Tờ giấy biến mất
Mấy ngày sau, cô Hạnh hỏi tôi đã đọc kỹ tờ thông báo chưa, và tôi đứng giữa sân trường bản không hiểu cô đang nói đến tờ giấy nào.
Gió mùa đông bắc tràn qua thung lũng Nà Ban từ nửa đêm hôm trước, rít liên hồi qua những hẻm núi đá vôi tai mèo nhọn hoắt dựng đứng như răng lược, cào rách từng tán lá chuối rừng xơ xác mọc men theo dòng suối cạn rồi dồn một lớp sương mù đục ngầu, ẩm ướt và giá buốt áp sát sạt mặt đất. Sân trường phân hiệu bản trơ trọi những vạt sỏi vụn lởm chởm chen lẫn bùn đỏ quánh lại vì rét. Cái lạnh thấu xương vùng cao luồn lách qua lớp đế dép cao su đúc mòn vẹt tôi mang dưới chân, buốt thấu lên tận từng khớp xương mắt cá.
Tiếng kẻng bằng vỏ quả bom han gỉ treo ở đầu hồi vừa dứt chừng mươi phút, lũ học trò xóm ngoài đã í ới ùa ra cổng. Tiếng chân chúng giẫm bì bõm, lạo xạo trên những vũng nước đọng đục ngầu phù sa, nhỏ dần rồi chìm hẳn về phía con dốc đất đỏ trơn tuột dẫn xuống chân thung lũng. Tôi nán lại một mình bên gốc mận già khẳng khiu trút gần hết lá, chỉ còn trơ những cành mốc thếch cào vào nền trời chì xám.
Hai bàn tay tôi luồn thật sâu vào đáy túi chiếc áo bông chàm cũ mèm—chiếc áo vốn của thằng Tùng thải ra, ngắn cũn cỡn đến ngang thắt lưng, được bác dâu Sương cặm cụi thức thâu đêm chắp vá thêm mấy miếng vải thô khác màu bên nách và chèn từng túm bông gạo vón cục cho đỡ gió. Ở góc túi sâu nhất bên phải, tờ năm nghìn đồng nhăn nhúm mà thầy Khang trả tiền công phụ giúp lau chùi, sửa chữa mấy giắc cắm máy tính hôm trước vẫn nằm im lìm; tôi cẩn thận miết phẳng từng mép gấp của nó qua lớp vải, cuộn tròn nó lại bên cạnh một mẩu bút chì xanh cùn vẹt chỉ còn dài bằng đốt ngón tay trỏ.
Cô Hạnh từ bậc thềm văn phòng bước xuống. Cô khoác chiếc áo len đan tay màu tím than đã sờn rách ở gấu áo và hai bên cổ tay, trên ngực ôm cuốn sổ bìa cứng màu xám dán gáy bằng băng dính vải đen cùng một tập bài kiểm tra Toán của lớp bốn còn thơm mùi giấy bãi bằng ẩm ướt. Thấy tôi đứng như chôn chân bên gốc mận, đôi lông mày thanh mảnh của cô hơi nhíu lại, đôi mắt sau cặp kính gọng nhựa đục mờ vì hơi nước khẽ ngưng đọng sự sốt ruột.
“Thông báo gửi về tận nhà từ đầu tuần rồi kia mà,” cô nói, giọng rành rọt nhưng nghe rõ một tiếng thở dài nén lại trong lồng ngực. “Hôm thứ Hai cô đã nhờ chú Bảy đưa thư của xã ghé qua tận cổng bản để chuyển cho gia đình. Một suất hỗ trợ toàn bộ hồ sơ và chi phí dự tuyển vào trường phổ thông cấp hai chất lượng cao dưới huyện dành cho học sinh diện đặc biệt khó khăn. Chẳng lẽ bác Lương chưa đưa cho em?”
Trực giác của tôi giật thót một cái dữ dội, hệt như cảm giác ngón tay vô tình quẹt phải dây đồng trần của bảng điện nguồn máy tính còn hở mạch. Một luồng hơi lạnh ngắt, buốt nhức hơn cả gió sương Pha Luông rít qua sườn núi, chạy dọc từ đốt sống cổ xuống tận sống lưng, làm mười đầu ngón chân tôi co quắp lại trong lòng đôi dép rách.
“Thông báo... hỗ trợ ạ?” Tôi lúng túng lặp lại từng từ một cách vụng về, tầm mắt dán chặt xuống mũi đôi dép cao su đang bám đầy những vệt bùn đất khô khốc chuyển sang màu phấn trắng.
“Phải,” cô Hạnh bước lại gần tôi thêm một bước, hạ thấp cuốn sổ trên tay xuống ngang ngực, bàn tay khẽ miết lên mép giấy kiểm tra đã quăn góc. “Khoản hỗ trợ ấy không phải tiền mặt trao tay để người nhà cầm tiêu xài, mà là phiếu miễn toàn bộ lệ phí dự thi tuyển sinh, trợ cấp một phần tiền giấy tờ hồ sơ, sách hướng dẫn ôn tập chương trình nâng cao và cả chi phí đi lại, ăn nghỉ cho ngày xuống huyện thi. Ban giám hiệu trường huyện chỉ duyệt đúng hai suất cho toàn bộ các điểm trường lẻ của xã mình đợt này thôi. Cô đã tự tay làm hồ sơ gửi lên phòng giáo dục từ tháng trước, kèm theo cả bản nhận xét chi tiết học lực và các bài khảo sát môn Toán của em. Họ xét theo diện mồ côi cả cha lẫn mẹ, thuộc hộ đặc biệt khó khăn nhưng có năng khiếu toán học rõ rệt. Nhưng họ yêu cầu người giám hộ hợp pháp phải ký xác nhận đơn và nộp lại về văn phòng trường xã trước trưa thứ Sáu tuần này. Nếu quá hạn, suất ấy sẽ tự động chuyển cho một học sinh khác bên bản Pha Đao.”
Từng lời cô Hạnh nói rơi rụng vào tai tôi rành rọt, đanh gọn từng tiếng một, nhưng trong tâm trí tôi, chúng lập tức quay cuồng như bị ném vào một cỗ cối xay đá nghiền ngô của bản trên.
Một suất dự tuyển trường huyện.
Miễn toàn bộ lệ phí thi.
Hỗ trợ tiền sách vở, tiền xe cộ đi lại.
Đó chẳng phải chính là những tảng đá hộc khổng lồ, đen đúa và lạnh ngắt mà mấy hôm trước bác Lương đã ném thẳng vào mặt tôi khi cô Hạnh lặn lội đội mưa tới tận nhà để thuyết phục đó sao? Mười lăm nghìn đồng lệ phí thi mà bác bảo thà để đong ba bát gạo; hai mươi lăm nghìn đồng sách vở mà bác dâu Sương bảo bằng nửa bao phân lân bón nương; rồi những ngày công lao động bị bỏ phí trên nương đá, rồi gánh nặng nợ nần tiền chiếc quan tài mua chịu của cha tôi năm nọ vẫn còn treo lơ lửng trên từng bờ ta luy nương ngô Pha Luông.
Suất hỗ trợ này dẫu không bảo đảm rằng tôi sẽ thi đỗ, càng không thể hứa hẹn rằng những năm tháng trọ học xa nhà sau đó sẽ bằng phẳng êm ấm; nhưng nó chính là chiếc chìa khóa duy nhất, là cánh cửa hẹp bằng gỗ lim vững chãi mở ra giữa bức tường đá tăm tối để tôi có quyền được ngồi vào phòng thi, được cầm cây bút đọ sức một cách sòng phẳng với những đứa trẻ dưới xuôi.
Nhưng tôi không hề nhìn thấy bất kỳ tờ giấy nào như thế. Tuyệt nhiên không.
Suốt từ hôm đầu tuần, khi chiếc xe đạp Phượng Hoàng cà tàng của người đưa thư kêu lạch cạch dừng ngoài đầu ngõ, không gian trong căn nhà tranh vách nứa của bác Lương vẫn phẳng lặng một cách ngột ngạt đến phát sợ. Bác Lương vẫn ngồi lặng lẽ bên bậu cửa đá nhồi từng vê thuốc lào đen sì vào cái nõ điếu bằng tre khô, phà từng luồng khói mù mịt khét lẹt lên những rui mè bằng nứa mục đầy mạng nhện. Bác dâu Sương vẫn thoăn thoắt ngồi bên bậc chuồng lợn băm thân chuối rừng chan chát, thỉnh thoảng liếc xéo mắt càu nhàu vài câu cộc lốc về thúng ngô giống bị mối mọt gặm nham nhở hay nồi cơm chiều chỉ toàn sắn khô độn ngô bung nuốt nghẹn ứ cổ họng. Không một ai nhắc tới một phong bì, một mẩu thư, hay một chữ viết nào liên quan đến trường huyện.
Thế nhưng, phản xạ đầu tiên nảy sinh trong lồng ngực tôi lúc này lại không phải là sự nghi ngờ hay oán trách người lớn. Tôi đứng chết lặng, ngón tay trong túi áo chàm cào nhè nhẹ vào lớp vải xơ xác, và một nỗi mặc cảm cố hữu, truyền kiếp từ sâu thẳm trong thân phận đứa trẻ mồ côi lại lừ đừ trồi lên, bóp nghẹt lấy cuống họng tôi.
Tôi đã quá quen với ý nghĩ rằng những điều may mắn, những cơ hội sáng sủa và tốt đẹp chưa từng, và vĩnh viễn sẽ không bao giờ thuộc về một đứa trẻ như mình.
Ở cái bản Nà Ban nghèo xơ xác nằm lọt thỏm giữa bốn bề núi đá này, những gì tốt đẹp nhất—từ chiếc cặp sách mới tinh bằng vải dù xanh chống thấm nước, chiếc hộp bút sắt hai tầng mở ra kêu lách cách vui tai, cho đến những suất học bổng mười nghìn, hai mươi nghìn đồng hay những chiếc áo ấm chần bông dày cộp của đoàn cứu trợ dưới xuôi lên—bao giờ cũng được ưu tiên chia cho con cái những gia đình có tên tuổi rõ ràng trong bản, có bố mẹ làm cán bộ thôn, có người lớn đứng ra nói đỡ một tiếng, hoặc chí ít cũng là những đứa trẻ có gia đình đầy đủ, không mang cái thân phận ăn nhờ ở đậu tủi nhục.
Còn tôi là ai? Tôi chỉ là một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, ngày ăn hai bữa cơm độn sắn còn phải ngó trước nhìn sau, nhìn vào sắc mặt người khác mà nuốt từng hạt cơm vào bụng; đêm về nằm co ro ở góc chái phụ dột nát dựa lưng vào vách đá rỉ nước lạnh buốt; nợ nần ma chay của cha mẹ ngày trước vẫn đè nặng lên từng gùi ngô, gùi sắn mà tôi phải oằn lưng cõng từ đỉnh núi Pha Luông xuống mỗi mùa thu hoạch.
Làm sao một cơ hội lớn dường ấy, một sự ưu ái phi lý dường ấy lại có thể từ trên trời rơi trúng đầu tôi được?
“Sao thế Nam? Em đã đọc nó chưa? Có chỗ nào trong đơn em chưa hiểu à?” Thấy tôi im lặng quá lâu, giọng cô Hạnh bỗng chùng xuống, mang theo một vẻ ngập ngừng hoang mang. Ánh mắt cô nhìn xoáy vào gương mặt đang cúi gằm của tôi, như cố tìm kiếm một câu trả lời trong nét mặt đứa học trò.
Tôi hít một hơi thật sâu, luồng không khí buốt giá tràn vào cuống họng làm lồng ngực đau nhói. Tôi cố nén cái run rẩy đang lan dần từ đầu gối lên bụng, rồi ngẩng mặt lên nhìn cô bằng ánh mắt gượng gạo, cố nặn ra một nụ cười méo mó:
“Dạ... chắc là... chắc là có sự nhầm lẫn gì đấy thôi cô ạ.”
“Nhầm lẫn là nhầm thế nào?” Đôi mày cô Hạnh nhíu chặt lại, nét mặt nghiêm hẳn đi.
“Dạ, chắc bên phòng giáo dục người ta xem lại hồ sơ... thấy cháu không đủ điều kiện xét duyệt,” tôi ấp úng, giọng nói nhỏ dần, mảnh như sợi chỉ rồi tan biến vào màn sương ẩm ướt đang cuộn tròn giữa sân trường. “Hoặc là người ta đổi ý rồi cô ạ. Chắc người ta chuyển suất ấy cho bạn khác xứng đáng hơn cháu. Nhà cháu... cháu còn nợ nần nhiều lắm, học bạ tiểu học thì chắp vá năm được năm mất, bữa học bữa nghỉ vì phải đi nương gánh đá. Người ta hỗ trợ là hỗ trợ cho những bạn có điều kiện học tiếp lên cao, chứ cháu thì... có khi thi xong đỗ rồi cháu cũng chẳng có tiền mà đi học được đâu cô...”
