Hoa Ban Không TànCh.22 / 38
Chapter 22

Món nợ của cha

Bác Lương không giật tờ giấy khỏi tay tôi ngay; bác nhìn nó như nhìn một món nợ đã nằm quá lâu trong nhà mình, rồi bảo có những thứ cha tôi để lại không thể gấp lại cho vừa một phong bì.

Con rựa trên tay bác buông thõng xuống bên đùi, lưỡi sắt đã mòn vẹt qua bao mùa phát rẫy cắm khẽ một góc nhọn hoắt vào mặt đất nện ẩm ướt ngay nơi góc bậu cửa. Tiếng thở của bác nặng nhọc, khè khè qua hai cánh mũi nở rộng như tiếng bễ lò rèn cũ kỹ ở đầu bản Nà Ban mỗi độ tàn đông vào mùa rèn lại lưỡi cày. Bác không nhìn Lan—con bé lúc này vẫn đang run bắn lên từng chặp, hai cánh tay khẳng khiu như hai nhánh củi rào giơ ngang cố chắn trước thềm gió lùa—cũng không thèm liếc sang bác dâu Sương đang nép mình sát tấm vách nứa đan mắt cáo với đôi bàn tay còn thâm sì nhựa chuối rừng. Ánh mắt bác đục ngầu, vàng quạch như nước suối đầu nguồn sau trận mưa lũ, ghim chặt vào góc chiếc tủ gỗ xoan đào đã mốc meo đang mở toang hoác. Nơi ấy, những góc giấy bổi màu vàng khè lòi ra dưới đáy ngăn kéo sâu nhất như những chiếc rễ cây khô bị chôn vùi trong lòng đất chai sần, qua bao nhiêu năm tháng vẫn không chịu mục rữa.

“Mày tưởng tao giấu một miếng ăn của mày?” Bác Lương mở miệng, từng tiếng bật ra khàn đặc, khô khốc như hai mảnh đá dăm cọ xát vào nhau giữa lòng khe cạn. “Mày tưởng tao thừa công rình mò từng mẩu giấy của cái trường ngoài xã gửi về để dập cái đường đi của mày?”

Bác bước thêm hai bước vào trong gian nhà giữa. Mỗi bước chân trần nứt nẻ của bác nặng như đeo chì bọc xích, khiến cho mặt sàn đất nện mòn nhẵn khẽ rung lên theo nhịp gót. Bác không thèm đóng cánh cửa tủ lại, mà đưa bàn tay thô ráp, chai sần với những khớp ngón to bè, gồ ghề như những củ gừng già mọc ngược thọc sâu xuống tận đáy ngăn kéo. Những ngón tay ấy lần tìm trong bóng tối của hộc gỗ một cách chuẩn xác, quen thuộc đến ghê người, rồi lôi ra trọn vẹn một xấp giấy bổi dày cộp được buộc chặt bằng một sợi dây chuối khô tước nhỏ đã lên nước bóng lẫy. Bác không buồn cởi nút thắt; ngón tay cái to bè của bác móc vào sợi dây, giật phựt một tiếng khô khốc, vứt sợi dây chuối xuống đất như vứt một con sâu róm, rồi quẳng cả xấp giấy ấy lên mặt chiếc chõng tre ọp ẹp đặt sát mép cột cái.

Từng tờ giấy bung ra, xao xác xô lệch vào nhau trên mặt giát tre đã bóng loáng vết mồ hôi người. Chúng không vuông vức, không phẳng phiu, càng không có cái con dấu đỏ tươi chói lọi và sắc sảo như tờ quyết định tôi đang nắm chặt đến nhàu nát trong lòng bàn tay phải ướt đẫm mồ hôi. Đó là những mảnh giấy học trò xé dở từ cuốn vở thếp kẻ dòng màu xanh nhạt của những năm tám mươi, là những góc bao xi măng Hải Phòng màu vỏ đỗ xiêu vẹo, thậm chí có cả những mép viền của vỏ bao thuốc lá lào được người ta xé phẳng mép bằng móng tay. Trên khắp những mảnh giấy tả tơi ấy, những dòng chữ xiêu vẹo, gầy guộc viết bằng thứ mực tím học sinh đã nhòe nhoẹt bởi hơi ẩm núi rừng và mồ hôi tay, chen chúc bên cạnh những dấu điểm chỉ ngón tay cái màu đỏ bầm đã ngả sang sắc tím đen của thứ đất sét khô pha bùn quánh.

“Mày nhìn cho rõ vào!” Bác Lương chỉ ngón tay run rẩy, móng tay đóng đầy ghét đen xuống xấp giấy nợ. “Mày nhìn xem cái tên Nguyễn Văn Hòa của bố mày nó nằm ở những đâu! Nhìn xem cái dấu tay chỉ trỏ của nó ấn vào đây mấy lần!”

Tôi đứng chôn chân tại chỗ, hai ống chân cứng đờ như hai khúc gỗ chôn sâu xuống nền nhà. Tờ giấy quyết định của Phòng Giáo dục trong tay tôi bỗng nhiên trĩu nặng như ngàn cân sắt vụn đè nghiến lấy cổ tay. Đôi mắt tôi hoa lên, nhưng rồi dưới vệt sáng vàng vọt hắt qua khe liếp, tôi nhận ra ngay nét chữ viết tay nghiêng nghiêng, gầy guộc nhưng rắn rỏi của cha tôi trên mảnh giấy bổi nằm trên cùng. Đó là nét chữ của người thợ mộc từng nắn nót khắc từng cánh hoa sen lên mép xà nhà cho người ta:

*“Tôi là Nguyễn Văn Hòa, có vay của anh trai Nguyễn Văn Lương ba mươi nghìn đồng chẵn để mua thuốc ho và dầu xoa cho vợ…”*

Phía dưới dòng chữ ấy là ngày tháng của một mùa đông xa lắc, cái mùa đông năm tôi mới lên bốn tuổi, khi sương muối bắt đầu phủ một lớp màng trắng xóa như tro tàn lên khắp các triền đá tai mèo Pha Luông. Tờ thứ hai, xé từ một góc bìa sổ thu thuế cũ:

*“Vay thêm của anh Lương năm mươi nghìn đồng tiền tiêm thuốc kháng sinh liều cao trên trạm xá xã…”*

Tờ thứ ba, mảnh bao xi măng quăn mép:

*“Vay hai mươi nghìn đồng đong bao gạo đỏ giáp hạt ăn trừ bữa…”*

Và nằm sâu nhất dưới đáy xấp giấy, dày dặn và nặng nề nhất, là mảnh giấy xi măng bóng mỡ có chữ ký người làm chứng cùng dấu tay bảo lãnh của chính bác Lương với ông Thào xóm Mo: khoản nợ một trăm hai mươi nghìn đồng tiền công xẻ hai cỗ áo quan bằng gỗ nghiến lõi già cho đám tang liên tiếp của cha và mẹ tôi trong cùng một mùa giá rét năm ấy.

Bác Lương ngồi thụp xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ xoan thấp tè, hai khuỷu tay gầy guộc tì chặt lên đầu gối, lưng còng gập hẳn xuống như vừa phải gánh thêm một gùi đá hộc từ mó nước sâu ngược con dốc đứng về bản. Bác với tay lấy chiếc điếu cày nứt vỏ được quấn chằng chịt dây đồng đặt cạnh chân cột cái, dùng ngón tay cái nhồi một vê thuốc lào to tướng vào nõ điếu. Tiếng đóm nứa cháy xèo xèo, rồi tiếng nước điếu rít lên sòng sọc, đục ngầu, đặc quánh. Bác rít một hơi dài đến mức hai hõm má hóp tịt lại, mắt nhắm nghiền, lồng ngực lép kẹp nhô hẳn từng dải xương sườn dưới tấm áo chàm cũ rách. Khói thuốc đặc như sương mù tháng Chạp từ từ phả ra từ khóe môi thâm sì, lượn lờ bao trùm lấy gian nhà tranh tối om, tanh nồng mùi rêu ẩm, mùi bùn đất và mùi mồ hôi chua chát bám chặt trên những tấm vách nứa ngâm qua bao mùa mưa tuyết.

“Năm ấy, mẹ mày đổ bệnh ho ra từng bọc máu,” tiếng bác Lương trầm đục, nghẹn ứ nơi cổ họng, nghe như vọng về từ đáy một cái hang đá thăm thẳm không có ánh mặt trời. “Cả cái bản Nà Ban này, từ thằng già đến con nít, ai nhìn vào cái mặt bủng như củ chuối rục của nó cũng bảo con rùa dưới đáy suối kia còn sống dai hơn nó. Thầy mo trong xóm Mo vào cúng ba ngày ba đêm lắc đầu bảo bỏ, trạm xá xã xua tay bảo đưa về lo việc hậu sự cho đỡ tốn dầu đèn. Nhưng thằng Hòa nó không chịu. Bố mày nó dại dột, nó u mê! Nó quỳ sụp xuống chân tao, nó bảo: ‘Anh cho em vay, em đi xẻ gỗ trừ dần, em nhận cày thêm nương bên Pha Luông trừ dần, em làm trâu làm ngựa cho anh, miễn sao giữ được mẹ thằng Nam sống qua mùa hoa ban nở.’ Tao bảo nó: ‘Mày nhìn lại cái nhà mày xem còn cái gì đáng giá một đồng? Chum thì cạn đáy từ tháng mười, nương thì trơ trọi đá tai mèo với cỏ gianh, tiền đâu mà ném vào cái hố không đáy ấy?’ Nhưng nó không nghe. Nó quỳ xuống trước sân kia kìa, quỳ trơ trọi ngay chỗ con Lan đang đứng chôn chân đấy!”

Bác Lương run rẩy vung bàn tay cầm chiếc điếu cày chỉ thẳng ra phía ngưỡng cửa. Lan khẽ giật bắn người, rụt hẳn cổ lại, hai bàn chân trần lấm bùn bấu chặt vào thềm đất nện, đôi mắt to tròn ngấn lệ nhìn trân trân xuống khoảng sân lầy lội bên ngoài.

“Nó quỳ suốt một đêm mưa phùn gió bấc bấc lạnh thấu xương,” bác Lương gằn từng tiếng, lồng ngực phập phồng dữ dội sau lớp vải áo sờn rách bung cả đường chỉ nách. “Tao là anh ruột nó, cùng một bọc mẹ sinh ra, tao nỡ lòng nào khoanh tay nhìn em dâu mình chết khô trên chõng mà không có nổi một ngụm thuốc đắng? Tao vét sạch sành sanh tiền bán lứa lợn choai, tiền bán mấy gùi ngô giống cất trên gác bếp của cả cái nhà này đưa cho nó. Ba mươi nghìn, rồi lại năm mươi nghìn. Đến lúc lão Thào xóm Mo vào rủ nó đi xẻ gỗ ba tháng ròng ở mỏ đá Mai Châu, tiền công người ta trả gấp ba lần ở bản, bảo chỉ cần đi một chuyến là đủ tiền gạt sạch nợ nần thuốc thang trong một vụ ngô, thì bố mày nó lại lắc đầu quầy quậy! Lão Thào đứng ngay hiên này nhổ toẹt bãi nước bọt chửi nó ngu như bò rừng, tao cũng mắng vào mặt nó là dại dột. Đi ba tháng thì chết ai? Đàn ông con trai có sức dài vai rộng, đi làm kiếm tiền trả nợ thì có mất thịt mất da đâu? Nhưng nó nhất quyết bảo mẹ mày yếu lắm rồi, hơi thở mỏng manh như sợi khói, nó không thể rời mắt ra được một khắc nào. Nó bảo nó phải ở lại nhà để bón từng thìa nước cháo hoa, phải tự tay nêm lại từng tấm liếp nứa cho gió bấc khỏi thốc vào chỗ nằm, phải đẽo lại cái ghế xoan thấp cho mẹ mày ngồi dựa lưng sưởi chút nắng le lói buổi sớm. Nó bảo tiền nợ nó sẽ trả cho tao bằng cả cuộc đời nó!”

Bác Lương bật ra một tiếng cười khùng khục trong cuống họng. Thứ âm thanh méo mó, khô khốc và cay đắng ấy dội vào vách gỗ nghe rợn cả người, giống như tiếng đá lăn lạo xạo trên triền dốc cằn.

“Nó bảo trả bằng cả đời nó! Nhưng cái đời của thằng Hòa được bao nhiêu tháng bao nhiêu ngày?” Bác Lương chồm người tới trước, mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm. “Mẹ mày nhắm mắt xuôi tay chưa đầy sáu mươi ngày thì bố mày cũng thổ huyết chết lăn đùng ra ngay cạnh cái chõng tre này đây! Nó chết trơ mắt ếch giữa trưa trật, bỏ lại sau lưng một đống nợ thuốc men trạm xá, nợ gạo đỏ đong chịu mùa giáp hạt, và nợ cả hai cỗ áo quan bằng gỗ nghiến lõi của lão Thào xóm Mo! Lão Thào vác rựa xộc thẳng sang tận ngõ, đá tung cái cổng tre, đòi dỡ nương ngô, đòi lột sạch mái gianh nhà này để trừ nợ! Ai? Mày nói tao nghe xem ai là người đứng ra giơ lưng chịu đòn gánh? Ai cắm tên họ vào mảnh giấy xi măng này để người ta không đào mả bố mẹ mày lên mà đòi tiền gỗ? Là tao! Tao phải nhận cày mảnh nương ngô toàn sỏi đá bên sườn Pha Luông của nó, tao phải nai lưng gánh luôn cái miệng ăn của mày từ cái ngày mày mới chỉ bằng củ khoai củ sắn lăn lóc dưới đất!”

Từng lời, từng chữ của bác Lương ném ra như những nhát búa tạ giáng chan chát xuống tảng đá hộc giữa lòng suối cạn. Không khí trong căn nhà tranh thấp lè đè bỗng chốc trở nên ngột ngạt, đặc quánh đến mức tôi cảm thấy từng phế nang trong lồng ngực mình như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, buốt rát. Tôi đứng sững sờ, hai chân run rẩy nhưng vẫn cố ghim chặt xuống đất, ngón tay vô thức miết chặt vào mép tờ quyết định tuyển sinh của Phòng Giáo dục huyện. Những dòng chữ in máy bằng mực đen sắc sảo, những dòng kẻ thẳng tắp và con dấu đỏ tươi hứa hẹn về một chân trời mới—nơi có mái trường nội trú huyện, có những cuốn sách giáo khoa thơm mùi giấy mới và những bữa cơm không phải độn sắn mốc—bỗng chốc chao đảo, mờ nhòe đi trước mắt tôi.

Dưới chân tôi lúc này dường như không phải là bậc thềm đất nện quen thuộc để tôi bước ra con đường mòn dẫn về phía trường xã, mà là một hố sâu thăm thẳm, đen ngòm, được đào xới bởi những khoản nợ truyền kiếp của một kiếp nghèo nàn vùng cao.

Trong lời kể nghẹn ngào, cuồng nộ và đứt quãng của bác Lương, tôi không chỉ nghe thấy nỗi cực nhọc, cơ hàn của một người nông dân suốt đời cắm mặt vào đất sỏi để trả nợ thay cho một người em trai đã khuất. Tôi nghe thấy một thứ âm vang khác, chìm sâu hơn, nhức nhối hơn và cay đắng hơn gấp bội: sự mặc cảm, nỗi mệt mỏi cùng cực, và cả một niềm ghen tị âm ỉ đã mưng mủ suốt mấy mươi năm qua trong lòng người đàn ông này.

Ký ức mơ hồ của tuổi ấu thơ bỗng dội về như những đợt sóng ngầm. Tôi chợt nhớ lại những câu chuyện vụn vặt mà những người già trong bản Nà Ban từng buông lửng lơ bên bếp lửa nhà rông vào những đêm đông giá rét. Ngày xưa, khi ông bà nội tôi còn sống, cha tôi—chú Hòa—mới chính là người con sáng dạ nhất trong nhà. Cha tôi học chữ nhanh như con nai chạy trên cỏ, nhớ mặt số giỏi đến mức người trong xã ai cũng phải trầm trồ. Ông nội đã từng gom góp từng ống gạo đỏ, từng bó củi khô mang ra chợ huyện bán để cho cha tôi được đi học hết lớp năm của trường làng dưới chân dốc, người ta vẫn tấm tắc khen cha có cái đầu sáng sủa của người dưới xuôi.

Còn bác Lương, phận làm con trưởng trong một gia đình cạn kiệt cơm áo, đã phải vứt bỏ ước mơ đèn sách từ năm chín tuổi. Đôi vai bác Lương chưa đủ rộng để gùi một gùi củi khô thì đã phải vác cuốc ngược dốc lên nương Pha Luông, cày xới từng tấc đất sỏi đá để kiếm ngô nuôi cả nhà. Bác đã phải hy sinh toàn bộ tuổi thơ của mình, chôn vùi những tháng ngày tươi đẹp nhất dưới đáy nương sâu để nhường cho cha tôi được ngồi trước trang vở học trò. Thế nhưng, rốt cuộc thì cha tôi lại mang cái mớ chữ nghĩa ấy về để làm gì? Cha dựng một căn nhà rách nát cạnh bờ suối, lấy một người đàn bà ốm yếu quanh năm, để rồi cuối cùng chết gục trong cảnh bần hàn túng quẫn, để lại một món nợ khổng lồ đè nát đôi vai gầy guộc của người anh cả.

Bác Lương ghen tị với cha tôi. Bác cay đắng và ghen tị vì cha tôi đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn giữ trọn được cái danh thơm là một người đàn ông tình nghĩa, một người chồng thủy chung hết lòng vì vợ, một người cha dịu dàng thương con; trong khi bác, người ở lại trần gian nai lưng cày cuốc trả từng cắc bạc nợ nần, gánh gồng từng miệng ăn của hai gia đình, lại bị người đời trong bản và thậm chí cả đứa cháu ruột này coi như một kẻ tàn nhẫn, keo kiệt, một lão già bủn xỉn chỉ biết đếm từng bát mèn mén thừa và bắt con cháu lao động quần quật như trâu như ngựa. Bác không căm thù đứa cháu mồ côi này; bác căm thù cái bóng ma của chữ nghĩa, cái bóng ma của những kẻ thích ngẩng đầu nhìn lên trời cao mộng tưởng trong khi hai bàn chân vẫn đang ngập ngụa dưới bùn lầy nợ nần.

“Bố mày chữ nghĩa đầy một bụng đấy!” Bác Lương lại gằn giọng, mắt đỏ ngầu quắc lên nhìn thẳng vào mặt tôi, hơi thở phì phò qua kẽ răng vàng ố. “Học cho lắm vào, nhớ mặt chữ cho nhiều vào rồi có chữa được cái buồng phổi thối rữa cho mẹ mày không? Có tự tay xẻ ra được hai cỗ áo quan tử tế để chôn cất nhau không, hay cuối cùng vẫn là cái thân già này phải cúi đầu đi lạy lục lão Thào từng vụ ngô một? Mày bây giờ cũng thế thôi! Mày cậy mày sáng dạ, mày đòi dứt áo xuống huyện, đòi làm thầy này thợ nọ ngoài tỉnh. Rồi ai trả nợ cho bố mày? Ai cày nốt ba sào nương ngô bên Pha Luông? Hay mày cũng định phủi tay bước đi như bố mày ngày trước, để lại cái nợ này cho con Lan, thằng Tùng nó còng lưng gánh hộ?”

“Nhà mình… vụ ấy thiếu đói ròng rã ba tháng liền, chú Hòa lúc ấy nằm liệt giường có biết đâu…”

Một giọng nói the thé, run rẩy và đứt quãng bỗng cất lên từ phía bậu cửa ngăn giữa gian nhà chính và chái bếp. Bác dâu Sương từ từ bước qua tấm liếp nứa xiêu vẹo. Hai bàn tay bác dính đầy mủ chuối rừng thâm đen, ráp rúa như da cóc, đang bấu chặt lấy mép chiếc tạp dề chắp vá chằng chịt bằng bao tải gai. Đôi mắt trũng sâu hoắm của bác lấp loáng những vệt nước mắt nhờ nhờ, gương mặt vàng vọt vì bệnh tật và thiếu ăn co rúm lại khi những ký ức cơ hàn năm xưa bị xới tung lên một cách tàn nhẫn.

“Cái năm đưa ma chú Hòa xong,” bác Sương nhìn xuống mũi chân trần nứt nẻ của mình, giọng run rẩy như sắp hụt hơi giữa chừng, “trời đổ một trận mưa đá quét sạch bong nương ngô trên đỉnh núi. Lão Thào vác gậy sang ngồi lù lù giữa gian nhà này đòi hai mươi cân thóc giống tiền lãi áo quan của vụ trước. Nhà mình lúc ấy đến mèn mén còn không có đủ để độn sắn mốc. Tao phải vác cái gùi rách, đi bộ ròng rã nửa ngày đường sang tận nhà ngoại bên bản Tượt muối mặt vay từng bát gạo đỏ về nấu thành cháo loãng chia cho bốn miệng ăn cầm cự qua ngày. Rồi thằng Nam… thằng Nam phát một trận sốt rét rừng li bì suốt ba ngày ba đêm, người nó nóng như hòn than nung đỏ, co giật sùi cả bọt mép. Tao phải cắn răng bẻ đôi cái khuyên tai bằng bạc mẹ tao cho ngày tao đi lấy chồng, mang ra trạm xá xã đổi lấy ba viên thuốc hạ sốt của người ta… Mày có biết những chuyện ấy không hả Nam?”

Cả người tôi run lên bần bật. Từng lời của bác dâu Sương như một luồng điện lạnh buốt chạy dọc sống lưng tôi.

Bác dâu Sương chưa từng kể với tôi điều ấy. Chưa một lần nào trong suốt sáu năm qua bác nhắc lại chuyện chiếc khuyên tai bạc bị bẻ đôi. Trong ký ức non nớt và đầy tổn thương của tôi từ ngày cha mẹ mất, bác dâu luôn hiện lên như một người đàn bà cay nghiệt, khó tính, người hay dùng chiếc đũa cả gõ chan chát vào vành nồi mỗi khi xới cơm, người luôn cằn nhằn về từng cọng rau muống dập nát và đay nghiến từng miếng mèn mén tôi nuốt vào bụng. Tôi biết bác thương con ruột của bác hơn, tôi biết bác luôn lo sợ tôi sẽ ăn lạm vào phần của thằng Tùng và con Lan. Nhưng tôi chưa bao giờ biết rằng, manh áo bông cũ chắp vá mà Lan lén lút mang sang chõng tre cho tôi đắp giữa những đêm đông rét buốt thấu xương, hay những nắm cơm cháy tóp mỡ giấu vội sau tro bếp, lại được rút ra từ một cái chum gạo đã rỗng không tự bao giờ và từ chính đôi khuyên tai kỷ vật ngày cưới của người đàn bà khốn khổ ấy.

Bác Sương không dám nhìn thẳng vào mắt tôi. Bà đưa mắt liếc trộm sang phía bác Lương—người đàn ông đang ngồi bất động như một bức tượng đồng hun bên chiếc điếu cày—rồi lại nhìn trân trân vào tờ giấy quyết định tuyển sinh mang con dấu đỏ rực đang nằm trên tay tôi. Sự ngập ngừng, giằng xé hiện rõ trên từng nếp nhăn nheo nơi khóe miệng khô khốc của bà.

“Khó khăn thì cái nhà này ai mà chẳng biết là khó khăn…” Giọng bác dâu chùng hẳn xuống, nhỏ dần, như thể bà chỉ đang thì thầm với chính cái bóng đen gầy guộc của mình in trên vách nứa. “Nhưng mà… ông ấy giấu tờ giấy của mày đi… cũng không hẳn chỉ vì sợ mất một đứa làm nương đâu cháu ơi. Nhà này… cái họ Nguyễn này mang cái tiếng nợ nần ngập đầu suốt mười năm nay ở đất Nà Ban rồi. Con cái nhà người ta đến tuổi biết cầm cái cuốc cái rựa thì đều đi làm thuê làm mướn, xẻ gỗ gánh đá để kiếm từng đồng về đắp vào nợ. Còn mày… mày mà bước chân đi học xa, người trong bản người ta lại chỉ trỏ bảo cái nhà này nuôi cháu để nó bỏ đi tìm chữ, rồi cái nợ cũ của bố mày… ai là người đứng ra rửa sạch cho cái họ này?”

Lời trần tình vụng về, đứt quãng và nghẹn ngào của bác dâu Sương như một nhát dao găm khía nhẹ nhưng sâu hoắm vào tận cùng tâm can tôi.

Sự thật phơi bày ra đó, trần trụi và đau xót đến ngột ngạt: việc bác Lương giấu biến tờ giấy báo trúng tuyển không đơn thuần xuất phát từ sự bủn xỉn hay lòng ích kỷ của một người nông dân hẹp hòi muốn giữ lại một chân lao động không công trong gia đình. Đằng sau cái hành động lén lút và cay nghiệt ấy là một nỗi sợ hãi tột cùng. Đó là nỗi sợ của những con người bị cái đói, cái nghèo và món nợ truyền kiếp bóp nghẹt đến mức méo mó cả nhân tính; nỗi sợ bị bỏ lại trơ trọi phía sau cùng với đống tro tàn của quá khứ; nỗi sợ rằng nếu tôi bước chân ra khỏi thung lũng đá tai mèo này để đi học, món nợ kia sẽ vĩnh viễn trở thành một vết nhơ, một gánh nặng ngàn cân đè bẹp số phận của những đứa con ruột của họ. Họ muốn trói chặt tôi vào mảnh nương sỏi đá bên sườn Pha Luông, không chỉ để vắt kiệt sức lao động của tôi, mà còn để ép tôi phải cùng họ chia sẻ sự bất lực, cùng họ chìm đắm trong cái vòng luẩn quẩn của một kiếp người không lối thoát.

Một giọt nước mắt nóng hổi bất ngờ lăn dài trên má tôi, rơi xuống mu bàn tay khô khốc, làm nhòe đi một góc chữ in máy trên tờ quyết định.

Tôi thương cha tôi. Lồng ngực tôi thắt lại trong một cơn đau nhói buốt khi hình dung ra bóng dáng gầy gò, xiêu vẹo của người thợ mộc năm nào. Tôi nhớ như in tiếng ho rũ rượi của cha trong những đêm sương muối Pha Luông rạch nát màn đêm tĩnh mịch. Tôi hiểu vì sao cha tôi nhất quyết từ chối chuyến đi xẻ gỗ ở mỏ đá Mai Châu dù người ta trả tiền công cao gấp ba lần. Cha tôi ở lại vì mẹ. Cha ở lại để giữ lấy một hơi ấm mong manh cho người đàn bà mà cha yêu thương nhất trên cõi đời này, dù cái giá phải trả cho sự ở lại ấy là những tờ giấy nợ viết tay nhòe nhoẹt, là những cái cúi đầu nhục nhã trước người anh cả, và cuối cùng là mạng sống của chính mình bên cạnh cỗ áo quan bằng gỗ nghiến lõi. Cha tôi không phải là kẻ vô trách nhiệm, càng không phải là kẻ hèn nhát. Cha đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ phẩm giá của tình thương, để giữ cho tôi một mái ấm gia đình trọn vẹn trước khi mẹ nhắm mắt.

Thế nhưng, lòng thương cha vô bờ bến, sự thấu hiểu sâu sắc cho nỗi nhọc nhằn cơ cực của cha và cả những cay đắng mà gia đình bác Lương đã phải oằn lưng gánh chịu suốt bao năm qua, không thể và không bao giờ đồng nghĩa với việc tôi phải cúi đầu chấp nhận một số phận tăm tối mà người khác đã định sẵn cho mình.

Món nợ ấy là có thật. Từng nghìn đồng tiền thuốc kháng sinh, từng cỗ ván áo quan gỗ nghiến, từng bát gạo đỏ mùa giáp hạt mà bác dâu Sương phải muối mặt đi vay mượn đều là những sự thật bằng xương bằng thịt. Nhưng tôi không phải là một món đồ gá nợ! Tôi không phải là một cỗ máy cày biết đi, sinh ra trên cõi đời này chỉ để trói chặt cuộc đời mình vào những triền nương ngô cằn cỗi nhằm trả một món lãi vô hình không bao giờ có ngày kết thúc!

Tôi ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt bác Lương.

Đôi mắt bác trũng sâu hoắm, vằn lên những tia máu đỏ của sự mệt mỏi cùng cực và cơn thịnh nộ đang âm ỉ cháy. Nhưng trong ánh mắt đục ngầu ấy lúc này, tôi không còn nhìn thấy bóng dáng của một đấng uy quyền tối thượng có thể dễ dàng định đoạt sự sống chết hay tương lai của tôi bằng một ngọn roi dẻ gai hay một lời đe dọa nạt nộ nữa. Tôi nhìn thấy một người đàn ông già nua, khốn khổ, bế tắc đến cùng quẫn, đang cố dùng chính sợi dây xích vô hình đã trói buộc cuộc đời mình để quấn chặt lấy cổ đứa cháu mồ côi tội nghiệp.

Tôi nuốt khan một ngụm nước bọt mặn chát, các khớp ngón tay nắm chặt lại cho đến khi từng đốt xương trắng bệch ra. Lồng ngực tôi thôi không còn run rẩy nữa. Một sự tĩnh lặng lạnh lẽo, một sự kiên định lạ lùng từ từ dâng lên từ sâu thẳm tâm can, lấp đầy khoảng trống của nỗi sợ hãi vừa mới tan biến.

“Cháu biết cha cháu nợ bác,” tôi cất tiếng, giọng nói không còn run rẩy hay nghẹn ngào như lúc đầu, mà trầm xuống, rành rọt từng chữ vang lên giữa gian nhà tranh vắng lặng. “Từng đồng tiền thuốc của mẹ cháu năm xưa, từng cỗ ván nghiến chôn cha mẹ cháu dưới chân đồi, cháu chưa từng quên một ngày nào cả.”

Tôi nhìn thẳng vào hai con mắt đỏ ngầu của bác Lương, nghe rõ tiếng gió mùa đông lùa qua kẽ liếp nứa khô khốc rít lên từng hồi bên chái hiên sau. Cảm giác run sợ ban nãy đã hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho một sự sáng tỏ đến cay đắng.

“Cháu biết cái nghèo làm cả cái nhà mình khổ cực suốt ngần ấy năm,” tôi nói tiếp, hai vai hơi ưỡn lên, hai bàn chân trần bám chặt xuống mặt đất nện mát lạnh. “Bác gánh nợ thay cha cháu, bác nuôi cháu từ ngày mẹ cháu mất, cháu mang ơn bác và thím suốt đời. Nhưng nợ nần chỉ giải thích được vì sao bác cay đắng, vì sao bác nhọc nhằn, chứ món nợ ấy không cho bác cái quyền tước đoạt tương lai của cháu bằng cách lén lút nhét tờ giấy này xuống đáy tủ!”

Bác Lương giật thót người như vừa bị ai châm một que diêm đỏ lửa vào da thịt. Bàn tay đang đặt trên đùi bác siết chặt lấy chiếc quần chàm rách gối, các đốt ngón tay gồ lên như những mấu nghiến già cỗi. Bác trừng trừng nhìn tôi, dường như trong suốt cuộc đời làm chủ gia đình này, bác chưa từng nghĩ đứa cháu mồ côi suốt sáu năm qua chỉ biết câm lặng cúi đầu xới đất, nhặt đá trên nương, ăn mèn mén độn sắn thừa hôm nay lại dám dùng những lời lẽ đanh thép và dứt khoát đến thế để cật vấn bác ngay giữa gian nhà này.

“Mày bảo tao cướp của mày?” Bác Lương bật dậy khỏi chiếc ghế xoan, tiếng quát gầm lên như tiếng đá lở trên sườn Pha Luông mỗi độ mưa nguồn. “Mày có cái gì ở cái đất Nà Ban này để tao phải cướp của mày? Mày có mảnh nương nào cắm cọc tên mày? Mày có con lợn, con gà nào tự tay mày nuôi lớn mà không ăn từng bát cám của cái nhà này? Mày cậy mày có dăm ba cái chữ học lỏm của con Hạnh ngoài trường xã, mày tưởng mày đã thành người lớn để đứng đây giương mắt dạy khôn tao à?”

Bác bước xốc tới hai bước, sống con rựa trong tay quẹt mạnh vào mép cột cái nghe một tiếng *chát* chói tai, làm bật ra một mảng dăm gỗ khô khốc. Khoảng cách giữa hai bác cháu thu lại gần đến mức tôi có thể ngửi thấy rõ mồn một mùi khói thuốc lào khét lẹt quyện với mùi mồ hôi chua nồng bốc ra từ vạt áo nâu cáu bẩn của bác. Cơn giận dữ tích tụ từ những năm tháng cùng quẫn, từ những món nợ truyền đời không trả hết và nỗi uất ức bị một đứa trẻ vạch trần đã biến đổi khuôn mặt khắc khổ của bác thành một khối cơ bắp giật giật liên hồi, tím tái lại vì phẫn nộ.

“Mày muốn đi học xa đúng không?” Bác Lương chỉ thẳng mũi rựa sắt xuống mũi chân tôi, giọng gằn từng tiếng rợn người. “Mày muốn vác cái xác mày xuống huyện, muốn mở mày mở mặt với thiên hạ đúng không? Tao nói cho mày biết, cái đất Nà Ban này từ thuở khai hoang đến giờ chưa từng có một đứa nào mồ côi mồ cút mà thoát được cái kiếp làm nương làm rẫy! Tờ giấy đó có dấu đỏ của huyện thì đã làm sao? Huyện có về đây cày thay mày ba sào nương ngô bên Pha Luông không? Huyện có gánh nước từ mó sâu về đổ đầy hai cái chum đất kia mỗi sớm mai không? Nếu mày dứt áo bước chân ra khỏi cái ngưỡng cửa này, thì cái nhà này không có lấy một đồng tiền đường cho mày! Không một hào tiền ăn, không một góc chiếu rách cho mày nương thân dưới thị trấn! Phần việc mày bỏ lại trên nương, tao không gánh, thím mày không gánh, con Lan thằng Tùng cũng không phải còng lưng ra mà làm thay cho một thằng ăn cháo đái bát!”

Tiếng quát tháo của bác Lương dội đập vào bốn bức vách gỗ như muốn xé toang gian nhà nhỏ chật hẹp. Từng câu từng chữ trần trụi ném ra không nhằm mục đích nào khác ngoài việc dập tắt đốm lửa hy vọng vừa nhen nhóm trong tôi bằng sự tuyệt vọng của cái đói, cái rét và nỗi cô độc trơ trọi. Bác biết rõ điểm yếu chí mạng của tôi: tôi không có tài sản, không có người bảo bọc, không có lấy một cắc bạc dắt lưng. Một đứa trẻ mười một tuổi trơ trọi giữa trần gian, nếu bị cắt đứt nguồn cơm áo tạm bợ này thì chỉ có nước chết đói chết rét bên vệ đường trước khi kịp nhìn thấy cánh cổng trường huyện.

Những lời đe dọa độc địa ấy quấn lấy tâm trí tôi như một sợi dây thừng siết chặt lấy cổ họng. Có một khoảnh khắc ngắn ngủi, nỗi sợ hãi nguyên thủy của một kẻ ăn nhờ ở đậu lại trỗi dậy trong huyết quản, thúc giục tôi buông xuôi tất cả, thúc giục tôi cúi đầu nhận lỗi và đưa trả tờ giấy kia cho bác Lương xé đi để đổi lấy sự bình yên giả tạo trong gian chái phụ tối tăm.

Nhưng ngay lúc đôi chân tôi toan chùn bước, một bóng người nhỏ bé khẽ lay động nơi ngưỡng cửa.

Lan vẫn đứng đó.

Con bé không xông lên gào thét van xin cha như lúc trước, cũng không chen ngang lấy một lời nào vào cơn lôi đình của bác Lương. Hai bàn tay gầy guộc của em bấu chặt vào mép cánh cửa gỗ mọt, những móng tay bấm sâu đến mức trắng bệch ra. Gương mặt Lan lấm lem những vệt nước mắt hòa cùng tro bếp đen nhẻm, đôi bờ vai gầy guộc nhấp nhô run rẩy sau từng đợt nấc nghẹn cố kìm nén trong lồng ngực. Thế nhưng, em không hề lùi bước. Em không bỏ chạy ra ngoài sân, không trốn biệt xuống chái bếp sau như thói quen mỗi khi cha nổi cơn tam bành. Đôi mắt đen láy, to tròn và ầng ậc nước của con bé ghim chặt lấy tôi, ánh lên một sự kiên định câm lặng đến nghẹn lòng.

Trong ánh mắt ấy của Lan, tôi nhìn thấy hình ảnh vắt cơm nguội độn sắn bọc trong manh lá dong rách mà em đã lén giấu dưới gối cho tôi giữa những đêm đông rét buốt. Tôi nhìn thấy đôi bàn tay nứt nẻ, cóng buốt vì sương muối đã run rẩy chép từng bài toán đố lên mảnh giấy gói thuốc lào ố vàng mang lên tận nương cho tôi làm. Tôi nhìn thấy đứa em gái họ bé bỏng đã dám trèo lên miệng cối giã gạo, liều mạng lấy trộm chiếc chìa khóa đồng thau han gỉ sau tấm liếp nứa để trao cho tôi một cơ hội làm người. Lan đang đứng đó để làm nhân chứng. Sự hiện diện bền bỉ, không rời nửa bước của em như một chiếc mỏ neo cắm sâu vào lòng đất nện, giữ chặt lấy đôi chân tôi, không cho phép tôi rút lại những gì mình vừa nói, không cho phép tôi một lần nữa phản bội lại niềm tin của em và sự hy sinh oan khuất của chính cha mẹ mình.

Tôi hít một hơi thật sâu, giữ cho hai bờ vai thăng bằng, không lùi lấy một phân nào trước mũi rựa sắc lạnh của bác Lương.

Bầu không khí căng thẳng quánh đặc lại, tưởng chừng chỉ cần một tàn lửa nhỏ rơi xuống là bùng nổ tan tành, bỗng bị ngắt quãng bởi tiếng sột soạt nơi góc liếp nứa.

Bác dâu Sương từ nãy đến giờ vẫn đứng nép mình sau bậu cửa nối với gian bếp, hai bàn tay dính mủ chuối đen ngòm miết chặt vào chiếc tạp dề bao tải gai đến rách toạc cả đường chỉ mép. Gương mặt bác nhăn nhúm lại, những nếp nhăn nơi khóe mắt xô lệch vào nhau thành những rãnh sâu hoắm chứa đầy nỗi cơ cực của một đời làm dâu nghèo khó. Bác không dám bước hẳn vào gian chính, càng không dám công khai đứng ra chắn trước mặt người chồng vũ phu đang nổi trận lôi đình. Nhưng khi nhìn thấy xấp giấy nợ của chú Hòa nằm tả tơi trên mặt chõng tre, rồi lại nhìn sang tờ giấy báo tuyển sinh mang con dấu đỏ rực trên tay tôi, ánh mắt bác chợt chùng xuống, mờ đục đi như vũng nước mưa đọng trên lối mòn sỏi đá.

Bác Sương ngước nhìn chồng, đôi môi khô nứt nẻ run run. Giọng bác cất lên, không phải tiếng the thé chanh chua thường ngày mỗi khi mắng tôi làm vãi cám lợn hay băm chuối chậm, mà là một tiếng thở dài lí nhí, khô khốc nhưng lại lọt thỏm vào khoảng lặng chết chóc giữa hai cơn quát tháo:

“Thôi đi ông… Giấu tờ giấy của nó đi… thì món nợ của chú Hòa cũng có nhẹ đi được lạng nào đâu…”

Tiếng nói nhỏ như tiếng muỗi kêu của bác dâu Sương rơi tõm vào gian nhà, nhưng sức nặng của nó lại chẳng khác nào một gáo nước lạnh tạt thẳng vào lò than đang rực cháy.

Bác Lương sững người lại. Cánh tay đang cầm con rựa của bác khẽ chùng xuống một nhịp, đôi mắt long sòng sọc chầm chậm quay sang nhìn vợ với vẻ kinh ngạc tột độ. Trong suốt bao nhiêu năm sống chung dưới mái nhà dột nát này, người đàn bà ấy chỉ biết càu nhàu về cơm áo gạo tiền, chỉ biết tính toán từng bát mèn mén cho con ruột và đay nghiến đứa cháu côi cút; chưa từng có một lần nào bà dám buông một câu ngăn cản những quyết định tàn nhẫn hay những cơn thịnh nộ của ông.

Bác Sương nói xong câu ấy liền vội vã cúi gằm mặt xuống, hai bàn tay luống cuống vò nát mép tạp dề rách như thể chính bà cũng đang kinh hãi trước sự liều lĩnh chưa từng có của bản thân. Bà không bênh vực tôi, bà cũng không mở miệng cầu xin cho tôi được bước chân đi học; bà chỉ nói ra cái sự thật trần trụi và đau xót nhất mà cả cái gia đình này đã cố tình lờ đi suốt bao năm qua: cái nghèo và món nợ ma chay của cha Hòa là một hòn đá tảng ngàn cân đè nặng lên số phận của họ, và việc bẻ gãy đôi cánh của một đứa trẻ mồ côi sẽ vĩnh viễn không làm cho hòn đá tảng ấy nhẹ bớt đi dù chỉ là một phân.

