, thì cái đất Lò Khê này lấy ai che chở nữa đây? Phủ Quan Tế của đám người họ Đỗ chỉ biết nghĩ trăm phương ngàn kế thu thuế tro, siết nợ than đá, bóp nặn từng đồng cắc của đám thợ hèn mọn... Chiêu à, từ nửa đêm hôm qua, ta nằm đây đã nghe tiếng gió đổi hướng rồi."

Ninh Chiêu dừng tay trên lưng lão: "Gió đổi hướng sao thúc?"

"Gió bấc rít qua khe ngói bén như dao cạo," lão thợ già lại ho sù sụ, ngón tay khẳng khiu run rẩy chỉ ra phía ống khói thông lên mái ngói xám. "Tro núi trên đỉnh Huyền Khuyết thế nào cũng theo ngọn gió này mà tràn xuống lòng chảo thung lũng. Con nhớ lời ta dặn... Khi tro núi tràn xuống, tuyệt đối không được mở toang cửa gió dưới đáy bễ thổi. Tro khoáng từ đỉnh núi cao gặp lửa than kíp đang hừng sẽ chảy lỏng ra thành chất keo dính quánh, bịt kín toàn bộ mắt lò, ép hơi nóng không thoát được sẽ làm nổ tung cả buồng nung đấy. Phải dùng một lớp than củi dẻ lót đệm ở tầng giữa, ém tro lại ở tầng đáy xỉ, con nghe rõ chưa?"

"Con nhớ rồi thúc. Chút nữa con sẽ dọn lại cửa bễ. Thúc cứ nằm nghỉ cho lại sức đi."

Ninh Chiêu đỡ thân hình nhẹ bẫng của người thợ già nằm xuống chõng, kéo mép chăn bông rách đắp cẩn thận ngang ngực lão.

Những lời dặn dò đứt quãng của lão Cát không hề có trong bất kỳ cuốn sách tu tiên, phương pháp luyện đan hay bí kíp luyện khí huyền bí nào bày bán rong ngoài phố chợ. Đó là thứ kinh nghiệm trả bằng máu thịt, mồ hôi và tính mạng của bao thế hệ thợ rèn Lò Khê tích tụ qua hàng chục mùa gió tro chết chóc. Ở cái chốn bụi bặm này, ranh giới giữa một mẻ thép tốt đủ nuôi sống gia đình và một vụ nổ lò tan hoang xác pháo đôi khi chỉ cách nhau một tấc gió bễ mà thôi.

Khi Ninh Chiêu kéo rèm bước trở lại gian rèn chính, một tiếng chuông đồng từ trên đỉnh núi Lạc Hạc bất ngờ ngân vang.

*Đoong...*

Âm thanh nặng trĩu, sâu thẳm lướt qua các tầng mái ngói xám xịt của trấn Lò Khê, làm rung chuyển cả những thanh sắt vụn gác trên xà nhà, khiến đám muội than bám trên trần rơi lả tả như phấn râm.

Ngoài phố lớn, tiếng bước chân bắt đầu rậm rịch rộ lên. Cả thị trấn như bừng tỉnh khỏi cơn ngái ngủ nặng nề. Dân trấn Lò Khê—từ những phu xe lem luốc mặt mũi than đen, những bà lão bán bánh ngô khô khốc góc chợ cho đến đám thợ rèn vừa buông tay búa—đều lục tục kéo nhau túa ra đường lớn. Bọn họ dồn về phía quảng trường trung tâm, nơi có tầm nhìn thoáng đãng nhất hướng thẳng lên vách đá sừng sững của đài Huyền Khuyết.

Hôm nay là ngày đại lễ. Ngày mà kiếm tu Tạ Vân, người đã bảo trợ cho y xá trấn Lò Khê suốt hai mươi năm ròng, người duy nhất đạt tới cảnh giới Vấn Thiên tại phân chi Thanh Lư Tông của vùng non nước này, sẽ chính thức bước qua cửa trời để rũ bỏ phàm trần, bước vào hàng ngũ tiên ban thượng giới.