Đó là cách tôi tự bảo vệ mình trước những hụt hẫng cay đắng của cuộc đời. Tôi thà tự nhận mình kém cỏi, tự gạt phắt mình ra rìa ngay từ đầu, còn hơn là tự cho phép mình nuôi nấng một niềm hy vọng mong manh rồi lại phải trơ mắt nhìn nó vỡ vụn tan tành dưới gót giày của hiện thực nghiệt ngã. Đó là thứ tâm lý hèn nhát, tự ti mà những năm tháng đói nghèo, cơm thừa canh cặn và những trận đòn roi vô cớ đã găm sâu vào từng thớ thịt, từng đường gân của tôi từ thuở lên mười.
Nhưng cô Hạnh không để yên cho tôi tự dập tắt đốm lửa ấy.
Cô đặt mạnh tập bài kiểm tra lên chiếc ghế đá nứt nẻ dưới gốc mận, bước hẳn tới trước mặt tôi. Gió núi thổi bay vài sợi tóc mai của cô dính vào mép kính. Giọng cô đanh lại, vang lên với một sự nghiêm khắc và phẫn nộ hiếm thấy ở người giáo viên vốn nổi tiếng hiền từ nhất trường:
“Nam! Em ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào cô xem nào!”
Tôi giật nảy mình, run rẩy ngước mắt lên. Đằng sau cặp mắt kính dày, đôi mắt cô Hạnh ánh lên những tia giận dữ pha lẫn một nỗi đau lòng sâu sắc.
“Ai dạy cho em cái thói tự hạ thấp mình hèn nhát như thế hả? Ai bảo với em rằng em không đủ điều kiện? Tờ công văn đó đích danh phòng giáo dục huyện gửi về trường, tên người được nhận hỗ trợ in rõ ràng từng chữ: Nguyễn Văn Nam, học sinh lớp phổ cập bản Nà Ban! Cô là người trực tiếp ngồi thức đêm viết biên bản đề xuất, cô đưa từng trang bài thi thử môn Toán với điểm tuyệt đối của em cho thầy hiệu trưởng xem, chính tay cô đạp xe mười lăm cây số đường đèo nộp hồ sơ lên huyện chứ không phải ai khác! Chương trình của nhà nước, có dấu đỏ chót của cơ quan quản lý, làm sao có chuyện nói đổi là đổi, nói nhầm là nhầm như mớ rau con cá ngoài chợ phiên?”
Cơn thịnh nộ bột phát của cô Hạnh làm không gian xung quanh dường như ngưng đọng lại. Tiếng gió rít qua rặng tre sau kho thóc của trường cũng như chùng xuống. Tôi đứng sững sờ, hai tai lùng bùng như có tiếng suối reo.
Tên tôi.
In bằng máy chữ trên giấy công văn chính thức.
Có con dấu đỏ.
Cô Hạnh nhìn sâu vào mắt tôi. Bằng sự nhạy cảm và sắc sảo của một giáo viên đã bám trụ với mảnh đất nghèo khó này suốt bao năm trời, cô dường như đã đọc thấu mớ hỗn độn đang giằng xé dữ dội trong lòng đứa học trò mồ côi. Sự ngơ ngác của tôi quá thật, vẻ tự ti của tôi quá đỗi tội nghiệp, và quan trọng nhất: không có một tia sáng nào của sự hy vọng hay nhẹ nhõm trong ánh mắt tôi khi cô nhắc đến tờ giấy định mệnh ấy.
“Em chưa hề nhìn thấy tờ thông báo đó, có đúng không?” Cô Hạnh hạ giọng xuống, nhưng từng từ thốt ra đều nặng trịch sức nặng của một lời chất vấn không thể né tránh.
Tôi không dám mở miệng nói dối cô, nhưng cũng không đủ dũng khí để thốt lên lời khẳng định cay đắng ấy. Cổ họng tôi nghẹn ứ, khô khốc như vừa nuốt phải một ngụm tro bếp. Tôi chỉ biết lặng lẽ gật đầu một cái thật nhẹ, đầu cúi gằm xuống ngực, như một chiếc lá khô lìa cành rơi tõm vào bùn lầy.
Cô Hạnh thở hắt ra một hơi dài não nề. Làn khói trắng mỏng manh từ miệng cô tan nhanh vào không khí buốt giá. Cô khoanh hai tay trước ngực, bàn tay hơi siết chặt lấy chiếc áo len tím sờn:
“Hôm thứ Hai, chú Bảy đưa thư ghé qua trường lấy công văn gửi về xã. Chính cô đã dán kín mép phong bì, lấy bút dạ ghi rõ bên ngoài: ‘Kính gửi gia đình ông Nguyễn Văn Lương, chuyển cho em Nguyễn Văn Nam’. Cô còn dặn đi dặn lại chú Bảy là thư rất quan trọng, liên quan đến chuyện học hành thi cử của đứa trẻ, phải giao tận tay người lớn trong nhà. Chú Bảy bảo tiện đường qua ngõ bản Nà Ban sẽ tạt xe vào đưa ngay tận bậc cửa.”
Bức tranh mờ mịt, đứt đoạn trong đầu tôi lập tức ghép nối lại thành một hình ảnh sắc lạnh đến gai người. Ký ức về buổi sáng sương muối mấy hôm trước dội về rõ mồn một trong tâm trí: tiếng xích xe đạp khô dầu của chú Bảy lạch cạch dừng lại bên hàng rào dâm bụt còi cọc ngoài ngõ; bóng dáng gầy guộc, còng còng của bác Lương bước ra bậc cửa đá; chiếc phong bì màu xi măng thô ráp có vệt mực đỏ au; và rồi tiếng then cài cánh cửa gỗ vang lên *cạch* một tiếng khô khốc ngay sau khi bóng người đưa thư vừa khuất sau lũy tre.
Sau đó là sự im lặng. Một sự im lặng tuyệt đối, trơn tru và lạnh lùng như thể chưa từng có bất kỳ bức thư nào đáp xuống căn nhà ấy. Không một lời nhắc nhở, không một câu hỏi han.
“Nam này,” cô Hạnh bước tới, đặt một bàn tay ấm áp lên vai tôi. Cái chạm nhẹ nhàng ấy khiến bờ vai đang gồng cứng của tôi khẽ run lên bần bật; lớp áo bông chắp vá dày cộp không ngăn được hơi ấm đầy bao dung truyền từ bàn tay cô vào da thịt đang lạnh cóng của tôi. “Cô biết hoàn cảnh nhà em. Cô biết bác Lương lo chuyện nợ nần chưa trả hết, lo trong nhà thiếu mất một người làm nương, gánh đá, và cô biết người lớn có những toan tính, những nỗi sợ hãi riêng của họ trước cái nghèo dai dẳng này. Nhưng tờ giấy đó không phải là tài sản riêng của ai cả. Nó là cơ hội của em. Nó là quyền được đi thi, quyền được bước ra ánh sáng của chính em.”
“Cô ơi...” Tôi lí nhí, sống mũi bắt đầu cay xè, hai mắt nhòa đi vì lớp màng nước mắt mỏng manh chực vỡ. “Nếu bác cháu đã không nói... thì nghĩa là bác không bao giờ muốn cho cháu đi học nữa đâu cô...”
“Dù bác em có đồng ý hay không, em cũng phải được biết!” Cô Hạnh cắt ngang lời tôi, giọng dứt khoát và đanh thép đến mức không chừa lại một khe hở nào cho sự nhượng bộ hay thoái lui. “Một cơ hội để thay đổi cuộc đời nghèo khó này không phải lúc nào cũng đến hai lần đâu Nam ạ. Nếu em đi thi, em trượt, em quay về tiếp tục làm nương, em sẽ không bao giờ phải ân hận vì mình đã dốc hết sức lực cho ước mơ. Nhưng nếu em để tờ giấy ấy biến mất trong im lặng, nếu em tự buông tay chỉ vì sợ hãi sự trừng phạt hay những lời mắng mỏ, thì cả cuộc đời này về sau, mỗi khi cầm cái cuốc trên nương đá, em sẽ luôn tự hỏi: nếu ngày ấy mình dám cất lời, dám bước đi, số phận mình liệu có khác đi không?”
Cô Hạnh mở cuốn sổ bìa cứng, rút chiếc bút bi mực xanh đã mòn đầu, nhanh thoăn thoắt xé vội một mẩu giấy nhỏ từ góc trang sổ tay học trò. Bằng những nét chữ nghiêng nghiêng, dứt khoát và nắn nót, cô viết vội lên đó mấy dòng ngắn ngủi: ngày hết hạn tiếp nhận hồ sơ, địa chỉ phòng giáo dục huyện, tên thầy phụ trách tiếp nhận danh sách tuyển sinh.
Cô gấp mẩu giấy lại làm tư cẩn thận, nhét thẳng vào lòng bàn tay tôi rồi gập các ngón tay tôi lại, giữ chặt lấy nó bằng hai bàn tay ấm áp của cô.
“Hôm nay là thứ Tư rồi,” cô nhìn thẳng vào đáy mắt tôi, ánh mắt rực lên một sự kiên định lạ thường, truyền cho tôi một luồng sinh khí mới. “Hạn chót để trường xã tổng hợp toàn bộ danh sách gửi xe khách về huyện là trưa thứ Sáu. Nghĩa là em chỉ còn đúng hai ngày nữa thôi. Trưa nay về nhà, em phải hỏi bác Lương cho ra nhẽ. Hỏi một cách đàng hoàng, lễ phép, nhưng phải dứt khoát. Nếu bác bảo không thấy, em phải tha thiết nhờ bác tìm kỹ lại trong nhà. Còn nếu bác đang giữ... thì em phải quỳ xuống mà xin bác.”
“Bác cháu sẽ mắng... có khi lại lôi đòn gập ra đánh...” Tôi run rẩy siết chặt mẩu giấy trong lòng bàn tay, nhớ lại những vết lằn tím bầm của cành củi dẻ gai trên lưng dạo nọ vẫn còn ngứa râm ran mỗi khi trở trời gió lạnh.
“Bị mắng hay bị một trận đòn cũng chỉ đau đớn vài ba ngày rồi vết thương sẽ lành da,” cô Hạnh nói, giọng chùng xuống nhưng sâu sắc đến nhói lòng. “Nhưng đánh mất con chữ, đánh mất quyền được bước chân ra khỏi cái thung lũng đá xám xịt này, thì nỗi cay đắng ấy sẽ kéo dài đằng đẵng cả một đời người, Nam ạ. Báo lại cho cô trước chiều mai. Dù kết quả thế nào, dù bác có mắng chửi hay xé giấy, em cũng phải chạy ra trường nói với cô một câu, tuyệt đối không được tự ý trốn tránh hay lẳng lặng bỏ cuộc. Em có hứa với cô không?”
Dưới vòm trời xám xịt mịt mùng của vùng cao, trước ánh mắt kiên định, chan chứa niềm tin và sự hy vọng của người cô giáo đang ngày đêm chắt chiu từng tia sáng le lói cho những đứa trẻ nghèo nàn nơi góc rừng heo hút, tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại. Tôi không thể tiếp tục cúi đầu hèn nhát được nữa.
Tôi siết chặt nắm tay lại, nơi mẩu giấy gấp tư cộm lên cứng ngắc giữa các khớp ngón tay thô ráp chai sạn vì cầm cuốc.
“Vâng... Cháu hứa với cô. Cháu sẽ về hỏi bác.”
***
Con đường đất đỏ mòn vẹt từ trường bản về nhà bác Lương dài chưa đầy hai cây số, ngoằn ngoèo uốn lượn men theo chân dốc Pha Luông, nhưng trưa hôm ấy, mỗi bước chân của tôi nặng nề như thể đang đeo những tảng đá hộc nghìn cân. Gió mùa đông bắc rít từng hồi qua những vách đá tai mèo nhọn hoắt ven đường, thổi tạt những hạt sương lạnh buốt rát cả mặt.
Tôi đi như một kẻ mộng du, một tay nắm chặt mẩu giấy cô Hạnh đưa trong túi áo, đầu ngón tay cái liên tục miết qua nếp gấp của tờ năm nghìn đồng và mẩu bút chì cùn. Trong tâm trí non nớt của tôi chỉ luẩn quẩn hai luồng suy nghĩ giằng xé dữ dội: một bên là hình ảnh chiếc phong bì dán kín mép có con dấu đỏ bị giấu nhẹm sau cánh cửa cài then, một bên là gương mặt lầm lì, khắc khổ, hằn sâu những nếp nhăn cay nghiệt và ánh mắt sắc lạnh đầy quyền uy của bác Lương.
Khi tôi bước chân vào chiếc cổng ngõ xếp bằng đá vụn quen thuộc, mùi khói bếp quen thuộc ngai ngái mùi củi ướt đã bảng lảng quanh mái fibro xi măng cáu xỉn đóng rêu xanh.
Dưới gầm sàn chuồng lợn cất bằng những cây tre đực già, bác dâu Sương đang ngồi xổm trên một khúc gỗ mục xơ xác, chiếc tạp dề bằng bao tải dứa buộc ngang hông lấm lem bùn đất. Bác cầm con dao quắm cùn băm từng nhát dứt khoát vào một đoạn thân chuối rừng nhiều mủ nhựa. Tiếng dao bổ xuống mặt thớt gỗ lõm kêu *bồm bộp, bồm bộp*, nhịp nhàng, đơn điệu và khô khốc vang vọng giữa trưa vắng.
Ở bậc thềm đá xanh trước gian nhà chính, bác Lương đang ngồi bệt, lưng tựa vào chiếc cột quân bằng gỗ xoan đã lên nước nâu bóng. Bác mặc chiếc áo chàm cổ truyền đã bạc phếch ở hai bên bả vai, chiếc quần vải thô xắn cao quá bắp chân khẳng khiu chằng chịt những vết sẹo lồi lõm do đá nương cào rách qua năm tháng.
Trước mặt bác là chiếc cày gỗ đã tháo lưỡi nằm chỏng chơ và một thanh nẹp sắt cong queo hoen gỉ; bác đang cầm chiếc búa sắt gõ từng nhát cẩn trọng, đều đặn để uốn lại thanh sắt nẹp, chuẩn bị cho mùa cày ải sắp tới.
Tiếng bước chân rụt rè của tôi giẫm trên lớp sỏi vụn ngoài sân khiến nhát búa của bác Lương ngưng lại. Bác không ngẩng đầu lên ngay, chỉ đưa mu bàn tay thô ráp, cáu bẩn quệt ngang vệt mồ hôi đọng trên trán dù ngoài trời đang rét cắt da cắt thịt, rồi cất giọng khàn đục đặc sệt khói thuốc lào:
“Về rồi đấy à? Con trâu mộng dưới bãi suối cạn đã dắt cho nó uống nước chưa mà đã mò xác về nhà?”
“Dạ... cháu vừa tan buổi học sáng, cháu về cất túi sách rồi chạy ngay ra suối dắt trâu về chuồng ạ,” tôi đứng nép bên mép hiên đất, cách bác chừng năm bước chân, cố giữ cho giọng mình không bị run rẩy trước cái nhìn lạnh lùng của bác.
Bác Lương lại cúi đầu xuống, đặt lưỡi búa lên thanh nẹp sắt han gỉ, gõ *chát* một tiếng chói tai làm bụi gỉ sắt bay mù mịt:
“Liệu cái chân mà đi cho nhanh. Mấy hôm nay gió mùa đông bắc tràn về, sương muối xuống sớm lắm, mày mà lơ đễnh để trâu ngã nước ngã lạnh thì có lột da mày ra cũng chẳng đền nổi nửa con đâu.”
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, mười đầu ngón tay trong túi áo bông bấm chặt vào lớp vải chàm đến mức móng tay hằn sâu vào da thịt.
Tôi biết rất rõ rằng nếu bây giờ tôi quay lưng bước đi về phía chuồng trâu, cơ hội mở miệng sẽ trôi tuột mất như dòng nước suối mùa lũ. Buổi chiều tôi sẽ phải theo bác lên nương đá gùi sắn, tối mịt mới về thì rã rời bên bát cơm sắn luộc, rồi ngày mai sẽ lại cuốn đi theo vòng xoay cơm áo, ngày kia sẽ tới... và cái hạn chót trưa thứ Sáu nghiệt ngã kia sẽ khép lại vĩnh viễn trước mắt tôi.
Tôi nuốt một ngụm nước bọt đắng ngắt nơi cuống họng, đánh bạo bước lên một bước, thu hết tất cả sự can đảm tích tụ trong mười hai năm cuộc đời mình vào một tiếng gọi khẽ:
“Bác... Bác Lương ơi...”
Nhát búa của bác Lương khựng lại lơ lửng giữa không trung. Bác chầm chậm ngước mắt lên. Đôi mắt trũng sâu dưới đôi lông mày rậm rạp, vằn những tia máu đỏ quạch và sắc lạnh như một lưỡi dao cạo nhìn xoáy thẳng vào gương mặt tái mét của tôi:
“Cái gì? Lại định xin xỏ cái gì nữa đây? Tiền mua cuốn vở viết hôm nọ bác dâu mày đã nể tình cho giữ lại năm nghìn bạc lẻ rồi cơ mà? Chưa đủ à?”
“Dạ... không phải chuyện tiền vở ạ,” tôi run giọng, cố nhớ lại từng lời dặn dò, từng nét mặt kiên nghị của cô Hạnh lúc trưa để nói cho thật rành rọt. “Cháu... cháu muốn hỏi thăm bác... hôm đầu tuần, có chú Bảy đưa thư của xã ghé qua ngõ nhà mình... Chú ấy có gửi lại tờ giấy hay phong bì nào cho cháu không ạ?”
Không khí trước khoảng sân đất trước cửa bỗng chốc đặc quánh lại, ngột ngạt đến mức nghẹt thở.
Tiếng dao băm chuối dưới gầm sàn của bác dâu Sương đột ngột im bặt. Con dao quắm dừng sững trên khúc thân chuối trắng phau đang ứa ra những dòng mủ nhựa đùng đục.
Tôi liếc mắt nhìn sang bên mé sàn, thấy bờ vai gầy guộc của bác Sương hơi co rút lại dưới lớp áo nâu vá chằng vá đụp, nhưng bác không hề quay đầu lại nhìn tôi lấy một cái. Bác chỉ cúi gằm mặt xuống chậu cám lợn to đùng, đôi bàn tay gân guốc nổi đầy những nốt sần bỗng run rẩy bấu chặt lấy cán gỗ của con dao quắm, các ngón tay trắng bệch đi vì dùng sức.
Bác Lương vẫn không hề biến sắc. Gương mặt khắc khổ, đen sạm vì nắng gió Pha Luông của bác vẫn phẳng lặng, trơ trơ như một phiến đá núi đóng rêu sau cơn bão lớn.
Bác thong thả hạ chiếc búa sắt xuống mặt đất nện, với tay lấy chiếc điếu cày bằng ống nứa dựng cạnh chiếc cột nhà, dùng đầu ngón tay cái nhồi từng sợi thuốc lào đen nhánh vào cái nõ điếu một cách chậm rãi, tỉ mỉ và lạnh lùng đến rợn người.
“Giấy tờ gì?” Bác Lương cất giọng hỏi, giọng bình thản, trơn tru đến mức nếu tôi không tận mắt trông thấy bóng dáng chú Bảy đưa thư ghé qua đầu ngõ hôm trước, có lẽ tôi đã hoàn toàn tin rằng mình là một đứa hoang tưởng nhầm lẫn.
“Dạ... tờ giấy thông báo của phòng giáo dục huyện gửi về trường rồi chuyển qua xã... trên đó ghi đích danh tên cháu ạ,” tôi lắp bắp, lồng ngực đập thình thịch như có tiếng trống dồn dập bên tai. “Cô Hạnh bảo... đó là suất hỗ trợ cho cháu đi thi tuyển vào trường cấp hai dưới huyện... Nhà nước sẽ miễn toàn bộ lệ phí thi với hỗ trợ tiền xe cộ đi lại... Cô Hạnh bảo chú Bảy đưa thư đã trao tận tay cho nhà mình từ sáng thứ Hai rồi ạ...”
Bác Lương châm đóm nứa vào đốm than trong chiếc vỏ trấu, kê miệng vào ống điếu rít một hơi thật sâu. Tiếng nước trong ống nứa kêu lên *sòng sọc, sòng sọc* giòn tan, rồi một luồng khói xám đặc quánh, khét lẹt từ từ phà ra từ khóe môi thâm sì của bác, lượn lờ bay lảng bảng trong làn gió buốt.
Qua làn khói mờ ảo và cay xè ấy, ánh mắt bác nhìn tôi không hề bộc lộ một sự giận dữ lôi đình như những lần tôi dám đòi giữ lại tiền công hay lén lút thắp đèn dầu học bài ban đêm; nó chỉ có một sự lạnh lùng tàn nhẫn, dửng dưng và vững chắc như một bức tường thành bằng đá hộc không bao giờ có thể xô đổ.
“Tao chẳng thấy giấy tờ nào cả,” bác Lương buông thõng từng lời một cách ráo hoảnh, giọng đều đều không một chút gợn sóng. “Người đưa thư ngày nào chả lượn chiếc xe đạp qua đường bản, rẽ vào hỏi han mấy câu linh tinh rồi lại đạp đi. Có giấy tờ gì của mày thì tao giữ làm cái của nợ gì trong nhà này? Mày tưởng cái tên mày to tát, danh giá lắm chắc mà phòng giáo dục dưới huyện người ta phải cất công gửi thư từ đích danh?”
Lời phủ nhận dứt khoát, gọn gàng và không một vết gợn của bác làm tôi chết lặng tại chỗ. Toàn thân tôi run lên bần bật.
Không có lấy một kẽ hở nào để tôi có thể bấu víu hay van nài. Bác không hề quát tháo mắng mỏ, không đập bàn đập ghế, không vung búa đe nẹt rằng ‘mày không được phép đi thi’. Bác chỉ đơn giản là nói một câu nhẹ bẫng: *không thấy*.
Sự bình thản đến tàn nhẫn ấy tước đi của tôi mọi vũ khí, mọi sự phản kháng non nớt. Tôi là một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, sống nhờ từng củ sắn hạt ngô của nhà người ta, tôi lấy tư cách gì, lấy bằng chứng gì trong tay để dám đứng giữa sân dõng dạc bảo rằng người giám hộ của mình đang nói dối?
“Nhưng mà... cô Hạnh bảo chắc chắn đã gửi đến tận nhà...” Tôi cố vớt vát lại một chút hy vọng mong manh trong tuyệt vọng, giọng nghẹn lại sau bờ môi khô khốc run rẩy.
“Cô Hạnh mày rỗi việc thì cô ấy bảo thế!” Bác Lương gắt khẽ một tiếng, đặt mạnh chiếc điếu cày xuống bậc đá kêu *cộc* một cái khô khốc. “Các thầy các cô dưới xuôi lên đây cắm bản được vài ba năm kiếm điểm thi đua rồi người ta lại chuyển vùng về xuôi, biết cái nỗi gì về cái đói cái khổ của cái thung lũng đá này? Vẽ hươu vẽ vượn cho chúng mày mơ mộng hão huyền, rồi đến lúc nợ nần ngập đầu ngập cổ, gạo không có một hạt mà húp thì cô Hạnh mày có vác ngô sang đây đổ vào chum cho cái nhà này ăn không? Tao đã bảo không thấy là không thấy! Mày rỗi hơi đứng đấy mà tra khảo người lớn như quan tòa à?”
Tôi đứng trơ trọi giữa sân đất, cảm giác bất lực tràn ngập lồng ngực như dòng nước lũ đỏ ngầu dâng ngập bờ suối mùa mưa. Nước mắt bắt đầu ứa ra nơi khóe mi.
Tôi quay sang nhìn về phía chuồng lợn, nhìn vào bóng lưng còng còng của bác dâu Sương, thầm mong một ánh mắt thương xót, một cái nhíu mày hay một lời càu nhàu thường ngày của bác có thể vô tình để lộ ra một manh mối nào đó.
“Bác dâu ơi... hôm thứ Hai bác có thấy chú Bảy...”
Nhưng bác dâu Sương dường như chỉ chờ có thế để trốn chạy khỏi sự tra vấn vô hình ấy. Bác vội vã đứng bật dậy, hai bàn tay run rẩy bê xốc chiếc chậu cám lợn nặng trịch, quay lưng bước thoăn thoắt về phía góc chuồng lợn tối om phía sau nhà. Bước chân bác dồn dập, đôi dép tổ ong cũ mòn trượt lạo xạo trên nền đất bùn nhão nhoét.
Tuyệt nhiên, bác không hề ngoái đầu lại nhìn tôi lấy một lần. Đôi mắt trũng sâu của bác nhìn đăm đăm xuống nền đất lạnh lẽo, như thể sợ rằng nếu chỉ cần lỡ chạm phải ánh mắt tuyệt vọng của tôi, một điều gì đó giấu kín bấy lâu sau lồng ngực sẽ vỡ vụn ra thành trăm mảnh.
“Tao bận việc tối mắt tối mũi từ sáng đến đêm, hơi đâu mà để ý thư từ giấy má của chúng mày!” Tiếng bác dâu Sương vọng ra từ sau vách nứa chuồng lợn, the thé và gắt gỏng cốt để át đi sự bối rối vụng về đang run rẩy trong từng âm tiết. “Mau mau mà ra bãi suối dắt con trâu về chuồng rồi lên nương khuân nốt mấy gùi đá cho xong bờ ta luy đi! Cơm thì chực ăn cho đẫy họng mà việc thì cứ chần chừ lười biếng, đứng đấy mà hóng hớt chuyện trên trời!”
Tiếng lợn đói ụt ịt đòi ăn xen lẫn tiếng máng gỗ va đập lách cách dập tắt hoàn toàn mọi âm thanh còn lại trong không gian.
Tôi đứng trơ trọi một mình giữa khoảng sân đất lạnh lẽo, gió bấc thổi qua manh áo rách làm hai bàn chân tôi tê dại đi vì buốt giá. Gió từ đỉnh núi Pha Luông thổi thốc qua khe núi, quất từng luồng buốt nhói vào hai bên gò má.
Tôi rút bàn tay ra khỏi túi áo, nhìn mẩu giấy nhỏ cô Hạnh viết nắn nót bằng mực xanh đã bị mồ hôi tay tôi làm nhăn nhúm một góc. Bác Lương đã quay lại với thanh nẹp sắt cong queo, nhát búa sắt lại vang lên đều đặn, chát chúa, lạnh lùng, dập tắt mọi đốm lửa hy vọng vừa mới nhen nhóm le lói trong lòng tôi.
Tôi lầm lũi quay gót bước ra cổng ngõ, đi về phía bãi suối ven rừng để dắt trâu. Gió thốc thẳng vào ngực áo rách buốt lạnh, nhưng cái buốt giá đang cào xé trong lồng ngực còn dữ dội và cay đắng hơn gấp vạn lần.
Tôi tự sỉ vả chính mình vì đã quá đỗi ngây thơ, đã vội vã tin vào những điều tốt đẹp viển vông. Mấy hôm nay, chỉ vì kiếm được mẩu tiền công mười nghìn lẻ từ chiếc máy tính hỏng của thầy Khang dưới trường xã, chỉ vì vài buổi tối được thầy Dũng cho phép ngồi ké trước màn hình máy tính gõ thử những câu lệnh con trẻ trong gian kho ẩm mốc, tôi đã lầm tưởng rằng mình có thể tự cởi trói cho số phận mình.
Tôi đã quên mất rằng cái nghèo ở cái bản Nà Ban này không phải là thứ mà dăm ba dòng lệnh hay vài phép tính toán có thể xóa bỏ được. Con đường mười mấy cây số ngoằn ngoèo dẫn xuống trường huyện, khoản chi phí ăn ở, sách vở, và trên hết là sự cho phép nghiệt ngã của người lớn vẫn là một bức tường đá đồ sộ sừng sững chắn ngang trước mặt. Tôi vốn dĩ chỉ là một đứa trẻ mồ côi ăn nhờ ở đậu, tôi lấy tư cách gì để đòi hỏi một tương lai sáng sủa hơn bờ nương đá này?
Dắt con trâu mộng về chuồng, buộc chặt dây thừng vào chiếc cọc gỗ ở góc tối, tôi ngồi thụp xuống bậu cửa chái phụ dột nát của mình, hai bàn tay ôm chặt lấy đầu gối đang run rẩy vì lạnh và vì kiệt sức.
Đúng lúc ấy, có tiếng bước chân nhẹ bẫng lạo xạo trên lớp lá khô mé sau nhà. Lan từ gian bếp rón rén bước vòng ra góc chái, đôi mắt tròn xoe lấm lét canh chừng về phía gian nhà trên nơi bố mẹ nó đang lục đục, rồi bước vội tới ngồi thụp xuống bên cạnh tôi. Ánh mắt con bé lộ rõ vẻ lo lắng, đôi lông mày nhỏ nhíu chặt lại, hơi thở phập phồng:
“Anh Nam,” Lan thì thào, giọng nói chỉ vừa đủ cho hai đứa nghe giữa tiếng gió núi rít qua mái nứa. “Hồi nãy em đứng sau liếp bếp... em nghe anh hỏi bố chuyện thư từ giấy tờ dưới huyện gửi về phải không?”
Tôi ngẩng mặt lên nhìn nó, nuốt nỗi cay đắng vào trong rồi khẽ gật đầu:
“Cô Hạnh bảo có giấy báo hỗ trợ gửi đích danh cho anh từ đầu tuần. Nhưng bố em bảo không thấy... chắc là thất lạc rồi.”
Lan cắn chặt môi dưới, mười đầu ngón tay nhỏ xíu mân mê vạt áo chàm đã sờn rách chỉ. Ánh mắt con bé nhìn trân trân vào khoảng đất ẩm dưới chân, vẻ mặt đầy sự giằng xé nội tâm.
“Bố nói dối đấy,” Lan nói khẽ nhưng từng lời rành rọt như đinh đóng vào cột gỗ. “Sáng thứ Hai vừa rồi, lúc chú Bảy đưa thư vừa đạp xe ra khỏi ngõ, em từ sau bể nước bước lên định vào nhà lấy cái rổ xảo, em thấy tận mắt bố cầm một cái phong bì to bằng bàn tay, dán kín mép bằng hồ, góc trên có con dấu tròn xoe màu đỏ au. Bố đứng nhìn cái phong bì một lúc lâu ở ngưỡng cửa, mặt tối sầm lại. Rồi bố mở tủ gỗ đựng giấy tờ ở góc nhà trên, nhét tọt cái phong bì ấy vào ngăn kéo dưới cùng rồi khóa chặt lại.”
Lồng ngực tôi nghẹn ứ, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi cuống họng:
“Thật sao Lan? Em... em có nhìn lầm không?”
“Thật mà! Em nhìn rõ mồn một con dấu đỏ chót!” Lan ngẩng phắt lên, giọng quả quyết. “Bình thường chiếc chìa khóa tủ gỗ bố hay treo ngay trên cái đinh sắt đóng ở thân cột xoan cạnh bàn thờ tổ tiên, ai cũng nhìn thấy. Nhưng sáng hôm ấy, cất cái phong bì vào xong, bố đổi chỗ cất chìa khóa luôn. Bố lấm lét nhìn quanh rồi đem giấu nó vào chỗ khác, em chỉ kịp thấy bố với tay nhét nó lên phía sau tấm liếp nứa gian trong. Mọi lần nếu bố cấm anh học hay ghét ai ngoài xã gửi giấy má về đòi họp hành, bố sẽ chửi toáng lên cho cả bản nghe rồi vứt thẳng vào bếp lửa cho cháy thành tro ngay trước mặt mọi người. Đằng này bố im lặng, lẳng lặng khóa tủ cất đi... Điệu bộ của bố hôm ấy lạ lắm, nhìn giấu giếm như sợ ai trông thấy.”
Lan nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi mắt con bé ánh lên sự sốt ruột:
“Rốt cuộc tờ giấy ấy là cái gì? Cô Hạnh đã nói những gì với anh ở trường?”
Trước ánh mắt chân thành và quyết liệt của đứa em họ, tôi không thể giấu nổi nữa. Tôi run run rút mẩu giấy cô Hạnh xé vội ban trưa từ trong túi áo chàm ra, trải phẳng lên đầu gối, rồi đem toàn bộ những lời cô Hạnh nói về suất hỗ trợ dự tuyển vào trường phổ thông cấp hai dưới huyện kể hết cho Lan nghe.
Tôi kể về việc nhà nước sẽ miễn toàn bộ lệ phí thi, về khoản hỗ trợ tiền giấy tờ sách vở, tiền xe cộ đi lại, và cả cái hạn chót trưa thứ Sáu nghiệt ngã mà nếu không có chữ ký xác nhận của bác Lương thì suất thi ấy sẽ vĩnh viễn bị hủy bỏ để chuyển sang cho người khác.
Nghe tôi kể xong, Lan siết chặt hai bàn tay nhỏ bé lại, đôi mắt rực lên một tia sáng cương quyết và phẫn nộ:
“Đúng là cái phong bì ấy rồi! Suất hỗ trợ dự tuyển trường huyện của anh đang nằm im ỉm trong ngăn kéo tủ gỗ kia kìa! Anh đừng có dại mà vội tin lời bố bảo không có. Bố giấu tiệt đi để ép anh phải ở lại nhà làm nương, gùi đá trả nợ cho nhà mình đấy!”
“Nhưng anh không có bằng chứng gì cả, tủ gỗ lại khóa chặt...” Tôi lúng búng, nỗi sợ hãi cố hữu lại kéo giật tôi lùi về phía sau bóng tối của sự cam chịu. “Lan đừng có dính sâu vào chuyện này nữa. Bác Lương mà biết em tò mò để ý chuyện chìa khóa tủ thì bác lôi đòn gập ra đánh gãy chân đấy. Tính bố em nóng nảy, cay nghiệt thế nào em biết quá rõ rồi còn gì.”
“Nhưng nếu tờ giấy ấy thật sự nằm trong tủ, thì mỗi một ngày trôi qua, mỗi một giờ mình chờ đợi là cơ hội của anh lại bị người ta bóp nghẹt mất một phần!” Lan ngắt lời tôi, giọng đanh lại với sự can đảm và già dặn vượt xa tuổi tác của một đứa trẻ mười tuổi vùng cao nghèo khó. “Cô Hạnh đã bảo hạn chót nộp danh sách về huyện là trưa thứ Sáu. Hôm nay đã là chiều thứ Tư rồi! Anh định chờ bố tự nhiên đổi ý à? Đợi đến khi quá hạn thứ Sáu thì dù có lôi được tờ giấy ấy ra khỏi tủ thì nó cũng chỉ là một mẩu giấy vụn không hơn không kém!”
Từng lời từng chữ của con bé như một gáo nước lạnh buốt tạt thẳng vào sự hèn nhát, thụ động đang bám rễ trong tâm trí tôi.
Chiều muộn hôm ấy, khi ra bể nước dọn dẹp máng lợn và xách nước đổ vào chum, tôi đứng lặng người nhìn về phía điểm trường bản Nà Ban xa xa đang chìm dần vào màn sương mù đặc quánh của buổi hoàng hôn mùa đông.
Ở nơi ấy, dưới ánh đèn măng-xông vàng vọt, cô Hạnh chắc hẳn vẫn đang cặm cụi ngồi bên bàn giáo án, kiên nhẫn đợi một lời hồi đáp dứt khoát từ tôi, mà cô không hề hay biết rằng cánh cửa gỗ nặng nề của nhà bác Lương đã chặn đứng mọi tin tức về tương lai của tôi ngay từ bậc ngưỡng cửa bằng đá.
Tôi đứng chôn chân giữa sân, trơ trọi giữa hai nỗi sợ hãi tột cùng đang giằng xé lồng ngực: một bên là nỗi sợ bị bác Lương phát hiện sẽ phải gánh chịu những trận đòn roi nát thịt, sợ bị đuổi ra khỏi nhà không chốn dung thân; nhưng bên kia lại là một nỗi sợ hãi kinh hoàng hơn gấp bội—nỗi sợ rằng cả cuộc đời về sau, tôi sẽ phải sống trong sự ân hận tột cùng, mãi mãi nhớ rằng mình đã từng hèn nhát khoanh tay đứng nhìn cơ hội đổi đời duy nhất bị chôn vùi trong bóng tối của chiếc tủ gỗ.
Lan bước lướt qua tôi trên bậc thềm đá, hai tay ôm chiếc rổ tre xơ xác đựng vài củ sắn luộc nguội ngắt vừa bốc ra từ nồi cám lợn. Con bé khẽ liếc mắt nhìn quanh rồi nghiêng đầu về phía tôi, thì thầm một câu ngắn gọn, dứt khoát và sắc lạnh như một lời thề:
“Tối nay em sẽ rình xem bố cất chìa khóa ở đâu. Bằng mọi giá phải lấy lại tờ giấy trước khi hạn xác nhận trôi qua.”