Người chị không nằm trong một tờ giấy
Căn chòi lá ẩm mốc ở bìa rừng sau núi là nơi ở của một lão tu sĩ phế nhân từng làm việc trong đội đo đạc địa mạch trước biến cố Tĩnh Chuông.
Trận mưa rào đầu hạ giăng một màn sương xám đùng đục khắp triền dốc thoai thoải của rặng thông già. Những rễ thông trồi lên khỏi mặt đất như lũ trăn đá bám chặt vào sỏi xám, trơn tuột dưới làn nước xối xả. Gió từ thung lũng sâu cuốn theo hơi lạnh ẩm ướt, luồn qua từng tầng lá kim trĩu nặng, làm rơi xuống từng chùm bọt nước lộp độp trên lớp mái rạ mục ruỗng của vạt chòi hoang phế. Ở chốn thâm sơn cùng cốc này, mùi rêu ẩm bốc lên ngai ngái, quyện lẫn với mùi tro bếp nguội ngắt lâu ngày và thứ mùi hăng nồng, gắt họng của dầu trẩu rẻ tiền mà người ta dùng để quét chống thấm cho vách nứa.
Nơi này nằm sâu ngoài rìa các kết giới phòng hộ thông thường của nội môn Thanh Khê Tông. Đó là bãi tha ma sống, chỗ mà chấp sự các viện thường ngầm hiểu là nơi dồn những kẻ đã vỡ vụn kinh mạch, cháy kiệt đan điền hoặc tàn phế căn cốt sau các tai nạn lao dịch trận pháp về để tự sinh tự diệt. Những kẻ sống ở đây không còn tên trong sổ lương hàng tháng, chỉ còn những dòng gạch xóa trên bảng phân bổ linh thạch tiêu hao, đợi ngày mục rữa hòa vào lòng đất cùng với rễ thông và lá mục.
Lục An khẽ kéo lại vạt áo tơi bện bằng lá cọ rừng thô ráp. Từng giọt nước mưa đọng lại trên chóp mũ tơi rỏ xuống trước mi mắt, buốt lạnh. Cánh tay phải của cậu vẫn được nẹp chặt bằng hai thanh tre già ngâm dầu trẩu, quấn quanh bởi nhiều lớp băng vải thô tẩm dịch hồ tiêu cay xè pha với cao mật trăn để giữ cho các dải xương mu bàn tay khỏi xô lệch. Mỗi bước dẫm lên lớp bùn nhão lẫn sỏi sắc nhọn nơi sườn đồi trơn trượt đều khiến vết thương nơi khớp ngón trỏ nhói buốt ngược lên tận bả vai. Nhưng sự tê dại và cơn đau râm ran quen thuộc ấy lại giống như một mũi kim châm chuẩn xác, giữ cho thần trí cậu tỉnh táo một cách lạnh lùng giữa cơn mưa nặng hạt.
Đi trước cậu nửa bước chân, Tạ Thanh Nghi khoác trường bào màu lam nhạt của Giám Ký Viện. Vạt áo thụng quét qua những bụi cỏ rậm đã lấm lem bùn đất đỏ quạch của sườn đồi. Sắc mặt nàng vẫn còn vương nét tái nhợt rợn người, hậu quả của việc linh lực cảnh giới Tụ Mạch trung kỳ bị rút cạn đáy từ đêm thi triển Huyền Băng Kết Giới để cứu lấy màng vật dẫn bọc ký ức nơi mật thất. Từng nhịp thở của nàng phả ra làn khói mỏng manh giữa màn mưa lạnh buốt. Thế nhưng sống lưng nàng vẫn thẳng tắp như một thân trúc mảnh cắm giữa ghềnh đá, bờ vai giấu sau lớp áo tơi gánh theo một vẻ căng cứng tột độ—sự căng cứng của một sợi dây cung huyền đồng đã bị kéo căng tới giới hạn cuối cùng, chỉ cần một va chạm khẽ cũng có thể bật ra tiếng thét xé lòng.
Nàng dừng bước trước cánh liếp đan bằng tre cật đã mủn góc, nước mưa từ mép rạ trên mái nhỏ xuống vai áo nàng tí tách. Nàng giơ bàn tay thon dài gõ nhẹ ba tiếng lên khung nứa. Tiếng gõ khô khốc, vang lên đơn độc giữa tiếng mưa rừng ràn rạt.
Bên trong không gian ẩm thấp nín bặt chừng vài hơi thở. Rồi một tràng ho khan sặc sụa vang lên, tiếng ho đục ngầu, kéo theo tiếng đờm nghẽn ở cuống họng của một kẻ phế phổi. Tiếp đó là chuỗi âm thanh kim loại va chạm lách cách trên nền đất nện, cùng tiếng lê bước nặng nề, lệch hẳn một bên hông.
Cánh liếp kẽo kẹt mở ra một khe hẹp.
Một lão già với mái tóc hoa râm xơ xác như búi cỏ khô cháy nắng hiện ra sau bóng tối nhờ nhờ. Thân hình lão gầy guộc, lớp da bọc lấy xương sườn nhô lên sau tấm áo vải gai vá chằng vá đụp. Một bên chân trái của lão teo quắt lại, cẳng chân cong queo tì lên một thanh nạng bằng gỗ mun có gắn đế sắt bọc da bò thô. Nhưng đáng sợ nhất là nửa bên mặt trái của lão: một vết sẹo lớn do luồng xung kích linh khí nhiệt độ cao thiêu đốt hằn sâu từ chân tóc kéo dài xuống tận cằm, lớp da thịt co rút rúm ró kéo xếch khóe mắt lão xuống tận gò má, để lộ ra tròng mắt đỏ ngầu, kèm nhèm rỉ mắt.
Đôi mắt đục ngầu như mắt cá ươn của lão đảo qua người Tạ Thanh Nghi, dừng lại rất lâu trên chiếc lệnh bài gỗ đào khắc hoa văn mây cuộn đặc trưng của Giám Ký Viện đang đung đưa bên hông nàng. Ánh mắt lão chuyển dời, liếc nhìn cánh tay bó nẹp tre cồng kềnh của Lục An, rồi khẽ hừ một tiếng từ đáy mũi.
"Kiểm chứng sư của Giám Ký Viện?" Giọng lão khàn đặc, the thé và nghẹt mũi, tựa như tiếng hai phiến đá nhám cọ xát vào nhau giữa lòng suối cạn. "Nếu các người vượt dốc đội mưa tới cái xó xỉnh này để tra hỏi về hạn ngạch quặng lưu ngân của tháng trước, hay muốn thu hồi lại căn chòi dột nát này để mở rộng bãi chôn tro đan dược... thì lão phế nhân này chẳng còn gì để nộp đâu. Mỗi tháng ba khối linh vụn mà tông môn thí cho qua Y đường, ta còn bị đám chấp sự cắt xén mất một nửa, nửa năm nay còn chưa lĩnh đủ một đồng."
Tạ Thanh Nghi khẽ cúi đầu hành lễ theo quy chuẩn tông môn, nhưng động tác của nàng dứt khoát và trang trọng hơn rất nhiều so với cách người ta đối xử với một phế nhân ở bờ vực cái chết. Nàng giữ cho giọng mình thật mực thước, bình ổn, nhưng Lục An đứng ngay phía sau có thể nghe thấy sợi tơ run rẩy vô hình đang bị đè nén đến nghẹt thở trong thanh âm ấy:
"Tiền bối Quách Chấn, chúng ta không tới đây vì bất kỳ khoản trợ cấp hay hạn ngạch nào của Chấp Sự Đường. Ta là Tạ Thanh Nghi, chấp sự kiêm kiểm chứng sư độc lập của Giám Ký Viện. Ta đến để xin xác minh một hồ sơ kỹ thuật đo đạc từ bốn năm trước... một hồ sơ liên quan trực tiếp đến người từng cùng ca trực với tiền bối tại trạm quan trắc tháp Tĩnh Chuông: đệ tử Tạ Vân."
Cái tên "Tạ Vân" vừa rơi ra khỏi bờ môi Tạ Thanh Nghi, cả thân hình tàn tạ của Quách Chấn bỗng nhiên chấn động dữ dội.
Đồng tử nơi con mắt lành lặn của lão co thắt lại thành một chấm nhỏ như đầu kim. Bàn tay khẳng khiu như cành củi khô bám chặt lấy thanh nứa cửa liếp, các khớp ngón tay trắng bệch ra vì dùng lực quá mạnh, khiến những nan tre mủn nát kêu lên răng rắc. Lão trừng trừng nhìn chằm chằm vào Tạ Thanh Nghi. Lão nhìn sống mũi cao thanh tú, nhìn bờ môi mỏng mím chặt đầy kiên nghị, và cái cách nàng đứng thẳng dẫu vạt áo đã thấm đẫm bùn sình. Một tia sáng kinh ngạc xen lẫn hoảng hốt và đau đớn bùng lên trong đáy mắt đục ngầu, như thể thời gian đang đảo ngược, kéo bóng hình của một người con gái khác từ cõi chết bốn năm trước hiện về đứng sừng sững giữa cơn mưa rào.
Lão già ngậm chặt miệng, lồng ngực phập phồng sau làn áo rách. Lão lùi lại một bước, chống thanh nạng gỗ mun gõ mạnh xuống nền đất, để lộ ra khoảng không gian tối om om bên trong căn chòi ngập ngụa mùi rễ thuốc mục và đất nhão.
"Vào đi," lão hạ giọng, âm thanh khàn khàn như tiếng gió rít qua kẽ nứt. "Đóng cánh liếp lại. Đừng để gió lùa làm ướt giấy."
***
Gian chòi chỉ rộng chừng một trượng vuông, bốn bề ken bằng nứa đập dập đã ngả sang màu xám xịt vì khói bếp và ẩm mốc. Nền đất nện gồ ghề, ẩm ướt đến mức dẫm chân lên nghe lép bép. Đồ đạc duy nhất có giá trị trong phòng là một chiếc bàn gỗ tạp kê sát vách nứa, chân bàn kê bằng hai viên gạch xỉ tổ ong.
Trên mặt bàn không có ấm trà hay bát nước, mà chất đầy những tàn tích phế thải của nghề trắc địa: những ống tiêu lỏng bằng thủy tinh đã gãy đôi, dịch chỉ thị màu đỏ bên trong đã khô cạn thành lớp cặn nâu bẩn thỉu; vài chiếc địa bàn đo góc phương vị nứt vỡ mặt kính thạch anh, kim đồng rỉ sét dính chặt vào đế; và những cuộn dây đo địa mạch đúc bằng đồng thiếc đã oxy hóa, mọc lên từng mảng rỉ xanh như vảy rắn.
Lục An bước vào sau cùng, khẽ khép cánh liếp lại, cài thanh the tre mục. Cậu không bước sâu vào trong, mà chọn vị trí đứng tựa lưng gần góc cửa—nơi mắt có thể bao quát toàn bộ gian chòi chật hẹp, vừa có thể canh chừng động tĩnh ngoài màn mưa, vừa kiểm soát lối thoát duy nhất nhìn ra triền dốc bờ suối phía sau. Cánh tay phải bó nẹp được cậu giấu khéo léo sau vạt áo tơi. Bằng bàn tay trái linh hoạt, Lục An lẳng lặng rút từ trong túi trữ vật ra một tập hồ sơ dày bằng nửa đốt ngón tay, được bọc cẩn thận bên trong lớp túi da cừu non quét sáp chống nước.
Cậu đưa tập hồ sơ cho Tạ Thanh Nghi. Đó là bản sao chứng thực của hồ sơ kỹ thuật mang mã hiệu TV-0409 mà đêm qua nàng đã bất chấp quy chế, dùng lệnh bài đặc nhiệm trích lục từ tầng lưu trữ sâu nhất của Tàng Ký Các.
Tạ Thanh Nghi nhận lấy, bước tới bên chiếc bàn gỗ trầy xước. Nàng không vội ngồi xuống chiếc ghế đẩu duy nhất gãy một nan giằng, mà cung kính đặt tập hồ sơ lên mặt bàn, ngay trước tầm mắt của Quách Chấn.
"Tiền bối," nàng cất tiếng, từng chữ rành rọt, mang theo vẻ khô khốc đặc trưng của ngôn ngữ hành chính tông môn nhưng bên dưới lại là dòng nham thạch cuộn trào. "Đây là hồ sơ lưu trữ chính thức của Tàng Ký Các về đệ tử Tạ Vân, nguyên quán trấn Cổ Khê, thuộc ban Đo đạc Trận pháp tháp Tĩnh Chuông. Bản kết luận sự cố ghi nhận: Vào giờ Tý đêm mười bốn tháng Bảy bốn năm trước, ngay trước khi tháp Tĩnh Chuông phát nổ do sự cố quá tải linh mạch, Tạ Vân đã tự nguyện ký tên, điểm chỉ ấn huyết, chấp thuận chuyển nhượng toàn bộ ký ức liên quan đến quy chuẩn an toàn móng tháp và cơ chế vận hành lưu lượng ngầm cho kho lưu trữ tông môn. Đổi lại, thân nhân của nàng nhận được một khoản trợ cấp tử tuất tương đương năm mươi khối trung phẩm linh thạch. Người ký duyệt tiếp nhận hồ sơ là Quản sự Chu Kính."
Nàng dừng lại một nhịp, đôi mắt đen láy nhìn thẳng vào con mắt còn lành lặn của Quách Chấn:
"Theo điều lệ kiểm chứng văn thư số mười hai của Giám Ký Viện, một khế ước chuyển giao ký ức được lập trước khi đương sự tử nạn trong tai nạn công vụ chỉ có giá trị pháp lý khi có chữ ký xác nhận của ít nhất một đồng nghiệp cùng ca trực tại hiện trường. Chữ ký nhân chứng ở dòng cuối cùng của văn bản mang tên Quách Chấn, kèm theo triện cá nhân khắc hình quả chuông nứt của ban Đo đạc. Ta tới đây để đối chứng: Dấu triện này, và việc Tạ Vân 'tự nguyện' ký vào khế ước chuyển nhượng ký ức... rốt cuộc có phải là sự thật?"
Quách Chấn không nhìn vào tập hồ sơ ngay. Lão già run rẩy thò bàn tay xù xì vào túi áo, lôi ra một que diêm dầu quẹt mạnh vào cạnh bàn. Một đốm lửa bùng lên, soi rõ những sợi gân xanh chằng chịt trên mu bàn tay lão. Lão thắp sáng ngọn đèn dầu lạc leo lét kê trên miệng chiếc bát mẻ.
Ánh lửa vàng vọt, chập chờn hắt lên mặt giấy trắng toát của bản sao hồ sơ TV-0409. Con dấu đỏ lòm của Tàng Ký Các nổi bật trên trang giấy, nằm ngay bên cạnh nét chữ ký sắc sảo, dứt khoát mang tên Tạ Vân, và phía dưới là vết chu sa tròn trịa của một dấu triện hình quả chuông nứt.
Đầu ngón tay nứt nẻ, đóng chai sần sùi của Quách Chấn khẽ chạm vào mặt giấy. Lão sờ vào dòng chữ "tự nguyện chuyển nhượng", lướt qua cái tên Chu Kính.
Bỗng nhiên, khóe môi lão giật giật. Cơ mặt bên trái co rút lại khiến vết sẹo đỏ bầm phồng lên như một con rết lớn. Lồng ngực lão phập phồng dữ dội, một luồng dưỡng khí nghẽn lại nơi cuống họng rồi bùng nổ thành một tràng cười. Đó là một tràng cười khản đặc, the thé, the thé đến rợn người, tựa như tiếng xẻng sắt cào trên mặt đá tảng giữa bãi tha ma.
"Tự nguyện? Ha ha ha... Tự nguyện chuyển nhượng ký ức?!"
Lão đột ngột gầm lên, bàn tay khẳng khiu vung mạnh, đập một cú sấm sét xuống mặt bàn gỗ tạp.
*RẦM!*
Chiếc địa bàn nứt nhảy dựng lên khỏi mặt bàn, nước đèn dầu lạc sóng sánh bắn ra tung tóe, làm tắt ngấm một góc bấc đèn.
"Lũ súc sinh khốn nạn ở Tàng Ký Các! Bọn chúng dám viết ra những lời này trên giấy trắng mực đen sao?!" Quách Chấn nghiến răng ken két, nước bọt lẫn máu đỏ tươi rỉ ra nơi khóe miệng rách toạc. Đôi mắt lão long lên sòng sọc, đỏ ngầu như mắt thú hoang bị dồn vào chân tường. "Con bé Vân mà chịu tự nguyện dâng nộp ký ức đo đạc cho lão Chu Kính? Bọn chúng nghĩ bốn năm trôi qua, mười bốn vạn người chết đã thành tro bụi, người sống thì tàn phế câm lặng ở cái xó rừng này, thì trời đất này không còn ai nhớ Tạ Vân là người thế nào ư?!"
Tạ Thanh Nghi nín thở. Hai bàn tay nàng giấu trong ống tay áo thụng siết chặt vào nhau đến mức móng tay găm sâu vào lòng bàn tay, đau nhói:
"Xin tiền bối nói rõ. Bốn năm trước, tại trạm quan trắc dưới chân tháp, chuyện gì đã thực sự xảy ra?"
"Nó là đứa cứng đầu nhất, bướng bỉnh nhất và giỏi nghề nhất cái ban Đo đạc này!" Quách Chấn thở dốc, hai vai nhấp nhô kịch liệt, giọng lão vỡ vụn ra thành từng mảnh sắc nhọn. "Bốn năm trước, khi tông môn bắt đầu bí mật lắp đặt mạng lưới ống đồng thu dẫn dư vang cắm sâu vào tim móng tháp Tĩnh Chuông, ai là người đầu tiên phát hiện ra ba điểm nứt áp lực ngầm? Là Tạ Vân! Ai là người cầm bản vẽ dao động địa mạch xông thẳng vào phòng nghị sự của đám trưởng lão nội môn, đập bàn chỉ trích việc cưỡng bức rút cạn dư vang từ đệ tử tiến cảnh sẽ làm sụp đổ hoàn toàn cấu trúc cân bằng linh khí dưới lòng đất? Là nó!"
Lão già giơ ngón tay run rẩy, chỉ thẳng vào vết sẹo co rúm gớm ghiếc trên nửa khuôn mặt mình:
"Ba tháng trước cái đêm định mệnh ấy, chính nó đã lôi ta, ép ta cùng ký tên vào ba lá đơn cảnh báo khẩn cấp gửi thẳng lên Hội đồng ba ghế. Nó viết rành rành từng câu từng chữ: Móng tháp Tĩnh Chuông là nút giao thoa tự nhiên của ba nhánh linh mạch ngầm lớn nhất Thanh Khê. Nếu dùng đại trận cưỡng đoạt mảng ký ức cảm xúc quy mô lớn để nén thành dư vang bán ra ngoài, áp lực hồi lưu sẽ xé toạc các vách ngăn cách linh. Khi đó, không chỉ toàn bộ đệ tử đang tiến cảnh trong tháp bị chấn vỡ thức hải, biến thành những kẻ ngây dại, mà toàn bộ chướng khí tích tụ ngàn năm dưới lòng núi sẽ phun trào, dìm chết cả thung lũng Hạ Khê! Tạ Vân khi đó đã chỉ thẳng mặt Chu Kính mà gào lên: 'Ký ức của người tu hành là sinh mệnh, là căn cốt của họ, không phải là thứ quặng đá rẻ tiền để các người muốn đào là đào, muốn đục khoét mang đi bán lấy linh thạch!'."
Lục An đứng lặng nơi góc cửa, ánh mắt hơi trầm xuống.
Từng lời nói của Quách Chấn như những nhát búa đập vỡ lớp vỏ bọc ngụy tạo của Tàng Ký Các. Cậu nhớ lại những con số kế toán khổng lồ trong cuốn sổ cái da cá đuối mà Chu Kính đã đưa cho cậu xem trong căn phòng kín đêm qua: khoản nợ bốn vạn khối trung phẩm linh thạch với Thương hội Bạch Sa, năm mươi ba luồng dư vang phẩm cấp Giáp phải bàn giao trước ngày mười tám tháng Bảy... Hóa ra cỗ máy nghiền nát số phận con người ấy không phải mới được dựng lên hôm qua. Nó đã được nhen nhóm, vận hành và thèm khát nuốt chửng linh hồn của các đệ tử từ bốn năm trước. Và Tạ Vân chính là người đầu tiên nhìn thấy miệng vực thẳm mà cỗ máy ấy đang đào ra, là người duy nhất dám đứng chặn trước bánh răng nghiền của nó.
"Vậy còn dấu triện này?" Lục An cất giọng trầm thấp, ngón tay trỏ chỉ vào dấu ấn cá nhân mờ nhạt ở chân văn bản. "Một dấu triện của nhân chứng ca trực không thể tự nhiên xuất hiện trên hồ sơ tử tuất nếu không có sự đồng thuận hoặc cướp đoạt."
"Dấu triện của ta?" Quách Chấn cười khẩy, nụ cười méo mó tràn đầy sự cay đắng tột cùng. "Đêm hôm đó, đúng giờ Tý, tiếng chuông đồng đột ngột tắt ngấm. Một tiếng nổ ngầm từ buồng điều áp trung tâm xé toạc tầng hầm số ba. Luồng dư vang rò rỉ cuộn trào như một cơn bão lửa mang theo hàng vạn tiếng gào thét của các mảnh ký ức vỡ vụn quét qua trạm quan trắc. Ta bị luồng khí tức hung bạo ấy hất văng vào vách đá, gãy nát xương đùi, nửa khuôn mặt bị linh hỏa thiêu rụi, ngất lịm trong đống gạch đá đổ nát. Khi ta tỉnh lại ba ngày sau đó tại Y đường ngoại môn, túi càn khôn của ta, lệnh bài đo đạc, và chiếc triện cá nhân khắc hình chuông nứt... tất cả đều biến mất. Đội thu hồi của Tàng Ký Các dưới quyền Chu Kính đã dọn sạch hiện trường. Bọn chúng lấy triện của một kẻ đang hôn mê thập tử nhất sinh để đóng lên một bản nhận nợ khống, ngụy tạo ra một cái chết 'tự nguyện' cho một người đã chết để vĩnh viễn bịt miệng thiên hạ. Lão Chu Kính... lão ta tính toán từng con dấu, từng giọt mực, không để sót lại một khe hở nào cho công lý!"
Tạ Thanh Nghi đứng sững sờ.
Gió mưa ngoài cửa liếp rít lên từng hồi, hắt những hạt nước lạnh buốt qua khe nứa, đậu lên gò má tái nhợt của nàng. Dù từ lâu, trong những đêm dài thức trắng lật giở từng trang lưu trữ, nàng đã lờ mờ đoán được cái chết của chị gái mình chứa đầy uẩn khúc, nhưng khi nghe tận tai sự thật trần trụi, tàn nhẫn này từ miệng một nhân chứng sống sót, nàng vẫn cảm thấy lồng ngực mình như bị một tảng đá ngàn cân đè nén đến nghẹt thở.
Chị gái nàng không hề đầu hàng. Chị ấy không phải là kẻ hèn nhát ký tên bán đi phần hồn của mình để đổi lấy vài đồng linh thạch thí xả cho gia đình. Chị ấy đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, đứng đơn độc giữa tâm bão để bảo vệ đạo lý của một người đo đạc địa mạch.
"Con bé biết bọn chúng sẽ không tha cho nó," Quách Chấn hạ giọng. Cơn thịnh nộ dữ dội dường như đã vắt kiệt chút sinh lực tàn tạ của lão già phế nhân, nhường chỗ cho một nỗi bi thương sâu thẳm như lòng giếng cạn.
Lão chống thanh nạng gỗ mun, khập khiễng lê từng bước nặng nề về phía góc chòi ẩm thấp và tối tăm nhất—nơi kê một chiếc thùng gỗ thông đựng khoai mốc phủ đầy bao tải rách. Quách Chấn gạt chiếc thùng sang một bên, quỳ một chân xuống nền đất nhão, dùng những ngón tay gầy guộc cạy một tấm ván sàn mục nát đã ngả màu xám đen.
Bên dưới lớp ván, sâu trong một hốc đất sét khô ráo được lót rơm mục, lộ ra một chiếc hộp sắt tây đã rỉ sét bốn góc. Chiếc hộp được bọc kín mít bằng ba lớp vải dầu chống thấm, mép vải buộc chặt bằng dây gai rừng.
Quách Chấn nâng chiếc hộp lên bằng cả hai tay, cẩn thận như đang nâng niu hài cốt của chính đứa con ruột thịt. Lão lê bước trở lại bàn, đặt chiếc hộp sắt vào giữa vầng sáng vàng vọt của ngọn đèn dầu lạc.
"Đêm mười ba tháng Bảy bốn năm trước... tức là chỉ đúng một đêm trước khi tháp Tĩnh Chuông nổ tung," Quách Chấn thì thào, bàn tay run rẩy tháo từng nút thắt dây gai đã mục giòn. "Tạ Vân đội mưa đến tìm ta tại trạm đo đạc dã ngoại bên bờ suối sau núi. Quần áo nó ướt sũng, mặt cắt không còn hạt máu. Nó đưa cho ta chiếc hộp này. Nó bảo: 'Chú Quách, Chu Kính đã dẫn theo người của Chấp Sự Đường phong tỏa toàn bộ kho lưu trữ kỹ thuật. Mọi bản đồ áp lực ngầm và nhật ký trắc địa của cháu đều bị thu giữ niêm phong. Cháu chỉ kịp giấu lại thứ này. Ngày mai là đại lễ tiến cảnh, chúng bắt cháu phải trực vận hành buồng nén. Cháu biết cháu sẽ không bước ra khỏi tháp được nữa. Nếu cháu chết... và nếu một ngày nào đó, em gái cháu mang theo lệnh bài kiểm chứng sư tìm đến đây... xin chú hãy trao lại tận tay cho nó'."
Lớp vải dầu cuối cùng được mở ra. Nắp hộp sắt kẽo kẹt bật mở.
Bên trong hộp lót một lớp bông gòn cũ kỹ đã ố vàng theo năm tháng. Nằm gọn gàng trên lớp bông là một chiếc thước đo linh mạch dài chừng một thước hai tấc, đúc bằng huyền đồng đen kịt, bốn góc thước đã mòn nhẵn bóng loáng vì ma sát với đá núi qua hàng ngàn ca trực.
Và nằm ngay bên cạnh chiếc thước đồng, là một phong thư nhỏ gấp bằng giấy trúc vàng Cổ Khê—loại giấy vỏ trúc thủ công chỉ có ở quê nhà của hai chị em. Mép phong thư được niêm phong cẩn mật bằng một giọt sáp ong rừng màu nâu thẫm, bên trên in hằn vân tay của người gửi.
Trên mặt phong bì, chỉ có vỏn vẹn ba chữ viết bằng nét bút lông mảnh mai, thanh tú nhưng vô cùng dứt khoát:
*Gửi Thanh Nghi.*
***
Gian chòi chìm vào một khoảng im lặng đến rợn ngợp.
Không một ai lên tiếng. Chỉ có tiếng mưa rào quất xối xả vào mái rạ, tiếng nước từ giọt gianh chảy tong tòng xuống rãnh đất ngoài hiên, và tiếng hơi thở dồn dập, nghẹn ngào nơi lồng ngực Tạ Thanh Nghi.
Nàng đứng chôn chân tại chỗ, đôi mắt dán chặt vào ba chữ trên phong bì. Nét chữ ấy nàng đã thấy hàng vạn lần trên những cuốn vở tập viết bằng giấy bản thuở ấu thơ, trên những mảnh giấy ghi chú công thức linh dược treo đầu giường, trên những lá thư ngắn gửi từ đỉnh núi Thanh Khê về gia đình trong những năm đầu nàng mới nhập môn. Đó là nét chữ của Tạ Vân—người chị gái luôn nghiêm khắc, ít cười, nhưng luôn lặng lẽ gánh vác mọi món nợ và hiểm nguy trên lưng để nàng có thể yên ổn bước chân vào con đường tu đạo.
Những ngón tay của Tạ Thanh Nghi khẽ vươn ra. Đôi bàn tay vốn nổi tiếng trong Giám Ký Viện vì sự chuẩn xác tuyệt đối, đôi bàn tay có thể cầm dao trổ bóc tách từng sợi màng cá tuyết mỏng manh mà không làm rách một tế bào, hay chấm mực chu sa vạch ra những nét son ngay ngắn trên biên bản thẩm định... lúc này lại run rẩy kịch liệt.
Nàng cầm phong thư lên. Trọng lượng của nó nhẹ bẫng, mỏng manh như một chiếc lá khô mục, nhưng khi đặt vào lòng bàn tay nàng, nó lại nặng tựa cả ngọn núi Thái Nhạc đè sụp xuống tâm can.
Lớp sáp ong rừng sau bốn năm nằm dưới lòng đất đã trở nên giòn rụm. Dưới sức ép khẽ khàng từ đầu ngón tay cái của nàng, lớp sáp nứt ra một tiếng *tách* rất nhỏ.
Lục An lùi lại nửa bước chân, đầu khẽ nghiêng nhìn qua khe liếp ra màn sương trắng đục bên ngoài. Cậu không nhìn vào bức thư, cũng không nhìn vào gương mặt của Tạ Thanh Nghi. Là một người từng làm nghề lưu ký, cậu hiểu sâu sắc sự thiêng liêng và tàn nhẫn của khoảnh khắc này. Cậu đã chứng kiến biết bao người tu hành đối diện với di vật của người thân đã khuất, và cậu biết rằng có những nỗi đau chỉ có thể chịu đựng trong sự cô độc tuyệt đối, không dung thứ cho bất kỳ ánh mắt thương hại nào từ kẻ khác.
Tạ Thanh Nghi mở mẩu giấy trúc vàng. Từng dòng chữ viết bằng thứ mực lưu ngân chống nước đã phai nhạt sang màu xám tro hiện ra rõ ràng dưới ánh đèn dầu lạc:
*"Thanh Nghi,*
*Nếu muội cầm được bức thư này từ tay chú Quách, nghĩa là linh cảm đen tối nhất của tỷ đã thành sự thật: bọn họ sẽ không bao giờ để một người nắm giữ toàn bộ bản đồ áp lực ngầm được sống sót rời khỏi chân tháp Tĩnh Chuông.*
*Tỷ không còn nhiều thời gian để viết dài. Đêm qua, khi ngồi bên bờ suối đá ở Nam Lĩnh cùng muội, nhìn muội ăn củ ấu nướng mà muội thích nhất hồi nhỏ, tỷ đã định mở lời nói hết mọi chuyện. Ba năm trời chúng ta không nhìn mặt nhau, kể từ cái ngày muội kiên quyết rời bỏ tông môn để thi vào Giám Ký Viện, tỷ đã giận muội vô cùng. Tỷ từng nghĩ muội ích kỷ, chỉ muốn trốn chạy khỏi gánh nặng nợ nần linh mạch của gia tộc, muốn khoác lên mình bộ đạo bào chấp pháp lạnh lùng để đứng ngoài nhìn đồng môn chật vật trong bùn lầy. Nhưng đêm qua, khi muội run rẩy đưa cho tỷ chiếc áo ấm bằng len cừu tự tay muội dệt, khi hai chị em ta ngồi tựa lưng vào tảng đá cuội nghe tiếng nước suối chảy róc rách và nói hết những uất ức dồn nén suốt bao năm qua... tỷ mới hiểu rằng muội muội của tỷ chưa bao giờ thay đổi.*
*Muội chọn Giám Ký Viện là để tìm kiếm một chỗ đứng công chính, một thước đo công lý không bị đồng tiền bẻ cong. Còn tỷ ở lại ban Đo đạc là để giữ lấy một chốt chặn an toàn cho hàng ngàn đệ tử vô tội. Chúng ta đi hai con đường khác nhau, nhưng mục đích chưa từng sai lệch: chúng ta đều không muốn nhìn thấy những kẻ yếu thế bị tước đoạt đến giọt máu cuối cùng.*
*Tỷ đã tha thứ cho muội từ lâu rồi, Thanh Nghi à. Buổi tối hôm qua bên bờ suối Nam Lĩnh là buổi tối thanh thản, ấm áp nhất của tỷ trong suốt bốn năm đằng đẵng làm việc dưới đáy tháp u ám này. Đừng tự trách mình, đừng dằn vặt bản thân vì sự lạnh nhạt trước đây. Hãy sống tiếp, sống thật kiên cường, và tuyệt đối... tuyệt đối đừng bao giờ để bọn chúng biến ký ức của con người thành công cụ giam cầm và nô dịch người sống..."*
Nét mực lưu ngân đến đây thì kết thúc đột ngột, vội vã như thể người viết vừa nghe thấy tiếng bước chân dồn dập từ phía xa. Không có lời từ biệt hoa mỹ, không có lời dặn dò ủy mị.
Tạ Thanh Nghi đứng chết trân giữa gian chòi ẩm thấp.
Mưa ngoài trời vẫn quất ràn rạt. Một luồng gió lạnh luồn qua khe nứa thổi tạt vào gò má nàng, buốt buốt. Nàng mở to hai mắt, trừng trừng nhìn vào từng nét chữ, từng dấu chấm, dấu phẩy trên trang giấy trúc vàng.
Bộ não của nàng—với sự rèn luyện khắc nghiệt, chuẩn xác của một kiểm chứng sư cao cấp—lập tức tiếp nhận và phân tích toàn bộ khối dữ kiện sự kiện: *Thời gian: Đêm mười ba tháng Bảy bốn năm trước.* *Địa điểm: Bờ suối đá ở Nam Lĩnh.* *Hành động: Hai chị em đã gặp nhau. Đã nướng củ ấu. Đã trao chiếc áo len cừu. Đã ngồi tựa lưng vào tảng đá cuội nghe tiếng suối. Đã nói hết mọi uất ức, đã tháo gỡ khúc mắc ba năm. Đã hoàn toàn tha thứ và làm hòa.*
Tất cả đều là sự thật khách quan. Một sự thật được chứng thực bằng chính thủ bút của Tạ Vân, bằng chất liệu giấy trúc vàng Cổ Khê không thể làm giả, bằng niên đại của giọt sáp ong rừng được bảo quản nguyên vẹn suốt bốn năm ròng.
Thế nhưng...
Bên trong tâm thức nàng, hoàn toàn là một khoảng không đen ngòm, trơ lì và lạnh ngắt.
Tạ Thanh Nghi nhắm nghiền mắt lại. Nàng dốc toàn bộ thần thức, đào sâu vào từng ngóc ngách, từng tầng lớp ký ức của chính bản thân mình. Nàng cố gắng tìm kiếm. Nàng muốn tìm lại dù chỉ một tia hơi ấm mơ hồ từ tảng đá cuội đêm hôm đó. Nàng muốn ngửi thấy mùi khói thơm bùi của củ ấu nướng trên than hồng. Nàng muốn nhớ lại cảm giác khi ngón tay mình chạm vào bờ vai gầy guộc của chị gái khi trao chiếc áo len. Nàng muốn nghe lại âm thanh tiếng cười, hay tiếng khóc của Tạ Vân dưới ánh trăng Nam Lĩnh...
Nhưng không có gì cả. Tuyệt đối không có một mảnh vụn nào tồn tại.
Thức hải của nàng phẳng lặng và lạnh lẽo như một tảng băng trôi giữa biển đêm. Khoảng thời gian từ giờ Tuất đến giờ Hợi đêm mười ba tháng Bảy bốn năm trước trong tâm trí nàng chỉ là một hố đen rỗng tuếch, bị cắt gọt sạch sẽ không để lại một vết gợn.
Đó chính là cái giá của cảnh giới. Ba năm trước, khi nàng ngồi trong tĩnh thất của phân viện Giám Ký Viện, liều mạng đột phá từ Dẫn Khí tầng chín lên Tụ Mạch sơ kỳ, cánh cửa cảnh giới đã khép sập lại sau lưng nàng. Và Thiên luật vô tình đã tước đoạt chính xác cụm ký ức tự truyện ấy—cụm ký ức chứa đựng toàn bộ cảm xúc gắn kết, sự hòa giải, tình yêu thương và sự tha thứ của người chị ruột thịt trước khi vĩnh viễn lìa đời.
Nàng biết sự việc đã xảy ra, nhưng nàng không thể cảm nhận được nó.
Nàng đọc bức thư xé lòng của chị gái mình, mà tâm trí lại bình thản, trơ trọi như đang đọc một bản công văn lưu trữ của một người xa lạ viết cho một kẻ xa lạ nào đó tình cờ trùng tên với mình. Không có sự vỗ về nào cho linh hồn. Không có sự giải thoát hay nhẹ nhõm nào ùa về như người đời thường tưởng tượng. Chỉ có một nỗi kinh hoàng tột cùng trước sự tàn nhẫn vô biên của quy luật tu hành.
Tri thức sự kiện trên giấy trắng mực đen không thể làm sống lại trải nghiệm đã bị Thiên luật xóa bỏ. Khi Thiên luật lấy đi ký ức cảm xúc, nó không chỉ lấy đi quá khứ, mà nó vĩnh viễn biến con người thành một kẻ tàn phế về tâm linh, để lại trong lồng ngực một vết thương hổng hoác, đen ngòm, không một thứ dược liệu hay công pháp nào có thể vá lành.
Tạ Thanh Nghi từ từ hạ bức thư xuống.
Nàng không khóc. Những kẻ đã bị cắt đứt sợi dây cảm xúc cốt lõi thậm chí không tìm thấy lý do hay động lực sinh lý để nước mắt có thể trào ra một cách tự nhiên. Nàng chỉ đứng đó, bất động như một pho tượng đá xám giữa màn mưa rừng, cô độc và lạnh lẽo đến mức khiến người ta phải rùng mình.
Lục An nhìn sườn mặt tái nhợt, vô hồn của nàng.
Cậu hiểu. Cậu hiểu đến từng chân tơ kẽ tóc cái cảm giác quái gở, tàn nhẫn ấy. Bản thân cậu cũng đang ôm trong ngực cuốn sổ bọc da hoẵng xám, lật giở từng trang ghi chép về một "Người đối chiếu số 3" từng đạt tới Trúc Đài cảnh viên mãn, từng tung hoành kiếm khí, nhưng khi đọc lại những dòng chữ của chính mình, trong lòng cậu chỉ có sự dửng dưng trống rỗng của một người đọc sách truyện dân gian. Cậu và nàng, ở một khía cạnh tàn khốc nào đó, đều là những mảnh xác ướp của quá khứ đang phải mang vác danh tính của chính mình đi tiếp giữa cõi đời.
Cậu không bước tới an ủi. Cậu không nói những câu vô nghĩa như "chí ít cô cũng biết chị ấy không trách móc cô", hay "người chết đã yên nghỉ, cô hãy buông bỏ". Đối với một người vừa nhận thức rõ ràng về sự tước đoạt tuyệt đối của Thiên luật, những lời an ủi sáo rỗng ấy chỉ là sự xúc phạm tàn nhẫn nhất.
Thay vào đó, Lục An khẽ bước tới bên chiếc bàn gỗ. Bằng bàn tay trái còn lành lặn, cậu vươn ra, nhẹ nhàng nhấc chiếc thước đo linh mạch bằng huyền đồng đen kịt lên khỏi lớp bông gòn cũ ố vàng.
Cậu rút từ thắt lưng ra một chiếc khăn vải thô sạch sẽ, cẩn thận lau đi lớp bụi mốc bám trên các cạnh kim loại lạnh ngắt. Động tác của cậu chậm rãi, trầm tĩnh và dứt khoát—động tác quen thuộc của một người thợ lưu ký đang dùng đôi tay của mình để đưa mọi sự việc thoát khỏi vũng lầy cảm xúc ủy mị, kéo nó trở về với thực tại vật chất trần trụi.
"Tạ kiểm chứng sư," giọng Lục An vang lên đều đều, trầm thấp giữa tiếng mưa rừng ràn rạt. "Tạ Vân tiền bối để lại chiếc hộp này, bên trong có hai thứ. Bức thư là sự thật về tình cảm của chị ấy dành cho cô. Còn chiếc thước này... là trách nhiệm và công cụ của một người đo đạc địa mạch."
Tạ Thanh Nghi khẽ chớp mắt một cái.
Thanh âm vững chãi, lạnh lùng của Lục An giống như một mũi dùi nhọn gõ vào tảng đá băng đang bao bọc lấy thức hải nàng, kéo nàng giật mình thoát khỏi cơn tê liệt tinh thần. Nàng hít vào một hơi thật sâu. Luồng không khí ẩm mốc, lạnh buốt tràn vào buồng phổi khiến lồng ngực nàng nhói buốt, nhưng cơn đau thể xác ấy lập tức đánh thức bản năng bén nhọn của một kiểm chứng sư chuyên nghiệp.
Nàng gập lá thư lại theo đúng những nếp gấp cũ bốn năm trước, cẩn thận nhét nó vào chiếc túi da chống nước bên trong ngực áo, áp sát vào lồng ngực trái. Khi nàng ngẩng đầu lên, ánh mắt nàng đã lấy lại vẻ sắc lạnh như băng tuyết, dù vành mắt vẫn còn vương một vệt đỏ nhạt:
"Lục An, đưa chiếc thước cho ta."
***
Chiếc thước đo linh mạch dài đúng một thước hai tấc, rộng chừng hai ngón tay, dày dặn và đầm tay. Toàn thân thước được đúc bằng huyền đồng đen pha lưu ngân theo bí pháp luyện kim của ban Đo đạc, nhằm chống lại sự ăn mòn và nhiễu loạn từ trường do linh khí ngầm phát ra.
Mặt trước của thước được khắc các vạch chia độ tiêu chuẩn: vạch đo góc nghiêng của móng tháp, vạch đo áp lực xung mạch, và thang đo chu kỳ dao động của tiếng chuông. Những rãnh chia độ này đã mòn vẹt, nhiều chỗ kim loại bị lõm vào do va đập, chứng minh Tạ Vân đã cầm nó trên tay qua hàng trăm ca trực đêm gian khổ dưới đáy tháp sâu.
Nhưng khi Lục An lật mặt sau của chiếc thước lại dưới vầng sáng của ngọn đèn dầu lạc, đồng tử của cả ba người trong căn chòi đồng thời co rút lại.
Mặt sau của chiếc thước không hề trơn nhẵn như những chiếc thước quy chuẩn thông thường do Tàng Ký Các hay Chấp Sự Đường cấp phát. Trên nền kim loại huyền đồng đen mờ, chi chít những đường rãnh cực mảnh, nông sâu khác nhau, được khắc bằng mũi kim trâm trận pháp chuyên dụng. Những đường nét ấy mảnh mai như sợi tơ nhện, đan xen, lồng ghép vào nhau tạo thành một mạng lưới sơ đồ không gian ba chiều vô cùng tinh vi và phức tạp.
"Đây không phải là ký hiệu trận pháp thông thường của nội môn," Tạ Thanh Nghi lập tức cúi người sát mặt bàn, rút từ túi đồ nghề con một chiếc kính phóng đại tròn viền đồng thau, mặt kính mài bằng tinh thể thạch anh trong suốt. Nàng áp thấu kính vào sát bề mặt thước. "Đây là hệ thống ký hiệu trắc địa ngầm chuẩn cổ của Thanh Khê Tông từ thời Khang Định... loại ký hiệu đã bị phế bỏ khỏi giáo trình đệ tử ba mươi năm trước!"
"Mỗi một vạch khấc ngắn ở đây tương đương với mười trượng chiều sâu dưới lòng đất," Lục An nheo mắt nhìn qua thấu kính, dùng móng tay cái của bàn tay lành lặn lần theo đường rãnh sâu nhất chạy dọc sống lưng thước. "Nhìn cấu trúc phân nhánh này xem. Điểm hội tụ ở giữa... đây chính là tim móng tháp Tĩnh Chuông. Điểm giao thoa tự nhiên của ba dòng linh mạch ngầm: mạch Thanh Khê từ đỉnh núi rót xuống, mạch Ngọa Hổ từ sườn tây kéo sang, và mạch Hắc Thạch từ đáy vực sâu bốc lên. Còn những vòng tròn đồng tâm này... chính là vị trí của các buồng điều áp thu dẫn dư vang."
"Con bé Vân đã tự mình đo đạc lại toàn bộ lưu lượng ngầm dưới chân tháp," Quách Chấn cũng chống nạng bước sát lại, ngón tay run rẩy chỉ vào các vạch khắc với vẻ kinh ngạc tột bực. "Bản vẽ chính thức trên giấy của tông môn đã bị Chu Kính niêm phong, chỉnh sửa và bóp méo số liệu áp suất nhiều lần để che giấu nguy cơ quá tải. Nhưng con bé này... nó không tin vào giấy tờ của Chấp Sự Đường! Nó đã bí mật đo lén bằng thiết bị cơ học, rồi dùng kim trâm khắc toàn bộ số liệu thực địa vào chính cây thước đo bất ly thân của mình!"
Dưới thấu kính thạch anh phóng đại, bên cạnh những đường dẫn áp lực phức tạp chạy chằng chịt dọc thân thước, một chuỗi ký tự kỹ thuật cực nhỏ hiện lên rõ mồn một. Từng nét chữ khắc sâu vào kim loại, mang theo sự sắc sảo và quyết đoán không thể nhầm lẫn của Tạ Vân:
*[Trục chính Giáp-Bảy: Nguy cơ quá tải 140% khi gom 50 luồng dư vang. Cấm tăng áp.]* *[Đường xả phụ Đo đạc Bính-Ba: Đã mở thông vào kho rỗng cổ đại dưới đáy móng. Dung tích ước tính 3.000 phương. Van khóa cơ học bằng đá xanh, không chịu sự điều khiển của trận bàn trung tâm.]*
"Đo đạc Bính-Ba!"
Lục An buột miệng thốt lên, thanh âm của cậu trầm đục nhưng vang rền trong gian chòi chật hẹp.
Cậu và Tạ Thanh Nghi đồng thời ngẩng đầu lên, bốn mắt nhìn nhau. Trong đáy mắt của cả hai người đều bùng lên một tia sáng chấn động dữ dội.
Cái tên "Đo đạc Bính-Ba" không hề xa lạ. Đó chính là dòng ký tự bị đứt đoạn trên trang mười lăm bị xé rách trong cuốn sổ bọc da hoẵng xám của Lục An—dòng ký tự mà đêm qua, trong mật thất Giám Ký Viện, họ đã phải dùng bột thạch cao mịn quét xiên dưới ánh đèn dầu để phục dựng lại từ các vết hằn lún trên bề mặt trang mười sáu!
Mảnh ghép bị xé mất của Lục An trong chu kỳ lưu ký cũ, và bản đồ mật mã kỹ thuật trên cây thước đồng của Tạ Vân bốn năm trước... đã hoàn toàn trùng khớp và nối liền vào nhau thành một đường thẳng duy nhất.
"Kho rỗng dưới chân tháp..." Tạ Thanh Nghi thì thầm, ngón tay nàng run lên khi chạm vào ký hiệu một khoang rỗng hình chữ nhật nằm sâu ba trượng dưới lớp đá móng kiên cố nhất của tháp Tĩnh Chuông. "Chị ấy đã nhìn thấy trước thảm họa. Chị ấy biết rằng nếu cỗ máy thu dẫn dư vang của Chu Kính gom đủ năm mươi luồng cảm xúc, áp lực hồi lưu sẽ nổ tung và nghiền nát toàn bộ đệ tử. Vì vậy, chị ấy đã bí mật đào một đường xả áp lực phụ, dẫn thẳng luồng năng lượng thừa sang một khoang rỗng bỏ hoang từ thời cổ đại dưới lòng đất để tiêu tán áp suất khi hệ thống quá tải!"
"Không chỉ đơn giản là tiêu tán áp lực," Lục An nheo mắt, ánh mắt cậu dán chặt vào một đường rãnh có dấu hiệu bị cạo sửa thô bạo bằng một mũi kim loại khác, đè nghiến lên trên nét khắc ban đầu của Tạ Vân. "Hãy nhìn kỹ điểm chuyển hướng này. Nhìn kỹ góc mở của van cơ học."
Cậu chỉ ngón tay vào một ký hiệu mũi tên mới được khắc bổ sung, nét khắc vụng về và sắc cạnh hơn nhiều so với nét chữ thanh thoát của Tạ Vân:
"Đường xả phụ của Tạ Vân vốn được thiết kế để phân tán dư vang vào lòng đất đá, nhằm triệt tiêu chấn động bảo vệ tính mạng con người. Nhưng ai đó... ai đó sau biến cố Tĩnh Chuông bốn năm trước, đã tìm thấy bản vẽ này, hoặc đã phát hiện ra đường hầm ngầm mà Tạ Vân đã đào sẵn."
Lục An ngẩng đầu, nhìn thẳng vào đôi mắt đen sâu thẳm của Tạ Thanh Nghi. Từng chữ cậu thốt ra rơi xuống nền đất nện ẩm ướt như những viên chì đặc:
"Chu Kính không hề phá hủy đường xả phụ này. Lão ta cũng không hề sửa chữa lỗi quá tải của tháp Tĩnh Chuông. Lão ta đã lợi dụng chính đường ống ngầm do chị gái cô liều mạng đào ra, lắp thêm một van chuyển hướng bí mật bằng đồng thiếc... biến nó thành một đường dẫn lén lút để gom toàn bộ năm mươi ba luồng dư vang phẩm cấp Giáp từ đại lễ tiến cảnh năm nay... rót thẳng xuống kho ngầm Bính-Ba để đóng bình và bí mật vận chuyển ra ngoài cho Thương hội Bạch Sa!"
Không khí trong căn chòi như đông cứng lại thành băng.
Sự thật lạnh lẽo, tàn nhẫn và ghê tởm phơi bày trọn vẹn dưới ánh đèn dầu leo lét.
Một công trình cứu mạng được tạo ra bằng mồ hôi, trí tuệ và sự hy sinh tính mạng của một đệ tử đo đạc chân chính nhằm ngăn chặn thảm họa... cuối cùng lại bị những kẻ cầm quyền biến thành một công cụ hoàn hảo, một cỗ máy ngầm không tì vết để phục vụ cho đường dây buôn lậu ký ức, bóc lột và nghiền nát số phận của hàng chục con người vô tội khác.
Quách Chấn đứng tựa vào thanh nạng mun, hai vai rung lên bần bật. Nửa khuôn mặt cháy sẹo của lão co giật liên hồi, hàm răng nghiến chặt vào nhau phát ra tiếng rít ken két:
"Con bé Vân... nó chết mà mắt không thể nhắm được," lão già thì thào qua kẽ răng, giọng nói nghẹn ngào trong sự bất lực cùng cực. "Bọn chúng giết nó, cướp đoạt công trình của nó, xóa sạch tên tuổi của nó... rồi dùng chính xương máu của nó để xây nên cái bẫy nô dịch cho những đứa trẻ vô tội khác. Trời đất này... tông môn này... rốt cuộc là nơi tu đạo hay là cái lò mổ linh hồn?!"
Tiếng mưa ngoài trời bắt đầu ngớt dần, tiếng ràn rạt trên mái rạ chuyển thành những hạt mưa bụi li ti, giăng mắc khắp triền thông già một màu sương trắng đục mờ mịt. Gió lạnh từ thung lũng sâu thổi thốc qua khe liếp, làm ngọn lửa đèn dầu lạc chao đảo dữ dội, hắt những cái bóng vặn vẹo, dài ngoằng của ba người lên vách nứa ẩm mốc.
Tạ Thanh Nghi chậm rãi vươn tay, cầm lấy chiếc thước đo linh mạch bằng huyền đồng đen kịt. Nàng siết chặt thanh kim loại trong lòng bàn tay. Cạnh thước thô ráp, lạnh buốt cấn sâu vào da thịt nàng, mang lại một cơn đau nhức nhối nhưng chân thực tột cùng.
Nàng không có ký ức cảm xúc về buổi tối bên bờ suối đá Nam Lĩnh. Nàng vĩnh viễn không thể sống lại cảm giác được chị gái tha thứ, được ôm lấy người thân trong một đêm trăng thanh thản. Thiên luật tàn khốc đã tước đoạt điều đó khỏi thức hải của nàng, vĩnh viễn không bao giờ trả lại.
Nhưng cây thước này, những nét khắc trắc địa ngầm này, và món nợ máu bốn năm qua... là hoàn toàn có thật.
Tạ Thanh Nghi gập lá thư: "Chị ấy không phản bội, nhưng kẻ thủ ác đã dùng chính bản vẽ này để đổi hướng dòng chảy."