Niêm phong đầu tiên
Sáng sớm hôm sau, khói xám từ tàn tích xưởng lưu ký vẫn chưa nguội hẳn khi đoàn kiểm tra của Giám Ký Viện do Bùi Sâm dẫn đầu xuất hiện trước cổng Tàng Ký Các.
Sương mù đầu thu từ các hẻm núi Thanh Khê cuộn xuống đặc quánh, trườn qua những gờ đá tai mèo lởm chởm rồi đổ ập xuống khoảng sân tiền đình lát đá hoa cương xám xịt. Lớp sương ẩm ướt bám vào từng khe rãnh nứt nẻ của những bậc thềm đá dẫn lên đại sảnh tàng thư, đọng thành những vệt nước nhờn nhợt dưới đế giày huyền thiết của đám dịch sai. Gió sớm từ thung lũng thổi thốc lên mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi tro than nồng nặc—thứ mùi khét lẹt của giấy bản cháy dở, của khung gỗ dầu trẩu sụp đổ trong biển lửa đêm qua, vẫn còn bám chặt vào từng sợi vải thô trên vạt áo mộc của Lục An.
Cậu đứng im lìm bên cạnh Tạ Thanh Nghi, hai vai khẽ hạ thấp để giữ trọng tâm trước những cơn gió lốc sớm mai. Cánh tay phải của Lục An vẫn được nẹp chặt bằng sáu thanh tre già ngâm dầu trẩu, bọc kín mít trong nhiều lớp băng vải thô tẩm dịch hồ tiêu cay nồng—phương thuốc dân gian rẻ tiền của y đường dùng để ghìm chặt các khớp xương mu bàn tay vừa được nắn lại trong đêm. Mỗi nhịp đập của mạch máu nơi cổ tay đều kéo theo một cơn đau giật thấu tận màng tủy, buốt rát như có hàng ngàn mũi kim châm cứu cắm sâu vào màng xương. Nhưng Lục An không hề chớp mắt. Cậu đứng thẳng, khuôn mặt tái xanh vì thiếu ngủ và đau đớn, nhưng phẳng lặng và lạnh ngắt như mặt nước giếng đá đã đóng băng qua ba mùa đông tuyết phủ.
Bên cạnh cậu, Tạ Thanh Nghi khoác trường bào màu lam nhạt của Giám Ký Viện. Tà áo vốn phẳng phiu nay đã vương vài vệt bồ hóng mờ nhạt nơi gấu áo. Sắc mặt nàng trắng bợt, đôi môi không còn một giọt máu. Việc dốc cạn toàn bộ linh lực của một tu sĩ Tụ Mạch trung kỳ giữa biển lửa đêm qua để kết tạo và duy trì Huyền Băng Kết Giới, che chắn cho chiếc tráp sắt chứa vật chứng sống sót qua trận hỏa hoạn, đã để lại những tổn thương nội tạng nghiêm trọng. Những vệt hàn khí màu lam nhạt mỏng như sợi tơ nhện thỉnh thoảng lại ẩn hiện nơi khóe mắt và quanh các đầu ngón tay nàng, run rẩy theo từng nhịp thở ngắt quãng. Dẫu vậy, sống lưng của nữ kiểm chứng sư vẫn thẳng tắp như một thanh trường kiếm cắm chặt vào lòng đá. Hai bàn tay nàng ôm chặt chiếc hộp sắt niêm phong kép màu đen thau pha chì trước ngực—một vật nặng nề, lạnh toát và vững chãi, sừng sững như một cột mốc phân định ranh giới giữa sự thật và sự xóa bỏ.
Phía trước họ ba bước chân, Bùi Sâm chậm rãi nhấc chân bước lên bậc thềm đá cuối cùng.
Kiểm chứng sư ba mươi chín tuổi của Giám Ký Viện khoác trên mình chiếc áo choàng viền bạc thêu chìm phù hiệu cán cân công lý của tông môn. Khuôn mặt vuông vức, góc cạnh của ông ta tựa như được đẽo gọt từ đá hoa cương, khô khốc và tuyệt nhiên không gợn một tia cảm xúc. Cặp mắt sâu hoắm dưới đôi mày rậm quét qua dãy bao lơn bằng đá, dừng lại trên toán hộ vệ của Tàng Ký Các đang lúng túng đứng dàn hàng ngang trước cửa. Bọn thị vệ ngoại môn này vốn quen thói hống hách với đệ tử tạp dịch, nhưng khi chạm phải ánh nhìn sắc lạnh của Bùi Sâm cùng phù hiệu chấp pháp lấp lánh trên ngực áo ông ta, từng tên đều bất giác rụt cổ, lùi dạt sang hai bên cánh cửa gỗ lim đen bóng đã được thếp vàng nơi ngạch cửa.
Ánh mắt Bùi Sâm ngước lên, dừng lại trên tấm biển đồng cổ kính treo cao trên vòm cửa cuốn, nơi bốn chữ "Vạn Ký Quy Tông" được chạm nổi bằng nét chữ triện uy nghiêm, thâm trầm.
"Mở tráp đối chứng," Bùi Sâm cất giọng.
Âm sắc của ông ta không lớn, nhưng đều đặn, khô khốc và nặng trịch như tiếng hai phiến đá mài cọ xát vào nhau giữa không gian tĩnh mịch của buổi sớm mai.
Tạ Thanh Nghi không hề chần chừ một khắc. Nàng tiến lên hai bước, đặt chiếc tráp sắt nặng nề lên mặt bệ đá quan trắc đặt đối diện cổng vòm tàng thư. Bệ đá này vốn dùng để tiếp nhận và kiểm tra linh áp của các tài liệu mật trước khi nhập kho.
Lục An bước lên nửa bước, đứng sát bên sườn nàng. Bàn tay phải bị nẹp cứng bất động, cậu thuần thục dùng bàn tay trái lành lặn luồn vào trong ngực áo, rút ra một chiếc chìa khóa cơ học bằng đồng thau dài cỡ nửa gang tay. Thân chìa khóa có những rãnh khía răng cưa phức tạp và một rãnh trượt rỗng ruột ở giữa. Cậu cẩn trọng tra chìa vào ổ khóa cơ học nằm ẩn sâu dưới đáy hộp sắt, xoay ngược chiều kim đồng hồ ba nấc ngắn. Từng tiếng *tách, tách, tách* của các bánh răng thép ăn khớp vang lên giòn giã.
Cùng lúc đó, Tạ Thanh Nghi nâng bàn tay phải run rẩy lên, ngón trỏ tích tụ một sợi linh lực lam nhạt thanh mảnh như sợi chỉ, điểm thẳng vào tâm của đồ hình pháp trận bát giác khắc nổi trên nắp tráp. Hàn khí từ đầu ngón tay nàng truyền vào, kích hoạt cơ chế phá giải phong ấn linh lực bên trong.
Hai cơ chế cơ học và pháp thuật đồng thời giải phóng.
*Cạch.*
Một tiếng bật lẫy kim loại khô khốc vang lên. Nắp tráp sắt từ từ hé mở, một làn khí lạnh buốt giá lập tức tỏa ra nghi ngút, cuốn theo mùi the mát đặc trưng của dịch chiết rễ cây lưu ly thượng hạng hòa lẫn hơi sương đầm lầy.
Bên trong lòng tráp, trên lớp lụa cách linh màu trắng tuyết dày dặn, mảnh màng mỏng hữu cơ bóc tách từ bong bóng cá tuyết đầm lầy phương Bắc vẫn nằm nguyên vẹn. Dù đã trải qua nhiệt độ khủng khiếp của trận hỏa hoạn đêm qua, nhờ có Huyền Băng Kết Giới bảo bọc, mảnh màng vẫn giữ được độ dẻo dai, trong suốt và mềm mại như một lớp da người vừa lột. Dưới ánh sáng ban mai xám xịt xuyên qua lớp sương mù dày đặc, dấu ấn huyết màu đỏ thẫm của bệnh nhân Hà Lương hiện lên rõ mồn một từng đường vân xoáy, từng điểm đứt gãy tự nhiên của da thịt, đè nghiến lên dòng chữ nhận nợ ba mươi khối trung phẩm linh thạch được viết bằng thứ mực chu sa pha bột khoáng đặc chế.
Đặt ngay ngắn bên cạnh mảnh màng là văn bản ủy quyền đồng thuận kiểm tra y bạ có điểm chỉ mực lưu ngân tươi nguyên của chính Hà Lương, được lập vào chiều hôm trước. Và dưới cùng là bản sao trích lục bệnh án do chính các dược sư của y đường Vọng Sinh ký nhận và cấp phát lúc nửa đêm—tài liệu xác nhận rõ ràng rằng vào đúng thời điểm dấu ấn huyết này được đóng xuống theo ngày giờ ghi trên khế ước nợ, bệnh nhân Hà Lương đang hôn mê sâu, toàn thân co giật vì sốt nhiệt độc sau khi thất bại trong việc tiến cảnh Tụ Mạch.
Một chuỗi chứng cứ liền mạch, khép kín và không thể chối cãi từ thực thể vật chất cho đến quy trình thủ tục: màng dẫn dời ấn huyết tinh vi, văn bản ủy thác hợp pháp của đương sự, và bệnh án đối chiếu độc lập từ cơ quan y tế tông môn.
Bùi Sâm bước tới bên bệ đá. Động tác của ông ta chậm rãi, cẩn trọng đến mức tàn nhẫn. Ông rút từ túi áo ra một đôi găng tay bằng da hoẵng mỏng đã qua xử lý ngâm tẩm hóa chất chống nhiễm tạp khí, đeo vào từng ngón tay một cách tỉ mỉ. Rút một chiếc kẹp bạc mảnh từ trong hộp đồ nghề của viện, Bùi Sâm nhẹ nhàng nâng một góc rìa của mảnh màng hữu cơ lên, đưa sát vào ngọn đèn thạch anh tím cầm tay vừa được bật sáng.
Dưới luồng quang phổ tím sẫm, một dải huỳnh quang màu xanh lục nhạt bùng lên sắc nét chạy dọc theo rìa mép của lớp keo dán dở dang—minh chứng tuyệt đối cho sự hiện diện của dịch rễ lưu ly dùng để bóc tách dấu ấn.
Bùi Sâm quan sát kỹ lưỡng trong đúng mười nhịp thở. Ông không thốt ra một lời khen ngợi nào dành cho sự quả cảm của Lục An và Tạ Thanh Nghi, cũng không hề lộ ra vẻ kinh ngạc hay phẫn nộ trước thủ đoạn tàn độc của kẻ làm giả. Ông ta chỉ lạnh lùng tháo đôi găng tay da, thả chiếc kẹp bạc lại vào khay, rồi xoay người nhìn sang viên thư lại chấp sự đang đứng chờ lệnh với cuốn sổ biên bản mở sẵn:
"Căn cứ điều thứ mười bốn Quy chế Giám định Khế ước và Nghị định Tông môn số linh-bảy về việc bảo toàn chứng cứ trong các vụ việc có dấu hiệu xâm phạm an toàn khế ước diện rộng," Bùi Sâm dõng dạc tuyên đọc, giọng nói mang theo uy lực hành chính không thể lay chuyển, "chuỗi chứng cứ xuất trình đủ điều kiện kích hoạt biện pháp ngăn chặn khẩn cấp. Thi hành niêm phong bàn sao chép số bốn và kho phụ trợ vật liệu tại tầng một Tàng Ký Các ngay lập tức."
Lời tuyên bố vừa dứt, một tiếng cười khẽ khàng, trầm ổn và thong dong từ phía bóng tối sâu thẳm sau cánh cửa gỗ lim khép hờ bất chợt vọng ra.
"Bùi kiểm chứng sư phụng công thủ pháp, quả nhiên danh bất hư truyền. Nhưng sáng sớm tinh sương đã mang theo gió lạnh và tro tàn từ xưởng cháy đến tàng thư trọng địa, chẳng hay quy chế nào cho phép chư vị dọa dẫm đám thư lại trẻ tuổi của ta như vậy?"
Cánh cửa gỗ lim nặng nề mở rộng sang hai bên. Chu Kính thong thả bước ra.
Quản sự của Tàng Ký Các hôm nay khoác một bộ đạo bào màu xám tro trang trọng, đường kim mũi chỉ thẳng tắp, không vương lấy một hạt bụi trần. Mái tóc muối tiêu của ông ta được chải chuốt cẩn thận, búi gọn gàng trên đỉnh đầu bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc không chạm khắc hoa văn cầu kỳ. Gương mặt ngũ tuần đầy đặn của Chu Kính vẫn giữ nguyên vẻ điềm đạm, hòa nhã và từ tốn quen thuộc—nét mặt của một người cả đời chỉ biết cúi đầu bên án thư, phụng sự kinh điển và sổ sách, mang đầy vẻ thấu hiểu nhân tình thế thái của một tu sĩ Trúc Đài sơ kỳ đã đi qua bao thăng trầm quyền lực.
Đi theo sau lưng Chu Kính là hai thư lại chấp sự mang theo tráp tài liệu và bốn đệ tử hộ vệ thân tín, hông đeo đao ngắn bản rộng bọc bao da cá đuối. Tuyệt nhiên không thấy bóng dáng của Hàn Tố đâu.
Chu Kính dừng chân ở bậc thềm trên cùng, chắp hai tay sau lưng. Ánh mắt sâu thẳm của ông ta lướt qua cánh tay bó nẹp còn vương mùi thuốc nồng nặc của Lục An, rồi chuyển sang gương mặt tái nhợt rã rời của Tạ Thanh Nghi. Đôi mày hoa râm của ông khẽ chau lại, khóe môi nhếch lên một nụ cười khổ, buông một tiếng thở dài đầy vẻ tiếc nuối và thương cảm:
"Đêm qua ngoại viện hỏa hoạn ngút trời, tro tàn bay tận lên các đỉnh núi phía bắc. Ta ở trên lầu cao nhìn xuống mà trong lòng không khỏi xót xa. Nghe tin xưởng lưu ký của Phùng lão đầu bị cháy rụi hơn nửa gian, lão nhân gia lại không may trượt chân ngã gãy xương bánh chè, cả đời tàn phế, ta đã định sáng nay cử người mang ít linh dược hạ phẩm xuống thăm hỏi. Lục An à, ngươi là đứa trẻ do Phùng lão một tay nuôi nấng dạy dỗ, lúc này không ở lại bên giường bệnh trông nom ân sư sắc thuốc đắp vết thương, lại vội vã chạy lên tận đây gõ cửa đòi dán bùa niêm phong. Chẳng lẽ mấy tờ giấy nợ của khách hàng xa lạ ngoài kia còn quan trọng hơn tính mạng và đạo hiếu đối với người dưỡng dục ngươi sao?"
Từng lời thốt ra từ miệng Chu Kính đều êm ái, mang đầy đạo lý luân thường và sự quan tâm của bậc bề trên, nhưng ẩn sâu dưới lớp ngôn từ ấy là một mũi dao móc mỉa độc địa, ngấm ngầm quy chụp Lục An là kẻ vong ân bội nghĩa, máu lạnh vô tình.
Lục An siết chặt năm ngón tay trái giấu trong ống tay áo rộng. Vết thương bên tay phải như bị một ngọn lửa vô hình nung đốt, mồ hôi lạnh rỉ ra ướt đẫm trán, nhưng giọng nói của cậu khi cất lên vẫn giữ được độ phẳng lặng, lạnh tanh như đá tảng:
"Đa tạ Chu quản sự đã rủ lòng thương xót. Xưởng lưu ký của chúng tôi là nơi kiếm sống bằng nghề giấy mực, sống nhờ vào hai chữ tín nghĩa và sự thật rành rành trên từng mặt giấy trắng mực đen. Chân của Phùng thúc gãy rồi, đã có các dược sư lành nghề của y đường Vọng Sinh dùng nẹp gỗ và linh dược cứu chữa, vài tháng nữa xương cốt ắt sẽ lành. Nhưng nếu sự thật về những bản khế ước bị dời ấn huyết tinh vi này không được làm sáng tỏ và bảo lưu trước giờ khai mạc đại lễ ba năm một lần của tông môn, thì e rằng trong toàn thể đệ tử ngoại môn và cư dân Hạ Khê, số người bị tàn phế, thân bại danh liệt sẽ không chỉ dừng lại ở một đôi chân của Phùng thúc."
Nụ cười trên gương mặt Chu Kính nhạt dần, thay vào đó là vẻ mặt nghiêm nghị, thoáng chút thất vọng của một bậc trưởng bối đối với đứa con cháu ngỗ nghịch:
"Ngươi vẫn cố chấp và nông nổi y như bốn năm trước, Lục An. Ngươi nghĩ mình đang bảo vệ công lý, nhưng thực chất chỉ đang để sự ngờ vực mù quáng dẫn đường. Đáng tiếc thay, lòng nhiệt thành đặt sai chỗ thì chung quy cũng chỉ rước lấy tai ương cho bản thân và những người xung quanh mà thôi."
"Chu quản sự."
Bùi Sâm lạnh lùng cất tiếng cắt ngang màn đối đáp. Thanh âm của ông ta sắc nhọn như một lưỡi dao cạo giấy bằng thép tôi, chặt đứt bầu không khí giằng co đạo lý giả tạo:
"Đây là công vụ chính thức của Giám Ký Viện, được thực thi theo thẩm quyền tài phán độc lập do Hội đồng ba ghế giao phó. Lệnh niêm phong khẩn cấp số chín mươi hai đã được phát hành có đầy đủ chữ ký của hai phần ba số kiểm chứng sư thường trực. Đề nghị Chu quản sự tiếp nhận văn bản theo đúng trình tự và chỉ định người mở cửa bàn sao chép số bốn ngay bây giờ."
Chu Kính không hề có lấy nửa phần biến sắc trước thái độ cứng rắn của Bùi Sâm. Ông ta đứng thẳng người, hai tay khẽ chắp lại trước bụng theo đúng quy thức hành chính, hơi nghiêng đầu mỉm cười:
"Bùi huynh quá lời rồi. Tàng Ký Các từ xưa đến nay luôn là nơi gìn giữ quy củ, tôn trọng pháp độ của tông môn hơn bất kỳ nơi nào khác. Nếu Giám Ký Viện đã xuất trình đầy đủ lệnh tài phán khẩn cấp, lão hủ sao dám cản trở công vụ? Xin mời chư vị."
Nói đoạn, Chu Kính nghiêng mình nhường lối, phất tay ra hiệu cho hai viên thư lại chấp sự dẫn đường.
Đoàn người rảo bước qua gian tiền sảnh thênh thang của Tàng Ký Các. Nơi đây là một không gian kiến trúc khổng lồ hình vòm, bốn phía vách tường cao vút tận nóc nhà được lấp đầy bởi hàng vạn ngăn kéo bằng gỗ thiết mộc đen bóng, dùng để chứa thẻ ngọc, thẻ tre và các tập hồ sơ giấy của hàng chục thế hệ đệ tử. Không khí bên trong tàng thư viện quanh năm khô ráo, lạnh lẽo đến thấu xương, thoang thoảng mùi gỗ long não cay nồng, mùi dầu trẩu quét chống mối mọt và mùi ẩm mốc đặc trưng của hàng triệu trang giấy cũ nằm im lìm trong bóng tối qua năm tháng.
Họ bước nhanh qua các dãy hành lang dài hun hút, tiếng đế giày nện trên nền đá hoa cương vang vọng từng hồi đều đặn. Khi đoàn người rẽ vào khúc quanh dẫn tới khu vực xưởng phụ trợ sao chép nằm ở góc phía đông tầng trệt, Lục An bất chợt khựng lại nửa nhịp.
Tại khoảng trống trước cửa xưởng phụ, hai đệ tử Chấp Pháp Viện mang giáp da đen, tay cầm đoản côn đang đứng áp giải một người.
Đó là Mạnh Du.
Chàng thanh niên ngoại môn mới vài ngày trước còn tràn đầy sinh lực và khao khát chứng tỏ bản thân, nay trông hốc hác tột cùng. Mái tóc bù xù bết dính mồ hôi, râu ria lởm chởm trên cằm, đôi gò má hóp sâu làm lộ rõ hai hốc mắt thâm quầng. Bộ áo vải đay trên người cậu ta rách rưới, cáu bẩn sau nhiều ngày bị giam giữ trong nhà lao ngầm của Chấp Pháp Viện.
Khi nhìn thấy Lục An và Tạ Thanh Nghi đi tới cùng đoàn người của Giám Ký Viện, trong đôi mắt đờ đẫn của Mạnh Du bỗng lóe lên một tia sáng hy vọng run rẩy. Nhưng tia sáng ấy chỉ tồn tại trong chớp mắt rồi nhanh chóng lụi tàn, nhường chỗ cho sự bối rối và xa cách tột độ. Sau lần phá khiếu Phong Phủ thất bại, thiên luật và áp lực linh khí đã tước đoạt sạch sẽ toàn bộ ký ức cảm xúc của cậu ta. Mạnh Du không còn nhớ tình cảm gia đình ấm áp, không còn nhớ nỗi sợ hãi tột cùng khi ký vào bản nợ, cũng không còn nhớ lý do vì sao mình từng liều mạng bước chân vào con đường tu luyện gian khổ này. Đứng trước mặt Lục An lúc này, Mạnh Du chỉ nhìn cậu như một người quen mặt từng gặp trong một vài sự kiện khô khốc, không chút gợn sóng cảm xúc.
Bùi Sâm dừng bước trước mặt viên chấp pháp đầu lĩnh, rút từ trong tay áo ra một tờ công văn bằng giấy bìa cứng có đóng triện son vuông vức của Giám Ký Viện:
"Chiếu theo chuỗi chứng cứ vật chất mới thu thập được về hành vi làm sai lệch hồ sơ có hệ thống tại khâu hồi phục y tế sau chấn thương, Giám Ký Viện chính thức phát lệnh tạm hoãn áp giải cưỡng chế lao dịch tại linh mỏ Hắc Thạch Lĩnh đối với đệ tử ngoại môn Mạnh Du. Đương sự được chuyển giao sang diện nhân chứng vật chất được bảo hộ hành chính đặc biệt, tiếp tục lưu trú tại khu tập thể ngoại viện dưới sự giám sát độc lập của các chấp sự thuộc Giám Ký Viện."
Nghe từng lời rành rọt thốt ra từ miệng Bùi Sâm, cả thân hình Mạnh Du khẽ run bần bật. Bờ vai căng cứng suốt những ngày qua đột ngột chùng xuống, hai đầu gối cậu ta lảo đảo, suýt chút nữa quỵ ngã xuống nền đá lạnh lẽo nếu không có viên chấp pháp bên cạnh giữ lấy tay áo:
"Tạ... tạ ơn Bùi kiểm chứng sư... tạ ơn Tạ đại nhân... Lục huynh..."
Giọng Mạnh Du khản đặc, ngắt quãng, run rẩy trong sự nhẹ nhõm mơ hồ của một kẻ vừa thoát khỏi miệng vực thẳm.
"Chậm đã."
Một giọng nói trầm ấm nhưng ẩn chứa một lực cản vô hình nặng ngàn cân bất chợt vang lên từ phía sau. Chu Kính thong thả bước lên, dừng lại bên cạnh cột đá chịu lực, tay vuốt chòm râu ngắn tỉa tót cẩn thận. Ánh mắt ông ta nhìn thẳng vào Bùi Sâm, không hề có chút né tránh:
"Bùi huynh, việc Giám Ký Viện phát lệnh tạm hoãn áp giải để làm rõ chứng cứ vật chất là hoàn toàn đúng thẩm quyền tố tụng, ta không có ý kiến dị nghị. Nhưng về mặt nguyên tắc vận hành tài chính và thủ tục hành chính của tông môn, khoản nợ năm mươi khối trung phẩm linh thạch mang số hiệu Canh-Chín đứng tên Mạnh Du hiện vẫn là một mục ghi nợ hiện hữu, hợp lệ và đang sinh lãi trên sổ cái tài chính của tổng vụ ngoại viện."
Chu Kính quay sang nhìn Mạnh Du, nụ cười hòa nhã nở trên môi nhưng ánh mắt lại lạnh lẽo như băng giá ngàn năm:
"Cho đến khi Hội đồng ba ghế chính thức mở phiên điều trần công khai và ra phán quyết hủy bỏ khế ước do có yếu tố gian lận, thì về mặt pháp lý, khoản nợ này chưa thể bị xóa bỏ. Đệ tử Mạnh Du, tông môn khoan hồng không ép ngươi phải xuống hầm mỏ đá Hắc Thạch Lĩnh ngay sáng hôm nay, nhưng nghĩa vụ tài sản đối với tông môn thì vẫn còn nguyên giá trị. Trừ phi tại phiên điều trần trước mặt chưởng môn và đại diện cư dân Hạ Khê vào ngày bế mạc đại lễ, các ngươi chứng minh được toàn bộ chữ ký và ấn huyết trên bản lưu chính thức là giả mạo hoàn toàn, nếu không, hạn chót thanh toán vẫn tính theo kỳ hạn sau đại lễ. Nếu quá hạn mà không có linh thạch bù vào, tông quy định rõ thế nào, chắc ngươi cũng hiểu rõ chứ?"
Mạnh Du nghe từng chữ rót vào tai, sắc mặt vốn đã nhợt nhạt nay lại càng thêm tái mét. Cậu ta nuốt khan một ngụm nước bọt, cổ họng nghẹn ứ lại, lồng ngực phập phồng run rẩy. Chàng thanh niên chỉ biết cúi gầm mặt xuống, khẽ gật đầu trong sự bế tắc và cay đắng tột cùng.
Lục An đứng bên cạnh, bàn tay trái giấu trong tay áo siết chặt đến mức các đốt ngón tay trắng bệch, móng tay găm sâu vào lòng bàn tay đau nhói. Cậu thấu hiểu đến tận xương tủy sự tàn nhẫn trong đòn thủ tục này của Chu Kính. Lão cáo già này không hề dại dột chống đối lệnh hoãn thi hành của Giám Ký Viện; ông ta sẵn sàng nhượng bộ một bước về mặt con người, nhưng lại dùng chính các điều khoản tài chính cứng nhắc để giữ nguyên sợi dây thòng lọng lơ lửng trên đầu Mạnh Du. Một đòn đánh tâm lý hiểm độc—ông ta biến sự sống sót tạm thời của nạn nhân thành một chuỗi ngày tra tấn tinh thần kéo dài, khiến Mạnh Du luôn sống trong nỗi sợ hãi bị đày ải, đồng thời cảnh cáo tất cả những ai có ý định đứng ra làm nhân chứng.
"Về hiệu lực pháp lý cuối cùng của khoản nợ Canh-Chín, phiên điều trần của Hội đồng sẽ có phán quyết thỏa đáng," Bùi Sâm lạnh nhạt đáp, ánh mắt không hề lay chuyển trước những lời lẽ của Chu Kính. "Còn bây giờ, mở cửa bàn sao chép số bốn."
Chu Kính khẽ mỉm cười, lùi lại một bước, đưa tay ra hiệu cho viên thư lại giữ chìa khóa.
Người thư lại chấp sự run rẩy bước tới trước cánh cửa gỗ dày của gian phòng số bốn. Ổ khóa đồng kêu một tiếng *cạch* khô khốc khi chìa tra vào. Cánh cửa nặng nề từ từ hé mở.
Một luồng không khí ngột ngạt, nồng nặc mùi giấm thanh, keo da trâu đun dở và mùi phèn chua dùng để tẩy trắng giấy lập tức ùa ra hành lang.
Gian phòng sao chép số bốn là một xưởng phụ trợ nằm khuất sau dãy cột chịu lực của tầng trệt. Không gian bên trong dài và hẹp, được chiếu sáng lờ mờ bởi ba ô cửa sổ nhỏ trổ trên cao sát trần nhà. Khắp căn phòng kê bốn chiếc bàn làm việc dài bằng gỗ sồi xám, mặt bàn chằng chịt những vết rạch của dao trổ và những vết ố của các loại mực khác nhau. Trên các giá gỗ gắn dọc tường ngổn ngang những chồng giấy bản thô, các khay sành đựng bột đá mài mịn, chổi quét hồ bằng lông lợn rừng, dao trổ cán sừng và hàng chục tập hồ sơ lưu trữ thông thường đang được gia công, bồi bìa dở dang.
Bùi Sâm bước vào phòng đầu tiên. Ông rút từ tay viên thư lại đi cùng hai dải lụa đỏ thô dày bản có thêu chìm ấn triện niêm phong của Giám Ký Viện, cùng một cuộn dây chì cách linh lấp lánh ánh kim mờ đục.
Trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, Bùi Sâm tự tay căng sợi dây chì quanh mép chiếc bàn làm việc lớn nhất đặt ở chính giữa phòng—nơi có đặt chiếc hòm gỗ đựng các loại dụng cụ dao kéo chuyên dụng. Ông quấn chặt sợi dây chì quanh then cài của hòm gỗ, dán đè dải lụa đỏ lên mép nắp hòm, rồi dùng một con dấu đồng nung nóng ấn mạnh lên lớp sáp niêm phong màu đen tuyền.
Xong xuôi, Bùi Sâm bước tới chiếc bàn con kê sát cửa ra vào, nơi đặt sẵn tờ biên bản kiểm kê hiện trường.
"Chu quản sự, mời ngài ký và đóng dấu xác nhận vào biên bản phong tỏa hiện trường bàn sao chép số bốn."
Chu Kính bước tới, thong thả đón lấy cây bút lông từ tay đệ tử đi cùng. Ông ta không hề vội vã hạ bút, mà đưa mắt rà soát từng dòng chữ, từng điều khoản trích dẫn trên tờ biên bản với sự chuẩn xác, cẩn mật của một viên quan thư lại đã dành trọn cả đời mình để soi mói các lỗi chính tả trên văn bản. Sau khi chắc chắn không có bất kỳ câu chữ nào vượt quá thẩm quyền niêm phong tạm thời, Chu Kính mới nhẹ nhàng chấm mực, nắn nót ký tên mình xuống góc dưới, rồi rút từ thắt lưng ra một con dấu cá nhân bằng đá thanh ngọc, ấn mạnh xuống cạnh chữ ký.
*Cộp.*
Dấu triện vuông vức màu đỏ tươi hiện lên rõ ràng, dứt khoát. Điềm nhiên và lạnh lùng đến mức khiến người đứng xem phải ớn lạnh.
Đặt cây bút lông xuống nghiên mực, Chu Kính ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn quanh căn phòng ngổn ngang giấy mực. Ông ta khẽ lắc đầu, buông một tiếng thở dài thườn thượt đầy vẻ trăn trở, ưu tư:
"Bùi huynh, sự việc phát hiện mảnh màng dời ấn huyết tại y đường Vọng Sinh đêm qua thực sự khiến lão hủ vô cùng bàng hoàng và đau xót khôn xiết. Tàng Ký Các chúng ta quản lý hàng vạn tài liệu, văn thư mỗi năm, lượng nhân sự ngoại viện luân chuyển lại vô cùng phức tạp. Ngay sau khi nhận được tin báo sơ bộ từ phía các ngươi vào đầu giờ Mão sáng nay, ta đã lập tức hạ lệnh cho rà soát toàn bộ hệ thống nhập xuất vật liệu nội bộ."
Chu Kính xoay người lại, ánh mắt nhìn thẳng vào Lục An và Tạ Thanh Nghi. Trong đáy mắt ông ta không hề có vẻ chột dạ, mà trái lại, chỉ ngập tràn sự chân thành, đau đớn và phẫn nộ đến mức hoàn hảo:
"Căn cứ vào mã luân chuyển hàng hóa [HP-BC-709/ĐK] được trích xuất từ mảnh màng tang vật mà các ngươi đang nắm giữ, ta đã bước đầu tra ra manh mối. Đáng buồn thay, một số thư lại cấp thấp làm việc tại xưởng phụ trợ này vì lòng tham linh thạch đã lén lút câu kết với đường dây buôn lậu vật liệu trôi nổi ngoài chợ bến cạn Hà Phường. Bọn chúng đã lợi dụng danh nghĩa nhập phụ gia bồi giấy chống ẩm mốc cho kho tài liệu để tuồn màng bong bóng cá tuyết và keo rễ lưu ly phẩm cấp thấp vào tàng thư các. Sau đó, chúng cấu kết với một vài đệ tử tạp dịch biến chất bên y đường, lợi dụng sơ hở trong quy trình giao nhận bệnh án để bóc tách dấu ấn, trục lợi bất chính trên lưng những đệ tử gặp nạn như Mạnh Du hay Hà Lương."
Chu Kính siết chặt nắm tay, giọng điệu đanh lại, từng lời thốt ra như sấm sét giữa trời quang:
"Hành vi đê tiện, biến chất này đã làm hoen ố nghiêm trọng thanh danh ngàn năm của Tàng Ký Các và truyền thống phụng sự của tông môn! Lão hủ tuyệt đối không thể dung thứ! Ta đã đích thân ký công văn khẩn, yêu cầu Chấp Pháp Viện lập tức thụ lý chuyên án, cử lực lượng tinh nhuệ xuống phong tỏa toàn bộ các kho hàng lậu tại bến cạn Hà Phường, truy bắt bằng được tên trùm gian thương Đào Khuê cùng toàn bộ những kẻ tiếp tay ngoài núi để xử lý nghiêm minh theo tông quy, tuyệt đối không nương tay!"
Nói đoạn, Chu Kính quay sang nhìn Bùi Sâm, gật đầu đầy vẻ tán thành:
"Bởi vậy, việc Giám Ký Viện niêm phong bàn sao chép số bốn này là vô cùng kịp thời và xác đáng. Tàng Ký Các chúng ta xin hoàn toàn phối hợp, quyết tâm làm trong sạch đội ngũ, tuyệt đối không bao che cho bất kỳ một con sâu làm rầu nồi canh nào!"
Một màn kịch đẩy trách nhiệm không một tì vết.
Lục An đứng lặng bên bệ bàn, lắng nghe từng lời, từng chữ của Chu Kính rót vào tai mà toàn thân lạnh ngắt như ngâm trong hầm băng. Cậu đã lường trước việc Chu Kính sẽ tìm cách thoái thác, nhưng không thể ngờ lão ta lại hành động nhanh gọn, tàn nhẫn và dứt khoát đến mức này.
Chu Kính không hề ngu xuẩn phủ nhận sự tồn tại của mảnh màng dời ấn; ông ta thừa nhận nó ngay lập tức, xác nhận tính xác thực của mã hàng hóa [HP-BC-709/ĐK], nhưng lại khéo léo bẻ cong toàn bộ bản chất của vụ việc. Một hệ thống thao túng khế ước có tổ chức tinh vi từ thượng tầng, phục vụ cho mưu đồ cân đối dòng tiền linh thạch khổng lồ bị thâm hụt của tông môn suốt bốn năm qua, nay dưới miệng lưỡi của Chu Kính đã bị hạ cấp thành một vụ án tham nhũng vặt vãnh của đám thư lại cấp thấp câu kết với con buôn chợ đen.
Bằng cách chủ động hy sinh bàn sao chép số bốn và hướng toàn bộ mũi nhọn điều tra của Chấp Pháp Viện nhắm vào tên thương nhân Đào Khuê ngoài bến cạn Hà Phường—một kẻ buôn lậu chắc chắn đã kịp cao bay xa chạy hoặc bị bịt miệng từ lâu—Chu Kính đã dựng lên một bức tường lửa kiên cố và hoàn hảo. Bức tường ấy cắt đứt hoàn toàn mọi sợi dây liên kết có thể lần ngược lên tầng quản sự cấp cao trước khi đại lễ ba năm một lần diễn ra.
Tạ Thanh Nghi đứng bên cạnh Lục An, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau. Nàng tức giận đến mức toàn thân khẽ run rẩy, bước chân định tiến lên một bước để chất vấn về chữ ký phê duyệt của chính Chu Kính trên bản lưu hồ sơ Canh-Chín bốn năm về trước. Nhưng chưa kịp để nàng mở lời, Bùi Sâm đã lạnh lùng giơ một bàn tay mang găng da lên, chặn đứng ý định của nàng lại.
"Việc mở rộng điều tra sang mạng lưới chợ đen tại bến cạn Hà Phường sẽ do Chấp Pháp Viện phối hợp thực hiện dựa trên các báo cáo độc lập," Bùi Sâm cất giọng đều đều, khuôn mặt sắt đá không lộ ra bất kỳ cảm xúc nào trước màn diễn thuyết hùng hồn của Chu Kính. "Còn trong phạm vi vụ việc này, hiện trường bàn sao chép số bốn thuộc quyền tài phán trực tiếp của Giám Ký Viện. Mọi hoạt động sao chép, gia công văn bản tại đây và kho phụ trợ liền kề chính thức bị đình chỉ vô thời hạn kể từ giờ khắc này. Chu quản sự, ngài có thể trở về phòng làm việc của mình."
Chu Kính mỉm cười nhạt, hai tay chắp lại thi lễ: "Làm phiền Bùi huynh và các vị đồng liêu rồi."
Nói xong, ông ta xoay người, tà áo đạo bào màu xám khẽ đung đưa theo từng bước chân ung dung, khoan thai sải bước ra khỏi phòng sao chép. Trước khi rẽ qua khúc quanh hành lang để đi lên tầng trên, ánh mắt của Chu Kính lướt qua Lục An một lần cuối cùng. Trong ánh mắt ấy không hề có sát khí, không có sự đe dọa hay thù hận lộ liễu; nó chỉ chứa đựng một sự thương hại lạnh lẽo và tàn nhẫn—ánh mắt của một kẻ nắm giữ quyền lực tuyệt đối nhìn xuống một con kiến nhỏ bé đang ra sức dùng tấm lưng trần để lay chuyển một chân cột bằng đồng.
Khi tiếng bước chân của Chu Kính cùng toán hộ vệ đã hoàn toàn tan biến nơi cuối hành lang dài hun hút, Bùi Sâm bước lại gần cửa, tự tay đóng chặt then cài bằng gỗ lim bên trong. Gian phòng sao chép số bốn chìm vào một không gian biệt lập, chỉ còn lại Bùi Sâm, Lục An, Tạ Thanh Nghi và hai viên thư lại giám định thân tín của viện giữa mớ bàn ghế ngổn ngang mùi keo dán.
Bùi Sâm quay người lại, khoanh hai tay trước ngực, ánh mắt sắc lẹm như mũi dùi đục nhìn thẳng vào hai người trẻ tuổi:
"Tạ kiểm chứng sư, Lục lưu ký. Hai người các ngươi lại đây."
Lục An và Tạ Thanh Nghi bước lại gần chiếc bàn làm việc chính giữa phòng. Bùi Sâm hạ thấp giọng xuống mức vừa đủ nghe, nhưng từng từ từng chữ thốt ra đều nặng trịch như chì:
"Các ngươi vừa tận mắt chứng kiến rồi đó. Thủ tục hành chính là một lưỡi gươm bén ngót, nhưng nó chỉ có thể chém vào những thứ hữu hình hiện diện trên mặt giấy trắng mực đen. Ta dùng quy chế tông môn để ép Chu Kính phải mở cửa và niêm phong chiếc bàn này; ta dùng lệnh hoãn thi hành để tạm thời giữ lại mạng sống và tự do cho thằng nhóc Mạnh Du thêm vài ngày. Nhưng đó là tất cả những gì quyền hạn pháp lý của Giám Ký Viện có thể làm được vào lúc này."
Ánh mắt Bùi Sâm dừng lại trên cánh tay bó nẹp tre nồng nặc mùi thuốc và vạt áo còn cháy sém nham nhở của Lục An:
"Hàn Tố đã dám phóng hỏa đốt rụi xưởng lưu ký của Phùng Nghiêu ngay giữa đêm hôm qua, điều đó đồng nghĩa với việc đối phương đã bắt đầu mất kiên nhẫn. Chúng sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn bạo lực thực địa nào để xóa sạch mọi dấu vết trước ngày khai mạc đại lễ. Việc dán được hai dải lụa niêm phong lên chiếc bàn gỗ này không có nghĩa là các ngươi đã an toàn. Thủ tục hành chính chỉ có tác dụng bảo toàn nguyên trạng của vật chứng, nó không phải là giáp trụ hộ thân, càng không thể bảo đảm cho tính mạng của các ngươi trước những mũi tên bắn lén từ bóng tối hay những tai nạn bất ngờ trên đường về. Đã hiểu rõ giới hạn quyền lực của mình chưa?"
Tạ Thanh Nghi cúi đầu, thấp giọng đáp: "Thuộc hạ hiểu rõ. Nếu đêm qua không liều mạng giữ được mảnh màng hữu cơ của Hà Lương, sáng nay chúng ta thậm chí còn không có đủ tư cách pháp lý để bước chân qua ngưỡng cửa Tàng Ký Các."
"Hiểu được như vậy là tốt," Bùi Sâm quay sang Lục An, ánh mắt dò xét kỹ lưỡng hơn. "Cậu chỉ là một người lưu ký tư nhân của ngoại môn, không nằm trong biên chế chính thức của viện, nhưng cậu đang dấn thân quá sâu vào một vùng nước xoáy nguy hiểm vượt xa thân phận của mình. Cậu có đúng một canh giờ để cùng Tạ kiểm chứng sư kiểm kê toàn bộ công cụ gia công, khuôn in và các mẫu giấy tờ lưu lại trên chiếc bàn này theo danh mục vật chứng. Sau một canh giờ nữa, căn phòng này sẽ bị phong tỏa bằng ấn quyết cách ly tuyệt đối của viện, nội bất xuất, ngoại bất nhập cho đến ngày mở phiên điều trần."
Dứt lời, Bùi Sâm không nán lại chiếc bàn lớn nữa. Ông bước về phía góc phòng, cùng hai viên thư lại mở các hòm sắt đựng hồ sơ, bắt đầu quá trình lập biên bản chi tiết từng lọ mực, nghiên đá và khuôn bồi giấy theo đúng quy trình nghiệp vụ.
Căn phòng chìm vào sự im lặng ngột ngạt. Chỉ còn lại tiếng ngòi bút lông cọ loạt soạt trên mặt giấy tuyên thô ráp và tiếng thở đều đặn, dè dặt của những người có mặt.
Lục An hít một hơi thật sâu, cố nén cơn đau buốt nhói đang giật từng hồi nơi mu bàn tay phải. Cậu tiến lại gần chiếc bàn sao chép số bốn. Dù cánh tay phải đã bị phế bỏ tạm thời, nhưng bốn năm ròng rã làm việc miệt mài bên cạnh Phùng Nghiêu tại xưởng lưu ký đã rèn luyện cho các giác quan của Lục An một độ nhạy bén phi thường đối với tất cả những gì liên quan đến nghề giấy mực.
Cậu dùng bàn tay trái bắt đầu lật mở, kiểm tra từng món đồ nằm rải rác trên mặt bàn gỗ sồi. Một con dao trổ bằng thép gió có lưỡi mỏng tang, sắc lẹm, chuyên dùng để lạng mỏng các lớp da bìa sách; ba chiếc bay miết bằng gỗ đào nhẵn bóng dùng để cán phẳng hồ dán; một phiến đá cẩm thạch màu trắng đục có bề mặt phẳng lì như gương, thường dùng để ép phẳng các màng hữu cơ chống nhăn. Mọi thứ thoạt nhìn đều hoàn toàn bình thường, đúng quy chuẩn của một bàn gia công phục chế tài liệu hành chính thông thường.
Nhưng khi ánh mắt Lục An quét qua góc trong cùng của chiếc bàn, nơi giáp với vách tường gỗ ẩm mốc, một chi tiết bất thường lập tức thu hút sự chú ý của cậu.
Ở đó, đặt ngay ngắn bên cạnh một chồng sách lưu ký bìa xám cũ kỹ, có một xấp giấy trắng tinh khôi khổ trung, dày khoảng chừng ba tấc. Xấp giấy này được bọc cẩn thận bên trong một lớp vải dầu màu vàng nghệ chống ẩm mốc—thứ vải dầu đắt tiền thường chỉ dùng để bảo quản các loại giấy tờ quan trọng của giới quý tộc hoặc các mật lệnh của trưởng lão viện.
Lục An bước lại gần, cúi người xuống. Cậu dùng các ngón tay trái khéo léo lật nhẹ mép vải dầu màu vàng nghệ sang một bên, để lộ ra những mép giấy trắng mịn màng bên trong. Cậu kẹp lấy mép của tờ giấy nằm trên cùng, từ từ rút nó ra khỏi xấp.
Lục An nâng tờ giấy trắng lên ngang tầm mắt, xoay nghiêng về phía ô cửa sổ trên cao để đón lấy tia sáng ban mai nhợt nhạt le lói rọi qua khe cửa.
Ngay khoảnh khắc các đầu ngón tay trái của cậu miết nhẹ lên bề mặt tờ giấy, một cảm giác quen thuộc đến rợn người bất chợt chạy dọc từ đầu ngón tay, xông thẳng lên sống lưng rồi bốc lên đỉnh đầu Lục An.
Là một người thợ lưu ký kiêm thợ đóng sách chuyên nghiệp, xúc giác nơi đầu ngón tay của Lục An nhạy cảm hơn mắt nhìn gấp bội phần. Loại giấy này hoàn toàn không phải là giấy trúc vàng Cổ Khê truyền thống thô ráp, thấm mực nhanh mà các đệ tử ngoại môn vẫn thường dùng để chép kinh văn giá rẻ; nó cũng không phải là loại giấy đay sợi dài thô kệch dùng cho các văn bản hành chính thông thường của các phân đường.
Thớ xơ của tờ giấy này cực kỳ mịn màng và đồng nhất. Nó được nghiền từ bột vỏ cây dâu tằm trắng thượng hạng thu hoạch vào mùa xuân, pha trộn với một tỷ lệ xơ lanh phương Bắc rất nhỏ theo một công thức bí mật, tạo cho tờ giấy một độ dai dẻo phi thường, không thể bị xé rách dễ dàng theo chiều ngang, nhưng độ dày của mặt giấy lại mỏng manh tựa như cánh ve sầu.
Đặc biệt nhất, khi ngón tay cậu miết nhẹ qua lại trên mặt giấy, cậu cảm nhận được một độ bóng mờ vô cùng đặc trưng—đây là thành quả của kỹ thuật cán láng bằng trục đá nguội nặng ngàn cân, kết hợp với việc quét một lớp sáp vi sinh cực mỏng chiết xuất từ mỡ cá biển sâu lên bề mặt nhằm mục đích chống thấm mực quá nhanh và chống ẩm mòn theo thời gian.
Đây chính là kỹ thuật chế tác giấy hành chính chuẩn mới nhất của tông môn!
Thứ giấy dâu cán nguội chuẩn mới này chỉ vừa mới được tông môn hoàn thiện công nghệ chế tác và chính thức đưa vào sử dụng trong vòng hai năm trở lại đây, dưới thời Chưởng môn Vệ Hoài tiến hành cuộc đại cải cách toàn diện hệ thống văn thư và lưu trữ mật của các nội viện. Giá thành của mỗi tờ giấy loại này đắt ngang ngửa với nửa khối hạ phẩm linh thạch, và số lượng xuất xưởng mỗi tháng đều được ghi chép, kiểm soát vô cùng nghiêm ngặt.
Dưới ánh sáng ban mai chiếu nghiêng, mặt tờ giấy phản chiếu lại một dải quang sắc mờ mờ hơi ngả sang ánh lam nhạt. Lục An khẽ dùng ngón trỏ búng nhẹ vào góc mép giấy, một tiếng *phựt* đanh gọn vang lên giòn giã, tuyệt nhiên không có lấy một hạt bụi giấy hay xơ vụn nào rơi ra.
"Thanh Nghi," Lục An cất tiếng gọi khẽ.
Thanh âm của cậu không lớn, nhưng có một sự run rẩy kìm nén cao độ khiến người nghe phải giật mình.
Tạ Thanh Nghi đang đứng kiểm tra các hũ sành đựng keo da trâu cách đó vài bước vội vàng buông chiếc que tre trong tay xuống, bước nhanh lại gần: "Ngươi phát hiện ra điều gì bất thường sao?"
"Ngươi nhìn kỹ loại giấy này đi," Lục An chìa tờ giấy trắng về phía nàng, giọng nói hạ thấp xuống mức tối đa. "Đây là giấy dâu cán nguội chuẩn mới, mặt phủ sáp mờ, thớ ngang bện chặt với sợi lanh phương Bắc. Loại giấy này giá thành cực đắt, chỉ được cấp phát hạn chế cho một vài bàn sao chép tài liệu quan phương bảo mật thuộc nội bộ Tàng Ký Các trong vòng hai năm gần đây mà thôi."
Tạ Thanh Nghi vươn những ngón tay thon dài chạm nhẹ vào mặt giấy, đôi mày thanh tú khẽ nhíu lại: "Đúng là loại giấy hành chính mới của nội môn. Nhưng chiếc bàn sao chép số bốn này vốn dĩ nằm trong Tàng Ký Các, việc trên bàn có lưu lại một xấp giấy chuẩn mới thì có gì đáng để kinh động như vậy?"
"Sẽ không có gì bất thường nếu nó chỉ đơn thuần nằm ở đây như một chồng giấy dự trữ," Lục An hít một hơi dài, ánh mắt cậu từ từ chuyển hướng về phía chiếc bàn con phía sau, nơi chiếc tráp sắt niêm phong kép đang nằm lặng lẽ. "Mở tráp ra một lần nữa. Lấy cuốn sổ bìa da hoẵng ra đây. Ta cần đối chiếu ngay một chi tiết."
Tạ Thanh Nghi nhìn sâu vào đôi mắt đen thẳm của Lục An. Nàng nhận thấy trong đáy mắt cậu không còn là sự bình thản lạnh lùng thường ngày nữa, mà là một sự chấn động tột cùng đang bị đè nén dưới một lớp băng mỏng. Nàng không hỏi thêm bất kỳ câu nào, lập tức quay người bước lại bên bệ đá, khẽ kết ấn pháp thuật để vô hiệu hóa tầng khóa linh lực, trong khi Lục An dùng bàn tay trái tra chiếc chìa cơ học vào đáy hộp để mở chốt kim loại thứ hai.
*Tách.*
Nắp tráp sắt bật mở lần thứ hai trong buổi sáng.
Nằm lặng lẽ bên cạnh mảnh màng hữu cơ của Hà Lương là cuốn sổ tay bọc da hoẵng màu xám tro—cuốn sổ ghi chép mang chính nét chữ của Lục An từ chu kỳ bốn năm trước, vật chứng cốt lõi mà cậu đã liều mạng giữ gìn suốt thời gian qua. Lớp da hoẵng bọc ngoài đã sờn rách ở các góc mép, ngả sang màu xám xịt của thời gian và bụi bặm.
Lục An dùng những ngón tay trái cẩn thận nhấc cuốn sổ ra khỏi lớp lụa cách linh, mang lại đặt lên mặt bàn gỗ sồi, ngay cạnh xấp giấy trắng bọc vải dầu.
Đêm hôm trước, trong căn phòng kín tại xưởng lưu ký trước khi ngọn lửa bùng lên, Tạ Thanh Nghi đã dùng kính lúp quang học soi xét kỹ lưỡng cuốn sổ này. Nàng đã phát hiện ra trang thứ mười chín—trang giấy mang dòng chỉ dẫn chi tiết về góc mù linh áp tại buồng điều áp Giáp-Bảy, nơi đã dẫn dắt họ xông vào căn gác xép kho sấy số bốn và rơi vào cái bẫy bắt oan viên thư lại Phương Mậu—có đường chỉ gai bện xoắn ngược chiều hoàn toàn so với các trang còn lại, và lớp keo dán nơi chân gáy sách vẫn còn tươi mới, chỉ vừa được gia công cách đây chưa đầy nửa tháng.
Khi đó, cả hai người họ chỉ mới biết rằng trang thứ mười chín là một trang giấy ngoại lai bị kẻ nào đó lén lút cài cắm vào cuốn sổ gần đây, nhằm biến cuốn sổ thành một công cụ dẫn dụ chết người. Nhưng ai là kẻ cài vào, và kẻ đó lấy vật liệu từ đâu để ngụy tạo, thì họ hoàn toàn chưa có manh mối xác thực.
Lục An dùng ngón tay cái lật giở từng trang giấy. Trang mười bảy... trang mười tám... rồi cậu nhẹ nhàng lật sang trang thứ mười chín.
Cậu cẩn thận đặt tờ giấy dâu cán nguội chuẩn mới vừa rút ra từ xấp giấy trên bàn sao chép số bốn xuống, áp sát mép giấy vào bên cạnh trang thứ mười chín của cuốn sổ bìa da hoẵng.
Dưới luồng ánh sáng ban mai lạnh lẽo chiếu nghiêng qua ô cửa sổ, hai chất liệu giấy hiện lên song song bên cạnh nhau.
Giống hệt nhau đến từng chi tiết vi mô!
Từ cấu trúc thớ xơ dâu bện chặt với xơ lanh phương Bắc mịn màng như tơ lụa, độ dày mỏng chuẩn xác đến từng phần mười milimet, cho đến độ bóng mờ ngả ánh lam nhạt của lớp sáp vi sinh cán nguội—tất cả đều trùng khớp hoàn toàn như được đúc ra từ cùng một khuôn ép, cùng một mẻ sản xuất!
Trang thứ mười chín trong cuốn sổ da hoẵng vốn mang niên đại từ bốn năm trước thực chất đã được cắt ra từ chính xấp giấy hành chính chuẩn mới đang nằm trên chiếc bàn sao chép số bốn bị niêm phong này! Kẻ thủ ác không hề lấy giấy từ bên ngoài; hắn đã thong thả ngồi ngay tại góc xưởng phụ này của Tàng Ký Các, dùng chính thứ giấy tờ nội bộ đắt tiền này để ngụy tạo một trang nhật ký giả mạo!
Thế nhưng, sự bàng hoàng đang bóp nghẹt lồng ngực Lục An vẫn chưa dừng lại ở đó.
Trong lúc dùng tay trái miết nhẹ lên gáy sách để quan sát kỹ hơn cấu trúc đường chỉ bện, ngón tay của Lục An đột ngột khựng lại nơi góc dưới bên phải của trang giấy.
Ở tất cả các trang trước của cuốn sổ cổ, người viết—chính là Lục An của chu kỳ cũ bốn năm về trước—luôn duy trì một thói quen nghề nghiệp thâm căn cố đế của một người làm công tác lưu trữ: luôn đánh số thứ tự trang bằng những chữ số nhỏ li ti, nắn nót ở góc dưới cùng mép ngoài của tờ giấy. Trang mười lăm, trang mười sáu, trang mười bảy, rồi đến trang mười tám... Tất cả đều được viết bằng thứ mực đen pha dịch cỏ mực truyền thống của ngoại viện.
Nhưng khi Lục An cúi sát mặt xuống, nheo mắt nhìn thật kỹ vào góc dưới của trang thứ mười chín giả mạo này, cậu nhận thấy một khoảng trắng mờ đục rất nhỏ. Nơi vết mực ghi số trang lẽ ra phải tọa lạc đã bị một lưỡi dao mỏng cạo nhẹ đi một lớp xơ giấy cực mỏng, và đè lên trên vết cạo ấy là con số "Mười chín" được viết bằng nét chữ giả mạo rất khéo léo, cố tình bắt chước phong cách chữ viết cứng cỏi của cậu.
Một linh cảm kinh hoàng lóe lên trong tâm trí Lục An. Cậu lập tức dùng ngón tay lật trang thứ mười chín sang một bên, để lộ ra trang tiếp theo của cuốn sổ.
Trang tiếp theo là một trang giấy trúc vàng Cổ Khê nguyên bản của tám năm trước. Mặt giấy đã ngả sang màu vàng sậm tự nhiên của thời gian, thớ giấy thô ráp, xơ sợi nổi rõ dưới ánh sáng, hoàn toàn ăn khớp với các trang từ một đến mười tám.
Ánh mắt Lục An dán chặt vào góc dưới bên phải của trang giấy cũ kỹ này.
Nơi đó, con số thứ tự nguyên bản được viết bằng thứ mực lưu ngân chìm—thứ mực phát quang mờ đục chỉ dùng trong các tài liệu nội bộ thời kỳ cũ—vẫn còn nguyên vẹn, chưa từng bị ai dùng dao cạo hay sửa chữa.
Con số ấy hiện lên rõ mồn một trước mắt cậu.
Nó không phải là số hai mươi.
Con số ấy, được viết bằng những nét bút dứt khoát, gãy gọn của một người từng phụ trách công tác đối chiếu sổ sách trong quá khứ, rành rành là:
*Trang hai mươi mốt.*
Số thứ tự của các trang giấy trong cuốn sổ đã bị nhảy cóc!
Trang mười tám là giấy trúc vàng Cổ Khê nguyên bản. Trang mười chín là giấy dâu cán nguội chuẩn mới được lấy từ xấp giấy trên bàn sao chép số bốn này. Và trang liền kề ngay sau nó lại là trang hai mươi mốt!
Toàn bộ trang hai mươi nguyên bản—và rất có thể là cả trang mười chín thật sự của cuốn sổ—đã bị một bàn tay vô hình nào đó dùng dao trổ rạch đứt tận chân chỉ nơi gáy sách, xé bỏ hoàn toàn không để lại một mảnh vụn!
Kẻ đó đã tiêu hủy những nội dung quan trọng nhất được ghi lại trên các trang giấy cũ, rồi sau đó mới chèn trang mười chín giả mạo này vào, viết lên đó những chỉ dẫn sai lệch về buồng điều áp Giáp-Bảy để lấp liếm chỗ trống và hướng toàn bộ sự chú ý của Lục An về phía căn gác xép kho sấy số bốn, tạo nên vụ bắt oan thư lại Phương Mậu nhằm khóa chặt đường lui của cậu!
Hơi thở của Lục An nghẽn lại nơi cuống họng. Trái tim cậu như ngừng đập trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Cơn ớn lạnh từ sống lưng bốc thẳng lên đỉnh đầu, buốt giá và tê dại hơn cả hàn khí phản phệ của Huyền Băng Kết Giới lúc rạng sáng.
Cuốn sổ bọc da hoẵng này—thứ mà Lục An bấy lâu nay vẫn coi là chiếc phao cứu sinh duy nhất, là sợi dây liên kết thiêng liêng giữa cậu và bản ngã của chính mình trong quá khứ để tìm lại công lý và vạch trần tội ác của kẻ thù—hóa ra không hề là một văn bản thuần khiết được gửi gắm nguyên vẹn qua chu kỳ luân hồi!
Kẻ thù không chỉ đơn thuần là đón đầu cậu ở những ngã rẽ phía trước; chúng đã chạm bàn tay dơ bẩn vào cuốn sổ này từ rất lâu trước khi nó được đặt lên bàn làm việc của cậu! Chúng đã bình thản lật giở từng trang, xé bỏ đi những sự thật khủng khiếp nhất mà chúng sợ hãi bị phơi bày, rồi gieo vào đó những lời dẫn dụ chết người bằng chính thứ giấy mực hiện đại của Tàng Ký Các!
Cậu không phải là người đang lần theo dấu vết của quá khứ; cậu đang bị chính những trang giấy bị đánh tráo này dắt mũi đi thẳng vào một cái bẫy đã được giăng sẵn từ bốn năm về trước!
Tạ Thanh Nghi đứng sững bên cạnh chiếc bàn gỗ. Nhìn thấy sự chênh lệch rõ ràng giữa hai con số thứ tự và chất liệu giấy dâu cán nguội trùng khớp một cách tàn nhẫn, đôi đồng tử của nàng co rút lại dữ dội. Nàng ngẩng phắt đầu lên nhìn Lục An, giọng nói lạc hẳn đi vì kinh động:
"Lục An... điều này có nghĩa là..."
Lục An hít một hơi thật sâu, lồng ngực phập phồng dữ dội dưới lớp áo mộc vương đầy tro tàn. Cậu dùng những ngón tay trái kẹp chặt lấy mép trang giấy thứ mười chín giả mạo, từ từ nhấc bổng nó lên trước luồng sáng le lói rọi qua khe cửa sổ tàng thư, để lộ ra đường rách nham nhở nơi chân gáy sách đã bị cắt đứt.
Lục An giơ trang giấy lên: "Cuốn sổ này đã bị kẻ nào đó xé bỏ trang cũ và cài câu chuyện của chúng vào."