Ninh Chiêu lấy vạt tạp dề lau qua bàn tay ướt, khép hờ cánh cửa xưởng gỗ nghiến rồi bước chầm chậm theo dòng người. Cô không chen lấn hòa vào đám đông đang hò reo, xô đẩy nhau ở phía trước. Cô chọn dừng lại, đứng nép mình dưới bóng râm ảm đạm của một xưởng đúc đồng bỏ hoang ven đường, mắt nheo lại nhìn thẳng lên vách đá dựng đứng cheo leo giữa hẻm núi sâu.

Ở nơi đó, đài Huyền Khuyết sừng sững ngự trị giữa tầng mây xám.

Đó hoàn toàn không phải là một bệ đá chạm ngọc, dát vàng lấp lánh như trong những bức tranh minh họa rẻ tiền mà đám đạo sĩ du phương thường bán cho dân làng. Huyền Khuyết thực chất là một vòm cổng đá cổ khổng lồ màu xám tro, có kích thước to lớn dị thường, nằm treo lơ lửng một cách khó hiểu giữa hai bờ vách đá dựng đứng của khe nứt Lạc Hạc. Vòm cổng không hề có những hoa văn chạm trổ mây bay phượng múa, mà thay vào đó là chằng chịt những rãnh rỗng sâu hoắm, thẳng tắp, lạnh lùng và vuông vức—những đường rãnh cơ khí chuẩn xác đến mức rợn người, tựa hồ dấu tích của một cỗ máy khổng lồ thời viễn cổ bị chôn vùi trong lòng núi. Phía dưới vòm cổng là vực sâu thăm thẳm, nơi mây mù và khí lạnh vần vũ cuồn cuộn không dứt.

Trên đài tiếp dẫn nhô ra giữa khoảng không, bóng dáng Tạ Vân hiện ra rõ rệt trong bộ đạo bào màu xanh thẫm viền bạc bay phần phật trước gió lộng. Bên hông ông đeo thanh bội kiếm quen thuộc—chính là thanh kiếm mà cách đây hai năm, đích thân Ninh Chiêu đã nhận sửa lại chốt chuôi và mài bén lại lưỡi thép cho ông. Tạ Vân đứng uy nghi trước vòm đá cổ, chắp tay cúi đầu hướng về phía mười hai vị chấp sự của phủ Quan Tế đang phủ phục quỳ bái dưới chân đài đá. Dẫn đầu đám chấp sự là Quan Tế Đỗ Kính, khoác trên mình chiếc áo choàng tế lễ màu tím sẫm thêu hình mặt trời ngậm tro đầy vẻ huyền bí.

Đám đông dưới quảng trường nín thở. Hàng ngàn ánh mắt ngước lên với vẻ sùng kính tột cùng, chờ đợi khoảnh khắc thần thánh ngàn năm có một: mây ngũ sắc cuồn cuộn trào ra từ cửa trời, ánh hào quang vạn trượng chiếu rọi thế gian xua tan tro bụi, và tiếng thiên nhạc réo rắt nghênh đón một bậc đại kiếm tu thoát tục.

Ninh Chiêu nheo mắt nhìn thật kỹ. Bàn tay cô giấu trong túi tạp dề bất giác siết chặt lại thành nắm đấm.

Tuyệt nhiên không có một gợn mây ngũ sắc nào xuất hiện.

Khi Tạ Vân rút thanh bội kiếm chỉ thẳng lên đỉnh vòm đá Huyền Khuyết, một âm thanh chói tai bỗng nhiên rít lên giữa không gian tĩnh mịch. Đó hoàn toàn không phải tiếng sấm sét rền vang của thiên kiếp, mà là một tiếng kim loại khổng lồ nghiến rít vào nhau, ken két, khô khốc và ma sát nghẹt thở, như thể hàng ngàn bánh răng ngầm bằng sắt thép rỉ sét đang rên rỉ chuyển động sâu trong ruột núi đá Lạc Hạc.

Vòm cổng đá cổ rung chuyển bần bật, làm rơi lả tả những mảng rêu phong bám trên vách đá. Nhưng thay vì bùng nổ thứ ánh sáng chói lọi rực rỡ cứu rỗi trần gian, lòng vòm cổng đá bỗng nhiên sụp tối.

Nó tối sầm lại một cách dị thường và quái đản, tựa như một miệng vực sâu không đáy vừa rách toạc ra giữa trời không. Thay vì tỏa ra ánh sáng, hốc tối thăm thẳm, đen đặc ấy bắt đầu *hút ngược* toàn bộ luồng sáng xung quanh vào sâu trong lòng nó. Ánh sáng rạng đông le lói vừa chạm tới mép vách đá liền bị bẻ cong một cách kỳ dị, trượt dài rồi tan biến hoàn toàn vào tâm điểm đen ngòm ấy.

Không khí quanh khe núi lập tức chùng xuống, áp suất đè nặng khiến lồng ngực người ta nghẹn lại. Nhiệt độ tụt dốc không phanh trong chớp mắt, mang theo một luồng gió lạnh thấu xương thốc ngược từ đáy vực sâu lên, sặc sụa mùi rỉ sét ẩm ướt và tro than tanh tưởi.

Tạ Vân bước lên một bước. Thân ảnh màu lam thẫm của vị kiếm tu nhạt nhòa dần đi, run rẩy biến dạng như một giọt mực loãng bị hòa tan vào bóng tối của hốc đá lạnh lẽo.

*ĐOONG!*

Tiếng chuông đồng cực đại trên tháp chuông của phủ Quan Tế nện xuống một nhịp đinh tai nhức óc. Tiếng chuông dồn dập, nặng nề như tiếng búa nện trên đe sắt, đè bẹp mọi thanh âm xao xác trong trời đất.

Khoảnh khắc thân ảnh Tạ Vân biến mất hoàn toàn vào hốc tối, hai mép vòm đá Huyền Khuyết khép lại với một tiếng va đập cơ khí khô khốc, vang dội làm chấn động màng nhĩ người đứng dưới thung lũng.

Đám đông bên dưới lập tức phủ phục rạp mình xuống mặt đất lầy lội xỉ than. Tiếng gào khóc, hô vang "Cung tiễn Tạ tiên quân phi thăng!", "Cung tiễn tiên nhân nhập thượng giới!" rền rĩ khắp các con phố ngõ hẻm. Những khuôn mặt hốc hác, lem luốc bụi than ngước nhìn lên khoảng không rỗng tuếch với niềm sùng kính mù quáng và hy vọng ngây thơ về một ân huệ cứu rỗi từ cõi tiên xa vời.

Chỉ có một mình Ninh Chiêu đứng bất động giữa đám người đang dập đầu quỳ lạy. Sống lưng cô lạnh toát, từng sợi lông tơ dựng ngược.

Đó tuyệt đối không phải là cảnh tượng phi thăng. Cái cảm giác ánh sáng ban ngày bị cắn nuốt thô bạo, tiếng rít cơ học nghiến chặt của kim loại nặng ngàn tấn và luồng gió lạnh tanh mùi rỉ sét thốc ra từ hốc đá kia... nó giống như một cỗ máy nghiền khổng lồ giấu trong lòng núi vừa mở miệng nuốt chửng một con mồi béo bở hơn là một cánh cửa thần tiên rộng mở đón người đắc đạo.

Chưa đầy một khắc sau khi vòm đá khép kín, bầu trời Lò Khê chuyển từ màu chì đục sang một màu xám ngoét quái dị như da người chết.

Từ đỉnh núi Lạc Hạc, một đám mây tro khổng lồ cuồn cuộn đổ tràn xuống thung lũng như một trận lũ quét. Đó không phải là bụi than thông thường bốc lên từ các lò nung, mà là một cơn mưa tro khoáng đặc quánh, nặng trĩu hạt, đen nhờ nhờ và tanh nồng mùi kim khí cháy dở. Tro rơi rào rào trên những mái ngói nứt nẻ, nhuộm xám ngoét những dải lụa đỏ mừng đại lễ vừa giăng, bám chặt vào tóc tai áo xống, rơi lộp bộp xuống mặt đường đá như mưa đá vụn.

Dân chúng bắt đầu húng hắng ho sặc sụa, tiếng la hét thất thanh vang lên khi tro khoáng xộc vào mắt cay xè. Người ta lục tục kéo nhau chạy trốn vào nhà, đóng chặt cửa nẻo. Ngày lành đại lễ nhanh chóng biến thành một buổi sáng kinh hoàng, ngột ngạt và nghẹn thở dưới màn mưa tro độc địa rơi xuống từ cửa trời Huyền Khuyết.

Ninh Chiêu kéo vạt khăn gai quấn chặt lấy mũi và miệng, cắm đầu bước nhanh về phía xưởng Lò Ninh. Tro rơi dày đặc đến mức tầm nhìn trước mắt cô bị thu hẹp lại chỉ còn chưa đầy mười bước chân.

Cô lách mình vào xưởng, sập cánh cửa gỗ nghiến lại rồi cài chặt then sắt. Dẫu vậy, lớp tro mịn như bột đá vẫn luồn lách qua những khe liếp cửa sổ, phủ một lớp phấn xám lạnh ngắt lên mặt đe sắt đang nguội dần.

Gió bấc rít gào kéo theo từng đợt tro đọng lại dày đặc trên mái hiên, rồi theo máng xối dẫn nước mưa chảy tuôn xuống máng hứng làm nguội bằng đá xanh đặt sát cửa sổ gian rèn. Ninh Chiêu cầm chiếc xẻng sắt nhỏ bước lại gần máng nước. Mưa tro khoáng rơi xuống mặt nước tạo thành một lớp váng xám xịt, dẻo quánh và nổi lều phều như mỡ trăn. Đúng như lời lão Cát cảnh báo, nếu không cào sạch lớp tro này ngay lập tức, nó sẽ lắng cặn xuống đáy máng đá, gặp lạnh sẽ hóa cứng lại như vữa xây và làm tắc nghẽn toàn bộ đường ống xả dẫn ra con kênh thoát nước chung của trấn.

Cô cắm lưỡi xẻng sắt xuống đáy máng nước lạnh buốt, kéo một đường dài dứt khoát dọc theo phiến đá xanh.

*Keng.*

Một tiếng vang thanh mảnh, sắc lọn và trong trẻo bất ngờ vang lên giữa không gian u ám.

Đó tuyệt đối không phải là tiếng xẻng sắt cọ vào thành đá thô. Ninh Chiêu sững người, bàn tay cầm cán xẻng khựng lại giữa chừng. Đôi tai của một người thợ rèn cả đời ăn ngủ cùng sắt thép không thể nào nhầm lẫn thứ âm thanh này: đó là tiếng thép va vào thép. Hơn thế nữa, đó phải là một loại thép có hàm lượng carbon cực kỳ tinh khiết, được rèn gấp hàng ngàn lớp và tôi luyện qua những ngọn lửa khắt khe nhất mới có thể phát ra âm vang ngân dài, trong vắt như tiếng khánh ngọc đến thế.

Ninh Chiêu buông chiếc xẻng sắt. Cô không màng đến dòng nước lạnh buốt thấu xương, xắn cao ống tay áo da bò rồi thọc sâu bàn tay trần vào lớp bùn tro đặc quánh dưới đáy máng nước.

Những ngón tay thô ráp của cô sờ soạng dưới lớp bùn nhão, rồi bất chợt chạm phải một vật thể cứng, nhọn hoắt. Mép của vật thể sắc bén đến mức chỉ vừa chạm nhẹ đã sượt qua da tay cô, để lại một vết rạch mảnh như sợi chỉ rỉ máu. Ninh Chiêu nén đau, thận trọng dùng hai ngón tay kẹp chặt lấy thân vật thể đó rồi rút từ từ lên khỏi mặt nước váng tro.

Đó là một mảnh kim loại vỡ vụn.

Mảnh kim loại chỉ dài chừng nửa ngón tay trỏ, dày khoảng ba ly, một mép bị gãy nham nhở với những vết răng cưa vặn xoắn kỳ dị. Cấu trúc vỡ vụn ấy cho thấy nó đã bị giằng xé bởi một lực vặn cực lớn—thứ sức mạnh khủng khiếp vượt xa khả năng của bất kỳ cỗ búa tạ hay đòn bẩy cơ học nào của con người. Nhưng điều kỳ lạ đến mức khiến da gà cô nổi rần rần là: giữa lớp tro khoáng nóng bỏng và dòng nước ẩm ướt đầy cặn xỉ của xưởng rèn, mảnh thép này lại sáng quắc một cách ma mị. Nó không hề vướng một hạt rỉ sét, và kỳ quái hơn cả, nó tỏa ra một luồng hàn khí lạnh buốt đến mức làm tê cóng cả đầu ngón tay đang cầm của cô.

Ninh Chiêu nén chặt hơi thở, bước nhanh lại góc xưởng nơi có vòi nước suối dẫn từ kẽ đá sau núi. Cô mở chiếc chốt tre, để dòng nước trong vắt, không vướng tro bụi xối thẳng lên mảnh kim loại.

Lớp tro xám nhờ nhờ trôi tuột đi dưới dòng nước, để lộ ra bề mặt thép có màu xanh đen thăm thẳm như đáy hồ băng mùa đông. Dưới ánh sáng le lói hắt qua khe cửa, những đường vân kim loại gợn sóng mờ ảo hiện ra rõ mồn một, lớp này đè lên lớp khác li ti như vảy rồng—đó là kỹ thuật rèn gấp huyền thiết phương bắc ba ngàn lớp, một kỹ thuật thượng thừa độc nhất vô nhị mà cả vùng Hạ Lĩnh này chỉ có duy nhất một người nắm giữ trọn vẹn bí quyết.

Và ở phần gốc còn sót lại của mảnh vỡ, ngay sát cạnh đường nứt gãy nham nhở, hiện rõ ba rãnh đục song song.

Ba rãnh đục cực nông, dài đúng bốn phân, cách đều nhau tăm tắp một ly rưỡi, chéo một góc ba mươi độ chuẩn xác về phía sống kiếm.

Toàn thân Ninh Chiêu run bắn lên bần bật. Hơi thở cô tắc nghẽn lại nơi lồng ngực như bị một tảng đá đè nặng, hai bên thái dương giật thon thót, lùng bùng như có tiếng búa tạ nện thẳng vào màng óc.

Ký hiệu này... ba rãnh đục này...

Ký ức của mười sáu năm trước ùa về như một cơn lốc xoáy giữa đêm giông.

Năm ấy cô mới mười hai tuổi, vóc người còn nhỏ thó, phải đứng kiễng chân trên một chiếc ghế gỗ nghiến kê thêm ba tấc đá mới với tới mặt đe rèn của cha cô—Ninh Trác.

Cha cô cả đời rèn kiếm chưa bao giờ dùng ấn triện bằng đồng hay khắc chữ ký hoa mỹ lên những tác phẩm do chính tay mình tôi luyện. Ông bảo chữ nghĩa chỉ làm vướng mắt lưỡi thép. Ông chỉ dùng một chiếc đục thép gió nhỏ tự chế, gõ đúng ba nhát dứt khoát vào phần gốc phôi kiếm trước khi đưa thanh thép vào bể tôi nước lần cuối cùng.

Ba rãnh đục song song đó chính là thước đo nhiệt độ tối mật của riêng Lò Ninh: nhát thứ nhất đại diện cho nhiệt lượng của than củi dẻ khi thép ửng hồng, nhát thứ hai đo độ ngấu của gió bễ khi thép chuyển sắc vàng rơm, và nhát thứ ba chính là thời khắc quyết định khi kim loại chuyển sang màu mắt cua non để hạ búa tạo hình. Đó là bí mật nhà nghề, là dấu ấn sinh mệnh mà Ninh Trác chỉ truyền dạy lại cho một mình cô con gái duy nhất.

Mười sáu năm trước, một vị kiếm tu trẻ tuổi đầy phong nhã mang tên Du Hành đã lặn lội từ kinh kỳ xa xôi tìm đến xưởng Lò Ninh. Người đó đã đặt cha cô rèn một thanh bội kiếm bằng khối huyền thiết cực phẩm mang về từ vùng băng giá phương bắc, đặt tên cho thanh kiếm là Hàn Tủy. Khi ấy, chính bàn tay nhỏ bé đầy vết chai của Ninh Chiêu đã cầm búa giữ chốt đục, cùng cha cô khắc ba rãnh song song này lên gốc thanh Hàn Tủy trước khi tra chuôi nạm ngọc.

Mười bốn năm trước, Du Hành mang theo thanh kiếm Hàn Tủy bên hông, đĩnh đạc bước lên đài Huyền Khuyết giữa muôn vạn tiếng tung hô vang dội của dân chúng, rồi phi thăng vào cõi tiên trong sự ngưỡng vọng của cả vùng đất này.

Mười một năm trước, cha cô—Ninh Trác—lặng lẽ gói ghém hòm đồ nghề, lên đường hướng về vùng duyên hải ven biển tro xa xôi theo lời triệu tập bí mật của tông môn để sửa chữa một cỗ khí cụ cổ xưa, rồi bặt vô âm tín từ đó, không một lá thư, không một tin tức sống chết gửi về.

Và sáng hôm nay... mười bốn năm sau ngày Du Hành biến mất vào cánh cửa trời Huyền Khuyết... ngay sau khi Tạ Vân vừa hoàn tất nghi thức phi thăng giữa tiếng chuông rền rĩ... thì một mảnh vỡ nát vụn của chính thanh kiếm Hàn Tủy lại từ trên bầu trời rớt xuống, lẫn trong màn mưa tro tàn của lễ phi thăng mới, nằm im lìm dưới đáy máng nước xưởng rèn của cô!

Tại sao thanh kiếm của một người đã bước vào cõi tiên từ mười bốn năm trước lại nằm lẫn trong tro tàn rơi xuống từ nghi lễ của một người vừa bước vào sáng nay?

Nếu Hàn Tủy đã theo Du Hành lên thượng giới trở thành tiên khí bất hoại, tại sao nó lại bị bẻ gãy một cách thô bạo, vụn nát và vặn xoắn như một mớ phế liệu bị nghiền nát thế này?

Ai đã bẻ gãy nó? Thứ sức mạnh tàn bạo, khủng khiếp nào có thể xé toạc huyền thiết ba ngàn lớp tôi nước lạnh của cha cô ra thành từng mảnh vụn vứt bỏ?

Hàng loạt câu hỏi xâu xé tâm can, xoay mòng mòng như những lưỡi cưa sắt cứa vào đầu óc Ninh Chiêu, khiến đôi chân cô mềm nhũn. Cô phải bám chặt lấy gờ máng đá xanh lạnh ngắt để giữ cho bản thân không khuỵu xuống nền đất nện ẩm ướt.

*Keng! Keng! Keng!*

Tiếng chiêng đồng chát chúa, dồn dập vang lên ngay đầu ngõ hẹp, xé toạc bầu không khí ngột ngạt của thị trấn đang chìm trong mưa tro.

"Phủ Quan Tế truyền lệnh!"

Tiếng quát the thé, lạnh lùng và hống hách của quan sai chấp sự rống lên qua chiếc loa đồng vọng khắp các vách tường:

"Thiết quân luật toàn trấn Lò Khê! Đóng cửa cài then! Lệnh thu hồi tro đàn lập tức thi hành: mọi xưởng rèn, tiệm buôn, nhà dân trong nội trấn phải gom toàn bộ tro núi đọng từ sáng nay vào sọt niêm phong, giao nộp đầy đủ cho nha môn quản sự! Kẻ nào dám giấu giếm, tự ý rây tro tìm kiếm dị vật, hoặc tàng trữ bất kỳ mảnh kim loại, vụn xương, mảnh phế liệu nào rơi từ cửa trời xuống, sẽ bị khép vào tội nghịch thiên bội giáo, tru di tam tộc, chém đầu bêu xác trước đài Huyền Khuyết!"

Tiếng bước chân rầm rập của đội tuần tra vũ trang mang giáp sắt nặng nề nện thình thịch trên mặt đường đá. Tiếng gậy sắt thúc chan chát vào cửa gỗ của những ngôi nhà bên cạnh vang lên không chút nể nang:

"Mở cửa! Kiểm tra tro! Mang hết tro đọng trên mái, tro máng xối ra đây nộp ngay!"

Tiếng đàn bà khóc thét, tiếng đổ vỡ loảng xoảng hòa lẫn trong tiếng chửi bới thô tục của đám sai nha lọt qua khe cửa.

Máu trong toàn bộ cơ thể Ninh Chiêu như đông cứng lại thành đá.

Phủ Quan Tế hành động quá nhanh, quá tàn bạo và có chuẩn bị từ trước. Cơn mưa tro khoáng trên trời còn chưa dứt hạt, bọn họ đã lập tức phong tỏa toàn bộ đường phố, xua quân đi lùng sục từng xó xỉnh, cào bới từng góc sân để thu gom tro tàn rơi xuống từ đài Huyền Khuyết.

Bọn họ hoàn toàn không thu gom tro để dọn dẹp môi trường hay phòng ngừa hỏa hoạn như thường lệ. Bọn họ đang khẩn trương tịch thu tang vật! Bọn người ở phủ Quan Tế và Thanh Lư Tông biết rõ mười mươi cái thứ gì đã rơi xuống từ cửa trời cùng với cơn mưa tro độc địa kia!

Nếu mảnh thép vỡ này bị phát hiện nằm trong khuôn viên xưởng Lò Ninh, không chỉ tính mạng của cô bị vứt bỏ, mà ngay cả lão Cát đang nằm ho rũ rượi trong gian chái cũng sẽ bị kéo lê xích sắt, tống giam vào ngục tối của tông môn trước khi mặt trời lặn.

"Xưởng đúc đằng trước! Lò Ninh! Mở cổng ngay lập tức!" Tiếng gậy sắt bọc đồng đập rầm rầm vào cánh cổng gỗ nghiến của xưởng rèn, lực đập mạnh đến mức làm rung chuyển cả những thanh xà ngang ám khói bên trên.

Ninh Chiêu hít một hơi thật sâu, nuốt trọn luồng khí lạnh tanh vào lồng ngực, ép cho trái tim đang đập loạn xạ như búa nện trong lồng ngực phải bình ổn trở lại. Bản năng sinh tồn sắt đá của một người thợ rèn mồ côi, lớn lên giữa những mưu mô bẩn thỉu và sự chèn ép khắc nghiệt của trấn thợ rèn lập tức trỗi dậy, chiếm lĩnh toàn bộ lý trí cô.

Cô giật phắt một miếng giẻ rách tẩm dầu cặn dùng để lau mũi khoan đang vắt trên giá gỗ, bọc kín mảnh thép lạnh buốt vào trong ba lớp giẻ dày cộp, đen sì.

Ninh Chiêu lao vút về phía buồng thổi lửa. Cô quỳ sụp một bên gối xuống nền đất cạnh bễ thổi khổng lồ đóng bằng gỗ nghiến xám. Dưới đáy bễ, ngay sát chỗ tiếp giáp với bệ đá chịu lực của lò nung chính, có một hộc đá ngầm nhỏ hẹp, chỉ vừa một bàn tay lách vào. Đó là nơi năm xưa cha cô đã bí mật đục rỗng để cất giấu những mũi khoan bằng thép gió quý giá khỏi sự dòm ngó, tịch thu của đám sai nha thu thuế khoáng sản.

Cô thọc sâu bàn tay vào trong hốc tối lạnh lẽo, đẩy mạnh bọc giẻ chứa mảnh kiếm Hàn Tủy vào tận góc kẹt sâu nhất bên trong lòng bệ đá.

Sau đó, Ninh Chiêu nhanh như cắt hốt một nắm tro than ướt nhão nhoét từ đáy lò nung, trát trét kín mít miệng hộc đá ngầm, rồi dùng mũi chân gạt một lớp xỉ than khô phủ kín lên trên.

Mọi động tác diễn ra trong chưa đầy mười nhịp thở, chuẩn xác, lạnh lùng, không thừa thãi dù chỉ một cử động nhỏ.

Cô đứng thẳng dậy, với lấy cây kẹp sắt dài trên giá, gắp một thanh sắt vụn cắm sâu vào lòng lò than đang ủ đỏ rực. Ninh Chiêu thong thả nắm lấy tay kéo bễ, dằn lòng kéo một nhịp dài dứt khoát. Ngọn lửa đỏ rực bùng lên phần phật qua miệng lò, soi rõ gương mặt cô lấm lem bồ hóng, tro than và những giọt mồ hôi đang rịn ra trên trán.

*RẦM!*

Cánh cổng gỗ của xưởng Lò Ninh bị đạp tung ra, then sắt bên trong bật tung chốt kêu khô khốc. Ba tên quan sai mặc giáp da đen viền tro xông thẳng vào xưởng, tay lăm lăm gậy sắt và xẻng đồng bản rộng. Người đi đầu đảo cặp mắt ti hí đầy vẻ hung hãn nhìn quanh gian xưởng mù mịt khói than, mũi gậy sắt trong tay gã dộng mạnh xuống nền đất nện phát ra một tiếng *thình* nặng trịch:

"Ninh Chiêu! Mau mang toàn bộ tro đọng trong máng xối và bể nguội ra đây nộp! Một hạt cũng không được thiếu!"

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories