Hoa Ban Không TànCh.18 / 38
Chapter 18

Sai một lần mới nhớ

Khi thầy Dũng hỏi có dám làm việc thật không, tôi gật đầu quá nhanh, vì trong đầu tôi khi ấy chiếc màn hình vừa sáng lên đã giống một lời bảo đảm rằng mình có thể sửa được mọi thứ.

Cái gật đầu ấy nhẹ tênh, trơn tru như hòn sỏi tuột khỏi kẽ tay rơi xuống dòng suối Nà Ban, nhưng cái giá của nó thì mãi về sau này, khi tóc đã điểm bạc và nằm đếm từng hơi thở ngắn trong đêm vắng, tôi vẫn chưa bao giờ quên được. Đó là sự kiêu ngạo đầu đời của một đứa trẻ vừa mới thò chân qua khe cửa hẹp của sự hiểu biết: ngỡ rằng một lần vặn chặt được sợi cáp lỏng, một lần bấm chạy thành công dòng lệnh in ra mấy chữ xanh lét trên nền đen mờ là đã có thể làm chủ cả một cỗ máy tinh vi. Tôi đã quên mất lời thầy dặn dưới ánh đèn vàng vọt của kho nông cụ tối hôm trước, quên cả sự cẩn trọng khắc nghiệt của một người thợ thực thụ. Tôi chỉ nôn nóng nghĩ đến mười lăm nghìn đồng lệ phí thi học sinh giỏi Toán, nghĩ đến cái nhìn khinh bạc của anh họ Tùng và dáng ngồi lặng lẽ trĩu nặng của bác dâu Sương bên chum gạo cạn đáy. Tôi muốn chứng minh mình có ích, muốn người lớn phải ngước nhìn mình bằng con mắt khác, chứ không phải như một miệng ăn nợ nần ăn nhờ ở đậu.

Cái cảm giác thèm muốn được thừa nhận ấy như một con sâu cắn rỉa từ bên trong, khiến các khớp ngón tay tôi bồn chồn, khiến tai tôi ù đi trước mọi lời cảnh báo. Suốt cả buổi chiều hôm đó ở lớp, khi ngồi trên băng ghế gỗ tạp nứt nẻ của phân hiệu Nà Ban, mắt tôi nhìn lên bảng đen mà trong đầu chỉ toàn thấy những mạch đồng mảnh như tơ nhện, những con tụ điện hình trụ tròn bọc vỏ nhựa xanh và tiếng quạt gió rù rù của bộ nguồn máy tính. Tôi đã hình dung ra khoảnh khắc mình đứng bên cạnh cỗ máy, tay cầm chiếc tô vít cán nhựa trong suốt có gắn bóng đèn thử điện, vặn từng con ốc vít bằng kim loại sáng bóng, bắt cỗ máy phải ngoan ngoãn vận hành theo từng cử chỉ của mình. Tôi muốn thầy Dũng thấy rằng thầy đã không chọn nhầm người, muốn cô Hạnh ngạc nhiên trước sự tháo vát của một đứa học trò nghèo mà cô vẫn thường cho củ khoai nướng hay nắm ngô bung lót dạ trước giờ vào lớp.

Trời chập tối hôm sau, sương mù từ đỉnh Pha Luông tràn xuống thung lũng dày đặc như khói trấu. Không khí vùng cao vào cữ cuối đông lạnh buốt, từng luồng gió rít qua những hốc đá tai mèo sắc nhọn mang theo hơi ẩm ướt át của rừng già, làm da thịt người ta tê cóng lại sau làn áo chàm mỏng manh. Thầy Dũng không đưa tôi xuống trường xã như lời hẹn ban đầu bên cổng trường chiều qua, mà rẽ xe Minsk vòng lại dãy nhà hiệu bộ của điểm trường bản. Chiếc xe hai thì cũ kỹ nổ bành bành, phả ra từng luồng khói xanh nồng nặc mùi xăng pha nhớt, bánh xe quấn xích sắt cày nát lớp bùn đỏ quánh trên con dốc trơn trượt dẫn vào sân trường. Thầy bảo cô Hạnh vừa nhắn sang, máy tính của cô ở văn phòng tổ bộ môn bị kẹt cứng, chuột không trỏ được, văn bản đánh dở cứ bật ra những ký tự lạ rồi treo đơ.

“Máy của cô Hạnh còn gấp hơn,” thầy Dũng chống chân chiếc xe Minsk nổ bành bành bên thềm gạch rêu, giũ lớp sương đọng trên vạt áo khoác gió bộ đội đã bạc màu. “Cô đang cần nộp danh sách học sinh diện khó khăn của cả cụm bản lên Phòng Giáo dục huyện trước sáng mai, lại còn mấy bộ đề thi thử học kỳ nữa. Máy này của trường cấp từ đợt dự án năm ngoái, một mình cô dùng chung cho cả khối. Cậu vào quan sát, tôi chỉ đến đâu thì làm đến đấy, cấm được táy máy nghe chưa?”

“Vâng ạ, em nhớ rồi.” Tôi lí nhí đáp, nhưng trong ngực bỗng dâng lên một luồng nhiệt nóng rực, xua tan cả cái lạnh đang luồn qua gấu quần cộc cũn cỡn.

Được sửa máy cho cô Hạnh—người giáo viên đã nắn từng con số, người đã cho tôi mượn tập bài tập bọc chỉ bao tải và từng đến tận nhà xin bác Lương cho tôi đi học—khiến tôi thấy việc này mang một ý nghĩa lớn lao hơn bất cứ bài tập thực hành nào. Nếu tôi sửa được chiếc máy này cho cô, nếu màn hình lại sáng rõ và chữ nghĩa lại chạy răm rắp dưới bàn tay tôi, tôi sẽ không chỉ là đứa học trò nghèo ngủ gật nơi góc lớp vì đói lả. Tôi sẽ trở thành người đỡ đần được cho cô một gánh nặng có thật, một đứa trẻ có thể đứng thẳng lưng trước ánh nhìn thương hại hay chê bai của người đời.

Căn phòng làm việc nhỏ của cô Hạnh nằm ở góc chái nhà gỗ lợp ngói fibro xi măng, ngăn cách với lớp học bằng một tấm liếp nứa dán giấy báo cũ đã ngả màu vàng ố vì khói bếp và thời gian. Bên ngoài, những tàu lá chuối rừng rách tả tơi quất phần phật vào vách nứa theo từng cơn gió giật. Bước qua ngưỡng cửa gỗ nghiến đã mòn vẹt, căn phòng sực nức thứ mùi quen thuộc của những năm tháng gian khổ: mùi sáp nến cháy dở khét lẹt, mùi giấy bãi bằng ẩm hơi sương lâu ngày tích tụ thành thứ phong vị mốc meo, và mùi dầu hỏa hăng nồng bốc ra từ chiếc đèn bão treo lơ lửng trên cây xà gồ bằng gỗ bương. Cô Hạnh đang ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc kê sát vách nứa, hai bàn chân xỏ trong đôi dép nhựa Tiền Phong mòn gót co ro dưới gầm bàn. Cô liên tục xoa hai bàn tay vào nhau, thỉnh thoảng lại đưa lên miệng hà hơi cho đỡ cóng, mắt chăm chú nhìn vào màn hình CRT mười bốn inch viền xám tro đã ố vàng vì tàn thuốc và bụi bặm. Ánh sáng xanh nhợt nhạt từ màn hình hắt lên khuôn mặt gầy guộc, làm nổi rõ đôi gò má nhô cao và quầng thâm hốc hác dưới mắt—dấu tích của những đêm thức trắng chấm bài bên đĩa đèn dầu lạc.

Thấy thầy Dũng dắt tôi bước vào, cô Hạnh vội đứng dậy, kéo thêm hai chiếc ghế đẩu bằng gỗ tạp đã lung lay chân:

“May quá thầy Dũng sang được. Chiều nay tôi đang gõ nốt cái danh sách đề nghị miễn giảm học phí cho mấy đứa mồ côi bản trong thì tự nhiên con trỏ chuột nhảy loạn xạ, rồi màn hình hiện lên một cái bảng báo lỗi tiếng Anh toàn chữ đỏ. Tôi khởi động lại máy hai lần, nó kêu tít tít mấy tiếng rất to rồi đơ cứng ở màn hình nền, không tài nào mở được tập tin giáo án ra nữa.”

Thầy Dũng bước lại gần, bỏ chiếc mũ len trùm đầu xuống bàn, cúi người ghé sát tai vào hông thùng máy đang phát ra những tiếng rè rè ngắt quãng như tiếng cối xay ngô kẹt sạn. Thùng máy đứng kiểu case mini-tower màu trắng ngà đã xỉn màu, trên nắp lưng còn dán nguyên chiếc tem niêm phong rách nát của Sở Giáo dục từ mùa đông năm trước. Thầy đưa tay bấm thử phím Caps Lock trên bàn phím, chiếc đèn tín hiệu xanh ở góc trên bên phải không nhấp nháy, trơ lì như một mẩu nhựa chết.

“Hệ điều hành bị xung đột phần mềm gõ chữ rồi cô ạ, chắc có tệp hệ thống bị lỗi ghi đè khi mất điện đột ngột tuần trước,” thầy Dũng kết luận sau nửa phút quan sát, đoạn quay sang nhìn tôi, ánh mắt thoáng vẻ dò xét pha lẫn khích lệ. “Nam, cậu còn nhớ chiều hôm qua tôi hướng dẫn cách nạp đĩa mềm khởi động và chạy lệnh cài lại gói giao diện trong thư mục phụ trợ không?”

“Em nhớ ạ!” Tim tôi đập rộn lên trong lồng ngực, những đường gân máu nơi cổ họng giật nhẹ từng chập. “Cho đĩa khởi động vào ổ A, chuyển vào dấu nhắc DOS rồi gõ lệnh chạy tệp cài đặt đè lên thư mục hệ thống cũ.”

Cô Hạnh ngạc nhiên nhìn tôi, rồi nhìn sang thầy Dũng, đôi lông mày thanh tú khẽ nhướng lên:

“Em Nam biết cả mấy thứ này cơ à?”

Thầy Dũng cười, tiếng cười ấm áp làm xua bớt cái không khí ảm đạm của căn phòng chái, thầy vỗ nhẹ vào vai tôi một cái:

“Thằng bé này có trí nhớ tốt lắm, tối qua tự tay nó tìm ra chỗ lỏng cáp màn hình máy số hai trong kho đấy. Hôm nay tôi cho nó thực hành thao tác xem sao. Cứ để nó gõ lệnh, tôi đứng kè kè bên cạnh giám sát, cô cứ yên tâm.”

Lời khen của thầy Dũng trước mặt cô Hạnh như một mồi lửa ném vào đống rơm khô trong lòng tôi. Cái cảm giác được công nhận, được nhìn nhận như một người thợ nhỏ có hiểu biết thực sự làm tôi run lên vì tự đắc. Cái cảm giác ấy ngọt ngào và nguy hiểm như mật ong rừng giấu trong hốc cây mục. Tôi muốn chứng minh rằng mình không chỉ biết cắm lại một sợi dây lỏng nhờ ăn may. Tôi muốn cô Hạnh và thầy Dũng thấy rằng tôi hiểu máy tính, hiểu những con chữ tiếng Anh ngoằn ngoèo kia chẳng kém gì cách tôi hiểu từng đường cày trên sườn đồi Pha Luông hay cách nhận biết một tổ ong dú trong lùm cây rậm.

Thầy Dũng rút từ túi bạt bên hông ra chiếc hộp nhựa trong suốt đựng mấy chiếc đĩa mềm ba inch rưỡi vuông vức, chọn ra một chiếc có dán mẩu băng dính giấy ghi dòng chữ mực cửu long “BOOT-SETUP” đưa cho tôi:

“Cho đĩa vào ổ. Chờ máy nhận xong đĩa mềm thì vào ổ đĩa A, gọi tệp cài đặt ra. Nhớ là chỉ chọn chế độ sửa lỗi đè lên hệ thống, tuyệt đối không được chọn dòng đầu tiên là cài đặt trắng. Máy này chậm lắm, mỗi lần ổ đĩa đọc từ tính kêu lạch cạch thì phải đợi nó nhả hết lệnh mới được ấn tiếp, rõ chưa?”

“Vâng, em biết rồi ạ.” Tôi đỡ lấy chiếc đĩa mềm bằng hai tay, cảm giác lớp vỏ nhựa nhám màu đen và miếng trượt kim loại mát lạnh nơi đầu ngón tay như truyền vào người tôi một thứ quyền năng lạ lẫm, một sự tự tin mù quáng.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu của cô Hạnh, đẩy nhẹ chiếc đĩa vào khe ổ A nghe một tiếng “tách” giòn tan, lẫy nhựa bật lên giữ chặt chiếc đĩa trong họng máy. Thầy Dũng với tay lấy chiếc phích nước Rạng Đông ở góc bàn rót trà nóng vào chiếc chén sứ sứt quai, quay lưng lại nói chuyện với cô Hạnh về việc phân bổ lại lịch học tin học cho các lớp cuối cấp và tình hình nộp hồ sơ xin trợ cấp gạo của học sinh bán trú.

Chiếc máy tính bắt đầu rên lên những tiếng ậm ạch quen thuộc. Ổ đĩa mềm nhấp nháy đèn xanh lục, phát ra tiếng rẹt rẹt sắc nhọn của đầu từ quét qua lớp băng từ tính bên trong. Màn hình đen ngòm từ từ hiện lên những dòng chữ trắng chạy giật cục từng hàng một. Mùi bụi điện tử bốc lên khét nhẹ qua những khe tản nhiệt phía sau màn hình CRT, hòa lẫn vào mùi ẩm mốc của căn phòng tạo nên một không khí đặc quánh. Tôi chăm chú nhìn dấu nhắc lệnh `A:\>` nhấp nháy kiên nhẫn giữa nền đen thẳm. Bàn tay tôi, vốn chai sần vì cầm cuốc rẫy, bửa củi và băm chuối lợn, lướt trên các phím bấm nhựa ngả màu ố vàng kêu lách cách đầy tự tin. Tôi gõ dòng lệnh gọi chương trình thiết lập như thầy đã từng chỉ dẫn tối qua trong kho nông cụ.

Một bảng menu màu xanh nước biển viền khung đôi màu trắng bật lên giữa màn hình, kèm theo một tiếng bíp ngắn ngủn phát ra từ loa trong thùng máy. Bên trong khung chữ nhật ấy có ba lựa chọn bằng tiếng Anh viết hoa:

Dòng đầu tiên có chữ *Fresh Install* kèm theo một dòng cảnh báo ngắn đặt trong dấu ngoặc đơn, dòng thứ hai là *Repair/Update*, và dòng thứ ba ở dưới cùng là *Exit*.

Đúng lúc đó, chiếc máy tính bỗng khựng lại. Đèn đỏ của ổ cứng chớp liên tục, tiếng đầu đọc bên trong ổ đĩa cứng kêu lạch cạch rát tai như sỏi va vào tôn rỉ trong một trận mưa đá. Màn hình đứng im, con trỏ chuột không hề cử động, chữ nghĩa trên bảng chọn bắt đầu giật giật từng chập theo nhịp quét của đèn hình CRT. Tôi di ngón tay trỏ trên phím mũi tên đi xuống, nhưng vệt sáng màu xám tro đánh dấu lựa chọn trên dòng đầu tiên không hề nhúc nhích.

Sự nôn nóng bỗng chốc bốc lên đỉnh đầu tôi, nóng ran như than củi. Phía sau lưng, tiếng cô Hạnh và thầy Dũng vẫn rì rầm trao đổi bên làn khói trà nghi ngút:

“... Năm nay trên huyện cấp về ít chỉ tiêu học bổng lắm thầy ạ, tôi đang cố rà soát xem những em nào thực sự có nguy cơ phải bỏ học giữa chừng để làm hồ sơ xin hỗ trợ trước. Mấy đứa bản Nà Tượt xa xôi quá, bố mẹ thì nghiện thuốc phiện hoặc đi tù, không có khoản tiền hỗ trợ tiền ăn này thì chắc chắn ra giêng chúng nó bỏ lên nương hết...”

Tiếng nói của cô như một sợi dây vô hình siết lấy tâm trí tôi. Tôi không thể để chiếc máy đơ ra thế này mãi. Tôi không thể để thầy Dũng quay lại và thấy tôi ngồi bất lực trước một cái màn hình treo cứng như một kẻ ngốc nghếch không biết xoay xở. Tôi muốn chứng minh rằng mình có bản lĩnh, rằng tôi có thể giải quyết được sự cố nghẽn mạch này mà không cần thầy phải bận tâm đưa tay vào. Phải làm cho nó chạy, phải bấm lệnh ngay để chứng tỏ mình nắm chắc quy trình và phản xạ nhanh nhạy.

Nghĩ rằng bàn phím chỉ bị trễ tín hiệu đệm do bộ nhớ RAM quá tải—như thầy Dũng từng giải thích qua loa tối hôm trước—tôi nhấn mạnh phím mũi tên một lần nữa, rồi không buồn đợi xem vệt sáng có thực sự nhảy xuống dòng *Repair* hay chưa, ngón tay trỏ của tôi đã dằn mạnh xuống phím *Enter* to tướng ở góc bên phải.

Một tiếng “tạch” khô khốc vang lên từ cơ cấu cơ học của bàn phím.

Chiếc màn hình CRT bỗng lóe lên một vệt sáng trắng chói mắt rồi chuyển ngay sang một màu xanh thẫm đặc trưng của trình cài đặt hệ thống mới toanh. Một dòng chữ cảnh báo màu vàng rực hiện ra giữa khung hình, rất dài, với những thuật ngữ viết hoa đậm nét như *OVERWRITE*, *FORMAT*, *ALL EXISTING DATA WILL BE LOST*.

Nếu là một người thợ cẩn trọng, nếu nhớ kỹ từng lời thầy Dũng căn dặn là phải dừng lại đọc từng chữ, kiểm tra từng phân vùng dữ liệu trước khi bấm bất kỳ nút xác nhận nào, tôi đã phải hoảng hốt rút tay về, hoặc ít nhất là cất tiếng gọi thầy Dũng lại xem hộ. Nhưng vào khoảnh khắc định mệnh ấy, sự chắc chắn mù quáng của một đứa trẻ vừa mới chạm tay vào công nghệ đã bịt kín mọi giác quan của tôi. Tôi nhìn thoáng qua chữ *Continue (Y/N)* đang nhấp nháy liên hồi ở góc dưới bên phải màn hình, trong đầu đinh ninh rằng đây chỉ là bước hỏi đáp mang tính thủ tục thông thường mà bất kỳ phần mềm nào cũng đưa ra trước khi bắt đầu chép đè các tệp tin sửa lỗi vào thư mục hệ thống.

Tôi muốn máy chạy nhanh hơn, muốn vượt qua cái khoảng lặng sốt ruột này để khi thầy Dũng quay lại, thanh tiến trình màu xanh lá cây đã chạy đến một trăm phần trăm, và chiếc máy tính đã hoàn toàn hồi sinh dưới bàn tay tài hoa của tôi.

Không một giây chần chừ, tôi gõ dứt khoát phím chữ `Y` rồi ấn tiếp `Enter`.

Tiếng ổ cứng bỗng rít lên một âm thanh the thé, sắc lạnh như lưỡi dao quắm cứa qua thân cây nứa già ven suối. Một thanh phần trăm bắt đầu chạy loang loáng, nhanh một cách bất thường: một phần trăm, mười phần trăm, năm mươi phần trăm... Những dòng chữ màu trắng bên dưới chạy vụt qua màn hình như những vệt sao băng, thông báo việc xóa sạch các chỉ mục cũ, tái lập bảng định vị tệp và chuẩn bị cho một bản cài đặt hoàn toàn tinh khôi từ đĩa mềm.

Tôi ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế đẩu, hai bàn tay đan vào nhau đặt lên đùi, tự hào nhìn những vệt sáng xanh nhấp nháy phản chiếu trên mặt bàn gỗ. Trong tâm trí non nớt của tôi lúc đó, việc cái thanh trạng thái ấy chạy vù vù chính là bằng chứng cho thấy cỗ máy đã được giải phóng khỏi sự ì ạch, và tôi sắp sửa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đầu tiên được giao trong đời.

“Thế nào rồi Nam? Đang nạp tệp sửa lỗi à?” Tiếng thầy Dũng vang lên ngay sau lưng tôi.

Thầy bước lại gần, tay cầm chén trà bốc khói nghi ngút, nghiêng đầu nhìn vào màn hình CRT. Nụ cười trên môi thầy bỗng nhiên tắt ngấm. Bàn tay đang cầm chén trà khựng lại giữa không trung, nước trà sóng sánh chực tràn ra ngoài.

“Cậu... cậu chọn cái gì đấy?” Giọng thầy Dũng đột ngột lạc đi, không còn vẻ tếu táo thường ngày mà chuyển sang một âm sắc đanh quánh, lạnh ngắt như băng tuyết mùa đông.

Tôi vẫn chưa nhận ra tai họa tày đình mình vừa gây ra, ngước lên nhìn thầy bằng ánh mắt hớn hở đầy tự mãn:

“Dạ, máy nó bị đơ bảng chọn nên em bấm cho nó chạy tiếp luôn ạ. Nó đang cài đặt rất nhanh thầy ạ, sắp xong rồi...”

“Mày ấn phím gì? Mày chọn dòng nào?” Thầy Dũng bỏ phắt chén trà xuống mặt bàn gỗ làm nước nóng bắn tung tóe ra mép tập giấy báo cũ. Thầy lao tới, gạt mạnh vai tôi sang một bên, hai mắt trừng trừng nhìn vào dòng chữ *Formatting partition... Initializing file system* đang hiển thị lạnh lùng ở góc dưới màn hình. Mặt thầy Dũng tái mét đi trong chớp mắt, sắc mặt xám xịt như màu đất sét nung dở. “Trời đất ơi! Mày chọn cài mới hoàn toàn à? Mày không chọn dòng sửa lỗi à? Ai cho mày ấn Y? Ai cho mày xác nhận định dạng lại ổ đĩa hả Nam?”

Tiếng quát của thầy Dũng như một gáo nước đá dội thẳng vào đỉnh đầu tôi giữa đêm đông rét buốt. Tôi sững sờ, cả người đông cứng lại trên chiếc ghế đẩu, hai tai lùng bùng như vừa có tiếng mìn phá đá nổ tung bên tai. Mọi âm thanh xung quanh bỗng chốc nhạt nhòa, chỉ còn lại tiếng rít chói tai của chiếc ổ cứng đang càn quét qua từng cung từ tính.

Cô Hạnh buông tập giáo án trên tay xuống bàn, bước vội lại gần, vẻ mặt đầy hoang mang lo lắng:

“Có chuyện gì thế thầy Dũng? Máy nó bị làm sao à thầy?”

Thầy Dũng không trả lời cô ngay. Thầy cuống cuồng bấm tổ hợp phím Ctrl + Alt + Delete rồi liên tiếp gõ phím Escape trên bàn phím để cố gắng hủy lệnh, nhưng chiếc máy tính đời cũ với hệ thống phần cứng thô sơ một khi đã bắt đầu quá trình ghi đè cấu trúc đĩa thì hoàn toàn trơ lỳ trước mọi can thiệp từ bên ngoài. Màn hình tự động chớp tắt một cái, phát ra tiếng tạch khô khốc từ rơ-le nguồn rồi tự khởi động lại.

Dòng chữ nạp hệ điều hành mới tinh hiện ra, trơn tru, mượt mà, không một tiếng bíp báo lỗi, không một chút giật cục. Màn hình nền màu xanh lam mặc định của Windows sáng rực lên giữa căn phòng tối om om. Nhưng trên mặt bàn làm việc ảo ấy, ngoài biểu tượng chiếc thùng rác và một vài lối tắt hệ thống mới toanh vừa được tạo lập, hoàn toàn trống rỗng.

Không còn thư mục mang tên “Giao an Van” của cô Hạnh.

Không còn tệp bảng tính Excel lưu danh sách học sinh diện chính sách của cả bốn điểm trường bản.

Không còn những bài thơ cô sưu tầm qua bao năm tháng, những tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn mà cô đã cặm cụi gõ từng ký tự bằng một ngón tay trỏ suốt mấy mùa đông cắm bản.

Tất cả đã biến mất, sạch trơn, như thể chiếc máy này vừa mới được bóc hộp mang từ nhà máy về, sạch sẽ đến rợn người.

Tôi nhìn chằm chằm vào khoảng trống mênh mông xanh ngắt trên màn hình, cổ họng nghẹn đắng lại, lồng ngực như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt khiến tôi không thở nổi. Máu trong người tôi dường như đông cứng lại, hai bàn tay vừa nãy còn gõ phím thoăn thoắt giờ đây run rẩy bần bật, lạnh ngắt như vừa vớt dưới đáy suối Nà Ban lên. Tôi muốn mở miệng nói một điều gì đó, muốn bảo rằng mình không cố ý, muốn phân trần rằng tại cái máy nó bị đơ, tại bàn phím không ăn... nhưng môi tôi mím chặt lại, đông cứng, hai hàm răng va vào nhau lập cập không thể phát ra nổi một âm thanh trọn vẹn nào.

Cô Hạnh đứng sững sờ bên cạnh bàn làm việc. Mắt cô nhìn trân trân vào góc màn hình nơi chiếc thư mục màu vàng quen thuộc vẫn ngự trị mỗi ngày giờ chỉ còn lại một khoảng màu xanh đơn điệu và vô tri. Cô không hét lên, không quát tháo ầm ĩ, cũng không đập bàn giận dữ như cách bác Lương vẫn thường trút cơn thịnh nộ xuống đầu tôi mỗi khi tôi làm đổ thúng ngô hay làm sứt mẻ chiếc lưỡi cuốc quý giá.

Sự im lặng của cô Hạnh lúc đó còn khủng khiếp hơn ngàn vạn lời chửi mắng đòn roi.

Căn phòng chìm vào một khoảng lặng chết chóc, ngột ngạt đến mức nghe rõ cả tiếng mọt nghiến gỗ ken két trong cột nhà, tiếng ngọn đèn bão kêu lèo xèo vì gió lùa qua khe liếp và tiếng quạt gió của chiếc máy tính vừa cài mới chạy êm ru một cách mỉa mai, tàn nhẫn.

Cô Hạnh từ từ ngồi thụp xuống chiếc ghế gỗ bên cạnh bàn. Đôi vai gầy của cô chùng xuống, tấm lưng cong lại trong manh áo len sờn rách ở hai bên cùi chỏ. Cô đưa bàn tay gầy guộc, những ngón tay dính đầy bụi phấn trắng và nứt nẻ rớm máu vì sương muối, run rẩy chạm vào con chuột bi. Cô rê chuột nhấp đúp vào biểu tượng “My Computer”, rồi mở ổ đĩa C. Trống trơn. Không có gì ngoài các tệp tin hệ thống vừa mới sinh ra. Cô mở tiếp sang ổ đĩa D, nơi cô vẫn thường lưu trữ mọi tài liệu quý báu nhất. Cũng trống trơn.

Cô nhấp thêm một lần nữa, rồi thêm một lần nữa, những cú nhấp chuột tuyệt vọng, vô hồn, phát ra tiếng lách cách khô khốc giữa đêm vắng, như một người mẹ đi tìm bóng hình đứa con đã chìm sâu dưới đáy vực thẳm không đáy.

“Mất... mất hết rồi hả thầy Dũng?” Giọng cô Hạnh khẽ khàng, nghẹn lại nơi cuống họng, nhẹ như một tiếng thở dài sắp tắt giữa không gian giá buốt.

Thầy Dũng đứng chôn chân tại chỗ, hai bàn tay siết chặt lại thành nắm đấm đến mức các đốt ngón tay trắng bệch ra, gân xanh nổi ngoằn ngoèo trên mu bàn tay. Thầy nhìn cô Hạnh, rồi quay sang nhìn tôi bằng một ánh mắt vừa giận dữ tột cùng vừa thất vọng ê chề. Ánh mắt ấy như một mũi dùi nung đỏ xuyên thẳng vào tâm can tôi.

“Nó chọn nhầm lệnh cài đặt mới rồi format trắng ổ đĩa rồi cô ạ,” giọng thầy Dũng run lên vì kìm nén cơn thịnh nộ đang chực bùng phát. “Tôi... tôi đã dặn nó đứng nhìn thôi, tôi dặn nó phải chọn dòng sửa lỗi... Tôi có lỗi với cô, là do tôi chủ quan quá, tôi cứ nghĩ nó biết phân biệt...”

“Không phải lỗi của thầy đâu...” Cô Hạnh nói rất nhỏ, nhưng từng chữ như đục thẳng vào màng nhĩ tôi.

Cô không nhìn tôi. Ánh mắt cô dời khỏi màn hình máy tính, quay sang nhìn góc bàn làm việc ngổn ngang những chồng giấy bãi bằng, những cuốn sổ tay bìa bọc báo Nhân Dân cũ kỹ đã sờn rách hết bốn góc. Cô bắt đầu đưa tay lật tìm.

Cô lật từng tờ giấy một, chậm rãi, run rẩy.

Đó là những trang giáo án viết tay từ những năm đầu cô mới từ miền xuôi lặn lội lên bản Nà Ban dạy học, mực Cửu Long màu xanh đã phai sang màu xám ngoét vì năm tháng và ẩm mốc. Đó là những mẩu giấy xé vội từ vỏ bao xi măng Hoàng Thạch ghi nguệch ngoạc tên tuổi của từng đứa trẻ trong bản: đứa nào mồ côi cha do lũ quét năm kia, đứa nào nhà cháy nương mất hết lúa giống, đứa nào thiếu gạo ăn phải nghỉ học giữa chừng đi chăn dê trên vách đá. Những con số, những dòng chữ mộc mạc ấy, cô đã thức thâu đêm suốt cả tháng trời để nhập vào chiếc máy tính này, mong rằng có một bản in sạch sẽ, chỉn chu gửi lên Phòng Giáo dục huyện trước sáng mai để kịp xin cho chúng nó từng chiếc cặp sách, từng cây bút chì và từng tấm áo ấm mùa đông.

Tiếng sột soạt của những trang giấy khô khốc vang lên giữa căn phòng tĩnh mịch. Từng tiếng lật giấy rơi vào tai tôi như những nhát búa nện vào lồng ngực, buốt nhói và tê tái.

Tôi đứng chết trân ở đó, nhìn những ngón tay gầy guộc của cô giáo run rẩy lần giở từng góc giấy ố vàng, tìm kiếm trong tuyệt vọng những mảnh dữ liệu có thể chép lại được bằng tay. Giây phút ấy, lần đầu tiên trong cuộc đời khốn khó và non dại của mình, tôi hiểu ra một điều cay đắng và khủng khiếp: dữ liệu không phải là những đốm sáng vô tri trên màn hình, không phải là những con chữ xanh đỏ để một đứa trẻ mang ra khoe mẽ tài năng hòng đổi lấy vài lời khen ngợi rẻ rúng. Dữ liệu là mồ hôi, là nước mắt, là hàng trăm đêm thức trắng bên ngọn đèn dầu cạn bấc, là trách nhiệm và là tương lai của biết bao con người nghèo khổ mà người ta đã gửi gắm trọn vẹn vào đó.

Và tôi, chỉ vì một thoáng kiêu ngạo hợm hĩnh, chỉ vì muốn chứng tỏ mình biết bấm một phím lệnh, đã một tay xóa sạch tất cả những điều thiêng liêng ấy trong chưa đầy ba mươi giây.

Nước mắt tôi trào ra, nóng hổi và mặn chát trên khóe môi nứt nẻ. Tôi không dám khóc thành tiếng, chỉ có lồng ngực co thắt lại từng cơn nghẹn ứ, từng thớ cơ trên mặt giật giật vì xấu hổ. Cái cảm giác nhục nhã, tội lỗi và bất lực đè nặng lên tôi, nặng hơn cả trận đòn bằng cành dẻ gai của bác Lương đêm trước bên bờ suối. Bị đánh bằng đòn roi, tôi còn có thể cắn răng chịu đựng vì biết mình không làm gì sai trái với lương tâm, biết mình chỉ đang gánh chịu sự cay nghiệt của số phận. Nhưng lúc này, đứng trước cái lưng còng của cô Hạnh đang cặm cụi lật từng trang giấy rách, tôi thấy mình hèn hạ và tội lỗi đến mức chỉ muốn mặt đất nứt toác ra để chui xuống trốn tránh cái nhìn của cuộc đời.

“Nam!” Tiếng thầy Dũng gằn lên, trầm và nặng như một tảng đá núi lăn xuống vực.

Tôi giật bắn người, run rẩy ngẩng đầu lên. Thầy Dũng đã đứng ngay trước mặt tôi từ lúc nào, bóng thầy trùm kín lấy tôi, ánh mắt sắc như dao nhìn thẳng vào hai con mắt đẫm nước của tôi.

“Nói cho tôi nghe. Từng bước một. Lúc tôi quay lưng đi, cậu đã nhìn thấy bảng thông báo gì? Cậu đã bấm những phím nào? Đừng có khóc, nín ngay! Khóc không lấy lại được chữ nào cho cô Hạnh đâu!”

Tôi nuốt bẹp một ngụm nước bọt đặc quánh, hai hàm răng va vào nhau lập cập từng chập:

“Em... em thấy máy nó đơ ở chỗ ba dòng chữ... Em bấm mũi tên xuống nhưng nó không nhảy... Em sợ thầy quay lại thấy em không biết làm... nên... nên em bấm bừa Enter...”

“Rồi sao nữa?” Thầy Dũng siết chặt quai hàm, hai bên thái dương giật giật.

“Nó hiện ra cái bảng chữ vàng... có chữ Y với N... Em tưởng là nó hỏi để cài tiếp cho máy chạy nhanh hơn... nên em bấm Y rồi ấn Enter tiếp ạ...” Tôi nấc lên một tiếng, hai bàn tay bấu chặt vào gấu áo chàm rách rưới đến mức móng tay bấm sâu vào da thịt. “Em xin lỗi thầy... Em xin lỗi cô... Em không biết nó lại xóa sạch hết mọi thứ... Em tưởng nó chỉ cài lại cho máy mượt hơn thôi...”

“Cậu tưởng?” Thầy Dũng cười gằn một tiếng, nhưng trong giọng nói đã bớt đi phần giận dữ mù quáng, thay vào đó là sự lạnh lùng nghiêm khắc của một người thợ già đang đứng trước một tai nạn nghề nghiệp nghiêm trọng. “Tôi đã dạy cậu thế nào? Một người làm kỹ thuật, khi chưa hiểu rõ dòng lệnh nói gì thì có được phép bấm bừa không? Cậu thấy máy chậm, cậu không chịu đợi tín hiệu xử lý mà cậu đã nôn nóng ấn liên tiếp? Cậu nghĩ máy tính là trò đùa, là cái đồ chơi để cậu làm xiếc kiếm lời khen à?”

Tôi cúi gằm mặt xuống đất, nhìn đôi bàn chân trần tím tái vì lạnh đang co quắp trên nền gạch rêu trơn trượt, không thốt nổi một lời nào nữa. Mỗi lời thầy nói như một nhát búa giáng thẳng vào sự tự tôn nông cạn của tôi, đập tan tành cái ảo tưởng rằng mình là một đứa trẻ thông minh khác biệt.

Thầy Dũng thở hắt ra một hơi dài, quay sang nhìn cô Hạnh:

“Cô Hạnh, cô bình tĩnh đã. Để tôi kiểm tra xem mức độ ghi đè đến đâu. Nếu mới chỉ là định dạng nhanh ở mức bảng FAT thì có thể dùng mấy công cụ cứu hộ trên đĩa của tôi để quét lại cung từ. May ra... may ra còn vớt vát được những tệp văn bản cô lưu sâu trong các thư mục con.”

Nghe đến chữ “cứu hộ”, cô Hạnh ngẩng phắt lên, trong đôi mắt thâm quầng ánh lên một tia hy vọng mong manh như ngọn đèn trước gió:

“Có thật là lấy lại được không thầy?”

“Tôi không dám hứa trước,” thầy Dũng đáp, nét mặt đanh lại đầy vẻ thận trọng. “Nó phụ thuộc vào việc hệ điều hành mới vừa nãy đã chép đè bao nhiêu tệp hệ thống lên các cung nhớ cũ. Nhưng chúng ta phải thử. Thử từng cung một, không được bỏ sót bất kỳ cơ hội nào.”

Thầy Dũng quay phắt sang tôi, chỉ tay vào chiếc ghế đẩu gỗ mộc:

“Ngồi xuống đấy!”

Tôi giật mình, ngơ ngác nhìn thầy qua làn nước mắt nhạt nhòa, không hiểu thầy định trừng phạt mình như thế nào.

“Tôi bảo cậu ngồi xuống ghế!” Thầy Dũng gằn giọng lần nữa, âm sắc dứt khoát không cho phép chối từ. “Cậu gây ra cái họa này, thì mắt cậu phải mở to ra mà nhìn xem cái giá của sự ẩu tả nó đắt như thế nào. Không được trốn tránh, không được đổ cho máy cũ, càng không được nghĩ rằng chỉ cần khóc lóc xin lỗi là xong chuyện. Ngồi xuống, phụ tôi đưa từng chiếc đĩa công cụ vào ổ, nhìn từng dòng lệnh quét đĩa để mà nhớ suốt đời!”

Tôi run rẩy kéo chiếc ghế đẩu lại gần mép bàn, ngồi thụp xuống, hai bàn tay tê dại đón lấy từng chiếc đĩa mềm cứu hộ từ tay thầy Dũng. Chiếc ổ đĩa A lại rít lên những tràng ken két nhức óc trong màn đêm quánh đặc của vùng cao. Tiếng cơ khí kim loại cọ sát vào đĩa từ nghe rợn người, như tiếng móng tay cào vào mặt bảng đá. Thầy Dũng đứng bên cạnh, gõ từng dòng lệnh cứu dữ liệu cổ điển, kiểm tra cấu trúc bảng phân vùng đĩa cứng.

Màn hình đen sì nhảy múa những dòng lệnh cứu dữ liệu từ tệp hệ thống cũ, từng con số phần trăm quét qua các cụm từ tính chậm chạp như người lần mò trong bãi mìn. Căn phòng im phăng phắc, chỉ có tiếng gió rít ngoài khe nứa và tiếng quạt nguồn quay đều đều. Chúng tôi ngồi trong căn phòng nồng mùi khét của bóng đèn bão suốt hơn hai tiếng đồng hồ, mắt dán chặt vào từng vệt sáng nhấp nháy trên màn hình CRT. Mỗi lần thanh quét dừng lại ở một cung từ bị lỗi, tim tôi lại thắt nghẹt lại, từng giây từng phút trôi qua như dài bằng cả một thế kỷ trừng phạt.

Cuối cùng, một phần văn bản được móc lên từ một góc thư mục tạm mà trước đó tôi không hề biết kiểm tra. Đó là vài bản phác thảo đề kiểm tra học kỳ môn Văn và danh sách dang dở của hai lớp cuối bản Nà Tượt. Nhưng những tệp dữ liệu quan trọng nhất—toàn bộ bản tổng hợp chế độ miễn giảm học phí nộp lên Phòng Giáo dục huyện vào sáng sớm mai—đã vĩnh viễn bị lớp cài đặt hệ thống mới đè nát, cấu trúc tệp bị băm vụn không tài nào khôi phục nổi.

Nhìn những dòng mã báo lỗi đỏ quạnh trên nền đen, cô Hạnh không nói thêm một lời trách móc nào. Cô chỉ lặng lẽ kéo chiếc đèn bão lại sát mép bàn, lôi tập sổ tay bọc giấy báo cũ kỹ ra rồi cầm mẩu bút chì đã cùn vẹt, cặm cụi đối chiếu từng dòng họ tên học sinh với xấp giấy rơm ố vàng. Bàn tay cô nứt nẻ vì sương muối, run run gạch từng dấu tích dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu hỏa. Chiếc bóng của cô in lên vách nứa, gầy guộc và xiêu vẹo theo từng đợt gió lùa.

Tôi đứng chôn chân bên mép bàn, cổ họng đắng nghét như ngậm phải bồ hòn. Tôi bước lại trước mặt cô Hạnh, hai tay buông thõng bên hông, cúi gập đầu thật sâu, sâu đến mức trán tôi gần như chạm vào mặt bàn gỗ lạnh ngắt. Tôi không viện cớ chiếc máy quá cũ nát hay bàn phím bị trễ lệnh, cũng không đem sự nghèo khó, tuổi nhỏ hay ý muốn giúp đỡ của mình ra làm tấm lá chắn để che đậy lỗi lầm.

“Cô ơi, em sai rồi,” tôi nói, giọng nghẹn lại trong lồng ngực nhưng rành rọt từng tiếng một giữa không gian tĩnh lặng. “Là do em hấp tấp, tự phụ, tưởng mình biết hết nên bấm bừa. Em làm mất công sức của cô suốt cả tháng qua. Em xin lỗi cô.”

Cô Hạnh dừng ngòi bút chì trên trang giấy ố vàng, ngước nhìn tôi rất lâu. Ánh mắt cô trĩu nặng sự mệt mỏi sau một đêm căng thẳng cùng cực, đáy mắt đỏ hoe vì khói dầu hỏa, nhưng tuyệt nhiên không hề có sự khinh miệt hay căm giận tàn nhẫn.

“Nam này,” cô thở dài, giọng trầm và ấm lạ lùng giữa cái rét thấu xương của đêm đông vùng cao. “Năng lực và sự nhanh nhạy có thể mở ra cho em những cánh cửa, giúp em được người ta chú ý. Nhưng chỉ có sự cẩn thận và lòng biết sợ mới quyết định người khác có dám giao việc cho em lần thứ hai hay không. Trên đời này, làm hỏng một cỗ máy thì sửa được, nhưng làm mất lòng tin và công sức của người khác thì khó lấy lại lắm.”

Từng lời cô nói như rót mật đắng vào lòng tôi, thấm thía và đau đớn hơn bất kỳ hình phạt thể xác nào. Tôi cắn chặt môi đến bật máu, gật đầu trong câm lặng.

Thầy Dũng đứng dựa lưng vào vách nứa, khoanh hai tay trước ngực, nghiêm giọng ngắt lời:

“Rút quyển sổ tay của cậu ra ngay!”

Tôi vội móc mẩu giấy bọc mép vở của mẹ Mai trong túi ngực áo chàm, run rẩy cầm chiếc bút chì cụt bằng đốt ngón tay mà tôi vẫn luôn mang theo bên mình.

“Ghi năm điều này vào, học thuộc lòng trước khi chạm vào bất kỳ chiếc máy nào khác,” thầy Dũng dằn từng tiếng như đóng đinh vào gỗ nghiến. “Thứ nhất: Hỏi trước khi làm. Thứ hai: Kiểm tra kỹ hiện trạng dữ liệu. Thứ ba: Luôn tìm cách sao lưu trước khi can thiệp. Thứ tư: Ghi chép từng bước thao tác để biết đường quay lại. Thứ năm: Chỉ thay đổi hệ thống khi bản thân đã hiểu rõ cái giá và hậu quả sau đó. Khắc vào xương tủy cho tôi!”

Tôi nắn nót chép từng chữ một lên mẩu giấy nhăn nheo, đầu ngón tay run rẩy ấn mạnh ngòi chì đến mức thủng cả thớ giấy bãi bằng xơ xác. Từng chữ, từng nét chì hằn sâu vào mặt giấy như khắc vào tâm can tôi một bài học đẫm máu về sự thận trọng và trách nhiệm của người cầm nghề.

Đêm đã điểm sang canh ba khi tôi rời khỏi trường bản. Tiếng gà rừng le te gáy gọi sáng từ phía sườn núi mù sương, nhưng bóng tối vẫn còn đặc quánh, nuốt chửng lấy từng ngọn cây, mái nhà. Không có khoản tiền công mười lăm nghìn đồng nào như tôi từng huyễn hoặc mơ tưởng trên con đường chiều qua. Không có sự tán dương, không có vẻ mặt hãnh diện nào cả. Tôi chỉ mang theo một tâm hồn rách nát, một gánh nặng tội lỗi tê tái và năm điều răn khắc cốt ghi tâm trên mẩu giấy mỏng manh trong túi ngực.

Thầy Dũng chỉ vỗ vai tôi rồi đạp nổ chiếc Minsk lao vụt vào màn sương, còn cô Hạnh vẫn phải thức trắng bên ngọn đèn dầu để cặm cụi chép tay nốt danh sách học sinh nghèo. Tôi lầm lũi bước đi trong bóng tối mù mịt của bản Nà Ban, bàn chân giẫm lên đá tai mèo sắc nhọn buốt nhói. Cảm giác thất bại ê chề và nỗi xấu hổ đè nặng lên hai vai tôi, nặng hơn bất kỳ đòn roi hay lời nhục mạ nào từ trước tới nay, bởi vì chính tay tôi đã làm tổn thương và gây phiền toái cho đúng hai người lớn hiếm hoi từng trao cho tôi niềm tin cùng lòng tử tế.

Về đến căn nhà gỗ lợp fibro xi măng, tôi khẽ khàng lách qua khe liếp chái phụ để tránh làm kinh động mọi người. Nhưng từ gian nhà trên, đốm lửa thuốc lào của bác Lương bỗng đỏ rực lên trong bóng tối đặc quánh, kèm theo tiếng ho rũ rượi và giọng lầm bầm tính toán món tiền nợ mua chịu quan tài của bố mẹ tôi, cùng khoản tiền phân bón cho vụ ngô tới vẫn chưa biết vay mượn ở đâu. Đứng giữa gian chái phụ lạnh ngắt, tôi cay đắng nhận ra số tiền công không có ấy không chỉ là một bài học đắt giá, mà còn ném phũ phàng tôi trở lại bờ vực trần trụi của sự thiếu thốn, nơi mỗi ngày trôi qua tôi đều phải đối diện với gánh nặng áo cơm đang siết nghẹt lấy gia đình bác.

How was this chapter?Ratings help Readeep recommend better stories