Bác Lương không quát vợ. Bác chỉ đứng trơ ra đó giữa gian nhà, lồng ngực gầy guộc phập phồng sau làn áo nâu vá víu. Những đường gân máu nổi ngoằn ngoèo trên thái dương bác giật giật từng hồi rồi từ từ chìm xuống dưới lớp da sạm đen vì nắng gió Pha Luông. Sự im lặng chết chóc lại một lần nữa ụp xuống căn nhà gỗ, nặng trĩu và u ám như màn sương muối đang bắt đầu tràn qua các khe núi đá ngoài kia.

Tôi không nói thêm một lời nào nữa.

Tôi từ từ đưa hai tay lên, cẩn thận gấp tờ giấy quyết định của Phòng Giáo dục lại làm tư. Từng nếp gấp được tôi miết thật phẳng phiu bằng đầu ngón tay cái thô ráp, tỉ mỉ, cẩn trọng và trân trọng như thể đang gìn giữ một mảnh sinh mệnh cuối cùng của chính mình. Sau đó, tôi kéo vạt chiếc áo chàm cũ kỹ sang một bên, nhét tờ giấy vào sâu trong túi áo ngực bên trái—nơi áp sát vào lồng ngực đang đập từng nhịp dồn dập, nơi từng giọt máu nóng hổi vẫn đang chảy tràn qua trái tim của một đứa trẻ không bao giờ chịu đầu hàng số phận.

Tôi nhìn đống giấy nợ của cha tôi nằm trơ trọi, tả tơi trên mặt chõng tre, rồi lại nhìn sang gương mặt hốc hác, già nua trước tuổi của bác Lương và dáng hình co ro, tội nghiệp của bác dâu Sương nơi bậu cửa. Trong khoảnh khắc ấy, sự căm phẫn trong lòng tôi đã không còn là một ngọn lửa thù hằn mù quáng. Tôi hiểu. Tôi hiểu nỗi khổ cực tột cùng của bác Lương khi phải gánh nợ thay em giữa một thung lũng nghèo đói triền miên. Tôi hiểu nỗi lo sợ mất đi một chân lao động chính của người nông dân quanh năm đối mặt với cái đói giáp hạt. Tôi hiểu nguồn gốc sâu xa của những đòn roi và sự cay nghiệt mà mình đã phải gánh chịu suốt ngần ấy năm trời.

Nhưng hiểu nguyên nhân không bao giờ đồng nghĩa với việc tôi sẽ chấp nhận tha thứ hay cam chịu.

Hiểu được sự bế tắc của người lớn không có nghĩa là tôi phải tự nguyện dâng nộp cả cuộc đời mình vào cái bế tắc ấy để chết mòn cùng với họ. Cha tôi đã chọn ở lại vì tình thương và phải trả giá bằng cả mạng sống cùng những tờ giấy nợ oan nghiệt; còn tôi, tôi phải chọn một con đường khác. Tôi sẽ không để món nợ của thế hệ trước bóp chết quyền được sống như một con người tử tế của chính mình.

Tôi liếc nhìn bóng nắng xuyên qua kẽ liếp nứa, rọi xiên một vệt vàng vọt xuống nền đất nện ẩm ướt. Đã quá buổi trưa. Hạn chót ghi rõ trên tờ quyết định có con dấu đỏ rực kia là mười một giờ ba mươi phút trưa ngày mai—thứ Sáu. Nếu trước giờ đó, tờ giấy này không có chữ ký xác nhận của người giám hộ hoặc không được nộp lại tận tay cho hội đồng tuyển sinh ngoài trường chính, cơ hội của tôi sẽ vĩnh viễn bị hủy bỏ, và suất hỗ trợ học tập quý giá ấy sẽ được trao lại cho một học sinh dự bị khác ở tít tận bản Pha Đao.

Tôi không thể trông chờ vào một phép màu vô hình, càng không thể hạ mình quỳ lạy van xin sự thương hại hay ban ơn từ bác Lương. Người duy nhất có thể giúp tôi đối diện với cửa ải nghiệt ngã này, người duy nhất có đủ tư cách và tiếng nói để cứu lấy tương lai của tôi lúc này chỉ có một người.

Tôi phải tìm gặp cô Hạnh. Phải báo cho cô biết toàn bộ sự thật trước khi hạn chót nghiệt ngã ấy trôi qua.

Tôi dứt khoát quay người, toan bước nhanh ra phía cửa nơi Lan vẫn đang đứng nép mình bên cánh liếp, thì bất ngờ từ ngoài ngõ đất dốc dẫn vào sân rộ lên tiếng bước chân vội vã, dẫm lạo xạo trên những cành củi rào khô và sỏi vụn. Tiếng thở dốc của ai đó vừa vượt qua một chặng dốc dài hòa cùng tiếng then cổng tre va đập vào cọc rào đánh *cạch* một tiếng dứt khoát.

Một bóng người phụ nữ mặc chiếc áo khoác gió màu xanh xám quen thuộc, đầu đội chiếc nón lá đã sờn vành còn vương những hạt mưa phùn lạnh buốt, hiện ra ngay giữa khoảng sân lầy lội đầy bùn đất.

Cô Hạnh đã bỏ cả buổi nghỉ trưa hiếm hoi, vượt hơn bốn cây số đường rừng dốc đứng trơn như đổ mỡ từ trường xã để lội bùn đến tận cửa nhà bác Lương. Ánh mắt cô nghiêm nghị, sắc bén quét thẳng qua khung cửa mở toang, nhìn thẳng vào bốn con người đang đứng bất động như hóa đá trong gian nhà tối tăm, cất giọng đanh gọn đòi một câu trả lời dứt khoát:

“Bác Lương có nhà không? Tôi đến để lấy câu trả lời về tờ giấy báo của em Nam!”

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories