Hoa Ban Không TànCh.8 / 38
Chapter 8

Lời mắng của bác Sương

Bác Sương mắng tôi từ ngoài nương ngô dốc ngược vào đến tận bậu cửa bếp nồng nặc mùi tro ướt, nhưng đến khuya khoắt, khi sương muối đã kết thành một lớp màng trắng đục trên những thân nứa vách, người đặt chiếc áo cũ trần bông lên đầu chỗ nằm của tôi cũng chính là bác.

Tiếng mắng của bác rền rĩ, rin rít và sắc nhọn, hệt như những đợt gió bấc thốc qua khe liếp mục của gian chái phụ suốt mùa đông dài không bao giờ chịu dứt. Cả buổi sáng hôm ấy, bầu trời trên thung lũng Ban Nà thấp lè tè, nặng trĩu những đám mây chì đục ngầu như mắt cá ươn, chìm nghỉm sau rặng đá tai mèo của đỉnh Pha Luông sừng sững. Đất trên triền dốc sau cơn mưa phùn dai dẳng từ nửa đêm trở nên nhão nhoét, vừa quánh đặc như keo dán dính chặt lấy đế đôi dép cao su cũ mòn vẹt gót, vừa buốt thấu tận tủy xương mỗi khi mười đầu ngón chân trần của tôi phải bấm sâu xuống lòng rãnh luống để giữ cho thân hình khỏi trượt ngã xuống vực. Cả đêm hôm trước, sau cú giằng co dữ dội với thằng Tùng bên chiếc chõng tre ọp ẹp nơi chái nhà, mạn sườn bên trái của tôi nhức nhối như có hàng trăm mũi kim găm vào thịt. Mỗi nhịp hít thở sâu đều kéo theo một cơn quặn thắt âm ỉ nơi lồng ngực gầy guộc. Đôi mắt tôi trĩu nặng vì thiếu ngủ, hai bờ mi sưng húp và cay xè như bị xát ớt bột, còn các đầu ngón tay thì cứng đờ lại vì cói lạnh và những vệt mực tím lem nhem còn vương từ góc cuốn vở rách của mẹ.

Chính vì cái cơ thể rã rời ấy mà tôi chậm tay.

Một dải cỏ gà, cỏ tranh rễ chùm bám sâu dưới chân những gốc ngô non mới nhú độ hai gang tay vẫn trơ trơ ra đấy giữa bờ đất ẩm. Bộ rễ của chúng quấn chặt lấy lớp đất thịt đỏ au thành từng búi cứng như rễ si già, mà sức lực còm cõi của một đứa trẻ vừa bước qua tuổi lên năm, bụng dạ rỗng không sau một đêm kinh hoàng, chẳng tài nào giật bật gốc hết được trước khi bóng nắng đứng trưa. Trong khi khoảnh nương của bác Sương phía trên đã quang quẻ, sạch bong từng bờ ta luy thoải dốc, những luống ngô thẳng tắp như sợi chỉ căng, thì phần việc bác vạch ranh giới cho tôi từ lúc tiếng gà rừng gáy le te đầu tiên bên hẻm đá vẫn còn dở dang gần một nửa.

Bác Sương đứng sừng sững trên bờ đất cao, chiếc cuốc sắt vác ngang bờ vai gầy nhô cao dưới lớp áo chàm bạc phếch. Ánh mắt bác nheo lại, nhìn xoáy xuống đỉnh đầu tôi, sắc ngọt và buốt rát như một mảnh nứa cật vừa vót:

— Mày nhìn cái luống nương của mày xem, Nam! Mày mở to hai con mắt ra mà nhìn xem có khác gì một cái vũng trâu đầm không?

Bác ném phắt chiếc cuốc sắt xuống vệ cỏ. Tiếng lưỡi thép va vào một hòn đá hộc kêu *choảng* một tiếng khô khốc, sắc lẹm, chém toang bầu không khí tĩnh mịch của triền núi, làm bầy chim ri đang sục sạo kiếm hạt cỏ gần đó hoảng hốt đập cánh rào rào rồi biến hút vào rặng cây bụi rậm rạp.

— Tao giao cho mày có một góc bờ nương con con bằng cái nong phơi ngô, mà từ lúc sương còn chưa tan đến tận giờ mặt trời lên tới đỉnh đầu, mày mới cào được chừng ấy? Tay mày bọc bằng da mỏng của con nhà quan dưới phố đấy à? Hay mày cậy mày có dăm ba cái chữ của mẹ mày để lại, rồi mày khinh cái nương, cái cuốc của cái nhà này?

Tôi đứng chôn chân dưới lòng rãnh đất nhão quẹt, hai bàn tay thõng thượt bên sườn, lớp bùn non đỏ quạch đã bết chặt từ mười móng tay lên tận cổ tay, lạnh ngắt như đất sét vùi dưới lòng suối. Tôi muốn mở miệng thưa rằng đất sáng nay dính quánh quá, rễ cỏ tranh lại ăn luồn vào tận kẽ đá ngầm bên dưới cày không lên nổi, nhưng cuống họng tôi nghẹn ứ, khô khốc như có nắm trấu nhét ngang, chỉ phát ra được một hơi thở khè khè yếu ớt.

— Đứng trơ mắt ếch ra đấy làm cái gì?

Bác Sương bước xăm xăm xuống sườn dốc, đôi dép tổ ong cũ mòn trơ đáy trượt nghiêng trên lớp bùn trơn như mỡ, nhưng những bước chân gầy guộc của bác vẫn cắm phập xuống đất vững chãi như rễ cây nghiến già. Bác cúi rạp người xuống, giật phắt một búi cỏ dại tôi vừa dứt dở còn dính cả tảng đất to bằng nắm tay, vung mạnh về phía mặt tôi. Những hạt đất ẩm bắn tung tóe lên má, lên trán, găm vào vạt áo chàm vá víu tả tơi trước ngực tôi.

— Ăn cơm nhà người khác thì phải biết cái thân cái phận! Cái nhà này không phải cái kho thóc của địa chủ dưới xuôi để mà nuôi báo cô một đứa chỉ biết làm việc trồi sụt nửa vời! Mày tưởng bố mày lúc nhắm mắt xuôi tay để lại cho mày một bọc vàng chắc? Mày có biết món nợ tiền thuốc men thang chén, nợ ván áo quan bên xóm Mo đến giờ còn chưa trả hết một góc không? Mày ăn một bát ngô mười hạt của nhà tao, mày phải đổ mồ hôi bằng mười hòn sỏi ném xuống suối, nhớ chưa?

— Cháu... cháu nhớ rồi ạ... — Tôi lí nhí, đầu gục xuống thấp hơn nữa, cằm chạm vào lớp vải áo chàm ướt đẫm mồ hôi lạnh.

— Nhớ mà tay chân như mượn của người ngoài thế à? Làm ăn trồi sụt, đầu óc mày để đi đâu? Có phải tối qua mày lại giở cái trò thức khuya thức lơ ra đấy không? — Đôi mắt hẹp dài của bác Sương nheo tít lại, tia nhìn sắc lạnh găm thẳng vào xoáy tóc trên đỉnh đầu tôi như muốn lột trần mọi điều bí mật tôi đã dùng hết chút sức tàn để vùi giấu dưới dát chõng đêm qua. — Thằng Tùng sáng nay nó bảo tao mắt mày đỏ hoe như mắt cá chày, người thì như con vắt ngậm bùn. Tao nói cho mày biết, cái ngữ mồ côi mồ cút như mày, không lo mà bám chặt lấy cái cán cuốc, cái lưỡi rựa mà kiếm miếng ăn nhét vào mồm, mai sau chỉ có nước ngửa tay đi ăn mày ở góc chợ huyện! Đừng có học đòi ba cái thói viển vông chữ nghĩa rồi làm khổ cái thân mày, làm vạ lây đến người khác!

Từng lời mắng của bác Sương đay nghiến, buốt chát, dội xuống đầu tôi như những nhát roi tre quất vào da thịt non nớt. Nhưng nó không đơn thuần chỉ là sự tức giận bộc phát của một người đàn bà quanh năm suốt tháng bị cái nghèo bóp nghẹt cổ họng. Từng thanh âm the thé ấy đâm thẳng vào nỗi sợ hãi nguyên thủy và tàn khốc nhất đang cắm rễ sâu hoắm trong tâm can tôi: nỗi sợ hãi tột cùng của việc bị xua đuổi.

Tôi sợ rằng chỉ cần mình lỡ một nhịp cuốc, chỉ cần một bờ ta luy còn sót lại một túm rễ cỏ dại, cái cớ ấy sẽ lập tức biến thành một nhát chổi quét sạch tôi ra khỏi căn nhà gỗ lợp mái fibro xi măng nứt nẻ kia, ném trả tôi về với bờ suối Nà Ban lộng gió gầm gào, nơi cha mẹ tôi đã vĩnh viễn nằm sâu dưới ba thước đất lạnh từ nhiều tháng trước. Ở tuổi lên năm, tôi đã sớm phải học và thấm thía quy luật tàn khốc của sự phụ thuộc. Một kẻ ăn nhờ ở đậu, một đứa trẻ bơ vơ sống bằng những thìa cơm bớt xén từ khẩu phần của người khác, hoàn toàn không có quyền được mỏi mệt, không có quyền được ốm yếu, và trên hết, tuyệt đối không được phép để cho người ta nhìn thấy mình trở thành một gánh nặng vô tích sự.

Tôi không dám hé răng thanh minh lấy nửa lời. Tôi biết rất rõ rằng trong căn nhà này, một lời giải thích của tôi sẽ bị quy chụp ngay thành thói cãi bướng, bất hiếu, vô ơn; và nguy hiểm hơn cả, nó sẽ khơi mào cho những cuộc tra khảo gay gắt về cuốn vở rách góc của mẹ Mai mà tôi đang sống chết gìn giữ.

Tôi chỉ lặng lẽ quỳ sụp cả hai đầu gối xuống lớp bùn đỏ buốt giá dưới rãnh nương. Đất ướt lạnh ngắt lập tức ngấm qua lớp vải quần chàm mỏng tang đã rách toang ở hai bên đầu gối, cắn rát vào da thịt như hàng ngàn mũi kim châm. Tôi cắn chặt môi dưới, mặc kệ vị tanh nồng của vết máu khô từ trận giằng co tối qua lại rỉ ra, mằn mặn trên đầu lưỡi. Bằng đôi bàn tay nhỏ thó đầy những vết sẹo non và những đường cứa rướm máu do lá cỏ tranh cứa từ những ngày trước, tôi điên cuồng bấu chặt vào đất. Tôi luồn từng ngón tay run rẩy xuống dưới lớp sỏi sắc cạnh, quặp chặt lấy từng chùm rễ cỏ gai mà giật. Giật mạnh đến mức khớp ngón tay kêu răng rắc. Giật đến mức móng tay lật ngược, đất cát nhét cứng vào kẽ thịt buốt nhói lên tận đỉnh đầu, tôi vẫn không dám nới lỏng tay ra.

Bác Sương đứng trơ trên bờ cao nhìn xuống tôi một thoáng. Tiếng thở dài sườn sượt của bác lọt thỏm giữa tiếng gió ngàn đang rít qua những khe núi đá vôi. Bác không mắng thêm câu nào nữa, nhưng bác cũng không bảo tôi dừng lại. Bác quay lưng, bước rảo lên đỉnh dốc, tiếng đế dép mòn quẹt trên nền sỏi sạn nghe nặng nề, khô khốc:

— Nhổ cho sạch cái luống ấy rồi mới được về vác củi! Trưa nay mà không xong thì đừng có vác mặt nhìn vào nồi cơm!

Bóng lưng gầy gò, hơi còng xuống dưới tấm áo nâu sờn vai của bác khuất dần sau rặng chuối rừng xơ xác vì những đợt sương muối kéo dài. Dưới thung lũng sâu, từng cơn gió lạnh buốt từ đỉnh Pha Luông thốc về, cuộn tròn những đám bụi đỏ và lá khô bay rát rạt vào mặt mũi.

Tôi cứ thế cắm cúi làm trong sự im lặng câm nín của núi rừng. Tôi nhổ từng ngọn cỏ, moi từng chùm rễ ngầm, gom từng viên đá hộc xếp lại thành bờ ta luy để giữ đất cho những mầm ngô non. Bụng dạ tôi réo lên từng hồi cồn cào, ruột gan thắt lại thành từng đoạn rỗng tuếch, đau quặn như thể có ai đang cầm một mảnh sành cạo mạnh vào thành dạ dày. Có những khoảnh khắc mắt tôi hoa lên mờ mịt, vạt nương dốc đứng trước mặt bỗng nhiên chao đảo nghiêng ngả, những gốc ngô xanh biến thành những vệt màu nhòe nhoẹt trôi dạt vô định. Nhưng tôi không dám dừng lại dù chỉ trong một tích tắc. Tôi sợ rằng chỉ cần mình buông tay, ngồi bệt xuống rãnh đất này nghỉ ngơi, cơ thể tôi sẽ đổ sụp xuống và không bao giờ gượng dậy được nữa, và cái nhãn "đồ ăn hại" sẽ vĩnh viễn đóng chặt lên trán tôi, tước đoạt đi chỗ dung thân duy nhất còn lại trên cõi đời này.

Mãi cho đến khi ráng chiều đỏ quạch như máu chim rụng dần sau rặng thông xa tít tắp, tôi mới gom xong đống cỏ dại cuối cùng đem vứt xuống mép vực thẳm. Toàn thân tôi rã rời, hai đầu gối tê dại hoàn toàn không còn chút cảm giác, hai cánh tay buông thõng run rẩy đến mức không thể tự nhấc nổi chiếc rổ tre thủng đít lên vai. Tôi lầm lũi bước đi theo con đường mòn quen thuộc dẫn về bản, đôi chân nặng trĩu như đeo chì kéo lê đôi dép cao su đứt quai phải buộc chằng chịt bằng những sợi dây gai rừng bện vội.

Về đến cổng ngõ nhà bác Lương, trời đã nhá nhem tối hẳn. Mùi khói bếp củi thông ẩm ướt quyện với mùi cám lợn nấu dở chua nồng bao trùm lấy khoảng sân đất nện lồi lõm những vũng nước đọng. Trong gian bếp chính của ngôi nhà gỗ, ánh lửa bập bùng đỏ rực hắt qua những khe hở của liếp nứa, in đậm những bóng người qua lại lên vách ván. Tôi nghe thấy tiếng thằng Tùng cười the thé, khoe khoang ầm ĩ về chuyện ban chiều nó dùng súng cao su bắn trúng một con chim chích ngoài bãi ngô, và tiếng bát đũa va vào nhau lách cách rộn ràng báo hiệu bữa cơm tối đã bắt đầu dọn ra mâm.

Tôi không dám bước chân vào gian chính. Như một thói quen đã hằn sâu vào từng phản xạ của cơ thể sau những tháng ngày sống nhờ ở đậu, tôi lách người thật khẽ qua góc rào dâm bụt, lầm lũi đi thẳng về phía gian chái phụ ẩm thấp tựa lưng vào vách đá ngầm phía sau nhà. Tôi vục hai bàn tay bết bùn đất vào chậu nước mưa lạnh ngắt đặt dưới máng tre ngoài hiên để rửa qua loa, rồi bước vào trong, ngồi thụp xuống mép chiếc chõng tre ọp ẹp kê sát vách đá rỉ nước.

Căn chái tối om, không có một đốm lửa, mùi ẩm mốc bốc lên nồng nặc từ đống củi dẻ gai mục nát xếp đống ở góc tường hòa lẫn với mùi cói rách của tấm chiếu trải giường đã sờn rách hết mép. Cơn đói cồn cào và cái lạnh buốt của bóng tối đồng loạt ập đến, bủa vây lấy cơ thể gầy guộc của tôi như những đợt sóng ngầm buốt giá. Tôi co hai chân lên sát ngực, vùi chặt khuôn mặt lạnh ngắt vào hai đầu gối, hàm răng va vào nhau lập cập từng hồi không sao kìm lại được. Tôi nghĩ về mẹ Mai, nghĩ về bờ ta luy nở đầy những cánh hoa ban trắng muốt trong lời nói dối dịu dàng của mẹ năm nào, rồi lại thảng thốt nghĩ đến cuốn vở rách góc đang được giấu kín dưới khe giát giường phủ đầy bao tải dứa. Cơn đau nhức nhối nơi mạn sườn sau trận ẩu đả đêm qua vẫn buốt nhói theo từng nhịp thở, nhưng nỗi đau ấy dường như chẳng thấm tháp gì so với cảm giác cô độc đặc quánh đang chầm chậm bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi trong bóng tối mịt mùng này.

Khoảng hơn một canh giờ sau, khi những âm thanh trò chuyện rôm rả ngoài gian nhà lớn thưa dần, chỉ còn lại tiếng rít thuốc lào sòng sọc quen thuộc của bác Lương và tiếng con lợn sề ủi máng ụt ịt ngoài chuồng, một bóng đen nhỏ thó bỗng khẽ lách qua tấm liếp cửa gian phụ.

— Anh Nam... — Tiếng thì thào quen thuộc cất lên, nhỏ nhẹ như tiếng một chiếc lá khô rụng xuống mặt đất.

Tôi giật nảy mình ngẩng đầu lên khỏi hai đầu gối. Dưới ánh sáng mờ ảo của mảnh trăng muộn hắt qua những kẽ nứa nứt nẻ trên vách, con Lan đang đứng đó. Hai bàn tay nhỏ xíu của nó cẩn thận ôm chặt một chiếc âu sành sứt mẻ miệng, phía trên được đậy kín mít bằng một mảnh lá chuối rừng đã hơ qua lửa cho mềm oặt. Dưới nách con bé còn kẹp chặt một bọc vải chàm dày cộm đã phai bạc màu.

— Mày... mày mò sang đây làm cái gì? — Tôi khẽ hỏi, giọng khàn đặc và run rẩy vì lạnh và khát nước. — Bác Lương mà bắt gặp thì mày lại ăn đòn nát mông bây giờ.

Lan không trả lời tôi ngay. Con bé bước rón rén từng bước chân trần trên nền đất ẩm ướt, khẽ khàng đặt chiếc âu sành lên mặt chiếc hòm gỗ mục cạnh đầu chõng tre của tôi, rồi kéo bọc vải chàm ra. Đó là một chiếc áo bông cũ trần chỉ theo hình quả trám, sắc vải chàm đã phai sang màu xanh xám nhạt như màu tro bếp nguội. Hai bên cùi chỏ tay và vòng quanh cổ áo đều được chắp vá cẩn thận bằng những miếng vải vụn màu đen tuyền; từng đường kim mũi chỉ đều tăm tắp, dày dặn và chắc chắn một cách lạ lùng.

— Mẹ bảo... à không, em mang sang cho anh cái này. — Lan ấp úng, ngón tay gầy gò mân mê mãi mép lá chuối đậy trên miệng chiếc âu sành. — Anh ăn nhanh đi cho nóng. Cả ngày hôm nay anh có hạt cơm nào vào bụng đâu.

Tôi nhìn trừng trừng vào chiếc âu sành đặt trên mặt hòm gỗ. Mùi thơm ngậy nồng nàn của mỡ lợn phi với hành tăm, quyện lẫn với mùi thơm bùi của sắn nương luộc và ngô bung, bất thần xộc thẳng vào mũi tôi. Khoang bụng rỗng tuếch của tôi co bóp dữ dội đến nghẹt thở, nước miếng tứa ra ngập chân răng. Nhưng ngay chính vào khoảnh khắc ấy, hình ảnh sắc lạnh của bác Sương đứng trên bờ nương ban trưa, cùng những nắm bùn đất ném thẳng vào mặt tôi và những lời răn đe chát chúa lại dội về mồn một trong tâm trí: *"Ăn cơm nhà người khác thì phải biết cái thân cái phận... Cái nhà này không phải cái kho thóc để nuôi báo cô..."*

Cái lòng tự trọng non nớt nhưng ương bướng, cứng đầu của một đứa trẻ mồ côi lại đột ngột dựng đứng lên như một bức tường đá hộc. Tôi nghiêng đầu quay mặt đi chỗ khác, hai bàn tay nắm chặt lấy mép chiếu cói rách:

— Tao không đói. Mày mang về bên ấy đi. Bác Sương ban ngày đã bảo tao chưa nhổ xong cỏ thì không được ăn cơm cơ mà. Tao không thèm ăn đồ thừa của nhà mày đâu.

— Không phải đồ thừa đâu mà! — Con Lan sốt sắng hẳn lên, nó vội vàng ngồi thụp xuống mép chõng tre cạnh tôi, đưa tay giật giật vạt áo chàm của tôi. — Em nhìn thấy tận mắt mà lại! Lúc dọn cơm cho bố với anh Tùng ăn, nồi canh xương măng chua mẹ đã cố ý múc vơi đi một nửa rồi. Lúc nãy em xuống bếp lấy nước ấm rửa chân, em thấy mẹ cạy đáy nồi gang, bới hết chỗ cơm cháy vàng rộm còn dính mỡ với mấy miếng tóp mỡ mẹ giấu riêng trong hũ sành nhỏ ra chiếc âu này đấy. Mẹ còn tự tay hơ cái lá chuối này trên than hồng đậy lại rồi cất tít vào góc chạn bát, rồi mẹ bảo em... bảo em mang cái áo bông này ra ngoài hiên sau phơi cho đỡ mùi mốc...

Lời kể ngập ngừng, đứt quãng của Lan khiến tôi hoàn toàn chết lặng. Tôi từ từ quay đầu lại, trố mắt nhìn con bé qua màn đêm lờ mờ:

— Mày... mày nói thật đấy chứ? Bác Sương... bác Sương múc cho tao á?

— Vâng mà! — Lan gật đầu lia lịa, giọng nó chùng hẳn xuống thành một tiếng thì thào bí mật như sợ gió cuốn lọt qua khe liếp ra ngoài sân lớn. — Cả chiếc áo bông này nữa đây này. Chiếc áo cũ của anh Tùng năm ngoái mặc đã ngắn cũn cớn, mẹ vừa ngồi cặm cụi bên bếp lửa vá lại hai cái cùi chỏ lúc nãy xong đấy. Mẹ còn chèn thêm một lớp bông gạo cũ lấy từ trong gối ra lót vào lưng áo cho nó dày thêm. Em thấy mẹ ngồi khâu mà mắt cứ kèm nhèm, chớp lia chớp lịa vì khói bếp cay xè. Lúc vá xong xuôi, mẹ ném sang góc giường em, rồi mẹ bảo: "Đem vứt cho thằng ranh con ngoài chái, không nó chết cóng ra đấy lại mang vạ vào thân". Mẹ nói độc mồm độc miệng thế thôi, chứ em biết thừa mẹ không ác như cái miệng mẹ đâu. Anh Nam ăn mau đi, kẻo nguội ngắt mất mỡ lợn thì đóng váng ngấy lắm, nuốt không nổi đâu.

Nói đoạn, Lan nhanh tay lật mảnh lá chuối rừng sang một bên miệng âu. Dưới ánh trăng suông le lói hắt qua khe nứa, chiếc âu sành hiện ra đầy đặn, vun ngọn. Đó không phải là thứ mèn mén ngô mốc vụn nát trộn lẫn sắn khô xác xơ mà tôi vẫn phải lén lút ăn mỗi bữa, mà là những miếng cơm cháy gạo nương vàng óng, lóng lánh những miếng tóp mỡ lợn rán kiệt giòn rụm được đảo đều với muối ớt và một lớp hành lá phi mỡ thơm lừng. Phía trên cùng của âu cơm, bác Sương còn cẩn thận đặt thêm hai miếng sắn nương bở tơi ngấm đẫm mỡ lợn bốc hơi nhè nhẹ.

Cảnh tượng ấy đánh sụp hoàn toàn mọi phòng ngự yếu ớt và lòng kiêu hãnh tội nghiệp cuối cùng trong tôi. Bụng dạ tôi réo lên một tiếng dài thảm hại. Đôi bàn tay lấm lem bùn đất, trầy da tróc vảy và lạnh ngắt của tôi run rẩy vươn ra, ngập ngừng chạm vào thành âu sành hãy còn ram ráp và ấm sực. Hơi nóng từ đồ ăn truyền qua lớp da thịt chai sần, len lỏi vào từng đường gân buốt giá, làm sống mũi tôi cay xè như có tàn lửa bay vào mắt.

Tôi cầm lấy chiếc thìa nhôm sứt cán mà Lan chìa ra, xúc một miếng cơm đầy ắp nhét vội vào miệng. Vị ngọt đậm đà của hạt nếp nương vùng cao, vị béo ngậy của mỡ lợn quyện với vị mặn mòi của muối hạt và chút cay nồng của ớt chỉ thiên bùng nổ trên đầu lưỡi đói khát. Tôi nhai ngấu nghiến, nhai nuốt trối chết như một kẻ vừa được kéo ra khỏi miệng vực của sự chết đói. Cơm nghẹn ứ nơi cổ họng, tôi phải đưa nắm tay đấm thùm thụp vào lồng ngực gầy guộc để nuốt trôi miếng cơm xuống bụng. Hai hàng nước mắt nóng hổi bất giác tràn ra khỏi khóe mi, lăn dài trên đôi gò má cáu bẩn bùn đất rồi rơi lã chã xuống âu cơm sành.

Lan lặng lẽ ngồi bên mép chõng tre, đưa mắt nhìn tôi ăn, đôi mắt con bé trong veo và buồn rười rượi như mặt nước suối mùa cạn. Chờ cho tôi ăn hết hơn nửa âu cơm, con bé mới nâng chiếc áo bông cũ lên, cẩn thận đặt ngay ngắn lên đầu chỗ nằm của tôi, nơi mép chõng tre kê sát vách đá lạnh.

— Anh thử mặc vào xem có vừa cái vai không. Mẹ vá khoét rộng hai bên nách ra đấy, mẹ tính để sang năm anh có lớn thêm một tí thì vẫn còn mặc vừa.

Tôi buông chiếc thìa nhôm xuống âu sành, ngập ngừng đưa bàn tay còn dính mỡ sờ nhẹ lên lớp vải chàm thô ráp của chiếc áo. Từng đường chỉ khâu bằng sợi gai chắc nịch, đều đặn nối liền những miếng vải đen vào khuỷu tay áo. Mùi tro bếp nồng nồng, mùi khói củi thông cháy đượm và mùi nắng cũ của lớp bông gạo bốc lên thơm ngát, thân thuộc đến mức khiến lồng ngực tôi thắt lại. Đêm đông này, cái lạnh thấu xương của vùng núi cao Pha Luông dường như đã bớt đi vài phần buốt giá khi có tấm áo dày dặn đặt ngay cạnh đầu giường.

Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng tôi, niềm xúc động vừa mới nhen nhóm lên đã lập tức bị nỗi hoài nghi và sự sợ hãi bóp nghẹt.

Tôi nhận ra từng đường kim mũi chỉ cẩn thận ấy, tôi nhận ra hương vị béo ngậy của phần cơm đáy nồi mà chỉ có bàn tay người đàn bà quán xuyến căn bếp mới có quyền cạo ra. Nhưng tôi có nên tin vào sự tử tế này hay không? Hay đây chỉ là một sự thương hại bố thí nhất thời của người lớn để rũ bỏ cảm giác áy náy sau khi đã trút hết những lời cay nghiệt lên đầu một đứa trẻ bơ vơ không nơi nương tựa? Hay tệ hơn nữa, đó lại là một cái bẫy vô hình? Nếu tôi đón nhận nó một cách quá đỗi hiển nhiên, nếu ngày mai tôi tỏ ra hớn hở, biết ơn, liệu bác Sương có lại quắc mắt lên mà mắng rằng tôi là thứ trơ tráo, thấy người ta cho một bát cơm là đã vội đòi hỏi thêm, đã vội quên mất thân phận của một kẻ ăn nhờ ở đậu?

— Lan này... — Tôi ngập ngừng, giọng thì thào trong bóng tối, mắt vẫn dán chặt vào những hạt cơm còn sót lại nơi đáy âu. — Sáng mai... tao có phải nói gì với bác Sương không?

Lan chớp chớp mắt nhìn tôi, dường như con bé hiểu ngay nỗi hoang mang đang đè nặng trong đầu óc tôi. Con bé lắc đầu thật mạnh, hai bím tóc ngắn ngủn đung đưa:

— Đừng! Anh đừng có dại mà nói gì hết đấy! Mẹ dặn em cấm tiệt không được hé răng cho bố với anh Tùng biết nửa lời. Mẹ bảo nếu bố mà biết mẹ bớt cơm cho anh, bố sẽ gắt lên bảo mẹ chiều chuộng làm hư hỏng thằng bé. Còn nếu anh Tùng mà thấy anh có cái áo lành lặn hơn cái áo rách của anh ấy thì anh ấy lại ghen tị, lại kiếm chuyện gây gổ, đánh anh cho mà xem. Anh cứ im thin thít coi như không biết gì nhé. Sáng mai mẹ có mắng mỏ gì, anh cứ cúi đầu nhận lỗi như mọi bận là được.

Lời dặn dò của con Lan nghe già dặn một cách xót xa, nhưng nó phản ánh chính xác cái trật tự ngột ngạt đang đè nặng lên từng hơi thở trong căn nhà này. Ở đây, sự tàn nhẫn, hà khắc và những lời mắng nhiếc thì được phơi bày công khai giữa ban ngày, trên nương rẫy, bên mâm cơm gia đình; còn lòng trắc ẩn và sự tử tế thì buộc phải giấu giếm, lén lút như một thứ tội lỗi cần che đậy giữa đêm khuya thanh vắng.

Sau khi Lan mang chiếc âu sành rỗng không lủi nhanh về phía gian nhà lớn, tôi nằm xuống chiếc chõng tre ọp ẹp, kéo tấm áo bông chàm cũ đắp ngang ngực. Hơi ấm từ lớp bông gạo dày và mùi khói bếp thân thuộc bao bọc lấy cơ thể tôi, xua bớt cái giá lạnh đang rỉ ra từ vách đá ẩm ướt sau lưng. Nhưng đêm ấy, tôi không sao chợp mắt nổi.

Sáng hôm sau, khi tiếng gà rừng gáy dồn đợt thứ ba xé toang màn sương mù đặc quánh đang bao phủ bản Nà Ban, tôi đã vùng dậy từ rất sớm. Tôi cẩn thận gấp vuông vắn chiếc áo bông lại, nhét sâu vào góc chõng tre cạnh đống bao tải dứa rách, rồi mặc lại chiếc áo chàm rách tả tơi thường ngày bước ra sân.

Bác Sương đã ở ngoài đó từ lúc nào, đang lom khom bên máng nước bằng thân bương ngâm, vo một rổ ngô hạt để chuẩn bị đồ mèn mén cho cả nhà. Tiếng nước xối róc rách trong không gian tĩnh mịch của buổi sớm vùng cao. Tôi đứng khựng lại bên cột hiên, hai bàn tay luống cuống đút sâu vào túi quần, tim đập thình thịch từng hồi bồn chồn. Tôi muốn nói một câu gì đó, có thể là một lời chào buổi sớm, hoặc một tiếng cảm ơn lí nhí như mẹ Mai ngày xưa vẫn thường dạy tôi phải biết thưa gửi mỗi khi nhận được ân huệ của người khác.

Tôi lấy hết can đảm bước lại gần máng nước, ngập ngừng cất tiếng:

— Bác... bác Sương... sáng nay để cháu gánh nước đổ đầy chum cho bác nhé...

Bác Sương không hề ngẩng đầu lên nhìn tôi. Bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì sương muối của bác vẫn đảo đều những hạt ngô trong làn nước lạnh ngắt, tiếng đá mài dưới đáy máng kêu ràn rạt. Giọng bác cất lên, lạnh lùng, khô khốc và sắc nhọn như một mảnh sành vỡ:

— Khỏi cần mày phải nịnh nọt! Lo mà cầm chổi ra quét sạch cái chuồng trâu đi, phân trâu ngập đến tận mắt cá chân rồi kìa. Ăn cho đẫy bụng vào rồi thì liệu mà đem cái sức ra mà làm lụng. Ở cái nhà này, muốn sống sót thì phải biết điều, biết nhìn trước ngó sau. Đừng có tưởng người ta không nói gì là được đằng chân lân đằng đầu!

Từng chữ bác thốt ra như những gáo nước đá dội thẳng vào lồng ngực tôi. Cảm giác ấm áp le lói đêm qua bỗng chốc đông cứng lại, vỡ vụn thành từng mảnh nhỏ nham nhở. Tôi lùi lại một bước, nuốt ực một ngụm nước bọt đắng ngắt xuống cổ họng, hai bàn tay nắm chặt lại trong túi áo đến mức móng tay bấm sâu vào lòng bàn tay.

Tôi sợ. Một nỗi sợ hãi đến run rẩy cả hai đầu gối. Tôi hiểu rằng chỉ cần mình để lộ ra một chút vẻ biết ơn, chỉ cần tôi mở miệng nhắc đến chiếc áo bông hay âu cơm đêm qua, bác Sương sẽ lập tức xem đó là bằng chứng của một kẻ đang cố tình lấy lòng để đòi hỏi thêm, để trốn tránh công việc nương rẫy nặng nhọc, hoặc tệ hơn là để đòi được đối xử ngang hàng với con cái của bác. Bác dựng lên một bức tường thành kiên cố bằng sự cay nghiệt, không chỉ để răn đe, áp chế tôi, mà dường như còn để tự bảo vệ chính mình khỏi sự yếu lòng. Trong cái thế giới nghèo đói cùng cực này, nơi từng hạt ngô, hạt gạo phải chia năm xẻ bảy, lòng tốt công khai là một thứ xa xỉ có thể làm sụp đổ cả một gia đình đang chênh vênh bên bờ vực nợ nần.

— Vâng... cháu đi quét chuồng trâu ngay đây ạ... — Tôi cúi gằm mặt xuống thật thấp, lùi dần từng bước rồi quay người chạy vội về phía chuồng trâu nồng nặc mùi phân và cỏ mục sau nhà.

Hôm ấy, trời lạnh buốt hơn mọi ngày. Những dải sương muối từ đỉnh Pha Luông sà xuống thấp tịt, quét qua những mái nhà gianh xơ xác của bản Nà Ban. Mùi ngô đồ chín từ gian bếp bốc lên thơm ngát không gian, nhưng trong lồng ngực tôi chỉ còn lại một khoảng trống hoác, lạnh lẽo và đầy hoang mang. Tôi hiểu sâu sắc rằng, sự sống sót của tôi ở nơi này không nằm ở việc tôi ngoan ngoãn hay tôi biết ơn, mà nằm ở việc tôi phải trở nên hữu ích, phải cắn răng chịu đựng và tuyệt đối không bao giờ được phép đòi hỏi bất cứ điều gì vượt quá phần cơm thừa mà số phận đã ném cho tôi.

Đến trưa hôm đó, khi tôi đang còng lưng gánh đôi thùng gỗ rỉ nước từ mó nước đầu bản về đổ đầy chiếc vại sành ngoài chái, con Lan lại lén lút chạy ra sau gốc cây mận rụng lá, kéo giật vạt áo chàm của tôi sang một bên. Đôi mắt con bé lấm lét nhìn về phía hiên nhà chính, nơi bác Lương đang ngồi xổm mài lại lưỡi rựa trên một phiến đá ráp, tiếng kim loại cọ xát ràn rạt chát chúa vang dội vào vách núi đá phía sau.

— Anh Nam, em đã dặn đi dặn lại rồi mà anh không chịu nghe! — Lan hạ giọng thì thào thật nhanh, hơi thở gấp gáp như sợ ngọn gió bấc sẽ cuốn bay mất lời nói. — Sáng nay mẹ mắng mỏ anh như thế là để bố với anh Tùng nghe thấy đấy thôi. Mẹ không muốn anh bị ốm đâu, mẹ sợ anh lại ho rũ rượi như bác Mai hồi trước rồi lại nằm bẹp một chỗ không ai nuôi nổi. Nhưng anh tuyệt đối đừng có nói ra mồm, đừng bao giờ nhắc đến cái áo hay bát cơm cháy đêm qua! Mẹ dặn em kỹ lắm, mẹ không muốn bị bố hay anh Tùng cho là thiên vị người ngoài. Bố mà thấy mẹ mềm lòng với anh thì bố lại gắt lên bảo mẹ đem của nả trong nhà đi nuôi báo cô, còn anh Tùng sẽ nhảy dựng lên bảo mẹ thương người ngoài hơn con ruột đẻ ra. Anh đã hiểu chưa hả?

Tôi nhìn bàn tay gầy guộc nhỏ thó của Lan đang bấm chặt vào lớp vải áo chàm rách nát của mình. Tôi gật đầu thật chậm, cổ họng nghẹn đắng:

— Tao biết rồi. Tao không nói gì đâu.

Con bé thở phào nhẹ nhõm một cái rồi vội vã lủi nhanh về phía gian bếp bốc khói. Tôi đứng trơ trọi bên vại nước đầy ắp, lồng ngực nhói lên một cảm giác phức tạp khôn cùng. Hóa ra lòng tốt ở cái chốn này không chỉ hiếm hoi như giọt sương mùa hạ, mà nó còn là một thứ tội lỗi cần phải che đậy cẩn mật. Người ta phải khoác lên mình bộ mặt hung dữ, phải thốt ra những âm thanh the thé chát chúa nhất để bảo vệ lấy cái bình yên mong manh của một mái ấm đang ngập chìm trong nợ nần và túng thiếu triền miên.

Chiều muộn hôm đó, gió bấc thổi rát từng mảng da thịt trần. Trong gian bếp nhỏ bập bùng ánh lửa củi tạp, khói mù mịt cay xè hai mắt, tôi ngồi xổm bên góc cột nứa, cặm cụi bẻ từng đốt sắn khô ném vào chiếc rổ xảo, chuẩn bị cho bữa ăn tối độn sắn của cả nhà.

Bác Sương đang cúi rạp người, dùng chiếc muôi gỗ cán dài khuấy sâu vào đáy chum gạo đặt ở góc tối. Tiếng đáy muôi gỗ quét sột soạt trên thành sành trơ trọi vang lên khô khốc, rỗng tuếch và buốt óc. Cả chiếc chum sành to tướng, đen trũi chỉ còn lại một lớp gạo mỏng dính lẫn lộn nhiều mày trấu và hạt lép, vét hết lại cũng không đủ ngập ba đốt ngón tay của một đứa trẻ.

Bác Sương đứng sững lại hồi lâu bên miệng chum, chiếc muôi gỗ dừng lơ lửng giữa không trung. Lưng bác hơi còng xuống dưới tấm áo nâu vá víu nhiều mảnh, những nếp nhăn sâu hoắm nơi khóe mắt hằn rõ mồn một dưới ánh lửa bập bùng chập chờn. Không hề quay đầu lại nhìn tôi, nhưng bác bỗng buột miệng nói, giọng khàn đục như tự ném từng lời vào bóng tối đặc quánh của căn bếp:

— Tiền học là thứ nhà này không thể mơ tới khi gạo trong chum còn phải đếm từng bát, từng nắm thế này. Mày nhìn đấy mà biết thân biết phận.

Câu nói buông thõng giữa gian bếp chật hẹp hệt như một lưỡi dao sắc lạnh phạt ngang bầu không khí. Bác Sương không cấm đoán tôi học chữ một cách trực tiếp, bác không hề nói rằng tôi không được phép nhìn vào trang sách hay những con chữ ngay ngắn của mẹ Mai, nhưng bác đã vạch ra một bức tường tiền bạc sừng sững, lạnh ngắt và kiên cố trước cả khi tôi kịp gom đủ chút can đảm để mở miệng xin xỏ điều gì. Một bức tường không xây bằng đá hộc hay rào nứa ken dày, mà xây bằng từng bát gạo vơi đáy, từng đồng nợ tiền thuốc men của cha tôi còn ghi rõ ràng trên mảnh giấy dầu dắt nơi vách cột, và từng bữa ăn đói triền miên phải nhai sắn khô độn ngô đến trợn trừng cả mắt.

Trước bức tường trần trụi ấy, mọi khát khao non nớt về con chữ của một đứa trẻ lên năm đều trở nên kệch cỡm, xa xỉ và vô lý đến tàn nhẫn. Tôi chỉ biết cúi gằm mặt xuống đống củi vụn trước mặt, hai bàn tay siết chặt lấy thanh củi sần sùi đến mức tưa cả dằm sắc vào lòng bàn tay ứa máu mà không dám kêu đau lấy nửa lời.

Thế nhưng, số phận dường như không để cho sự câm lặng ấy được yên ổn hoàn toàn trong lòng tôi.

Chập tối hôm ấy, ông trưởng bản đi ngang qua ngõ nhà bác Lương, dừng lại bên bờ rào dâm bụt gọi với vào khoảng sân đất nện. Tin tức từ trường bản ngoài trung tâm xã đã được người ta truyền tai nhau râm ran suốt từ ban trưa: mùa xuân này, sau khi bà con trong bản dọn dẹp xong bãi cỏ hoang cạnh khu nhà kho cũ, lớp học xóa mù chữ của bản sẽ chính thức mở cửa đón trẻ con trong độ tuổi đến trường, gom cả những đứa trẻ từ năm, sáu tuổi như tôi và con Lan vào học những nét chữ đầu tiên. Thầy giáo từ dưới xuôi tăng cường lên cắm bản sẽ mang theo phấn trắng, bảng gỗ đen và sách vở được nhà nước trợ cấp một phần cho con em đồng bào.

Nghe tiếng gọi với từ ngoài rào, bác Lương chỉ đứng tựa lưng vào cột hiên nhà chính, ậm ừ qua loa vài tiếng trong họng cho tròn bổn phận của một người chủ nhà, rồi quay ngoắt vào trong tiếp tục châm đóm rít thuốc lào sòng sọc.

Còn tôi, tôi đứng chôn chân bên bậu cửa gian chái phụ ẩm thấp, hai vành tai dỏng lên như tai con hoẵng rừng, nuốt trọn lấy từng thanh âm vang lên ngoài sân. Lồng ngực tôi đập thình thịch, một nhịp đập dữ dội, bồn chồn và cồn cào chưa từng có kể từ ngày cha mẹ tôi qua đời. Lần đầu tiên trong đời, bên cạnh mùi ngô mốc, mùi phân trâu ngai ngái nồng nặc và tiếng roi mây vun vút trong những cơn mộng mị kinh hoàng, tâm trí tôi bỗng lóe lên một hình ảnh hoàn toàn khác biệt: một nơi chốn đàng hoàng mà tôi có thể ngồi ngay ngắn trước chiếc bảng gỗ đen nhánh, lắng nghe tiếng phấn trắng lách cách gõ nhịp trên mặt gỗ, thay vì chỉ biết còng lưng cầm roi tre đứng sau mông con trâu mộng to xác ven sườn đồi lởm chởm đá hộc buốt giá.

Tôi không thốt ra một lời nào. Tôi giữ sự im lặng tuyệt đối, câm nín hệt như một tảng đá ngậm nước sâu dưới đáy lòng suối Nà Ban, bởi tôi biết quá rõ rằng bất kỳ một biểu hiện háo hức hay mong muốn nhỏ nhoi nào của tôi lúc này cũng sẽ châm ngòi cho một cơn thịnh nộ mới bùng lên thiêu rụi sự yên ổn mong manh của căn nhà.

Đêm hôm ấy, gió rừng lại gầm thét dữ dội trên mái fibro xi măng nứt nẻ. Tôi lần mò trong bóng tối dày đặc của gian chái nát rách rưới. Tôi lấy chiếc áo bông cũ trần chỉ quả trám mà bác Sương đã thức trắng đêm qua ngồi vá lại bên bếp lửa, đưa hai bàn tay vuốt ve thật phẳng phiu từng nếp gấp vải thô.

Rồi tôi quỳ sụp hai gối xuống nền đất lạnh, luồn sâu cánh tay gầy guộc vào góc kẹt tăm tối nhất dưới chân chiếc chõng tre ọp ẹp, nơi giáp ranh giữa phiến ván mục nát và vách đá rỉ nước lạnh ngắt. Tôi bọc thật kỹ cuốn sách tập đọc lớp một đã cũ sờn của mẹ Mai—cuốn sách có nhành hoa ban khô ép cẩn thận giữa những trang giấy mỏng—vào sâu trong lòng chiếc áo bông chàm ấm áp, chèn thêm phần vở rách mép có bốn trang giấy trắng tinh còn nguyên vẹn ở phía sau cùng. Tôi đẩy bọc kỷ vật thiêng liêng ấy sâu hơn nữa vào trong hốc tối của vách đá, kéo lớp bao tải dứa phủ kín mít lên trên, rồi dùng hết sức bình sinh vần một hòn đá hộc nặng trịch chặn ra phía ngoài để che mắt thằng Tùng.

Ngồi co ro một mình trong góc tối lạnh lẽo, nhìn từng làn hơi thở của chính mình phả ra thành từng cuộn khói trắng mỏng manh rồi tan biến giữa màn đêm buốt giá, tôi cay đắng nhận ra cái quy luật sinh tồn nghiệt ngã của đời mình. Trong căn nhà gỗ xiêu vẹo này, vẫn có những bàn tay chìa ra cứu vớt tôi khỏi chết đói, khỏi chết cóng giữa mùa đông Pha Luông tàn nhẫn. Nhưng không một ai—dù là bác Sương hay con Lan—có đủ tự do và sự thanh thản để gọi những hạt cơm cháy đáy nồi hay manh áo vá dầy dặn ấy là tình thương yêu. Mọi sự tử tế ở đây đều buộc phải ẩn nấp sau sự cay nghiệt, mọi lòng trắc ẩn đều bị cầm tù bởi miếng ăn manh áo khốn khó của từng ngày.

Và tôi biết, tôi phải tự mình sống sót qua mùa đông này. Tôi phải tự mình gìn giữ lấy những con chữ của mẹ trong bóng tối mịt mùng của góc chái nhà, cho đến cái ngày tôi có thể đường hoàng bước chân ra trước ánh mặt trời.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories